“Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng nhất định. Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ vốn có ở một sự vật, hiện tượng (một cái riêng) nào đó mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng nào khác. Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính không những có ở một sự vật, một hiện tượng nào đó, mà còn lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng (nhiều cái riêng) khác nữa.” 1Trong cuộc sống, cái riêng biểu hiện khắp mọi nơi, chẳng hạn như con người, mỗi người là một cá thể riêng biệt, không ai giống ai, là cái riêng theo phạm trù của triết học. Cái riêng còn được đề cập khi nhắc đến các phương thức sản xuất khác nhau, như: phương thức thủ công, phương thức áp dụng khoa học kỹ thuật,... Cái riêng còn được hiểu là cái đơn nhất, chẳng hạn: sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam, một mặt có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân thế giới, nhưng mặt khác, giai cấp công nhân Việt Nam lại ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam…“Cái đơn nhất không chỉ là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các cái riêng, mà còn là tiêu chuẩn để phân biệt nó với cái chung, cái phổ biến”. 2Cái đơn nhất được thể hiện ngay khi mỗi cá thể con người được sinh ra, mỗi người có một hệ gen đơn nhất khác nhau. Tương tự, dấu vân tay con người được ứng dụng làm mật khẩu điện thoại cảm ứng, máy tính, các loại thiết bị, máy móc khác để bảo mật thông tin cá nhân, nội bộ.
Trang 1HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM KHOA CƠ BẢN
- -
BÁO CÁO TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
ĐỀ TÀI
CẶP PHẠM TRÙ “CÁI CHUNG – CÁI RIÊNG” VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI
VIỆC XÂY DỰNG VÀ ĐỊNH HÌNH GIÁ TRỊ BẢN THÂN
Giảng viên hướng dẫn: Nhóm sinh viên thực hiện:
NGUYỄN XUÂN THỂ NGUYỄN VĂN TIẾN SƠN – 2158420038
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 1
4 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Phạm vi nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 2
7 Đóng góp của đề tài 2
8 Bố cục của đề tài 3
CHƯƠNG I: CẶP PHẠM TRÙ “CÁI CHUNG – CÁI RIÊNG” TRONG TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN 4
1.1 Nội dung của cặp phạm trù “cái chung – cái riêng” trong triết học Mác – Lênin 4
1.2 Các quan điểm phi Mác xít về cái chung và cái riêng 7
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “cái chung – cái riêng” 8
CHƯƠNG II: Ý NGHĨA CỦA CẶP PHẠM TRÙ “CÁI CHUNG – CÁI RIÊNG” ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ ĐỊNH HÌNH GIÁ TRỊ BẢN THÂN 9
2.1 Khái niệm và vai trò của giá trị bản thân 9
2.2 Ý nghĩa của cặp phạm trù “cái chung – cái riêng” đối với việc định hình giá trị bản thân 11
Trang 32.3 Ý nghĩa của cặp phạm trù “cái chung – cái riêng” đối với việc xây dựng giá trị bản thân 13
KẾT LUẬN 16 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4LỜI CẢM ƠN
“Để hoàn thành tiểu luận này, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban Giám đốc, các thầy cô Giảng viên Học viện Hàng không Việt Nam đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất với hệ thống hỗ trợ trực tuyến và thư viện hiện đại, đa dạng các loại sách, tài liệu thuận lợi cho chúng em trong việc tìm kiếm, nghiên cứu thông tin
Xin cảm ơn Giảng viên bộ môn Triết học Mác – Lê nin – Thầy Nguyễn
Xuân Thể đã giảng dạy tận tình, chi tiết để chúng em được trang bị kiến thức và vận dụng chúng vào bài tiểu luận cuối kì này
Vì chưa có nhiều kinh nghiệm làm đề tài cũng như những hạn chế về kiến thức, trong bài tiểu luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Chúng em rất mong nhận được sự nhận xét, ý kiến đóng góp, phê bình từ phía thầy Giảng viên để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn
Lời cuối cùng, chúng em xin kính chúc thầy cô nhiều sức khỏe, thành công và hạnh phúc.”
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Nhóm chúng em xin giới thiệu tới thầy cô đề tài “Cặp phạm trù “cái chung – cái riêng” và ý nghĩa đối với việc xây dựng và định hình giá trị bản thân”
Chúng em chọn đề tài này vì nó thực sự cần thiết, ý nghĩa với các bạn sinh viên nói riêng và mọi người nói chung trong quá trình học tập, làm việc, từ
đó giúp bổ sung thêm cái nhìn thực tiễn, biết áp dụng nội dung của cặp phạm trù này vào đời sống hàng ngày
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng em còn có nhiều thiếu sót do kiến thức chưa hoàn thiện nhưng những nội dung trình bày trong bài tiểu luận là biểu hiện kết quả của chúng em đạt được dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Xuân Thể
Chúng em xin cam đoan rằng: Những nội dung trình bày trong bài tiểu luận môn Triết học Mác – Lênin này không phải là bản sao chép từ bất kì tiểu luận nào có trước Nếu không đúng sự thật, nhóm chúng em xin chịu mọi trách nhiệm trước thầy cô
Ngày 3 tháng 1 năm 2021 Trưởng nhóm
Sơn
Nguyễn Văn Tiến Sơn
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Ngày … tháng … năm … Giảng viên hướng dẫn
(ký và ghi họ tên)
Trang 7PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
1
Nguyễn Văn Tiến Sơn (Trưởng nhóm)
Thu thập thông tin, dữ liệu
2 Lưu Thế Kiệt Hệ thống hóa lý thuyết, lập dàn ý đề tài
3 Lê Hoàng Mai Trình bày và khái quát đề tài tiểu luận
5 Trịnh Võ Hồng Ánh Hệ thống hóa đề tài, đưa ra phương hướng
Trang 8Tiểu luận Triết học Mác – Lênin GVHD: Nguyễn Xuân Thể
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Phép biện chứng duy vật được ví là linh hồn sống của chủ nghĩa Mác; nó xây dựng thông qua hệ thống những nguyên lý, phạm trù cơ bản và những quy luật phổ biến để phản ánh hiện thực khách quan Nổi bật với khả năng ứng dụng thực tế cao, dựa trên phương diện lý luận và phương diện thực tiễn, việc nghiên cứu những mặt, khía cạnh trong phép biện chứng duy vật có chức năng đưa con người đến gần hơn với việc áp dụng hiệu quả các nguyên tắc tương ứng, định hướng hoạt động lý luận và thực tiễn vào hiện thực cuộc sống
Đặc biệt, xuyên suốt trong quá trình tích lũy tri thức, “giá trị của bản thân” là nét đặc trưng không thể thiếu của con người, cần được khai thác và đẩy mạnh nhằm tạo ra cuộc sống với những giá trị tổng thể đa dạng, phong phú Tuy vậy, không phải ai cũng dễ dàng có khả năng khám phá hay trau dồi bản thân để sở hữu được giá trị riêng cho mình Một yêu cầu được đặt ra là cần phải xác định cơ sở lý luận và thực tiễn để có hướng giải quyết đúng đắn cho vấn đề này
Từ những lí do nêu trên, nhằm vận dụng hiệu quả nội dung và ý nghĩa của cặp phạm trù “cái chung – cái riêng” vào việc tìm kiếm, đồng thời nâng cao giá trị bản thân cho
mỗi cá nhân, nhóm tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Cặp phạm trù “cái chung – cái riêng” và ý nghĩa đối với việc xây dựng và định hình giá trị bản thân”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Chỉ ra những nội dung, ý nghĩa cơ bản của cặp phạm trù “cái chung – cái riêng” Từ
đó ứng dụng cặp phạm trù này vào việc xác định, nâng cao giá trị bản thân cho con người
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
– Hệ thống hóa nội dung, ý nghĩa của cặp phạm trù “cái chung – cái riêng” trong phép biện chứng duy vật
Trang 9Tiểu luận Triết học Mác – Lênin GVHD: Nguyễn Xuân Thể
– Trình bày, phân tích vai trò của giá trị bản thân trong đời sống thực tiễn
– Đánh giá tính năng vận dụng của cặp phạm trù “cái chung – cái riêng” với việc định hình giá trị bản thân
– Đưa ra hệ thống các giải pháp xây dựng giá trị bản thân dựa trên cặp phạm trù “cái chung – cái riêng”
4 Đối tượng nghiên cứu
Cặp phạm trù “cái chung – cái riêng”
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung của đề tài nghiên cứu về cặp phạm trù “cái chung – cái riêng” và
ý nghĩa đối với việc định hình và xây dựng giá trị bản thân gồm những nội dung sau: hệ thống kiến thức về các khái niệm, mối liên hệ, ý nghĩa; vận dụng cặp phạm trù “cái chung – cái riêng” để định hình, nâng cao giá trị bản thân
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ nghiên cứu cũng như đạt được mục tiêu đề tài, nhóm tác giả sử dụng các biện pháp nghiên cứu sau đây:
– Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: giúp xây dựng một hệ thống khái
niệm, phạm trù nhằm tạo thành lý thuyết khoa học mới Từ đó, có tư duy tổng hợp để vận dụng cho bất kì vấn đề mới có thể nảy sinh
– Phương pháp giả thuyết (phương pháp đề xuất và kiểm chứng giả thuyết): là
phương pháp biện luận, được dùng như một thử nghiệm của tư duy, dựa trên cơ sở phán đoán, suy lý giả thuyết có phù hợp hay không, từ đó rút ra kết luận chính xác
7 Đóng góp của đề tài
– Đóng góp về mặt lý luận: củng cố hệ thống kiến thức lý luận hiện có; làm phong phú thêm hệ thống lý luận
Trang 10Tiểu luận Triết học Mác – Lênin GVHD: Nguyễn Xuân Thể
– Đóng góp về mặt thực tiễn: trình bày và phân tích ảnh hưởng của cặp phạm trù “cái chung – cái riêng” đối với giá trị bản thân; đề xuất ra giải pháp xây dựng, phát triển giá trị bản thân
Trang 11Tiểu luận Triết học Mác – Lênin GVHD: Nguyễn Xuân Thể
CHƯƠNG I: CẶP PHẠM TRÙ “CÁI CHUNG – CÁI RIÊNG” TRONG TRIẾT
HỌC MÁC – LÊNIN 1.1 Nội dung của cặp phạm trù “cái chung – cái riêng” trong triết học Mác – Lênin
1.1.1 Khái niệm cái riêng, cái đơn nhất và cái chung trong triết học Mác – Lênin
“Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng nhất định Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ vốn có ở một sự vật, hiện tượng (một cái riêng) nào đó mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng nào khác Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính không những có ở một sự vật, một hiện tượng nào đó, mà còn lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng (nhiều cái riêng) khác nữa.” [1]
Trong cuộc sống, cái riêng biểu hiện khắp mọi nơi, chẳng hạn như con người, mỗi người là một cá thể riêng biệt, không ai giống ai, là cái riêng theo phạm trù của triết học Cái riêng còn được đề cập khi nhắc đến các phương thức sản xuất khác nhau, như: phương thức thủ công, phương thức áp dụng khoa học kỹ thuật, Cái riêng còn được hiểu là cái đơn nhất, chẳng hạn: sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam, một mặt có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân thế giới, nhưng mặt khác, giai cấp công nhân Việt Nam lại ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam…
“Cái đơn nhất không chỉ là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các cái riêng,
mà còn là tiêu chuẩn để phân biệt nó với cái chung, cái phổ biến” [2]
Cái đơn nhất được thể hiện ngay khi mỗi cá thể con người được sinh ra, mỗi người
có một hệ gen đơn nhất khác nhau Tương tự, dấu vân tay con người được ứng dụng làm mật khẩu điện thoại cảm ứng, máy tính, các loại thiết bị, máy móc khác để bảo mật thông tin cá nhân, nội bộ
Bất cứ một dạng vật chất cụ thể nào cũng có những thuộc tính chung như: tính khách quan, vận động, không gian, thời gian, phản ánh,… Chẳng hạn, hai loại nước ngọt Coca
Trang 12Tiểu luận Triết học Mác – Lênin GVHD: Nguyễn Xuân Thể
Cola và Pepsi đều có thành phần chung là nước bão hòa CO2, chất tạo ngọt tổng hợp; hai thành phần trên được gọi là cái chung của Coca Cola và Pepsi
Một người có linh hồn riêng, ADN riêng, dấu vân tay riêng,… thì đều là những cái đơn nhất; người đó có mái tóc đen, da vàng của người châu Á thì đấy là những cái chung Suy rộng ra, trong triết học, một cái riêng có thể có nhiều cái chung và nhiều cái đơn nhất Cái riêng bao quát và rộng lớn Khi xem xét cặp phạm trù “cái chung – cái riêng”, cần phải đặt vào hệ quy chiếu nhất định, cụ thể để hiểu và có hướng đi đúng đắn khi phân tích bất cứ một hiện tượng, sự vật trong thế giới khách quan
1.1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung, cái riêng và cái đơn nhất
Phép biện chứng duy vật của triết học Mác – Lênin cho rằng “cái riêng”, “cái chung”
và “cái đơn nhất” đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau Theo Lênin: “ “Cái chung” chỉ tồn tại trong “cái riêng”, thông qua “cái riêng” để biểu hiện sự tồn tại của mình” Tức là không có cái chung nào thuần túy tồn tại biệt lập bên ngoài cái riêng.Ví dụ: không có “động vật” chung tồn tại bên cạnh con chó, con mèo, con lợn cụ thể Trong bất cứ con chó, con mèo, con lợn riêng lẻ nào cũng đều bao hàm trong nó thuộc tính chung của động vật đó là quá trình trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường
Cái riêng chỉ tồn tại trong cái chung Nghĩa là không có cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập với cái chung Ví dụ, nền văn hóa nào cũng có những đặc điểm khác nhau nhưng đều được hình thành từ lịch sử phát triển và phong tục tập quán của mỗi nền văn hóa ấy, đây là cái chung
Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn vì ngoài những đặc điểm của cái chung thì cái riêng còn có những đặc điểm riêng biệt giúp ta phân biệt Còn cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phản ánh thuộc tính, những mối liên hệ lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại, ta có công thức:
Cái riêng = Cái chung + Cái đơn nhất
Trang 13Tiểu luận Triết học Mác – Lênin GVHD: Nguyễn Xuân Thể
Công thức trên không hoàn toàn đúng nhưng về một mức độ nào đó, nó cho thấy mối quan hệ toàn diện của cái chung, cái riêng và cái đơn nhất Cái chung là bản chất, chiều sâu của sự vật nhưng cái riêng là toàn bộ vì nó là một thực thể sống động Trong cái riêng luôn tồn tại đồng thời cái chung và cái đơn nhất Nhờ vậy mà những cái riêng vừa
có thể tác động, vừa chuyển hóa cho nhau nhưng vừa có sự tách biệt Ví dụ: Ngoài những đặc điểm chung cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trên thế giới thì ở Việt Nam,
tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin, bằng việc áp dụng phù hợp với con người và hoàn cảnh của Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập tự do dân tộc lúc bấy giờ
Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của
sự vật Sự phân biệt giữa cái chung và cái đơn nhất trong nhiều trường hợp chỉ mang tính chất tương đối Ví dụ: Một sáng kiến khi mới ra đời – nó là cái đơn nhất Với mục đích nhân rộng sáng kiến đó để áp dụng trong thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội, có thể thông qua các tổ chức trao đổi, học tập để phổ biến sáng kiến đó thành cái chung, cái phổ biến, khi đó cái đơn nhất đã trở thành cái chung…
Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung đã được V.I.Lênin khái quát ngắn
gọn: “Như vậy, các mặt đối lập (cái riêng đối lập với cái chung) là đồng nhất: cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Bất cứ cái riêng nào cũng là cái chung Bất cứ cái chung nào cũng
là một bộ phận, một khía cạnh, hay một bản chất của cái riêng Bất cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi vật riêng lẻ Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái chung, V.V., V.V Bất cứ cái riêng nào cũng thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa mà liên hệ với những cái riêng thuộc loại khác (sự vật, hiện tượng, quá trình), v.v.” [3] [4]
Trang 14Tiểu luận Triết học Mác – Lênin GVHD: Nguyễn Xuân Thể
1.2 Các quan điểm phi Mác xít về cái chung và cái riêng
1.2.1 Nội dung các quan điểm phi Mác xít về cái chung và cái riêng
Trong lịch sử triết học, những nhà nghiên cứu còn đề cập đến hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa “cái riêng” và “cái chung”, đó là phái duy thực và phái duy danh
– Phái duy thực: Phái duy thực đồng nhất với thượng đế là trường phái triết học có ý
kiến về mối quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng”, theo quan điểm thì “cái riêng” chỉ tồn tại tạm thời, chỉ có “cái chung” mới tồn tại vĩnh viễn, độc lập với ý thức của con người “Cái chung” không phụ thuộc vào “cái riêng”, mà còn sinh ra “cái riêng”
Ví dụ: Sông là một khái niệm chung và chỉ có khái niệm sông mới tồn tại mãi mãi, còn những con sông có tên riêng khác vẫn có thể mất đi
– Phái duy danh: phái duy danh với một số nhà triết học như P.Abơla hay Đumxcot
cho rằng: chỉ có “cái riêng” mới tồn tại thực sự, còn cái chung là những tên gọi sáo rỗng,
do con người đặt ra, không phản ánh điều gì trong hiện thực Quan điểm này không thừa nhận nội dung khách quan của các khái niệm Những khái niệm đôi khi không có ý nghĩa
gì trong cuộc sống của con người, chỉ là những từ trống rỗng, không cần phải bận tâm Ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bị mờ nhạt và con người không cần phải để tâm đến cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học nữa Ví dụ: Không xem xét hoặc nắm bắt loài bò sát một cách bao quát, mà lại xem xét từng loài vật bò sát hoặc từng cá nhân đơn lẻ nhất định [5]
1.2.2 Điểm nổi bật của chủ nghĩa Mác – Lênin so với những tư tưởng phi Mác xít
Qua những phân tích trên, ta thấy những quan điểm phi Mác xít đều sai lầm ở chỗ không thấy được sự tồn tại khách quan và mối liên hệ giữa chúng Các phái đã tách rời cái riêng khỏi cái chung, tuyệt đối hóa cái chung, phủ nhận cái riêng hoặc ngược lại Còn chủ nghĩa Mác – Lênin đã có cái nhìn toàn diện của vấn đề hơn so với hai phái duy