Muốn vậy thì khâu đầu tiên, có ý nghĩa quyết định là hãy làm cho lớp trẻ - những người chủ thực sự của đất nước trong thế kỷ tới – nhận ra điều đó, quen dần với những thói quen tốt đẹp n
Trang 1Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn
Thời gian: 120 phút
Câu 1 (1,5 điểm).
a) Xác định phương thức biểu đạt chính được
sử dụng trong đoạn văn bản sau:
“Bước vào thế kỉ mới, muốn “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” thì chúng ta sẽ phải lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ những điểm yếu Muốn vậy thì khâu đầu tiên, có ý nghĩa quyết định là hãy làm cho lớp trẻ - những người chủ thực sự của đất nước trong thế kỷ tới – nhận ra điều đó, quen dần với những thói quen tốt đẹp ngay từ những việc nhỏ nhất.”
(Vũ Khoan, Một góc nhìn của trí thức, Tập
1, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh)
b) Phân tích giá trị của biện pháp tu từ được sửdụng trong câu thơ sau:
“Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng”
Trang 2(Đỗ Trung Quân, Quê hương)
Câu 2 (2,5 điểm).
Trong bài thơ Nghe tiếng giã gạo, Hồ Chí
Minh cho rằng “Sống ở trên đời”, con người phải “Gian nan rèn luyện mới thành công”.
Em hãy viết một đoạn văn nghị luận xã hội(khoảng 10 câu văn) theo cách lập luận diễndịch để trình bày suy nghĩ của mình về ý kiếntrên
Câu 3 (6,0 điểm).
Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện
ngắn Làng của nhà văn Kim Lân để làm rõ: Ở
người nông dân này, tình yêu làng tha thiết thống nhất với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến.
Đáp án & Thang điểm
Câu 1:
a) Phương thức biểu đạt chính trong đoạn tríchtrên: Nghị luận
b)
Trang 3- Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ:
So sánh “Quê hương là con diều biếc”
- tác dụng
Nghệ thuật so sánh tạo nên hình ảnh đẹp đầy
sáng tạo, đặc sắc và độc đáo Hình ảnh “con diều biếc” –cụ thể, thân thuộc, bình dị, nên
thơ để so sánh với quê hương đã gợi tả mộtkhông gian tuyệt đẹp – có bầu trời cao xanh,
có cánh đồng thoáng đãng với “con diều biếc” bay bổng, gợi hoài niệm tuổi thơ gắn với
quê hương yêu dấu
Câu 2: Nghị luận xã hội
2.1.Giải thích:
Trang 4- Gian nan nghĩa là gian khổ, khó khăn, vất
vả, là điều kiện, là hoàn cảnh, là thử thách đểthử, để đo sức của mỗi người
- Rèn luyện là thực hành, trải nghiệm, trải qua
khó khăn, thử thách, trau dồi kiến thức, ý chí,nghị lực
- Thành công là đạt được điều mình mong
muốn, mục tiêu đề ra
→ Đó là một lời khuyên để mọi người vữngchí, bền lòng, kiên trì không nản trước khókhăn thất bại Tất cả thành công đều trải quaquá trình phấn đấu, phải chịu đựng khó khăn,gian khổ, phải được tôi luyện vượt qua mọithử thách mới thành công
2.2 Bình luận, chứng minh:
- "Gian nan rèn luyện mới thành công” là câu
thơ cuối trong bài thơ “Nghe tiếng giã gạo” của Chủ tịch Hồ Chí Minh Câu thơ đầy
tính triết lý nhân sinh, thể hiện kinh nghiệm,
sự lạc quan của Người, quyết không chịu lùibước trước những gian nan, thử thách để chạmđích thành công
Trang 5- Thực vậy, không có thành công nào lạikhông được đánh đổi bằng mồ hôi, công sức,thậm chí là nước mắt và xương máu Trên conđường đi đến thành công, nhiều khi chúng taphải nếm trải hoàn cảnh, khó khăn, rào cản vàthậm chí cả thất bại đúng như câu tục
ngữ “Lửa thử vàng, gian nan thử sức" hay “Thất bại là mẹ thành công”
- Gian nan là thách thức và cũng là cơ hội.Nếu kiên trì rèn luyện chúng ta sẽ vượt qua tất
cả, chúng ta sẽ đạt được điều mình muốn, sẽthành công Ngược lại, nếu nản chí, nhu nhược
sẽ bị những gian nan nhấn chìm và rơi vào thấtbại
- Dẫn chứng:
+ Tấm gương về Hồ Chí Minh luôn vươnlên trong mọi hoàn cảnh, trở thành vị lãnh tụ
vĩ đại của dân tộc
+ Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký (Nam Định),năm lên bốn tuổi, thầy bị bệnh bại liệt hai taynhưng bằng nghị lực phi thường, thầy đã phấnđấu rèn luyện viết chữ bằng chân, rồi đi thihọc sinh giỏi toán, tốt nghiệp đại học và trởthành nhà giáo ưu tú, nhà văn
Trang 62.3 Bài học hành động và liên hệ bản thân:
Là học sinh chúng ta phải luôn học tậpkhông ngừng, học đi đôi với hành Trướcnhững khó khăn thử thách không được nản chíphải luôn kiên cường, lạc quan
Câu 3 Phân tích nhân vật ông Hai
3.1 Giới thiệu chung
- Tác giả: Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đãthành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 –
1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻđẹp văn hoá xứ Kinh Bắc Ông gắn bó vớithôn quê, từ lâu đã am hiểu người nông dân
Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiệntinh thần kháng chiến của người nông dân
- Tác phẩm: Truyện ngắn Làng được viết và in
năm 1948, trên số đầu tiên của tạp chí Vănnghệ ở chiến khu Việt Bắc Truyện nhanhchóng được khẳng định vì nó thể hiện thànhcông một tình cảm lớn lao của dân tộc, tìnhyêu nước thông qua một con người cụ thể,người nông dân với bản chất truyền thốngcùng những chuyển biến mới trong tình cảm
Trang 7của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiếnchống Pháp.
Tp này đã xây dựng thành công nhân vật ôngHai với tình yêu làng, yêu nước và tinh thầnkháng chiến hài hòa, nồng thắm
3.2 Phân tích
1 Tình yêu làng của ông Hai
* Niềm tự hào, kiêu hãnh của ông Hai về làngcủa mình:
- Tuy xa quê nhưng ông Hai chưa một lần thôinhớ về quê hương-> tình cảm mãnh liệt Làngchợ Dầu luôn là niềm tự hào, kiêu hãnh củaông Tình yêu làng của ông được thể hiện thậtđặc biệt ấy là cái tính khoe về làng mình, lúc
ấy khuôn mặt ông biến chuyển lạ thường, haicon mắt sáng hẳn lên
+ Trước cách mạng, mỗi bận có dịp đi đâu
xa ông thường khoe: Nào là nhà ngói san sátsầm uất như tỉnh, nào là đường làng lát toàn đáxanh, ông khoe cả cái sinh phần của viên tổngđốc
+ Sau cách mạng, ông vẫn yêu làng nhưng
tình yêu đã thay đổi hẳn, giờ đây,ông khoe về
Trang 8những ngày tập quân sự, khoe những hố,những ụ, những giao thông hào,
→ Với ông làng như máu, như thịt, như chínhmột phần cơ thể của ông
+ Kháng chiến bùng nổ, gđ ô phải đi tản
cư Ở nơi tản cư, lòng ông đau đáu nhớ quê,
cứ “nghĩ về những ngày làm việc cùng anhem”, ông nhớ làng quá
- Ông luôn khoe và tự hào về làng không chỉ
vì nó đẹp mà còn bởi làng ô tham gia vào cuộcchiến đấu chung của dân tộc
- Ông luôn tìm cách nghe tin tức về khángchiến “chẳng sót một câu nào” Nghe tin chiếnthắng của quân ta, ruột gan ông cứ múa cả lên,náo nức, bao nhiêu ý nghĩ vui thích chen chúctrong đầu óc
* Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng của mình đi theo giặc:
- Khi nghe tin quá đột ngột, ông Hai sững sờ,
xấu hổ và uất ức: “cổ nghẹn ắng da mặt tê rân rân…tưởng như không thở được” Những
người tản cư kể rành rọt quá, làm ông khôngthể không tin Niềm tự hào về làng thế là sụp
Trang 9đổ tan tành trước cái tin sét đánh ấy Khôngchỉ xấu hổ trước bà con mà ông cũng tự thấyông mất đi hạnh phúc của riêng ông, cuộc đờiông cũng như chết mất một nửa.
- Từ lúc ấy trong tâm trí ông Hai chỉ còn cócái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ámảnh day dứt ông “cúi gằm mặt mà đi”, về đếnnhà nằm vật ra giường, rồi tủi thân nhìn đàncon, “nước mắt ông lão cứ giàn ra” Ông cảmthấy như chính ông mang nỗi nhục của mộttên bán nước theo giặc, cả các con ông cũng sẽmang nỗi nhục ấy
- Suốt mấy ngày ông không dám đi đâu,thoáng nghe Việt gian, là ông lủi ra một gócnhà, nín thít
- Nhưng chính lúc này, tình cảm đẹp trong conngười ông Hai lại càng được bộc lộ rõ hơn baogiờ hết Những đau đớn, dằn vặt, sự hổ thẹnđến tột cùng đã đẩy ông Hai vào một tìnhhuống phải lựa chọn Quê hương và Tổ Quốc,bên nào nặng hơn? Quê hương đáng yêu, đáng
tự hào Nhưng giờ đây làm ông đau lòngquá Tình yêu quê hương và tình yêu tổ quốcxung đột dữ dội Cuối cùng ông đã quyết định:
Trang 10“Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mấtrồi thì phải thù”.
→ Như vậy, tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu, cũng không thể mạnh hơn tình yêu đất nước Quyết định ấy thật đau đớn xót xa trong lòng ông Quyết định ấy chẳng khác nào tự tay ông cầm dao cắt đi chính một phần máu thịt trên cơ thể mình.
- Tâm sự với đứa con, “nhà ta ở làng chợDầu” là để khẳng định tình yêu làng vẫn chảymạnh mẽ âm thầm trong trái tim ông Nghecon nói: “Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh”, nước mắtông chảy ròng ròng … Đó cũng chính là tấmlòng thuỷ chung của ông với kháng chiến, vớicách mạng mà biểu tượng là Bác Hồ thật sâunặng, bền vững và thiêng liêng
* Tâm trạng của ông Hai sau khi nghe tin làng được cải chính:
- Đến khi biết đích xác làng Dầu không phảiViệt gian, nỗi vui mừng của ông Hai thật là vô
bờ bến: “Ông cứ múa tay lên mà khoe cái tin
ấy với mọi người”, mặt ông “tươi vui, rạng rỡhẳn lên”
Trang 11- Đối với người nông dân, căn nhà là cơnghiệp của cả một cuộc đời, vậy mà ông sungsướng hể hả loan báo cho mọi người biết cáitin “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ” một cách tựhào như một niềm hạnh phúc thực sự củamình Phải chăng đó chính là minh chứng duynhất chứng minh cho tấm lòng của ông với đấtnước, với cuộc kháng chiến.Tình yêu làng, sự
hi sinh cho Tổ quốc của ông Hai thật là sâusắc và cảm động
- Trong hoàn cảnh toàn dân đang hướng tớicuộc kháng chiến chống pháp, bảo vệ độc lậpdân tộc, ông Hai đã biết đặt tình yêu đất nướclên trên tình yêu cá nhân của mình với làngchợ Dầu, ông dành tất cả cho cách mạng Đóchính là nét đẹp trong con người ông Hai nóiriêng và người nông dân Việt Nam nói chung
2 Tình yêu nước, yêu kháng chiến của ông Hai:
- Ông luôn theo sát tin tức kháng chiến và tựhào về những chiến công mà nhân dân ta đã
lập nên “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá !"
Trang 12- Nhưng đến khi phải lựa chọn giữa làng vànước, tình yêu ấy mới bộc lộ rõ rệt Dù bị tin
đồn làng mình theo Tây dồn vào “tuyệt đường sinh sống”, ông vẫn nhất quyết không trở về
làng
→ Đến đây, ta mới hiểu rõ về con ngườihay chuyện tưởng chừng rất đơn giản, bộc trựckia Tình yêu làng giờ đây đã trở thành tìnhyêu có ý thức, hòa nhập và lòng yêu nước
“Về làm gì cái làng ấy nữa Về làng là bỏkháng chiến, bỏ Cụ Hồ.”
- Là người nông dân chân lấm tay bùn nhưngông Hai có nhận thức cách mạng rõ ràng :
“Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mấtrồi thì phải thù.” Nhận thức rất mới này là mộtnét đặc biệt trong tính cách của ông Hai, đánhdấu sự thay đổi của người nông dân sau Cáchmạng Tháng Tám
- ông đang mượn lời đứa trẻ để bày tỏ tâm sự.lời con nói chính là những gì đang dâng tràotrong lòng ông : “Ừ đúng rồi, ủng hộ cụ Hồcon nhỉ.”
→ Ông Hai nói với đứa con như thể nói vớianh em đồng chí, để minh oan cho tấm lòng
Trang 13thành thật của mình, để nỗi khổ tâm trong lòngnhư vơi đi được đôi phần.
- Lòng yêu nước của ông thật giản dị nhưng
vô cùng chân thành, sâu sắc và cảm động
→ Ông đã nhận ra rằng: Đất nước còn thìlàng còn, đất nước mất thì làng cũng mất Từđây, ông Hai nói riêng hay người nông dân nóichung, đã nhìn rộng hơn, xa hơn lũy tre làng.Không chỉ yêu làng, trong ông còn có một tìnhyêu lớn gấp nhiều lần – lòng yêu nước Đâykhông chỉ là sự thay đổi trong suy nghĩ ngườinông dân, mà còn là suy nghĩ của mỗi ngườidân Việt Nam thời điểm đó Họ sẵn sàng hysinh những cái riêng, vì cuộc kháng chiếntrường kỳ của dân tộc Họ không hề quên đicội nguồn của mình mà gìn giữ nơi ấy ở trongtim
→ Như vậy, ở ông Hai, tình yêu làng là cơ
sở cho tình yêu nước, yêu kháng chiến Song,tình yêu nước, yêu cách mạng có ý nghĩa địnhhướng cho tình yêu làng
3 Nhận xét
Trang 14Nhân vật ông Hai đã để lại ấn tượng sâu sắctrong lòng độc giả bởi tình yêu làng, yêu nước,yêu cách mạng nồng nàn, thắm thiết Nhữngtình cảm ấy hài hòa, thống nhất, hòa quyệnvào nhau, thật cảm động Điều này cho thấynhững chuyển biến mới trong nhận thức vàtình cảm của người nông dân Việt Nam thời kìkháng chiến chống Pháp.
3.3 Tổng kết
- Nhà văn xây dựng được những tình huốngtruyện đặc sắc, miêu tả thành công tâm lí nhânvật qua những cuộc đối thoại, độc thoại và độcthoại nội tâm Nhà văn Kim Lân đã mang đếncho bạn đọc nhân vật ông Hai với tình yêulàng quê và lòng yêu nước sâu đậm, thiết tha.Liên hệ- Qua việc thể hiện tình yêu làng, tìnhyêu nước của ông Hai nhà văn còn mang đếnmột thông điệp ý nghĩa: Tình yêu Tổ quốcchẳng đến từ đâu xa xôi, nó bắt nguồn từchính những tình cảm gần gũi, bình dị, thânthương nhất
Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn
Trang 15
cổ hết sức, nhưng rốt cuộc, cậu vẫn không thể đẩy được tảng đá Đã vậy, bàn tay cậu còn bị trầy xước, rớm máu Cậu bật khóc rấm rứt trong thất vọng Ngồi trong nhà lặng lẽ theo dõi mọi chuyện, người cha lúc này mới bước
ra và nói: "Con trai, tại sao con không dùng hết sức mạnh của mình?” Cậu bé thổn thức đáp: “Có mà! Con đã dùng hết sức rồi mà bố?” “Không con trai, con đã không dùng đến tất cả sức mạnh của con Con đã không nhờ bố giúp" Nói rồi, người bố cúi xuống, cùng con, bới tảng đá ra, nhấc lên và vứt đi chỗ khác.
(Theo báo Tuổi trẻ - Bùi Xuân Lộc phỏng dịch
từ Faith to Move Mountains)
Trang 16Viết một bài văn (khoảng 3 trang) trình bàysuy nghĩ của em về những điều câu chuyệntrên gợi ra.
Câu :2
"Càng từng trải chiến tranh, càng chứng kiến nhiều hơn sức mạnh hủy diệt, sức mạnh biến tất cả thành tro bụi của nó, Kiên càng tin rằng chiến tranh không tiêu diệt được cái gì hết Tất cả vẫn còn lại đó, vẫn y nguyên."
(Bảo Ninh – Nỗi buồn chiến tranh, NXB Văn học 2006, Tr.279)
Từ những chiêm nghiệm trên, hãy nói vềnhững điều “chiến tranh không tiêu diệt được”
trong bài thơ "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật (SGK Ngữ văn 9,
Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017) và
truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê
Minh Khuê (SGK Ngữ văn 9, Tập hai, NXBGiáo dục Việt Nam 2017)
Đáp án & Thang điểm
Câu 1:
1 Giới thiệu vấn đề cần nghị luận.
Trang 17- Người cha với lời nói và hành động mangđến một thông điệp: sức mạnh của mỗi người
là sức mạnh của bản thân và sự giúp đỡ từngười thân, bạn bè Biết tổng hợp sức mạnh từnhững nguồn lực xung quanh sẽ đem đếnthành công nhanh chóng hơn
→ Bài học: Tự lực là cần thiết nhưng nếu
không biết dựa vào sự giúp đỡ từ người kháckhi cần thiết cũng khó thành công
3 Bàn luận, mở rộng
- Tại sao con người cần tự lập:
+ Tự lập khiến con người chủ động trongcuộc sống của chính mình
Trang 18+ Tự lập khiến con người trở nên dũng cảm,
có trách nhiệm và dám sống với những ướcmuốn và những hướng đi riêng của mình
+ Trong cuộc sống, không phải lúc nào chúng
ta cũng nhận được sự giúp đỡ từ những ngườixung quanh nên tự lập chính là cách tốt nhất
để ta luôn có được sự bình tâm trước nhữngbiến cố Mặc dù vậy, trong một vài trường hợpđặc biệt, con người vẫn cần đến sự giúp đỡcủa những người thân, bạn bè
- Tại sao mỗi người nên nhận sự giúp đỡ củangười khác?
+ Thực tế cuộc sống đặt ra nhiều vấn đềphức tạp, bất ngờ vượt khỏi khả năng của mỗi
cá nhân; có những vấn đề mà một mình takhông thể giải quyết được
+ Mỗi người luôn có khát vọng được thànhcông trên nhiều lĩnh vực, tuy nhiên hiểu biết
và năng lực của mỗi con người lại nằm tronggiới hạn Vì vậy con người cần hợp tác, hỗ trợlẫn nhau
- Ý nghĩa của sự giúp đỡ từ người khác:
Trang 19+ Sự thành công sẽ nhanh chóng và bềnvững hơn.
+ Người nhận được sự giúp đỡ sẽ có thêmsức mạnh và niềm tin, hạn chế được phần lớn
tỉ lệ rủi ro và thất bại
+ Tạo lập mối quan hệ tốt đẹp, gắn kết giữangười với người, nhất là trong xu thế hội nhậphiện nay
- Giúp đỡ không phải là làm thay giúp đỡ phải
vô tư, chân thành, tự nguyện
- Phê phán những người tự cao không cần đến
sự giúp đỡ của người khác, những người ở lại,dựa dẫm vào người khác
Trang 20* Giới thiệu về tác giả Phạm Tiến Duật:
- Là nhà thơ khoác áo lính, một gương mặttiêu biểu cho thế hệ thơ trẻ kháng chiến chốngMĩ
- Hình tượng trung tâm trong thơ ông là ngườilính và cô thanh niên xung phon
- Nghệ thuật: giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồnnhiên, tinh nghịch mà sâu sắc
- Tác phẩm: Viết năm 1969, được in
trong “Vầng trăng quầng lửa” Đoạn trích là
ba khổ thơ cuối bài, thể hiện tình đồng đội keosơm, gắn bó và ý chí quyết tâm giải phóngmiền Nam thống nhất đất nước của nhữngngười lính
* Giới thiệu về tác giả Lê Minh Khuê
- Thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trongkháng chiến chống Mĩ Tác giả tham gia thanhniên xung phong và bắt đầu sáng tác vào đầunhững năm 70
- Lê Minh Khuê thành công ở thể loại truyệnngắn:
Trang 21+ Trong chiến tranh, hầu hết sáng tác tậptrung viết về cuộc sống, chiến đấu của tuổi trẻ
ở tuyến đường Trường Sơn
+ Sau 1975, sáng tác của Lê Minh Khuêbám sát những chuyển biến của đời sống xãhội và con người trên tinh thần đổi mới
- Sáng tác của Lê Minh Khuê cuốn hút ngườiđọc nhờ lối viết giản dị, tự nhiên, lối kểchuyện sinh động, khả năng phân tích tâm línhân vật chân thực, tinh tế
- Tác phẩm được viết năm 1971, giữa lúc cuộckháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt
2 Giải thích
“Càng từng trải chiến tranh, càng chứng kiến nhiều hơn sức mạnh hủy diệt, sức mạnh biến tất cả thành tro bụi của nó, Kiên càng tin rằng chiến tranh không tiêu diệt được cái gì hết Tất cả vẫn còn lại đó, y nguyên”.
→ Chiến tranh với những thứ vũ khí có sứctàn phá lớn, nó hủy diệt mọi thứ mà thực tế lạikhông hủy diệt được gì, đó là: đau thương,mất mát và hơn cả nó không thể hủy diệt sựdũng cảm, lòng yêu nước của thế hệ trẻ
Trang 223 Chứng minh
3.1 Không tiêu diệt được sự sôi nổi, trẻ trung,
nhiệt huyết của tuổi trẻ
a Bài thơ về tiểu đội xe không kính
- Tinh thần lạc quan, sôi nổi, tinh nghịch, trẻtrung
+ Giọng thơ têu nhộn, hài hước: “Không có”, “ừ thì có”.
+ Hiện thực: gió, bụi, mưa vốn khắc nghiệtbỗng mờ đi dưới sắc thái tươi vui, hóm hỉnh + Cái nhìn lạc quan, mưa ngừng, miệngcười ha ha, trời xanh thêm
- Tâm hồn lãng mạn:
+ Cảm nhận thiên nhiên như một người bạnnồng hậu, phóng khoáng: sao trời, cánh chim
+ Như nhìn thấy “trời xanh thêm” phía cuối
con đường Họ lái chiếc xe không kính đếnmột chân trời đẹp đẽ
b Những ngôi sao xa xôi
Trang 23- Họ là ba cô gái trẻ có nội tâm phong phú Ở
họ có những nét chung của cô gái hay mơmộng, dễ xúc động, dễ vui, dễ buồn
- Họ cũng rất nữ tính, thích làm đẹp dù ở chiếntrường khói lửa Nho thích thêu thùa, Thaochăm chép bài hát, Phương Định thích ngắmmình trong gương, ngồi bó gối mơ màng vàthích hát
- Cuộc sống ở chiến trường rất khó khănnhưng họ vẫn luôn bình tĩnh, lạc quan, yêuđời Trong hang vẫn vang lên tiếng hát của ba
cô gái và những dự định về tương lai Chiếntranh bom đạn không thể phá đi được nhữnggiây phút mơ mộng ấy Đó còn là thời gian đểnhớ về gia đình, về những kỉ niệm, là niềm vuicủa Nho và Phương Định khi thấy những cơnmưa đá
3.2.Không tiêu diệt được tình đồng đội gắn bó
khăng khít
a Bài thơ về tiểu đội xe không kính
- Tình đồng đội sâu nặng:
+ Cử chỉ đơn sơ: “bắt tay” những người
lính lái xe Trường Sơn đã chia sẻ cho nhau
Trang 24niềm tự hào, kiêu hãnh, đã bộc lộ sự đồng cảmsâu sắc, là lời động viên thầm lặng mà nồngnhiệt.
+ Sự gắn bó, đầm ấm, thân thương nhưtrong một gia đình ⇒ Đây là những khoảnhkhắc bình yên, hạnh phúc hiếm hoi trong cuộcđời người lính Họ được quây quần bên nồicơm nấu vội, được sống với những tình cảm
êm đềm, ấm áp nhất
- Bữa cơm thời chiến đã xóa mọi khoảng cáchgiữa họ khiến họ có cảm giác gần gũi như ruộtthịt
b Những ngôi sao xa xôi
- Tình đồng đội keo sơn, gắn bó:
+ Tình cảm ấy nằm trong sự chân thành, dứtkhoát khi ai cũng muốn giành phần nguyhiểm, gian khổ về mình Phương Định lo lắng,bồn chồn khi chờ Thao và Nho đi trinh sát trêncao điểm với nỗi lo lắng hai bạn không về
+ Tình cảm ấy nằm trong sự lo lắng, cử chỉchăm sóc khi Nho bị thương, Phương Định tậntình cứu chữa, chị Thao luống cuống khôngcầm được nước mắt
Trang 25+ Tình cảm ấy còn được thể hiện trong sự
nể phục, kính trọng những chiến sĩ mà họ gặptrên đường
3.3.Không tiêu diệt được lòng dũng cảm, sẵn
sàng hi sinh và lòng yêu nước nồng nàn
a Bài thơ về tiểu đội xe không kính
- Phong thái ung dung, hiên ngang, dũng cảm: + Đảo ngữ tô đậm sự ung dung, bình thản,điềm tĩnh đến kì lạ
+ Điệp từ “nhìn”, thủ pháp liệt kê và lốimiêu tả nhìn thẳng, không né tránh gian khổ,
hy sinh, sẵn sàng đối mặt với gian nan, thửthách
- Vẻ đẹp của lí tưởng cách mạng:
+ Vì miền Nam, vì một ngày chiến thắngkhông xa, nước nhà độc lập, đất nước thốngnhất hai miền
+ Trái tim: Hoán dụ cho tất cả con người
với sức lực, tâm huyết dành trọn cho đất nước.Đồng thời cũng là hình ảnh ẩn dụ cho tinhthần trách nhiệm, ý chí chiến đấu
Trang 26→ Tiêu biểu cho vẻ đẹp của thế hệ trẻ ViệtNam thời chống Mĩ, là một biểu tượng củachủ nghĩa anh hùng cách mạng thời chống Mĩ.
b Những ngôi sao xa xôi
- Có tinh thần trách nhiệm cao với nhiệm vụ: + Có lệnh là họ lên đường, quyết tâm hoànthành nhiệm vụ phá bom mở đường cho nhữngđoàn xe nối đuôi nhau ra tiền tuyến và về đích
an toàn
+ Trong khi phá bom họ chỉ quan tâm đếnmột điều duy nhất: Liệu bom có nổ không, nếukhông thì làm cách nào để bom nổ Như vậy,với họ nhiệm vụ còn quan trọng hơn tínhmạng bản thân
- Gan dạ, dũng cảm, không sợ hy sinh:
+ Cuộc sống trong bom đạn chiến tranh cáichết có thể ập đến bất cứ lúc nào, song họchưa bao giờ thấy ám ảnh, chưa bao giờ phảitrằn trọc đêm đêm, cái chết đối với họ là mộtkhái niệm rất mờ nhạt, không cụ thể
+ Lòng dũng cảm còn thể hiện qua sự kiêncường trong chiến đấu:
Trang 27Chị Thao rất gan dạ, ai cũng phải phát bực
về cái tính bình tĩnh đến lạ của chị
Nho khi máu thấm ra đỏ đất, vẫn bình tĩnhkhông một tiếng kêu, không cho ai được khóc,không cho ai gọi về đơn vị
Phương Định bình tĩnh gan dạ, nhất địnhkhông chịu đi khom
4 Tổng kết, đánh giá
- Cả hai tác phẩm đã tái hiện chân thực cuộcsống đầy khó khăn nơi chiến trường, nhưngđồng thời làm ánh lên vẻ đẹp phẩm chất ngờisáng đó là lòng dũng cảm, tình đồng đội keosơn và lòng yêu nước nồng nàn Những tìnhcảm đẹp đẽ đó, bom đạn chiến tranh mãi mãikhông thể xóa nhòa, vui lấp
- Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, giàu cảm xúc
Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn
Thời gian: 120 phút
Câu 1:
"Tôi qua A Sao vào cuối mùa xuân Miền Tây xa xôi đang trải qua những tháng ngày
Trang 28tương đối yên tĩnh sau khi căn cứ địch bị quét khỏi thung lũng Trong lúc A Pách lúi húi nhóm bếp để làm thêm thức ăn, tôi ngồi tựa nửa người trên võng, hai tay vòng dưới gáy, yên lặng ngắm vẻ đẹp của rừng từng trải rộng chung quanh Rừng thoáng, nhẹ nhõm, mặt đất sạch quang như có người quét tước, những đám rêu xanh lục trải rộng mịn như nhung, trên đó hơi ẩm kết những hạt cườm tấm mưa bụi mát rượi Không có gió nhưng rừng tùng vẫn reo mơ hồ, như mạch suối ngầm mùa xuân, như điệu nhạc khèn bát ngát của sơn nhân vắng lại từ núi cao Tâm hồn tôi
tự buông thả trong một trạng thái nghỉ ngơi hoàn toàn Tôi nhắm mắt để nhìn thấy tỏa ra cái vừng sáng dịu dàng của giấc mơ nhẹ, nghe trong tiếng hát kia của loại tùng bách một điều gì đấy thật xa xôi, như là thuộc về muôn đời Con chim gõ kiến ấn sĩ vẫn gõ đều nhịp thời gian, tiếng trầm và đục, trên một cây tùng nào đó."
(Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đời rừng trong Ai
đã đặt tên cho dòng sông, NXB Kim Đồng,
1999, tr 30-31)
Trang 29a Trong đoạn văn bản trên, tác giả đã kết hợpnhững phương thức biểu đạt nào?
b Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu
từ được sử dụng trong câu: “Không có giónhưng rừng tùng vẫn reo mơ hồ, như mạchsuối ngầm mùa xuân, như điệu nhạc khèn bátngát của sơn nhân vắng lại từ núi cao.”
Câu 2:
“ Đất là Mẹ Điều gì xảy ra với đất đai tức là xảy ra đối với những đứa con của Đất."
(Trích Bức thư của thủ lĩnh da đỏ, dẫn theo
SGK Ngữ văn 6, Tập hai, NXB Giáo dục ViệtNam, 2017, tr.138)
Viết một đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng
12 câu) theo cách lập luận quy nạp trình bàysuy nghĩ của em về những điều câu văn trêngợi ra
Trang 30Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về,
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
[ ]
Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu,
Trang 31Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
(Bằng Việt, Bếp lửa, SGK Ngữ văn 9, Tập
một, NXB Giáo dục Việt Nam 2017, tr 144145)
Cảm nhận của em về ba khổ thơ trên
Đáp án & Thang điểm
Câu 1:
a Trong đoạn văn bản trên, tác giả đã kết hợpnhững phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả,biểu cảm
b Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu:
“Không có gió nhưng rừng tùng vẫn reo mơ
hồ, như mạch suối ngầm mùa xuân, như điệunhạc khèn bát ngát của sơn nhân vắng lại từnúi cao.”
+ Nhân hóa "rừng vẫn reo" nhằm khiến chocâu văn trở nên sinh động hơn, làm cho khurừng có hồn như một cơ thể sống
+ So sánh: âm thanh của rừng tùng nhưmạch suối ngầm , như điệu nhạc khèn giúp
Trang 32câu văn trở nên đầy sức sống và vang vẳng âmthanh của thiên nhiên của đất trời, tăng sức gợihình gợi cảm cho đoạn văn cũng như thể hiệntâm hồn tinh tế của tác giả,
Sự gắn bó này giúp cho con người có thái độ
cư xử đúng đắn với đất đai
Thân đoạn: Nêu suy nghĩ về câu nói trên:
- Đất là “Mẹ” bao dung, ban cho “những đứa con” của đất là chúng ta cái “tổ sống”: nơi để
trú ngụ, để trồng trọt, chăn nuôi tạo nên mùamàng hoa trái, cảnh quan thiên nhiên để conngười thưởng ngoạn…
- “Những đứa con” của đất khi đó chỉ biết dựa
vào bà mẹ thiên nhiên của mình để sinh tồn,
chưa biết làm đầy “tổ sống” mà Mẹ ban cho.
Trang 33Con người chỉ biết khai thác, chưa có ý thứcbồi đắp môi trường sống…
- Phê phán: Trong thực tế, nhiều cá nhân, tổchức chỉ thấy cái lợi trước mắt mà vắt kiệt môi
trường tự nhiên: “lâm tặc” khai thác gỗ bừa bãi, “cát tặc” nạo vét lòng sông tùy tiện, lấp
sông để xây dựng đô thị…
Trang 34- Chúng ta cần làm gì? Mỗi người trong chúng
ta cùng hành động, chung tay bảo vệ môitrường sống của mình: tiết kiệm điện năng,hưởng ứng Giờ Trái đất…
Câu 3:
I Mở bài: giới thiệu về tác giả Bằng Việt và
bài thơ “Bếp lửa”
II Thân bài: Cảm nhận về 3 khổ thơ.
1 Cảm nhận về khổ thơ 1
Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa
.
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
- Điệp từ: bà - cháu tạo nên hình ảnh quấnquýt, gần gũi và đầy yêu thương của bà cháu
Trang 35Tám năm sống cùng bà là tám năm cháunhận được sự yêu thương, dạy bảo, dưỡngnuôi tâm hồn từ tấm lòng bà – bà bảo cháunghe, bà dạy cháu làm,bà chăm cháu học…Cảm cái công ơn ấy,người cháu lại càngthương bà : “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bàkhó nhọc” Bà và bếp lửa của bà là chỗ dựatinh thần, là sự chăm chút,đùm bọc bà dànhcho cháu.
- Điệp từ "tu hú" thể hiện những cung bậc cảmxúc khác nhau của âm thanh, vừa có sự gầngũi nhưng vẫn thể hiện khoảng không mênhmông Gợi nhớ về kỉ niệm gắn với tiếng chim
tu hú trên đồng quê mỗi độ hè về Tiếng chimnhư giục giã,như khắc khoải một điều gì dadiết khiến lòng trỗi dậy những hoài niệm nhớmong
- Câu hỏi tu từ "Tu hú ơi! Chẳng " thể hiệntâm trạng của người cháu, nó khiến cho khônggian kỉ niệm như có chiều sâu và nỗi nhớthương bà của cháu càng trở nên thăm thẳm,vời vợi
2 Cảm nhận về khổ thơ thứ 2
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Trang 36.
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!
- Chi tiết thơ đậm chất hiện thực, thành ngữ
“cháy tàn cháy rụi” đem đến cảm nhận về hìnhảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa củachiến tranh → Hoàn cảnh đất nước có chiếntranh cũng khiến cuộc sống của nhân dânmuôn vàn khó khăn
→ Trên cái nền của sự tàn phá, huỷ diệt ấy là
sự cưu mang, đùm bọc của xóm làng đối vớihai bà cháu Vẻ đẹp của tình người toả sángtrong những năm chiến tranh khói lửa
- Điều khiến đoạn thơ trở nên xúc động nhất làhình ảnh một mình bà già nua, nhỏ bé đãchống chọi để trải qua những gian nan,đau khổ
mà không luôn "vững lòng" Đặc biệt là lờidặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâmhồn của người phụ nữ giàu lòng vị tha, giàuđức hi sinh:
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên
→ Bà đã gồng mình gánh vác mọi lo toan đểcác con yên tâm kháng chiến Bà không chỉ là
Trang 37chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho cáccon đang chiến đấu mà còn là hậu phươngvững chắc cho cả tiền tuyến Bà thật là giàulòng yêu thương Chan chứaa trong từng lờithơ, ta cảm nhận được lòng biết ơn, niềm tựhào của người cháu đã trưởng thành khi nghĩ
về người bà thân yêu
3 Khổ cuối bài thơ Bếp Lửa
Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu,
- Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?
- Khi đi xa, nỗi nhớ về bà và bếp lửa vẫn khônnguôi trong lòng người cháu
+ Khổ thơ cuối là lời tự bạch của cháu khitrưởng thành, tác giả làm nổi bật sức mạnhmang tính nguồn cội
+ Người cháu dù đi xa nhưng vẫn khônnguôi nhớ về bà, nhớ về bếp lửa, quê hương…
đó cũng chính là đạo lý uống nước nhớ nguồncủa dân tộc
+ Bài thơ khép lại bằng câu hỏi tu từ có ýnghĩa mở ra những khắc khoải, thường trực
Trang 38trong lòng người cháu về tình cảm, nỗi nhớ bà
Thật vậy Gặp thời tức là gặp may, có cơ hội, nhưng nếu chủ quan không chuẩn bị thì cơ hội cũng sẽ qua đi Hoàn cảnh bức bách tức là hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục Nhưng gặp hoàn cảnh ấy có người bi quan, thất vọng, chán nản, thối chí có người lại gồng mình vượt qua"
Trang 39(Nguyên Hương, Trò chuyện với bạn trẻ,Ngữ văn 9, tập hai, NXB GDVN, 2018)
Câu 1: Xác định một phép liên kết được sử
dụng trong hai câu văn in nghiêng ở trên vàchỉ rõ từ ngữ dùng làm phương tiện liên kết
Câu 2: Theo tác giả, khi gặp “hoàn cảnh khó
khăn buộc phải khắc phục”, con người cónhững cách ứng xử nào?
Câu 3: Từ nội dung đoạn trích trên, em hãy
trình bày suy nghĩ (khoảng 2/3 trang giấy thi)
về ý kiến: Phải chăng hoàn cảnh khó khăncũng là cơ hội để mỗi người khám phá khảnăng của chính mình?
Trang 40và bày tỏ chính kiến của cá nhân (đồngý/không đồng ý)
+ Bàn luận xác đáng, thuyết phục về nộidung ý kiến theo quan điểm của cá nhân
+ có những liên hệ và rút ra bài học cầnthiết
- Hình thức: Đảm bảo dung lượng, có trình tự