GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY LỌC DẦU DUNG QUẤT MỤC LỤC Chương I: GIỚI THIỆU VỀ NHÀ MÁY 5 1) Phần mở đầu 5 2) Quá trình hình thành và triển khai thực hiện dự án xây dựng NMLD 8 Chương II: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY LỌC DẦU DUNG QUẤT 8 1) Địa điểm và diện tích sử dụng và cơ cấu sản phẩm 8 2) Sơ đồ vị trí nhà máy 9 3) Công suất chế biến và nguyên liệu 10 4) Cấu hình nhà máy 10 5) Cơ cấu sản phẩm 12 6) Tiến độ tổng thể 12 CHƯƠNG III: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÁC PHÂN XƯỞNG CỦA NHÀ MÁY 13 1) Các phân xưởng công nghệ 13 2) Các phân xưởng phụ trợ: 19 3) Các phân xưởng bên ngoài hàng rào nhà máy (offsite facilities) 19 4) Các thiết bị trên biển 20 CHƯƠNG IV: HÌNH ẢNH MỘT SỐ HẠNG MỤC CÔNG TRÌNH 20 1) Phao rót dầu spm và tuyến ống dẫn dầu thô 20 2) Khu bể chứa dầu thô 20 3) Các phân xưởng công nghệ 21 4) Nhà máy điện và các trạm điện 25 5) Hệ thống nhập nước biển làm mát 25 6) Khu bể chứa trung gian 26 7) Hệ thống ống dẫn sản phẩm: 26 8) Khu bể chứa sản phẩm 27 9) Trạm xuất sản phẩm bằng đường bộ 28 10) Cảng xuất sản phẩm bằng đường biển 28 11) Đê chắn sóng 29 12) Khu nhà hành chính và điều hành 30 13) Nhà máy sản xuất Polypropylene 31 Chương I. GIỚI THIỆU VỀ NHÀ MÁY 1) Phần mở đầu Phát triển ngành công nghiệp lọc hóa dầu là chỉ số đánh giá thành công sự nghiệp công nghiệp hóa của mỗi quốc gia, bởi đây là ngành công nghiệp mũi nhọn có vai trò nền tảng với những ảnh hưởng sâu rộng đến cục diện của một nền kinh tế. Dự án xây dựng Nhà máy lọc dầu ( NMLD) ở nước ta được Đảng và Chính phủ chủ trương từ rất sớm, xuất phát từ yêu cầu đảm bảo an ninh năng lượng và nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Quá trình hình thành và triển khai thực hiện dự án NMLD đầu tiên của nước ta đã trải qua những giai đoạn khác nhau với nhiều khó khăn, thách thức to lớn song phản ánh tầm hoạch định chiến lược và quyết tâm của Đảng, Nhà nước đối với việc quy hoạch cũng như xác định lộ trình phát triển cho ngành công nghi ệp lọc hóa dầu đầy mới mẻ của Việt Nam. Trong khu vực Châu Á, chúng ta thấy Hàn Quốc mặc dù phải nhập hoàn toàn dầu thô nhưng đã xây dựng 6 NMLD với tổng công suất 127,5 triệu tấnnăm, vượt 30% so với nhu cầu sử dụng nội địa. Singapore không có dầu thô nhưng với chiến lược trở thành trung tâm lọc hóa dầu của khu vực nên đã đầu tư xây dựng 3 NMLD với tổng công suất là 62,7 triệu tấnnăm, đứng thứ 5 ở Châu Á. Đài Loan phải nhập dầu thô, nhưng có 4 NMLD với tổng công suất 45,8 triệu tấnnăm. Indonesia có 8 NMLD ổt ng công suất là 49,4 triệu tấnnăm. Trung Quốc trong công cuộc hiện đại hóa đã chú trọng đầu tư đặc biệt vào việc tăng nhịp độ và chất lượng phát triển của ngành dầu khí. Trung Quốc có 95 nhà máy lọc hóa dầu với tổng công suất khoảng 225,5 triệu tấnnăm. Trung Quốc đang thực hiện lộ trình phát triển công nghiệp lọc hóa dầu với mục tiêu đến năm 2010 đạt công suất trên 8 triệu thùng dầungày. Việt Nam là quốc gia có trữ lượng dầu thô vào hàng đầu so với các nước Đông Á, chỉ sau Trung Quốc, Inđônêxia và Malaysia. Hiện nay, trữ lượng dầu khí của Việt Nam vào khoảng 4 4,5 tỷ tấn dầu quy đổi. Trữ lượng xác minh khoảng 1,8 tỷ tấn. Năm 2005, sản lượng khai thác dầu khí của Việt Nam đạt gần 25,7 triệu tấn dầu quy đổi, trong đó có 18,8 triệu tấn dầu thô và gần 6,9 tỷ m3 khí. Bên cạnh việc tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở trong nước, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã triển khai 7 đề án hợp tác thăm dò, khai thác dầu khí ở nước ngoài, trong đó giữ vai trò điều hành tại Hợp đồng lô 433a 416b ở Algeria và Hợp đồng phát triển Mỏ Amara ở Iraq. Là quốc gia xuất khẩu dầu thô nhưng hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu toàn bộ sản phẩm xăng dầu. Cụ thể năm 2005 Việt Nam phải nhập trên 12 triệu tấn xăng dầu. Dự báo đến năm 2010 , nhu cầu sử dụng xăng dầu trong nước sẽ vào khoảng 17 triệu tấn và năm 2020 khoảng 34 35 triệu tấn. Theo Bộ Tài chính, chỉ riêng quý I2005 , Nhà nước phải bỏ ra 4.870 tỉ đồng để bù lỗ cho việc nhập khẩu xăng dầu nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước. Việc đầu tư xây dựng Nhà máy lọc dầu Dung Quất cho phép chúng ta chế biến dầu thô trong nước, đảm bảo từng bước về an ninh năng lượng, giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp xăng dầu từ nước ngoài, góp phần vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Theo tính toán của dự án , NMLD Dung Quất khi đi vào hoạt động với công suất 6,5 triệu tấnnăm , sẽ đáp ứng được khoảng 33% nhu cầu sử dụng xăng dầu trong nước. Bên cạnh đó, việc đầu tư xây dựng NMLD Dung Quất còn là động lực to lớn để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Quảng Ngãi và các tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung và là điều kiện quan trọng nhằm đảm bảo an ninh quốc phòng, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược hiện nay là xây dựng và bảo vệ tổ quốc. NMLD Dung Quất được xây dựng tại địa bàn hai xã Bình Trị và Bình Thuận, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi trong quy hoạch của Khu kinh tế Dung Quất với hệ thống cảng biển nước sâu và vịnh kín gió đã tạo nên một vị trí chiến lược ở phía Bắc vịnh Cam Ranh, xác lập hệ thống phòng thủ ven biển bảo vệ các khu vực đặc quyền kinh tế và hỗ trợ các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam. Vị trí này còn được coi là đầu mối của tuyến đường ngắn nhất không phải qua eo biển Malacca và cảng Bangkok để chuyên chở hàng hóa từ các nước trong khu vực đi qua Miền Trung Việt Nam, tới Myanmar, Bắc Thái Lan và Nam Trung Quốc. Khu vực này sau khi được đầu tư và phát triển sẽ có vai trò bao quát toàn bộ vùng Biển Đông, giành được thế chủ động về an ninh, quốc phòng cũng như giao lưu kinh tế.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NHÀ
MÁY LỌC DẦU DUNG QUẤT
Trang 2DS: Thành Viên
Trang 41 TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY LỌC DẦU DUNG
QUẤT
Trang 51.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN DỰ ÁN NHÀ MÁY
LỌC DẦU DUNG QUẤT
- Phát triển ngành công nghiệp lọc - hóa dầu là chỉ số đánh giá thành công sự nghiệp công nghiệp hóa của
mỗi quốc gia bởi đây là ngành công nghiệp mũi nhọn có vai trò nền tảng với những ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều mặt của một nền kinh tế Việt Nam là quốc gia có trữ lượng dầu thô vào hàng đầu so với các nước Đông Á, chỉ sau Trung Quốc, Indonesia và Malaysia Là nước có dầu thô xuất khẩu, song tính đến trước khi NMLD Dung Quất
hoạt động, Việt Nam phải nhập khẩu hoàn toàn sản phẩm xăng dầu phục vụ nhu cầu nội địa Việc đầu tư xây dựng nhà máy lọc dầu cho phép chúng ta chế biến dầu thô trong nước, đảm bảo từng bước về an ninh năng lượng, giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp xăng dầu từ nước ngoài, góp phần vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa
- hiện đại hóa đất nước
Trang 6 Chia thành nhiều giai đoạn phát triển:
+ Giai đoạn từ năm 1977 đến năm 1991
- Hợp tác hữu nghị với Liên Xô lập dự án xây dựng Khu Liên hợp lọc - hóa dầu tại thành Tuy Hạ , huyện Long Thành (nay là huyện Nhơn Trạch), tỉnh Đồng Nai Ngay từ cuối thập kỷ 70, sau khi có những hợp tác quan trọng với Liên Xô về lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam, Đảng
và Nhà nước ta đã chú trọng đến việc hình thành một chiến lược xây dựng ngành công nghiệp lọc - hóa dầu
+ Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 1996
- Tiếp tục tìm kiếm các đối tác liên doanh để đầu tư xây dựng nhà máy lọc dầu số I tại Dung Quất - Quảng Ngãi Sau khi dự án khu Liên hợp lọc - hóa dầu thành Tuy Hạ gặp trở ngại, việc tiếp tục chuẩn bị xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam được Chính phủ chỉ đạo khẩn trương hơn Công tác khảo sát và
nghiên cứu lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy được tiến hành tại nhiều khu vực dọc bờ biển Việt Nam
Các chuyên gia khảo sát địa điểm xây dựng NMLD tại Dung Quất, Quảng Ngãi
Thủ tướng Võ Văn Kiệt trực tiếp thị sát khu vực vịnh
Dung Quất - Quảng Ngãi
TS Trương Đình Hiển và cộng sự đang mghiên cứu tại vịnh Dung Quất Quảng Ngãi để tìm địa điển xây dựng NMLD đầu
tiên.
Trang 7+ Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 1998
- Thực hiện phương án tự đầu tư theo Quyết định 514/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tổng công ty dầu khí Việt Nam tiếp tục lập Luận chứng nghiên cứu khả thi chi tiết Dự án Nhà máy lọc dầu số 1 theo
phương án Việt Nam tự đầu tư
Lễ động thổ khởi công xây dựng Nhà máy lọc dầu số 1
+ Giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2003
- Hợp tác với Nga thành lập Công ty Liên doanh NMLD Việt – Nga (Vietross) để triển khai dự án theo hình thức liên doanh với tỷ lệ góp vốn 50/50 Cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng trong khu vực châu Á đã có những tác động xấu đến việc huy động vốn để thực hiện dự án xây dựng NMLD Dung Quất Ngoài số vốn do Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã dự kiến thu xếp theo chỉ đạo của Chính phủ để đầu tư vào dự án thì việc thu xếp khoản tài chính còn lại là quá lớn và khó có thể thực hiện được Trước tình hình đó, phương án Liên doanh với Nga để hợp tác xây dựng và vận hành NMLD số 1 tại Dung Quất được xúc tiến.
Kỳ họp thứ II HĐQT Công ty liên doanh Nhà máy lọc dầu Việt - Nga
Trang 8Rà phá bom mìn lại khu vực xây dựng Nhà máy lọc dầu Thi Công san lấp mặt bằng khu nhà máy chính
Lễ ký Hợp đồng cung cấp bản quyền Công nghệ Cracking xúc tác giữa
Công ty Liên doanh Vietross với Viện dầu khí Pháp
Lễ ký Hợp đồng cung cấp bản quyền Công nghệ LTU, NTU, KTU và CNU giữa Công ty Liên doanh Vietross và Foster Wheeler
Trang 9+ Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2005
- Sau khi phía Nga rút khỏi Liên doanh “Vietross”, dự án xây dựng NMLD Dung Quất trở lại với phương án
tự đầu tư Chính phủ đã giao cho PVN tiếp tục triển khai thực hiện Dự án NMLD Dung Quất theo những nội dung Quyết định số 514/QĐ-TTg ngày 10/7/1997 của Thủ tướng Chính phủ
Lễ khởi công các gói thầu EPC 1+2+3+4 NMLD Dung Quất. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Lễ đón mừng
sản phẩm đầu tiên của NMLD Dung Quất
Các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước cắt băng đón mừng
sản phẩm đầu tiên của NMLD Dung Quất
Chuyến xe bồn đầu tiên nhận sản phẩm của NMLD Dung Quất
Trang 10- Ngày 30/5/2010, dự án NMLD Dung Quất chính thức được bàn giao từ Tổ hợp TPC sang cho chủ đầu tư, kết thúc giai đoạn xây dựng và vận hành chạy thử và nghiệm thu nhà máy
Lễ bàn giao NMLD Dung quất giữa Nhà thầu TPC và Chủ đầu tư
Trang 11+ Giai đoạn từ năm 2005 đến năm hiện nay
- Ngày mùng 6/1/2011 Sau gần 2 năm chạy thử, nghiệm thu và bàn giao PVN đã long trọng tổ chức Lễ khánh thành NMLD Dung quất - NMLD đầu tiên của Việt Nam. Trở lại hình thức tự đầu tư và triển khai xây dựng
Nhà máy theo Quyết định 546/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. trong hơn 5 năm qua, công tác vận hành các thiết bị của nhà máy có yêu cầu kỹ thuật rất phức tạp, đòi hỏi sự tự vươn lên của đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật để làm chủ công nghệ, đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho đội ngũ người lao động; đã xảy ra những sự
cố, tình huống kỹ thuật trong vận hành sản xuất chưa từng có trong tiền lệ
Lễ khánh thành NMLD Dung quất - NMLD đầu tiên của Việt Nam.
Trang 12+ Giai đoạn 2021
- Do ảnh hưởng của
dịch Covid-19, lượng
tiêu thụ xăng dầu
trong nước sụt giảm,
Trang 1313
Trang 151.2 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY LỌC DẦU DUNG QUẤT
1.1 Vị trí địa lý
Địa điểm: Nhà máy được xây dựng tại Khu
kinh tế Dung Quất, thuộc địa bàn các xã
Bình Thuận và Bình Trị, huyện Bình Sơn,
tỉnh Quảng Ngãi.
- Diện tích sử dụng: Khoảng 956 ha (bao
gồm cả 140 ha mở rộng trong tương lai)
- (Hiện tại): Bao gồm 485 ha mặt đất và
471 ha mặt biển,
Trang 161.2 Sơ đồ vị trí nhà máy:
Sơ đồ mặt bằng bố trí NMLD Dung Quất
- Mặt bằng dự án gồm có 4 khu
vực chính: các phân xưởng công
nghệ và phụ trợ; khu bể chứa dầu
thô; khu bể chứa sản phẩm cảng
xuất sản phẩm; phao rót dầu
không bến và hệ thống lấy và xả
nước biển Những khu vực này
được nối với nhau bằng hệ thống
ống với đường phụ liền kề.
Trang 171.4 Cấu hình nhà máy:
Sau khi thực hiện hợp đồng phát triển thiết kế tổng thể (FDC), cấu hình nhà máy được cơ bản như sauHiệu chỉnh công suất của 15/22 phân xưởng công nghệ và phụ trợ cũ Nâng dung tích chứa khu bể chứa trung gian từ 186,5 lên 336,7 nghìn m3 Tăng dung tích xây lắp khu bể chứa dầu thô từ 448,4 lên 502,6 nghìn m3 Tăng dung tích làm việc của khu bể chứa sản phẩm từ 397,0 lên 403,8 nghìn m3 Nâng cấp và bổ sung hệ thống điểu khiển hiện đại và tiên tiến nhất cho nhà máy Bố trí lại mặt bằng nhà máy phù hợp với thiết kế mới nhằm nâng cao hiệu quả vận
Trang 181.5 Công suất chế biến và nguyên liệu
- Năm 2020, BSR mua khoảng 6,45 triệu tấn dầu thô trong nước và nhập khẩu trong đó khối lượng dầu Việt Nam (Bạch Hổ, Tê Giác Trắng, Sư Tử Đen, Ruby, Chim Sáo, Rạng Đông) là 4,35 triệu tấn, khối lượng dầu thô nhập khẩu các loại (Azeri, WTI Midland, Bonny Light và Sokol) là 2,1 triệu tấn
Giai đoạn II- dầu phối trộn (Bạch Hổ/Trung Đông = 85/15)
Nha)
Trang 191.6 Cơ cấu sản phẩm:
Trang 202 KHÁI QUÁT VỀ
CÁC PHÂN
XƯỞNG TRONG
NHÀ MÁY
Trang 212.1 Phân xưởng
chưng cất khí
quyển (CDU)
Công suất thiết kế 6,5 triệu tấn dầu thô/năm.
Phân xưởng chưng cất khí quyển có nhiệm vụ phân tách dầu thô nguyên liệu thành các phân đoạn thích hợp cho các quá trình chế biến hạ nguồn trong Nhà máy ( Phân đoạn thu hồi LPG, phân đoạn naphtha, Phân đoạn Kerosene, Phân đoạn Light Gas Oil, Phân đoạn Heavy Gas Oil, phân đoạn xử lý cặn,…)
Trang 222.2 Phân xưởng Naphtha Hydrotreater (NHT)
Trang 232. 3 Phân xưởng Reforming, U-013 ( CCR)
Trang 24 Sản phẩm chính của phân xưởng: Isomerate làm cấu
tử pha trộn xăng.
Trang 25 Kerosene thành phẩm phải đạt tiêu chuẩn của Jet A1
Do nhu cầu hiện nay về dầu đốt (KER) là rất nhỏ, do
đó khi có nhu cầu, Jet A1 sẽ được bán như KER thương phẩm Ngoài ra một phần Kerosene thành phẩm có thể được sử dụng làm phối liệu cho DO/FO khi cần.
Trang 2626
Trang 27 Quá trình trích ly được tiến hành trong hai thiết bị mắc nối tiếp trong đó dòng LPG và dòng kiềm di chuyển ngược chiều LPG đã xử lý được đưa sang phân xưởng thu hồi Propylene Kiềm thải được đưa sang phân xưởng trung hòa kiềm thải (CNU).
Trang 28 Dòng Naphtha sản phẩm được đem đi phối trộn xăng thương phẩm hoặc đưa vào bể chứa trung gian Kiềm thải được đưa sang phân xưởng trung hòa kiềm thải (CNU).
Trang 29- Phenolic Caustic từ Phân xưởng xử lý Naphtha
Trang 302.10 Phân xưởng
thu hồi Propylene,
U-021 (PRU)
30
Công suất thiết kế 77.240 kg/h.
Phân xưởng PRU được thiết kế để phân tách thu hồi Propylene trong dòng LPG đến từ phân xưởng LTU
Propylene sản phẩm phải được làm sạch đến phẩm cấp Propylene dùng cho hóa tổng hợp (99,6 % wt) Phân xưởng gồm có ba tháp chưng cất :
Trang 3131
Trang 323.THÀNH TỰU ĐÃ
ĐẠT ĐƯỢC
Trang 33Kết quả đạt được ở năm 2020
- BSR giữ vững đà hồi phục bằng việc ghi nhận lợi nhuận sau thuế dương quý thứ hai liên tiếp Cụ thể, lợi nhuận sau thuế Quý 4/2020, đạt hơn 1.246 tỷ đồng, tăng gấp 7.6 lần so với quý 3 Lũy kế cả năm 2020, mặc dù chưa thể tăng trưởng lợi nhuận dương trở lại nhưng kết quả đã đạt được trong Quý 4/2020 là đáng ghi nhận
- Sản lượng sản xuất và tiêu thụ vượt 6.6% chỉ tiêu kế hoạch đề ra, cho thấy nỗ lực của BSR trong việc tăng công suất nhà máy nhằm đón đầu nhu cầu tiêu thụ trong dịp lễ tết năm 2021, nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả vận hành và an toàn
- Đạt 4 mục tiêu đã đề ra: An toàn, chất lượng, tiến độ và chi phí.
- Đạt tiêu chí 5 không về an toàn: không tai nạn mất ngày công, không sự cố cháy nổ, không sự cố an ninh trật tự và không sự cố môi trường
Trang 34- Công tác tiết giảm chi phí của BSR đạt hiệu quả tốt Chi phí bán hàng, quản lý lần lượt giảm 22,9% và 30,1% so với năm 2019 Tổng chi phí đã tiết giảm trong năm 2020 khoảng 1.844
tỷ đồng, đóng góp lớn vào việc giảm mức lợi nhuận âm của cả năm
- Cơ cấu nguồn vốn, dòng tiền của BSR tiếp tục duy trì tích cực Tính đến cuối năm 2020, nợ vay dài hạn giảm mạnh 41,7% so với đầu năm về 3.022 tỷ đồng Với lộ trình trả nợ hiện nay,
dự kiến đến năm 2023, Công ty sẽ hoàn tất trả khoản vay này, qua đó vừa giúp tiết kiệm lãi vay, vừa giúp dòng tiền thặng dư đáng kể, tạo dư địa cho Dự án nâng cấp mở rộng NMLD Dung Quất
Trang 3535
Trang 37Công tác sản xuất – kinh doanh
Ngày 22/2/2009 : NMLD Dung Quất sản xuất dòng sản phẩm đầu tiên
Ngày 6/1/2010: Lễ Khánh Thành NMLD Dung Quất
Ngày 20/5/2010 : Petrovietnam và tổ hợp nhà thầu Technip tổ chức lễ bàn giao NMLDNgày 1/8/2011 NMLĐ dừng hoạt động để mở rộng công suất 10 triệu tấn/năm
Ngày 5/8/2012 NMLD dừng hoạt động để khắc phúc một số lỗi kỹ thuật
Ngày 16/8/2012 NMLD đã hoạt động trở lại với 100% công suất
Trang 40Các giải thưởng đạt được
♦ Ngày 21 /10 /2020 , 4 công trình của BSR được trao giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam VIFOTEC 2019
♦ Ngày 29 /11 /2020 , đề tài “Giải pháp ứng dụng thiết bị bay không người lái phục
vụ công tác kiểm tra thiết bị vận hành trong NMLD Dung Quất ” đã được tuyên dương “Tuổi trẻ sáng tạo ” toàn quốc năm 2020
♦ Ngày 21 /12 /2020 , đề tài “Giải pháp loại bỏ tạp chất kim loại sắt và canxi trong nguyên liệu phân xưởng RFCC” của BSR đạt giải Ba cuộc thi Năng suất chất lượng ngành Công thương
Trang 4141
Trang 44VIỆC LÀM
- BSR luôn đảm bảo chế độ tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể và tuân thủ các quy định của Nhà nước về chế độ chính sách cho người lao động Trong năm 2020, tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty gặp rất nhiều khó khăn do tác động kép của dịch bệnh Covid-19 và giá dầu giảm sâu Tuy nhiên, bằng sự nỗ lực của Tập thể CBCNV Công ty, tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi và chế độ chính sách khác của Người lao động vẫn luôn được đảm bảo Tiền lương, tiền thưởng năm 2020 của người lao động được giữ ở mức ổn định so với năm
2019 số liệu 2020