equity law là gì, sự hình thành và phát triển của equity law có ảnh hưởng như thế nào đối với sự phát triển của common law? Sau đây em xin chọn đề tài tiểu luận: “Bằng hiểu biết của mình về luật so sánh, anh/chị hãy bình luận nhận định: “Sự hình thành và phát triển của equity (công bằng) là nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn tất common law chứ không nhằm mục đích thay thế cho common law. Liên hệ và so sánh với “lẽ công bằng” trong pháp luật Việt Nam.
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ _1
B NỘI DUNG 2
I Một số vấn đề lý luận _2
1 Một số khái niệm 2
1.1 Common law _2 1.2 Equity law 2
2 Những đặc điểm của common law 2
3 Những đặc điểm của equity law 3
II Bình luận nhận định: “Sự hình thành và phát triển của equity (công bằng) là nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn tất common law chứ không nhằm mục đích thay thế common law” _3
1 Nguồn gốc hình thành equity law 3
1.1 Hạn chế của common law _4 1.2 Sự ra đời của equity law _5
2 Sự ra đời của equity law là nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn tất cho common law 5
3 Sự cải tổ hệ thống pháp luật ở Anh hợp nhất giữa common law và equity law 9
III Liên hệ và so sánh với “lẽ công bằng” ở Việt Nam 11
1 Quy định ở Việt Nam về lẽ công bằng 11
2 Các điều kiện cần xác định khi áp dụng lẽ công bằng tại Việt Nam 12
3 Việc áp dụng lẽ công bằng trong việc xét xử ở Việt Nam 12
C KẾT LUẬN 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO _16
Trang 3A ĐẶT VẤN ĐỀ
Quy phạm pháp luật ra đời do nhu cầu của xã hội để quản lý một xã hội phát triển ở một giai đoạn nhất định Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội nói chung thì các quy phạm pháp luật cũng dần phải thay đổi để phù hợp với xã hội đó Common law cũng không ngoại lệ Dòng họ common law được ra đời vào thế kỷ XIII là bước phát triển lớn của hệ thống pháp luật tại quốc đảo Anh Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của mình, common law ngày càng trở nên phức tạp, cứng nhắc và dẫn đến những bất công trong xét xử Thực tế này đã dẫn đến một nhu cầu cần tìm một giải pháp để khắc phục những yếu điểm của common law và chính equity law là câu trả lời
Vậy equity law là gì, sự hình thành và phát triển của equity law có ảnh hưởng như thế nào đối với sự phát triển của common law? Sau đây em xin chọn đề
tài tiểu luận: “Bằng hiểu biết của mình về luật so sánh, anh/chị hãy bình luận nhận định: “Sự hình thành và phát triển của equity (công bằng) là nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn tất common law chứ không nhằm mục đích thay thế cho common law Liên hệ và so sánh với “lẽ công bằng” trong pháp luật Việt Nam”
để có thể tìm hiểu và làm rõ về vai trò của equity law đối với common law cũng như đóng góp của equity law trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Anh, và
từ đó liên hệ với việc áp dụng lẽ công bằng trong pháp luật Việt Nam hiện hành
Trong quá trình làm bài, bài làm của em còn nhiều thiết sót Mong nhận được sự góp ý từ các thầy cô
Trang 4B NỘI DUNG
I Một số vấn đề lý luận
1 Một số khái niệm
1.1 Common law
Common law là một thuật ngữ khá rắc rối và có nhiều ngữ nghĩa và phụ thuộc vào ngữ cảnh cụ thể mà thuật ngữ được sử dụng
Khi mới ra đời, thuật ngữ này có nghĩa là luật được áp dụng chung trên toàn nước Anh chứ không phải là luật của từng địa phương Ngày nay thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa thông dụng hơn, có nhiều cách khác nhau để diễn tả common law như: luật án lệ (case law), luật do thẩm phán làm ra (judge – made law), luật tập quán (customary law) và luật bất thành văn (unwritten law) Nói cách khác, theo nghĩa này, common law là luật không do cơ quan lập pháp làm ra mà được tạo
ra bằng các phán quyết của toà án (án lệ) và bằng tập quán pháp [1, tr.194]
1.2 Equity law
Theo nghĩa Tiếng Anh, “equity” được hiểu là công bằng, cân bằng Về phương diện pháp lý, equity là hệ thống các học thuyết và thủ tục pháp lý phát triển song song với common law và luật thành văn, nhằm khắc phục những bất cập của common law Sự hình thành và phát triển của equity là nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn tất cho common law chứ không nhằm mục đích thay thế common law [1, tr.223]
2 Những đặc điểm của common law
- Sự ra đời của common law dựa vào 3 yếu tố: các cuộc vi hành của Thẩm phán Hoàng gia lưu động trong quá trình thực thi công lí ở các vùng của vương quốc Anh; sự phát triển của chính phủ phong kiến tập trung đã sản sinh ra tính bất biến trong quản lý nhà nước; tầm quan trọng ngày càng tăng của Toà án Hoàng gia
- Các thành tố quan trọng của common law gồm: những quy phạm rút ra từ các khái niệm pháp lý thời Anglo – Saxon và được thực thi bởi Toà án Hoàng gia
từ thời thượng cổ; tập quán pháp dựa trên những quyền lực đã được thiết lập lâu đời, đã được phát triển và sửa đổi; các phán quyết của toà án Phán quyết của Toà
án là thành phần quan trọng trong common law, thực chất chúng được xây dựng từ
Trang 5lâu đời như người ta thường nói common law là toàn bộ pháp luật của Toà án Hoàng gia tạo ra từ những tập quán của địa phương
- Thẩm phán Hoàng gia đóng vai trò quan trọng, được coi như những nhà làm luật, là nhà tuyên bố, bộc lộ pháp luật
- Sử dụng văn bản được gọi là “Trát” trong thủ tục tố tụng
- Đặc điểm đặc thù nhất là common law không được tìm ra trong các đạo luật mà được tìm thấy trong phán quyết của Thẩm phán, ghi nhận những kết quả tình huống có thật trong thực tiễn
3 Những đặc điểm của equity law
- Equity áp dụng theo quy tắc: equity tôn trọng pháp luật
- Thẩm phán equity hành động bằng cách ra lệnh cho bị đơn: cấm không được xử sự theo cách này hay cách khác và áp đặt cho bị đơn một cách xử sự phù hợp với đòi hỏi của đạo đức và lương tâm
- Các giải pháp của equity thường rất mềm dẻo, mang tính tùy ý
- Thủ tục của Tòa án equity: không cần sự tham gia của bồi thẩm đoàn, xem xét vấn đề trên hồ sơ và thẩm vấn
- Equity được áp dụng trong nhiều lĩnh vực: bồi thường thiệt hại khi không thực hiện hợp đồng, uỷ thác hoặc trong thủ tục xử án
II Bình luận nhận định: “Sự hình thành và phát triển của equity (công bằng)
là nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn tất common law chứ không nhằm mục đích thay thế common law”
1 Nguồn gốc hình thành equity law
Khi mới ra đời và trong giai đoạn đầu, common law là một luật mềm dẻo, đóng rất tốt vai trò của mình Nhưng từ thế kỷ XV trở đi, common law đã bộc lộ nhiều yếu kém không đảm bảo được nhiệm vụ của mình và dẫn tới sự hình thành của equity law Sau đây, em xin nêu về hạn chế của common law để dẫn tới sự ra đời của equity law
1.1 Hạn chế của common law
Vào thế kỉ thứ XIII, khi mới ra đời common law rất hữu dụng, là một luật rất mềm dẻo Thẩm phán tự sáng tạo ra các quy phạm pháp luật để giải quyết những
Trang 6vấn đề, vụ việc đưa đến toà dựa trên những nguyên tắc chung được thoả thuận giữa các thẩm phán
Giai đoạn thế kỷ XVI và XVII ở Anh là thời kỳ kinh tế phát triển mạnh mẽ, tự do kinh doanh, tự do mậu dịch Nhưng đi kèm với đó là xuất hiện thêm nhiều các tranh chấp phát sinh giữa giữa các thương nhân Tòa án hoàng gia Anh không thể giải quyết thấu đáo các tranh chấp trên, và các quy định của common law không phù hợp để điều chỉnh những quan hệ mới phát sinh dẫn đến common law bị phức tạp, cứng nhắc trong việc xét xử
Đến cuối thế kỉ XIV, học thuyết tiền lệ pháp được tuân thủ và áp dụng trong các Tòa án Hoàng gia của Anh Học thuyết tiền lệ pháp là học thuyết mà theo đó các thẩm phán khi giải quyết các vụ việc tại thời điểm hiện tại, phải căn cứ những phán quyết, những quy định trong quá khứ, trong đó có án lệ Trong hệ thống pháp luật Anh có nguyên tắc ra đời từ thế kỷ XIII tên Latinh là “stare decisis” (Tiền lệ phải tôn trọng) có nghĩa là bắt buộc tuân thủ các phán quyết trước đây, không được phá vỡ những quy phạm đã được thiết lập trong án lệ Tòa án cấp dưới chịu sự ràng buộc bởi các nguyên tắc pháp lí do Tòa án cấp trên sáng tạo ra được ghi nhận trong
các bản án trong quá trình xét xử các vụ việc trong quá khứ Như vậy, thẩm phán
không còn tự do để sáng tạo ra các quy phạm pháp luật mới mẻ nữa Với sự ràng buộc đó, common law đã trở nên cứng nhắc, dẫn đến nhiều bất công trong xét xử Trong trường hợp tình tiết khác đi thì các thẩm phán cũng không thể sử dụng tiền lệ pháp cũ và đồng thời họ cũng không thể sáng tạo ra tiền lệ pháp mới vì đã bị bó buộc trong khuôn khổ của học thuyết tiền lệ pháp
Trong sự phát triển của common law gắn liền với hệ thống trát Thời kỳ trung cổ ở Anh, khi nhắc đến “hình thức khởi kiện” là nhắc đến trát được sử dụng như một loại giấy thông hành do Vua cấp để bên nguyên có thể bước qua cửa Toà
án Hoàng gia, tiếp cận công lí nhằm giải quyết oan khuất của bản thân
Mỗi loại khiếu kiện sẽ có một loại trát tương ứng Trong một vụ kiện chỉ có thể tiến hành được nếu bên nguyên giành được trát thích hợp từ viên Đại pháp quan của Vua và được Toà án Hoàng gia thụ lí, giải quyết; nếu không giành được trát thích hợp thì bên nguyên sẽ mất quyền khởi kiện Loại trát được phát hành sẽ quyết định hình thức khởi kiện và thủ tục tố tụng áp dụng để giải quyết vụ việc
Trang 71.2 Sự ra đời của equity law
Trong giai đoạn mới ra đời, common law không bị cản trở bằng yếu tố kỹ thuật nhưng trong quá trình phát triển, nhất là trong mối quan hệ với hệ thống trát, common law đã dần trở nên phức tạp, cứng nhắc dẫn đến những bất công trong việc xét xử
Trong một vụ tranh chấp, nếu đơn khiếu kiện không là một trong những vụ việc đã có trát đang lưu hành thì bên nguyên sẽ mất quyền khởi kiện, nếu bên nguyên dành được trát đó nhưng nó không phù hợp với bản chất vụ kiện thì bên nguyên cũng bị toà bác đơn khởi kiện Từ thực tế này đã làm nảy sinh nhu cầu tìm kiếm giải pháp mới để khắc phục bất công trong xã hội và equity chính là đáp án Equity được văn phòng đại pháp quan khai thác để giải quyết các vụ việc không được giải quyết hoặc chưa được giải quyết thoả đáng bởi Toà án Hoàng gia
Do sự cứng nhắc của common law và sự phức tạp trong thủ tục tố tụng đã làm cho bên nguyên trong nhiều trường hợp bị bác đơn hay thua kiện Người dân thường tiếp tục gửi đơn kiện lên Vua và Vua thông qua viên Đại pháp qua để giải quyết những đơn kiện có tính chất đa dạng, phức tạp này
Trong quá trình sử dụng công lý giải quyết các vụ việc, các phán quyết của Đại pháp quan đã phát triển thành tập hợp những quy phạm pháp luật đặc biệt, được nhắc đến dưới danh nghĩa “equity” Trong vài thế kỉ đầu kể từ khi ra đời, equity đã phát triển độc lập, bên ngoài Toà án hoàng gia Suốt thế kỉ XV, Đại pháp quan quyết định vụ việc theo những gì ông ta cho là thích hợp, và các phán quyết này sau đó đã được các viên Đại pháp quan kế nhiệm phát triển thêm, tuỳ thuộc vào nhận thức cá nhân của mỗi viên đại pháp quan về sự công bằng và lẽ phải
2 Sự ra đời của equity law là nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn tất cho common law
Equity law bắt nguồn từ việc nhân dân khiếu kiện lên nhà Vua để tìm kiếm
sự trợ giúp sau khi thua kiện hay bị bác đơn khiếu kiện Họ coi nhà vua như biểu tượng của công lý, tất cả các vấn đề đều được gửi đơn thỉnh cầu lên vua Equity law xuất hiện cùng với common law nhưng không làm thay đổi luật chung và không vô hiệu các quy định của common law, mà sự hình thành của nó nhằm sửa đổi bổ sung cho common law Equity law ra đời đã khắc phục được những điểm yếu của
Trang 8common law, giúp giải quyết được những vụ việc chưa giải quyết được hoặc không giải quyết được tại Toà án Hoàng gia
Hoạt động xét xử của Tòa đại pháp thể hiện tính chất cá nhân, chủ quan Với
sự ra đời của equity, những vụ khiếu kiện đều được giải quyết bởi các thủ tục pháp
lý, thủ tục xét xử đa dạng, đơn giản hơn so với common law do không bị ràng buộc nặng nề bởi hệ thống trát Thủ tục tố tụng được sử dụng ở Tòa đại pháp khác với thủ tục tố tụng sử dụng tại Tòa án Hoàng gia:
Thứ nhất, khác với Toà án Hoàng gia, Toà đại pháp mở đầu quá trình tố
tụng không phải bằng trát như ở Toà án Hoàng gia mà bằng đơn thỉnh cầu (bill hoặc petition), không có mẫu in sẵn, viết bằng thứ tiếng Pháp dùng ở Anh thời trung cổ (Anglo-French) Người thỉnh cầu phải nêu rõ lý do khiếu nại và khẩn cầu
sự trợ giúp Đơn thỉnh cầu cần phải được gửi kèm theo vật làm tin mới có thể khởi kiện Với đơn viết tay như vậy thì những người dân chịu oan từ việc khiếu kiện thua hay bị bác đơn khởi kiện có thể nhờ tới công lí mà được giải quyết, tránh tình trạng như việc sử dụng hệ thống trát của Toà án Hoàng gia Như vậy, equity law có thủ tục tố tụng đơn giản và linh hoạt hơn common law biểu hiện ở chỗ là không cần phải tốn thời gian tìm trát phù hợp với vụ việc, chỉ cần có đơn thỉnh cầu (petition) lên nhà Vua (đơn này do người dân tự viết) Về ngôn ngữ equity law sử dụng ngôn ngữ là tiếng Pháp phù hợp với dân trong khi đó common law sử dụng tiếng Latinh
và tiếng Pháp
Thứ hai, sau khi nhận đơn thỉnh cầu, nếu thấy bên nguyên có lí và cần được
bảo vệ, Đại pháp quan sẽ phát hành trát triệu tập đòi bên bị (bên có hành vi gây tổn hại) phải có mặt tại toà mà không cần nêu lý do Nếu bên bị không thực hiện lệnh triệu trập từ Đại pháp quan, họ có thể sẽ bị bắt giữ, thậm chí bỏ tù hoặc bị tịch thu tài sản
Thứ ba, tại Tòa đại pháp thì Đại pháp quan xét xử dựa vào nội dung vụ việc
và quyền lợi của các bên tranh chấp, còn tại Tòa án Hoàng gia thì lại rất coi trọng chứng cứ Trong quá trình xét xử, Đại pháp quan tiến hành thẩm vấn nhằm phát hiện tình trạng lương tâm của bị đơn để gột rửa lương tâm cho bị đơn khi cần thiết Khi ra hầu toà, bên bị sẽ phải trả lời các câu hỏi trên cơ sở tuyên thệ Từ đầu thế kỷ
XV, luật sư tranh tụng được phép xuất hiện ở Toà án đại pháp và đến giữa thế kỷ
Trang 9XV, lời khai viết cũng được chấp nhận và các bên có thể sử dụng nhân chứng Đại pháp quan tiến hành phỏng vấn nhằm phát hiện ra tình trạng lương tâm của bị đơn
để gột rửa lương tâm cho bị đơn khi cần thiết Như vậy, việc chất vấn bị đơn trên
cơ sở tuyên thệ để buộc bị đơn tự khai các tình tiết của vụ việc là thủ tục tố tụng đặc biệt không hề được sử dụng tại Toà án Hoàng gia ở cùng thời
Thứ tư, Đại pháp quan quyết định vụ việc căn cứ vào các tình tiết thực tế
của vụ việc mà không có sự tham gia của bồi thẩm
Thứ năm, giải pháp được đưa ra bởi Toà đại pháp khác biệt so với giải pháp
được đưa ra bởi Toà án Hoàng gia Đại pháp quan có thể phát lệnh dưới hình thức tuyên bố quyền của bên nguyên hoặc dưới dạng lệnh buộc bên bị phải thực hiện hành vi nào đó hoặc cấm bên bị tiếp tục thực hiện hành vi xâm phạm tới lợi ích của bên nguyên Trong khi đó, Toà án Hoàng gia chỉ có thể ra phán quyết buộc bên bị
có hành vi gây thiệt hại cho bên nguyên phải bồi thường thiệt hại Qua đó có thể thấy Toà đại pháp có quyền lực hơn Toà án Hoàng gia
Thứ sáu, trong quá trình xét xử tại tòa, Đại pháp quan không áp dụng các án
lệ của Tòa án Hoàng gia, luật Đại pháp quan sử dụng là dựa vào lẽ phải
Đặc biệt, sự đóng góp lớn nhất của equity đối với hệ thống pháp luật Anh đó
là tạo ra chế định uỷ thác (trust) với bản chất là yêu cầu bên uỷ thác thực hiện cam kết của mình Chế định uỷ thác ra đời ở Anh trong giai đoạn thế kỉ XII đến XIII, khi người sử dụng đất còn phải tuân thủ hàng loạt những nghĩa vụ do Nhà nước phong kiến áp đặt như: nộp tô trong qúa trình sử dụng đất đai, nộp thuế khi tài sản thừa kế là đất đai hoặc khi người sử dụng đất vào ở hoàn cảnh không thể tự mình trực tiếp quản lí và sử dụng đất do tham gia vào các cuộc viễn chinh… Trong trường hợp đó, chủ sử dụng đất (người uỷ thác) tìm người thay mặt mình quản lí và
sử dụng đất bằng cách sang tên mảnh đất của mình cho bạn thân hoặc họ hàng (người được uỷ thác) với 2 điều kiện sau:
Một là: phần đất này sẽ được trả lại cho người uỷ thác – chủ sử dụng đích
thực khi người đó quay trở về sau cuộc viễn chinh, hoặc trả lại cho con cái người
uỷ thác khi họ đến tuổi trưởng thành
Trang 10Hai là: trong thời gian bên được uỷ thác sử dụng đất thì chính họ phải chi trả
cho bên uỷ thác hoặc bên thụ hưởng (do bên uỷ thác chỉ định) một phần hoa lợi từ đất
Trên thực tế bên được uỷ thác thường không thực hiện những điều đã cam kết Theo nguyên tắc của common law, sau khi sang tên đất thì người uỷ thác không còn quyền sử dụng hợp pháp đối với mảnh đất đó mà phần đất này đã thuộc quyền sử dụng của người được uỷ thác Quyền sử dụng đất của người được uỷ thác chỉ bị giới hạn bởi quy phạm đạo đức chứ không bị giới hạn bởi quy phạm pháp luật (người được uỷ thác có bổn phận, theo lương tâm chứ không phải theo pháp luật, trông coi tài sản uỷ thác và chi trả thu nhập cho người được uỷ thác hay người thụ hưởng theo đúng như cam kết trong hợp đồng uỷ thác) Như vậy, theo common law không có loại trát nào có thể bảo vệ lợi ích của người uỷ thác gắn liền với phần đất mà họ không còn quyền sử dụng hợp pháp, và khi có tranh chấp xảy ra thì Toà
án Hoàng gia không thể giải quyết được [1]
Những vụ việc như vậy, người dân thường đệ đơn lên Vua và Vua lại chuyển đơn kiện xuống cho Đại pháp quan xử lý Trước tình huống như vậy, Đại pháp quan cho rằng việc người được uỷ thác từ chối quyền đòi lại đất của người uỷ thác
là vô lý, bất công, trái với đạo đức xã hội, luân lý lương tâm Đại pháp quan nghĩ rằng người được uỷ thác chỉ có quyền được giữ mảnh đất đó vì lợi ích của người uỷ thác và phải trả lại mảnh đất cho người uỷ thác khi người ấy có yêu cầu Vì vậy, khi hợp đồng uỷ thác được thiết lập, Đại pháp quan cưỡng chế thi hành những điều kiện Theo đó hợp đồng uỷ thác được thiết lập để buộc bên được uỷ thác thực hiện những cam kết của mình Những phán quyết này thường kèm theo những hình phạt với cá nhân vi phạm hợp đồng uỷ thác như là: bỏ tù, tịch thu tài sản nếu người uỷ thác không chịu thi hành án Như vậy, biện pháp chế tài duy nhất của common law
là phạt tiền trong khi đó equity law có những biện pháp mới mẻ và linh hoạt khắc phục những hạn chế common law như tuyên bố quyền của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thực hiện hành vi nào đó, cấm bị đơn tiếp tục thự hiện hành vi xâm phạm lợi ích của nguyên đơn,…
Qua thời gian, Đại pháp quan đã dần hoàn thiện nguyên tắc giải quyết những
vụ việc về hợp đồng uỷ thác đồng thời xây dựng những quy phạm pháp luật chi tiết