Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Phục Hòa đã tích cực triển khai tổ chức thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển đô thị Phục Hòa dần hoàn thiện tiêu chí đối với đô thị loại IV, t
Trang 1VI ỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
H ỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀM THẾ TRANG
Ngành: Lu ật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã s ố: 8.38.01.02
LU ẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguy ễn Huy Hoàng
Hà N ội, 2020
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
k ết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
Nh ững kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Tác giả luận văn
ĐÀM THẾ TRANG
Trang 3M ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị 7
1.2 Thẩm quyền, nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị 10
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị 16
1.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ công tác quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị 19
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TẠI HUYỆN PHỤC HÒA, TỈNH CAO BẰNG 27
2.1 Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng tác động đến công tác quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị 27
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị tại huyện Phục Hòa, tỉnh Cao bằng giai đoạn 2015 - 2020 33
2.3 Đánh giá công tác quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trên địa bàn huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng 51
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TẠI HUYỆN PHỤC HÒA, TỈNH CAO BẰNG 56
3.1 Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trên địa bàn huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng 56
3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị tại huyện Phục Hòa, tình Cao Bằng 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
1 Kết luận 73
2 Kiến nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PH Ụ LỤC
Trang 41
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phục Hòa là huyện miền núi, biên giới của tỉnh Cao Bằng, đường biên giới đất liền dài 22,707km tiếp giáp với Trung Quốc, có 01 cửa khẩu quốc tế, đặc điểm địa lý thuận lợi cho thu hút đầu tư, phát triển kinh tế biên mậu, thương mại dịch vụ và xuất nhập khẩu hàng hóa; trong những năm qua được sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư của tỉnh Cao Bằng, đặc biệt là kết quả thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 16/4/2013 của Tỉnh ủy Cao Bằng Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XVII) về xây dựng phát triển huyện Phục Hòa giai đoạn 2013 - 2020
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Phục Hòa đã tích cực triển khai
tổ chức thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển đô thị Phục Hòa dần hoàn thiện tiêu chí đối với đô thị loại IV, theo đó đã xây dựng đồ án điều chỉnh chung quy hoạch đô thị, đẩy mạnh xây dựng hạ tầng kỹ thuật, nâng cao chất lượng sống và thu nhập cho nhân dân, tập trung xúc tiến thu hút đầu tư, đẩy mạnh phát triển kinh tế đối ngoại, lập đề án nâng cấp đô thị được Hội đồng nhân dân các cấp nhất trí thông qua, hiện đang trình Bộ xây dựng thẩm định Tuy nhiên Phục Hòa là đô thị mới, trong quá trình xây dựng và phát triển của đô thị đã và đang bộc lộ những vấn đề hạn chế yếu kém trong công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, năng lực và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ công chức còn hạn chế, việc tuân thủ quy hoạch trong xây dựng và đầu tư chưa nghiêm túc… dẫn đến tình trạng vi phạm quy hoạch còn sảy ra khá phổ biến, hình thành những vấn đề vi phạm phức tạp, kéo dài, khó xử lý, ảnh hưởng lớn đến mục tiêu thực hiện phát
triển đô thị trong tương lai
Xuất phát từ lý luận và yêu cầu thực tiễn, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị tại huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng,
tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị từ thực tiễn huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Các công trình nghiên cứu đã được xuất bản thành sách
Nguyễn Minh Hòa (2005), Vùng đô thị Châu Á và tỉnh Cao Bằng, Nhà xuất bản Tổng hợp Tỉnh Cao Bằng, đã nhấn mạnh vùng đô thị tỉnh Cao Bằng có
Trang 52
ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển và xây dựng hệ thống đô thị
trên địa bàn thành phố Đô thị hóa trên địa bàn thành phố gắn chặt với đô thị
hóa vùng đô thị tỉnh Cao Bằng
Võ Kim Cương (2010), Chính sách phát triển đô thị, Nhà xuất bản Xây dựng đã cho biết một trong những chính sách phát triển đô thị quan trọng là chính sách quản lý tài nguyên đất xây dựng và chính sách thu hút vốn đầu tư xây dựng đối với một đô thị cụ thể Ngoài ra chính sách dân số và sức chứa của
một đô thị luôn luôn có ý nghĩa quan trọng
Ngô Thúy Quỳnh (2010), Tổ chức lãnh thổ kinh tế, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã cho biết, đô thị là một trong các đối tượng của tổ chức lãnh thổ kinh tế Trong các hình thái tổ chức lãnh thổ đô thị có “chùm đô thị” rất phù hợp với điều kiện của tỉnh Cao Bằng Trong trường hợp này tỉnh Cao Bằng là đô thị hạt nhân và xung quanh nó có nhiều đô thị vệ tinh Mỗi đô thị xung quanh có chức năng riêng và cùng nhau tương tác để tạo nên bộ khung phát triển cho một
lãnh thổ xác định
Nguyễn Thế Bá (2011), Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị (tái bản), Nhà xuất bản Xây dựng đã khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn về quy hoạch xây dựng trong quá trình phát triển đô thị ở Việt Nam Ông cho rằng, sau khi có quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị thì tiến hành quy hoạch xây
dựng chung đối với từng đô thị để làm căn cứ cho đầu tư xây dựng
2.2 Các bài viết trên các tạp chí, hội thảo, tham luận, đề tài khoa học
Trần Ngọc Hiên, Trần Văn Chử (1998), Đô thị hóa trong giai đoạn hiện nay - Những vấn đề lý thuyết và kinh nghiệm, Đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, chỉ ra rằng, quá trình đô thị hóa có quan hệ chặt chẽ với quá trình phát triển, công nghiệp hóa và hiện đại hóa thành phố Công nghiệp lan ra đến đâu thì đô thị hóa đi liền với nó
và tạo nên bộ mặt khác cho cả vùng đô thị cũng như cho mỗi đô thị
Tô Xuân Dân, Vũ Trọng Lâm (2003), Cơ chế chính sách đặc thù phát triển Thủ đô Hà Nội: Một số định hướng cơ bản, cho biết đối với Hà Nội chính sách đất đai và huy động vốn đầu tư từ các tập đoàn kinh tế có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với thành phố Hà Nội trong những năm vừa qua
Trang 63
Hoàng Cao Liêm (2013), Những vấn đề bất cập trong quá trình đô thị hóa
ở Việt Nam, cho biết tư duy hành chính thịnh hành đã ảnh hưởng nhiều đến đô thị hóa kiểu hành chính Tức là chỉ bằng các quyết định hành chính mà đô thị này được nâng cấp, đô thị kia được mọc lên Đô thị hóa kiểu hành chính đã làm cho cả thống đô thị mang tính “tự phát” và không có nguồn lực để xây dựng đô thị Các dự án đô thị mới đua nhau ra đời nhưng nhiều dự án đô thị bị treo vì
thiếu vốn để phát triển
2.3 Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến đô thị, xây dựng đô thị, quy hoạch và quản lý đô thị nói chung
Phân tích quá trình đô thị hóa ở thành phố Hải Phòng giai đoạn
1985-2007, Luận án Tiến sĩ, Vũ Thị Chuyên (2007), đã chỉ ra rằng quá trình đô thị hóa ở Hải Phòng gắn liền với các giai đoạn quy hoạch phát triển chung đối với thành phố này Khu đô thị mới của thành phố và các đô thị được nâng cấp trên
địa bàn đã tạo ra diện mạo mới cho hệ thống đô thị của Hải Phòng
Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng
đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính, Hoàng Cao Thắng (2002)
Quản lý nhà nước về xây dựng trên địa bàn Quận 11, tỉnh Cao Bằng, Luận văn
Thạc sỹ Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính, Phạm Đức Lâm (2012)
Quản lý nhà nước về quy hoạch trên địa bàn huyện Xuyên Mộc, thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành chính công, Học viện Hành
chính, Nguyễn Quý Thanh (2011)
Quy hoạch sử dụng đất ở tỉnh Cao Bằng, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính, Huỳnh Thái Ngọc (2013)
Qua đó, tác giả có một số nhận xét như sau: Nhìn chung những công trình
kể trên chủ yếu đề cập nhiều tới quá trình đô thị hóa, quản lý nhà nước về xây dựng, sử dụng đất chứ chưa đề cập vấn đề quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị Tuy nhiên cũng có nhiều ý tứ, tư tưởng có thể kế thừa cho việc nghiên cứu
luận văn của tác giả
Từ khi Luật Quy hoạch đô thị có hiệu lực và sau khi hoàn thành phê duyệt, công
bố công khai các đồ án quy hoạch đô thị trên địa bàn huyện theo Nghị quyết số
Trang 716-4
NQ/TU ngày 16/4/2013 của Tỉnh ủy Cao Bằng Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XVII) về xây dựng phát triển huyện Phục Hòa giai đoạn 2013 -
2020, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về quản lý nhà nước
đối với quy hoạch đô thị tại huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị, đánh giá thực trạng từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị tại huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Băng góp phần đắc lực cho việc quy hoạch và phát triển đô thị, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội huyện một cách
hiệu quả, bền vững
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị
- Xác định mặt được, mặt chưa được và nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị tại huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trên địa bàn huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị tại huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Hiện trạng nghiên cứu giai đoạn 2015-2020 Dự báo đến 2025
- Về không gian: Tại huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
- Về mặt khoa học: Nghiên cứu cả mặt lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị ở huyện Phục Hòa Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản
lý nhà nước về quy hoạch đô thị, xác định thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị tại huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
Trang 85
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận pháp luận
Dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm phương pháp luận nghiên cứu Theo đó, các sự vật, hiện tượng liên quan đến vấn đề nghiên cứu luôn vận động và chúng được xem xét trong mối liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau trong sự vận động và phát triển không ngừng của xã hội Trong nghiên cứu này, tác giả coi quy hoạch phát triển đô thị là bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; coi quản lý quy hoạch đô thị là bộ phận của quản
lý nhà nước đối với các hoạt động phát triển trên địa bàn Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị không chỉ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn một cách hiệu quả, bền vững mà còn nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, phương pháp nghiên cứu chính được tác giả sử dụng
là phương pháp định tính để tiến hành tổng hợp, phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trên địa bàn huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng, từ đó đưa ra đánh giá mặt được và những hạn chế, yếu kém, xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới Bên cạnh đó còn sử dụng một số phương pháp mang tính định lượng để thu thập, xử lý các số liệu được thống kê sẵn nhằm phục vụ cho việc mô tả thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trên địa bàn huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng, như:
- Phương pháp phân tích thống kê: Được sử dụng để phân tích hiện trạng quy hoạch đô thị, đầu tư xây dựng theo quy hoạch và các việc cơ quan quản lý nhà nước đã thực thi
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh kết quả nghiên cứu qua các năm cũng như để so sánh những kết quả nghiên cứu ở huyện Phục Hòa với ở nơi khác
- Phương pháp diễn giải và quy nạp: Sử dụng để lý giải kết quả đánh giá hiện trạng và nội dung đề xuất nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trong thời gian tới
Trang 96
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Đề tài làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị cấp huyện, qua đó góp phần tổ chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị được thực hiện đúng theo quy định, phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội huyện một cách hiệu quả, bền vững Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị ở huyện này trong thời gian đến 2020 Ngoài ra, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các địa phương cũng như cho học viên và những người quan tâm đến vấn đề quản lý nhà nước
về quy hoạch đô thị
7 Kết cấu nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị tại huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị tại huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
Trang 107
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
1.1 Khái niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị
1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị
* Khái niệm
Theo Luật Quy hoạch đô thị, đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn
Có thể nói, đô thị là tên gọi chung của các thành phố, thị xã, thị trấn, là nơi tập trung dân cư đông đúc, là trung tâm một vùng lãnh thổ với hoạt động kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ Các đô thị đều mang đầy đủ các giá trị về kinh tế, chính trị, quân sự, tuy nhiên với giá trị nào thị đô thị cũng được hình thành và phát triển từ nhu cầu giao lưu của con người
Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ
án quy hoạch đô thị, nhằm đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường
Quy hoạch đô thị là một trong những nội dung đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, đô thị phải được xây dựng và phát triển theo quy hoạch và những quy định của pháp luật nhằm mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và phát triển đô thị một cách hiệu quả, bền vững
Quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị là việc cơ quan quản lý nhà nước hữu trách sử dụng bộ máy, công cụ pháp lý thực hiện chức năng quản lý đối với quy hoạch đô thị Quản lý quy hoạch đô thị được hiểu là tổng thể các biện pháp, cách thức mà các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng các công cụ quản lý để tác động vào các hoạt động xây dựng và phát triển đô thị (chủ yếu là phát triển không gian vật thể) nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, đó là đảm bảo cho đô thị phát triển ổn
Trang 118
định, bền vững, đảm bảo hài hòa các lợi ích quốc gia, cộng đồng và các cá nhân trước mắt và lâu dài
* Vai trò của quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị
Vai trò của quản lý quy hoạch xây dựng đô thị đối với sự nghiệp CNH-HĐH đất nước hiện nay là rất quan trọng Văn kiện đại hội IX đã nên rõ: Phát huy vai trò của trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá, trên toàn vùng và địa phương, đi nhanh trong quá trình CNH-HĐH phát triển mạnh công nghiệp dịch vụ, đi đầu trong việc phát triển kinh tế tri thức Tạo vành đai nông nghiệp hiện đại ở các thành phố lớn Quy hoạch mạng lưới đô thị với một số ít thành phố lớn, nhiều thành phố vừa và nhỏ phân bổ hợp
lý giữa các vùng, chú trọng đô thị ở miền núi Hiện đại hoá các thành phố lớn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn Không tập trung quá nhiều cơ sở công nghiệp và dân cư vào các đô thị lớn Khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường
Trong quá trình đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường chức năng nhiệm vụ quản lý quy hoạch đô thị cần được mở rộng:
- Quản lý quy hoạch đô thị xác định những chỉ số về không gian kiến trúc làm cơ sở cho việc thực hiện các dự án sử dụng đất, phát triển cơ sở hạ tầng, cải tạo xây dựng đô thị mới
- Quản lý quy hoạch đô thị là công cụ không chỉ để thực hiện mà còn hướng dẫn đầu tư phát triển đô thị trên cơ sở phản ánh đúng chính xác kinh tế xã hội và xu hướng phát triển thực tế
- Quản lý quy hoạch đô thị có tác dụng kích thích hệ thống cơ chế bảo đảm cung cấp đầy đủ, bền vững và quản lý tốt cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng, trên
cơ sở thương mại hoá các dịch vụ này
- Quản lý quy hoạch đô thị giúp quản lý có hiệu quả việc sử dụng, điều chỉnh, mua bán và đầu tư phát triển đất đai cho mọi mục đích xây dựng đô thị
1.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị
Quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị là một trong những bộ phận của quản lý nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội Cơ quan quản lý nhà nước không chỉ là quản lý
về quy hoạch đô thị mà còn quản lý về quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Quá trình hoạt động quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị là một quá trình xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật, một quá trình huy động nhân tài và vật lực của đô thị, tận dụng các thời cơ, chế ngự các nguy cơ để phục vụ cho việc cải tạo và phát triển đô thị, không ngừng nâng cao đời sống của người dân
Trang 121.1.3 Vai trò của quy hoạch đô thị đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Đô thị có ba đặc điểm chung nhất, đó là Đô thị như một “cơ thể sống”, đặc điểm này rút ra từ tính chất đồng bộ, hoàn chỉnh của cấu trúc đô thị và đặc tính luôn luôn vận động của nó, các chức năng vận động của đô thị bao gồm toàn bộ các hoạt đông của nền kinh tế - xã hội trên cơ sở hệ thống hạ tầng đô thị, bất kỳ một sự trục trặc nào trong cấu trúc cũng sẽ dẫn tới sự rối loạn trong các hoạt động của đô thị
Đô thị luôn luôn phát triển, sự hình thành và phát triển của đô thị gắn liền với lịch
sử phát triển của loài người, đặc biệt gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sự hình thành, tồn tại và phát triển của đô thị chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế - xã hội, đặc biệt là các quy luật của nền kinh tế thị trường, các tác động này vừa là thời cơ, vừa là thách thức cho sự phát triển ổn định bền vững của các đô thị Sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được, mặc dù
sự hình thành và phát triển của đô thị gắn liền với các quy luật khách quan của nền kinh tế - xã hội nhưng con người có thể tham gia và điều khiển được quá trình phát triển đó nhưng phải theo đúng các quy luật khách quan của nó Con người có thể định hướng phát triển, có thể can thiệp vào sự vận động của đô thị nhưng không thể bắt đô thị vận động theo ý chí chủ quan trái quy luật, nhờ có đặc điểm này chúng ta mới có thể quản lý được sự vận động và phát triển của đô thị
Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong bối cảnh phát triển nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ đòi hỏi
tư duy và phương thức quy hoạch và quản lý đô thị phải thay đổi để phù hợp với tình hình mới Như hiện nay quy hoạch xây dựng được lập từ tổng thể (quy hoạch vùng, quy hoạch chung) đến chi tiết, bên cạnh những ưu điểm mà phương thức quy hoạch cũ mang lại là quy hoạch tổng thể định hướng cho các quy hoạch chi tiết, qua quá trình thực hiện công tác quản lý phương pháp này đã bộc lộ nhiều khuyết điểm Quá trình lập, phê duyệt, đến khâu bồi thường, giải phóng mặt bằng, triển khai xây dựng, bảo trì, duy tu các công trình… gặp nhiều khó khăn do chưa có cơ chế phù
Trang 1310
hợp để huy động nguồn lực từ trong nhân dân từ nguồn vốn, sự đồng thuận…
Theo kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, chính quyền địa phương phối hợp cùng với các bên liên quan như các tổ chức, tư nhân và cộng đồng dân cư cùng nhau bàn bạc, tham gia vào quá trình lập, xét duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng của địa phương và tham gia vào quá trình quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch đó Đường lối đổi mới của Đảng ta trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự năng động, sáng tạo độc lập từ cơ sở, cá nhân, “phi tập trung hóa trong quản lý kinh tế và xã hội” thường đi kèm với trao quyền cho địa phương, kế hoạch hóa từ dưới lên và phát triển dựa trên nhu cầu cộng đồng Như vậy, với cách tiếp cận dựa vào cộng đồng trong quản lý quy hoạch xây dựng là hướng đi đúng đắn, phù hợp với yêu cầu công tác quản lý đô thị hiện nay của nước ta và trên thế giới đã được áp dụng thành công, đồng thời phù hợp với tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong đường lối đổi mới của Đảng ta
1.2 Thẩm quyền, nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị
1.2.1 Thẩm quyền quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị
Việc quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trên phạm vi lãnh thổ quốc gia do
cơ quan quản lý nhà nước thực hiện và theo sự phân cấp đã được quy định tại Luật Quy hoạch đô thị
Điều 13 Luật Quy hoạch đô thị đã xác định nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị gồm:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện định hướng, chiến lược phát triển đô thị
- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động quy hoạch đô thị
- Ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn về quy hoạch đô thị, quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị
- Quản lý hoạt động quy hoạch đô thị
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về quy hoạch đô thị
- Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong hoạt động quy hoạch đô thị
- Hợp tác quốc tế trong hoạt động quy hoạch đô thị
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động quy hoạch đô thị
Thông tư Liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTNMT ngày
Trang 1411
28/10/2011 của liên Bộ Xây dựng - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Bộ Tài nguyên và Môi trường về Quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới, tại Điều 4, Trình tự lập và quản lý quy hoạch nông thôn mới cũng quy định việc quản lý, thực hiện quy hoạch nông thôn mới gồm: i)
Tổ chức công bố, công khai và cung cấp thông tin quy hoạch ii) Cắm mốc chỉ giới các công trình hạ tầng kỹ thuật và ranh giới phân khu chức năng iii) Xác định cụ thể diện tích, ranh giới đất lúa nước, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ ngoài thực địa iv) Lưu trữ hồ sơ quy hoạch nông thôn mới Tuy nhiên các nội dung quản
lý quy hoạch xây dựng nông thôn mới chưa cụ thể để làm cơ sở cho quản lý phát triển nông thôn hiện nay
Hiện nay ở Việt Nam có ba cấp tham gia trực tiếp quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị Cụ thể là: Chính phủ, UBND tỉnh và UBND huyện
1 Cấp trung ương (Chính phủ) Quản lý lập, thẩm định, phê duyệt và thanh
tra, kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch
đô thị đối với các đô thị cấp thành phố thuộc tỉnh trở lên
2 Cấp tỉnh (UBND tỉnh) Quản lý lập, thẩm định, phê duyệt và thanh
tra, kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch
đô thị đối với các đô thị cấp thành phố thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh
3 Cấp huyện (UBND huyện) Quản lý lập lý lập, thẩm định, phê duyệt và
tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch đô thị đối với các đô thị cấp thị trấn, thị xã
( Khái quát nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị)
Luật Quy hoạch đô thị đã quy định rõ nội dung quản lý đô thị, phân thẩm quyền quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị cho từng cho từng cấp là khác nhau dựa trên chức năng, nhiệm vụ mà Luật đã ban hành; đây là cơ sở pháp lý vững chắc để các cấp chủ động xây dựng và tổ chức triển khai các hoạt động quản lý quy hoạch đô thị có hiệu quả; đồng thời là cơ chế pháp lý để tiến hành các hoạt động thanh tra, kiểm tra
1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị
1.2.2.1 Quản lý các đồ án quy hoạch đô thị trên địa bàn huyện
Thực hiện việc quản lý nhà nước đối với việc lập, thẩm định, trình cấp tỉnh phê duyệt các đồ án quy hoạch đô thị theo phân cấp và tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch đô thị trên địa bàn huyện
Trang 1512
1.2.2.2 Quản lý xây dựng các công trình trong đô thị
Các công trình trong đô thị bao gồm các công trình trên mặt đất, các công trình ngầm hoặc trên không, kể cả các công trình điêu khắc, áp phích, bảng quảng cáo đều phải được thiết kế, xây dựng theo quy hoạch đô thị được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Công tác quản lý nhà nước trong cải tạo và xây dựng công trình trong đô thị theo quy hoạch bao gồm các bước sau:
- Lựa chọn địa điểm xây dựng và cấp phép quy hoạch
- Cấp giấy phép xây dựng hoặc ra quyết định đình chỉ việc xây dựng, cải tạo các công trình trong đô thị
- Hướng dẫn việc cải tạo và xây dựng các công trình trong đô thị
- Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm
- Đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình
- Điều tra, thống kê và lưu trữ hồ sơ các công trình trong đô thị
(Bảng 1.2 Nội dung quản lý công trình xây dựng trong đô thị)
1.2.2.3 Quản lý, cải tạo và xây dựng công trình trong đô thị theo quy hoạch
Quá trình tiến hành trong ba giai đoạn, kể từ lúc chuẩn bị đầu tư đến kết thúc đầu tư xây dựng
Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Khi chủ đầu tư tiến hành lập dự án đầu tư (báo cáo nghiên cứu khả thi) hoặc thiết kế xây dựng công trình trong đô thị phải xin cơ quan quản lý quy hoạch đô thị
CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ XÂY D ỰNG
x ử lý
vi phạm
Hoàn công,
c ấp
gi ấy
ch ứng
nh ận quy ền
s ử
d ụng
Điều tra,
th ống
kê, lưu
tr ữ
Trang 1613
giới thiệu địa điểm xây dựng Khi địa điểm đã được xác định, UBND thành phố hoặc UBND quận, huyện theo phân cấp sẽ cấp giấy phép quy hoạch theo đề nghị của chủ đầu tư Sau khi dự án đầu tư xây dựng được phê duyệt, chủ đầu tư bắt đầu thực hiện các thủ tục nhận đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy phép xây dựng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc cấp giấy phép cải tạo và xây dựng phải căn cứ vào các giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất và sở hữu công trình, các yêu cầu về quy hoạch kiến trúc đô thị, về mỹ quan công trình, cảnh quan đô thị, các yếu tố tiện, bất tiện được xác định cụ thể trong tiêu chuẩn, quy phạm về quy hoạch đô thị và các quy định về xây dựng đô thị
Đối với công trình có quy mô lớn, quan trọng trước khi cấp giấy phép xây dựng các Bộ có liên quan phải xem xét kỹ các yếu tố về ổn định kết cấu và kỹ thuật xây dựng, về môi trường, an ninh quốc phòng, an toàn phòng cháy, chữa cháy và về các vấn đề khác, khi cần thiết phải được Hội đồng kiến trúc quy hoạch tỉnh xem xét trước khi trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Giai đoạn 2: Giai đoạn tiến hành đầu tư
Khi khởi công xây dựng, chủ đầu tư phải thông báo cho UBND phường, xã, thị trấn sở tại biết Trong quá trình thi công các công trình lớn, quan trọng, đơn vị thi công phải có biển báo cố định tại địa điểm thi công, trong đó phải ghi rõ tên công trình, tên đơn vị thi công, số giấy phép xây dựng, thời hạn thi công, kể cả bản
vẽ phối cảnh công trình Việc xây dựng, duy tu, sửa chữa các công trình không được gây tổn hại cho công trình trên mặt đất, ngầm và trên không trực tiếp có liên quan, đồng thời phải có biện pháp đảm bảo giao thông thông suốt và an toàn trên đường phố Việc xây dựng các công trình ngầm dưới các tuyến đường chính phải được tiến hành đồng bộ, cùng một lúc Trong trường hợp chưa đủ điều kiện xây dựng đồng bộ mà phải tiến hành xây dựng từng phần thì phải có giải pháp quá độ và phải được Chủ tịch UBND tỉnh cho phép
Giai đoạn 3: Giai đoạn kết thúc đầu tư xây dựng
Sau khi xây dựng hoặc cải tạo công trình, chủ đầu tư phải lập hồ sơ hoàn công theo quy định
Và cuối cùng là thực hiện các thủ tục đăng ký, xin cấp chứng nhận quyền sở hữu công trình và quyền sử dụng đất tại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
Trang 1714
1.2.2.4 Cấp giấy phép quy hoạch đô thị theo phân cấp của UBND cấp tỉnh
Theo quy định hiện nay, những trường hợp sau đây chủ đầu tư dự án phải xin cấp giấy phép quy hoạch đô thị:
- Điều chỉnh ranh giới hoặc một số chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình tập trung hoặc công trình riêng lẻ trong khu vực
đã có quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp sẽ căn cứ vào quy chuẩn quy hoạch đô thị; điều kiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của đô thị hoặc khu vực, quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị để quyết định việc điều chỉnh thông qua việc cấp giấy phép quy hoạch
- Dự án đầu tư xây dựng công trình tập trung tại khu vực trong đô thị chưa có quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết; dự án đầu tư xây dựng công trình riêng lẻ tại khu vực trong đô thị chưa có quy hoạch chi tiết hoặc chưa có thiết kế đô thị, trừ nhà ở
Giấy phép quy hoạch là cơ sở để chủ đầu tư dự án tổ chức lập nhiệm vụ và đồ
án quy hoạch chi tiết đối với dự án đầu tư xây dựng công trình tập trung hoặc dự án đầu
tư đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình riêng lẻ trong đô thị; là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chi tiết, dự án đầu tư xây dựng
1.2.2.5 Bảo vệ cảnh quan và môi trường sống của đô thị
Cảnh quan, kiến trúc và môi trường sống của đô thị là một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá tính thẩm mỹ và chất lượng cuộc sống của đô thị
Ngày nay, trong quá trình phát triển đô thị, bên cạnh những cảnh quan thiên nhiên như sông nước, kênh rạch là các cảnh quan nhân tạo như các tòa nhà cao tầng, các khu vui chơi giải trí Cùng với sự phát triển của thời gian thì các cảnh quan thiên nhiên dần dần bị thu hẹp và bị tàn phá bởi bàn tay con người Và thay vào đó là các cảnh quan nhân tạo, các cảnh quan nhân tạo này sẽ gần như là một cách phổ biến để con người tô điểm thêm cho vẻ đẹp của đô thị Nhưng đó cũng chính là nguồn gốc gây nên ô nhiễm môi trường, nghiêm trọng hơn nữa trong phạm
vi rộng lớn hơn đó là các hiện tượng mang tính toàn cầu như hiệu ứng nhà kính, sự nóng lên của trái đất theo thời gian ảnh hưởng trầm trọng đến sự tồn tại và phát triển của con người Do vậy, vấn đề bảo vệ cảnh quan và môi trường sống của đô thị ngày càng được quan tâm và xem xét trong quá trình quy hoạch đô thị
1.2.2.6 Quản lý và khai thác các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
Trang 1815
Các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm: Giao thông, cấp nước, thoát nước, vệ sinh môi trường, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, thông tin bưu điện và các công trình khác Mọi công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị khi xây dựng xong phải được tổ chức nghiệm thu theo quy định UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giao cho các cơ quan chuyên trách quản lý, sử dụng và khai thác các công trình đó Nội dung quản lý, sử dụng và khai thác các công trình
cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm:
- Lập và lưu trữ lý lịch, hồ sơ kỹ thuật hoàn công xây dựng công trình
- Phát hiện các hư hỏng, bảo đảm sự hoạt động bình thường cho các công trình
- Thực hiện chế độ duy tu, bảo dưỡng, cải tạo, nâng cấp để duy trì chấtlượng công trình theo định kỳ và kế hoạch hàng năm
- Ký kết các hợp cùng cung cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật với các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng và hướng dẫn thực hiện chế độ khai thác và sử dụng các công trình theo đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật nhà nước
- Phát hiện và xử lý các vi phạm về chế độ sử dụng và khai thác các công trình cơ sở hạ tầng đô thị
1.2.2.7 Giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm những quy định trong lĩnh vực quản lý quy hoạch đô thị
Nội dung thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý quy hoạch đô thị là phát hiện các vi phạm về quy hoạch xây dựng ở đô thị mà trong thực
tế thường phát sinh như: Phát hiện và xử lý các trường hợp cấp giấy phép xây dựng nhưng không đúng thẩm quyền; tiến hành xây dựng hoặc tháo dỡ các công trình xây dựng khi chưa được cấp phép xây dựng hay chưa được sự đồng ý của cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền; vi phạm việc bảo vệ cảnh quan môi trường sống của đô thị; các vi phạm về sử dụng và khai thác các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị như cấp nước sinh hoạt, điện dân dụng không có giấy phép
UBND xã, phường, thị trấn thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức và cá nhân trên địa bàn về thực hiện các quy định quản lý quy hoạch đô thị và pháp luật; thực hiện việc cưỡng chế thi hành các quyết định xử lý của cơ quan quản lý nhà nước
Trang 1916
UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc kiểm tra, thanh tra và chỉ đạo UBND cấp dưới xử lý các vi phạm về quy hoạch, xây dựng, khai thác và sử dụng công trình trong đô thị theo quy định của pháp luật
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành các quy định và chỉ đạo UBND cấp dưới thực hiện việc thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm về quản
lý quy hoạch xây dựng đô thị trong địa phương Các Sở chuyên ngành chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị, hướng dẫn UBND cấp dưới về chuyên môn nghiệp vụ và chịu trách nhiệm về hiệu quả quản lý của ngành mình phụ trách UBND các cấp phối hợp với
cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn được giao quản lý có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện các vi phạm trật tự xây dựng và có biện pháp xử lý kịp thời
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước về quy hoạch
đô thị
1.3.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến quá trình đô thị hóa và quá trình quản lý nhà nước đối với quy hoạch xây dựng đô thị Khi tốc độ phát triển kinh tế - xã hội càng nhanh thì quá trình đô thị hóa diễn ra càng mạnh
Khi kinh tế phát triển thì nền kinh tế đặt ra yêu cầu cần thiết để đáp ứng sự phát triển như hạ tầng kỹ thuật, nhu cầu về lao động, các dịch vụ khác một cách khách quan, tất yếu Sự chuyển dịch nền kinh tế từ lạc hậu sang nền kinh tế phát triển theo nguyên tắc thị trường, cạnh tranh kéo theo sự phát triển kinh tế tăng lên
về mặt quy mô, số lượng và các cơ sở kinh tế Điều này đặt ra một đòi hỏi khách quan về sự đáp ứng của công nghiệp, dịch vụ, thương mại phục vụ cho nền kinh tế
Mặt khác, khi tốc độ phát triển kinh tế - xã hội tăng nhanh song song cùng với sự tăng trưởng của các thành phần kinh tế công nghiệp, dịch vụ, thương mại với tốc độ càng cao thì khả năng gây ô nhiễm môi trường càng lớn Về mặt xã hội, sự gia tăng dân số với nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm, nhu cầu được bảo đảm về việc làm, vui chơi, giải trí cũng tạo áp lực lớn lên sự phát triển kinh tế và làm gia tăng sự suy thoái về môi trường
Trang 2017
1.3.2 Cơ chế, chính sách của Nhà nước về phát triển đô thị
Chính sách đô thị là hệ thống các quan điểm, mục tiêu và giải pháp bao gồm cả
kế hoạch hành động của chính quyền về đô thị để đạt được mục tiêu quản lý của mình
Cơ chế chính sách là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đô thị và đô thị hóa Cơ chế chính sách thông thoáng, hấp dẫn, thuận tiện sẽ tạo sự phát triển nhanh cho nền kinh tế cũng như phát triển đô thị
Đối tượng của chính sách đô thị là tất cả các vấn đề của đô thị trên ba lĩnh vực bao quát nhất, đó là kinh tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên với quan điểm
“Nhà nước tạo điều kiện”, những gì mà cá nhân công dân không tự làm được thì nhà nước phải “tạo điều kiện”, và phải có chính sách ở đó Do đó, chính sách đô thị
sẽ hướng vào việc đảm bảo về hạ tầng đô thị, bảo vệ môi trường và tạo điều kiện cho thị trường phát triển Đó cũng là ba chức năng cơ bản của chính quyền đô thị
Việc tăng cường hiệu lực của bộ máy quản lý đô thị giúp đổi mới cơ chế, chính sách, tạo vốn phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở đô thị, quản lý tốt quy hoạch - kiến trúc đô thị, giúp phát triển quỹ đất về nhà ở và đất đô thị, quản lý tốt môi trường đô thị
Cơ chế chính sách tốt sẽ tạo động lực, hỗ trợ quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói riêng và sự phát triển của đô thị nói chung Đồng thời sẽ hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống, môi trường
1.3.3 Môi trường pháp lý và thủ tục hành chính trong quản lý đô thị
Môi trường pháp lý là nền tảng, là động lực cho sự phát triển của đô thị Thủ tục hành chính giúp nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình về các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội Thủ tục hành chính không bắt nguồn từ quy phạm pháp luật quản lý, mà sâu xa hơn là từ quan điểm quản lý và nội dung quản lý
Quan điểm quản lý của chế độ bao cấp là kiểm soát các hoạt động trong xã hội, quan điểm quản lý của cơ chế thị trường là kích thích và tạo điều kiện Phương pháp quản lý hành chính bao cấp là “lệnh”, của cơ chế thị trường là “luật” Thủ tục hành chính là thủ tục chuẩn bị cho việc ra quyết định Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thủ tục cấp giấy phép xây dựng, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đều là các thủ tục để ban hành một quyết định, một lệnh theo nghĩa khái quát Xu hướng chung là cùng với việc nâng cao trình độ dân trí, tăng cường ý thức thượng tôn pháp luật, không ngừng giảm bớt việc kiểm soát hành vi
Trang 2118
(các loại giấy phép đều là công cụ để kiểm soát), tăng cường hậu kiểm và xử lý một cách nghiêm minh để nâng cao tính tự động hóa vận hành của xã hội theo pháp luật
Để thực hiện tốt việc này, cần phải đơn giản hóa các nội dung quản lý
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện các thủ tục hành chính trong quản lý đô thị, như tích hợp giấy phép (hay giấy phép điện tử), đấu thầu qua mạng
1.3.4 Tác động từ hội nhập quốc tế và sự phát triển kinh tế thị trường
Ngày nay, không một quốc gia nào có thể phát triển một cách ổn định và hài hóa nếu không tham gia vào quá trình hội nhập, đó là xu thế tất yếu Việc hội nhập
là tiền đề, tạo động lực cho sự phát triển
Kinh tế đô thị vốn là con đẻ của kinh tế hàng hóa, là kết quả phát huy tác dụng của cơ chế thị trường Nhưng chỉ có sản xuất thì không thể hình thành đô thị hoàn chỉnh, cần phải có sự bảo đảm thị trường lưu thông Thị trường phát triển nhanh hay chậm và được kiện toàn hay không, phụ thuộc khá lớn vào sự lưu động các yếu tố sản xuất có thông suốt, hợp lý hay không, ảnh hưởng đến sự thành bại và
là tiền đề để phát triển đô thị
Thị trường có cơ chế tự điều tiết tự động, nó luôn luôn thay đổi, khi kinh tế thị trường phát triển sẽ tạo ra nhiều nguồn lực để phát triển đô thị Song nó phát triển và tác động theo quy luật khách quan, nên trong quản lý đô thị cần phải tuân thủ và vận dụng sáng tạo
Kinh tế thị trường là công cụ để chính quyền thực thi điều tiết, khống chế vĩ
mô Về căn bản và rên lĩnh vực càng rộng lớn hơn nó tự động điều tiết hướng đi và
sự phát triển của nền kinh tế
Việc phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là thành phần kinh tế tư nhân, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển đô thị
1.3.5 Ảnh hưởng của sự phát triển khoa học công nghệ
Khi nền kinh tế phát triển nói chung và quá trình CNH - HĐH diễn ra nói riêng, khoa học kỹ thuật là yếu tố không thể thiếu Sự phát triển của khoa học kỹ thuật là tiền đề phục vụ quá trình CNH - HĐH, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất Đồng thời, là nhân tố giúp cho sự phát triển bền vững Khoa học kỹ
Trang 2219
thuật phát triển tạo điều kiện cho việc áp dụng công nghệ, kỹ thuật vào cuộc sống, bao gồm các hoạt động công nghệ và kỹ thuật cho phép khai thác bền vững các loại tài nguyên thiên nhiên, năng lượng và xã hội, hướng tới việc xây dựng xã hội phát triển bền vững
1.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ công tác quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị
1.4.1 Trên thế giới
1.4.1.1 Nhật Bản
Quá trình phát triển đô thị Nhật Bản có nhiều điểm tương đồng ở Việt Nam như phát triển đô thị khá nhanh, với sự gia tăng đột biến dân số đô thị, xu hướng đô thị hóa diễn ra cùng với quá trình CNH - HĐH và diện tích đô thị được mở rộng Chính phủ phải đối mặt với ba vấn đề chính là: Phải quản lý sự phát triển của các đô thị như thế nào, làm thế nào để có thể cung cấp các nhà ở và các dịch vụ khác cho
số lượng dân cư đô thị đang ngày càng phình ra, và làm cách nào để đối phó với tình trạng tắc nghẽn giao thông đang ngày càng tồi tệ, an toàn giao thông ngày càng suy giảm và suy thoái môi trường
Về thể chế và cơ chế thực thi quy hoạch của Nhật Bản
Hệ thống hành chính:
Ở trung ương: Bộ quy hoạch là cơ quan quản lý quy hoạch và xây dựng đô thị và Cục đất đai quốc gia chịu trách nhiệm lập quy hoạch sử dụng đất đại Bộ xây dựng phê duyệt các quy hoạch: Phân vùng khu vực đẩy mạnh đô thị hóa và khu vực khống chế đô thị hóa; phân chia đất đai các khu vực chỉ định và quyết định các dự
án đầu tư mở rộng đô thị có quy mô lớn và công trình công cộng lớn
Ở địa phương: Do chính quyền địa phương đảm nhiệm
Hệ thống pháp luật về quy hoạch và quản lý quy hoạch: Văn bản quy định quy hoạch đô thị đầu tiên của Nhật Bản được ban hành năm 1888 và các quy định này được sửa đổi nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc theo từng giai đoạn Sự sửa đổi gần đây của Luật quy hoạch đô thị chủ yếu giảm bớt sự tập trung quyền hạn, thúc đẩy việc bãi bỏ các quy định và tăng cường sự tham gia của quần chúng Việc phân quyền đã giúp cho Luật quy hoạch đô thị có thể đề cập đến các vấn đề ở địa phương một cách đầy đủ hơn thông qua sự tham gia sâu rộng của công chúng trong
Trang 2320
tiến trình quy hoạch và phát triển đô thị Đồng thời vai trò của quy hoạch tổng thể nhằm giải quyết các vấn đề một cách toàn diện trở nên quan trọng hơn
Các giải pháp thực hiện quy hoạch và quản lý quy hoạch
Quy hoạch đô thị ở Nhật Bản được thực hiện ở các cụm đô thị không phân biệt ranh giới quản lý hành chính hiện có nhằm thúc đẩy sự phát triển và cung cấp các dịch vụ một cách thống nhất và chặt chẽ Ngoài ra, các vùng nông thôn và khu vực đất rừng được quản lý bằng thể chế và hệ thống hoàn toàn khác hẳn với thể chế
và hệ thống quy hoạch đô thị
Quá trình lập quy hoạch đô thị có sự tham gia của nhiều bên liên quan Đó là chính quyền ở cả cấp trung ương và cấp địa phương, tư nhân - đối tượng có đóng góp
to lớn và tích cực vào sự phát triển đô thị, những người dân - những người chịu ảnh hưởng trực tiếp của quy hoạch và phát triển đô thị
Cải thiện các khu vực hiện hữu được thực hiện thông qua các biện pháp như điều chỉnh lại đất đai và đổi mới đô thị Hệ thống điều chỉnh lại đất đai ở Nhật Bản
đã được thể chế hóa và thực hiện gần 100 năm nay Trên thực tế, 1/3 các khu vực đô thị hiện nay đã được cải tạo và phát triển sử dụng kế hoạch điều chỉnh lại đất đai
Kế hoạch điều chỉnh lại đất đai bao gồm việc chuyển đổi một phần đất đai và tài sản của các chủ đất thành khu vực dành cho công trình công cộng và bán để tạo nguồn vốn xây dựng các công trình công cộng Mặc dù các chủ đất được giữ lại một lô đất hoặc tài sản nhỏ hơn, giá trị thị trường của chúng thường cao hơn trước khu thực hiện dự án do sự phát triển toàn diện của khu vực Khi 2/3 chủ đất đồng ý với các
dự án trong quy hoạch thành phố, các dự án điều chỉnh đất đai có thể tiến hành
Điều chỉnh đất được áp dụng đối với những khu vực đã có người sinh sống với cơ sở hạ tầng dưới mức tiêu chuẩn và các khu đất có hình dạng bất thường Nếu không có biện pháp gì, khu vực đó sẽ ngày càng xuống cấp và người dân sẽ phải gánh chịu hậu quả
Nếu áp dụng phương pháp thu hồi đất thông thường, sẽ vẫn có thể cung cấp được cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, những người bị ảnh hưởng trực tiếp sẽ phải di dời, không thể thực hiện cải tạo theo khu vực và chỉ có một số ít người được hưởng lợi
từ dự án
Trang 2421
Điều chỉnh đất giúp có thể phát triển khu vực đó một cách toàn diện Cơ sở
hạ tầng cần thiết sẽ được cung cấp, đất đai được tái tổ chức và mọi người có thể ở lại khu vực đó và chia sẻ lợi ích cùng chi phí của dự án một cách bình đẳng Đồng thời phát huy tối đa lợi ích từ dự án về mặt cải tạo môi trường cộng đồng cũng như nâng cao giá trị đất
Trong quá trình điều chỉnh đất, không bắt buộc giải phóng mặt bằng Các chủ đất có thể ở lại khu vực đó mà không phải di dời và những người bị ảnh hưởng bởi công trình xây dựng đó sẽ được bồi thường thỏa đáng
Như vậy, trong thế kỷ 20, Nhật Bản phải đối mặt với các áp lực về phát triển đô thị do quá trình đô thị hóa, cơ giới hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhanh Sự thay đổi trong lối sống và sự gia tăng mối quan tâm về quản lý môi trường và thảm họa cũng như quyền sở hữu các tài sản cá nhân chặt chẽ ảnh hưởng đến quy hoạch và phát triển đô thị Mặc dù các vấn đề phức tạp này diễn ra trong thời gian tương đối ngắn nhưng ở trong mức độ nào đó, Nhật Bản đã xây dựng được một mức độ hợp lý về cơ
sở hạ tầng và các dịch vụ khác ở khu vực đô thị trong cả nước Một yếu tố giải thích và phát triển đô thị, áp dụng quy hoạch đô thị một cách linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể, và có sự tham gia tích cực của khu vực tư nhân trong quá trình phát triển đô thị
1.4.1.2 Singapore
Cục Tái thiết đô thị (URA) của Singapore là cơ quan chịu trách nhiệm về quy hoạch sử dụng đất trên toàn lãnh thổ như lập và phê duyệt quy hoạch, chuẩn bị xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý quy hoạch, bán quỹ đất công Với một đất nước có diện tích nhỏ, hầu như không có tài nguyên, Singapore đã xác định phát triển thương mại, du lịch và kinh tế tri thức là nền tảng quan trọng Do vậy ngay từ khâu quy hoạch, Chính phủ đã quy hoạch phát triển không gian đô thị ưu tiên cho các hoạt động phát triển kinh tế thương mại, ưu tiên các ngành có giá trị gia tăng cao, dành quỹ đất để hình thành các trục trung tâm đa chức năng về thương mại, tài chính, ngân hàng, xây dựng các trung tâm thương mại cấp vùng Việc quy hoạch sử dụng đất được tối ưu hóa, trong đó ưu tiên tận dụng không gian nâng mật độ sử dụng đất, tận dụng không gian dưới mặt đất
Hiện nay với mục tiêu quy hoạch là “thành phố trong vườn” nên các đồ án quy hoạch đều được thiết kế cảnh quan cây xanh trên từng ô phố và đường phố, hệ
Trang 2522
thống công viên cây xanh đan xen với các khu vực nhà ở Công tác quy hoạch cũng luôn quan tâm đến việc bảo tồn các di sản, các khu nhà ở cũ các đồ án đều được kèm theo mô hình chi tiết để quản lý, thực hiện Việc chú trọng đến thiết kế cảnh quan để tạo ra một đô thị trong vườn, là một sắc thái riêng của đất nước Singapore
Công tác quy hoạch ở Singapore bao gồm 3 bước: (1) Quy hoạch chiến lược, hay được gọi là quy hoạch ý niệm: Các ý tưởng quy hoạch giai đoạn này tính toán
từ 30 đến 40 năm sau, năm 1971 Singapore đã hoàn thành bản quy hoạch chiến lược đầu tiên, sau 10 năm được hiệu chỉnh xét duyệt một lần Nội dung quy hoạch giai đoạn này dựa trên các ý tưởng về cơ cấu kinh tế, phân vùng và bố trí cơ cấu sử dụng đất hợp lý, ưu tiên đất đai cho phát triển kinh tế, hình thành các trục giao thông chủ đạo, các khu công nghiệp, cảng biển, sân bay, các khu chung cư cho nhân dân và đề
ra các chương trình hành động cho từng giai đoạn; (2) Quy hoạch tổng thể: Căn cứ vào quy hoạch chiến lược, các ý tưởng quy hoạch ý niệm để xây dựng quy hoạch tổng thể, nội dung quy hoạch giai đoạn này quy định chi tiết từng ô, phố, từng khu đất bao gồm diện tích, mật độ xây dựng, mục đích sử dụng đất và công khai cho mọi người biết để thu hút đầu tư và hướng dẫn người dân thực hiện theo quy hoạch; (3) Quy hoạch triển khai chi tiết: Giai đoạn này do các chủ đầu tư dự án trên các khu đất được giao quản lý thực hiện Căn cứ vào quy hoạch tổng thể và căn cứ vào yêu cầu sử dụng đất, chủ đầu tư phối hợp với các tổ chức tư vấn lập quy hoạch chi tiết trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt về những thông số kỹ thuật cơ bản như mật độ xây dựng, chiều cao, lộ giới, kích thước cơ bản công trình, khoảng cách giữa hai nhà, cảnh quan cây xanh trước khi tiến hành xây dựng
Ở Singapore, mặc dù mức tăng trưởng dân số rất cao nhưng ở quốc gia này hoàn toàn không có những khu phố nghèo, nhếch nhác như các đô thị khác Bắt đầu
từ năm 1960, Chính phủ bắt tay thực hiện chính sách mọi người đều phải có nhà ở Cục phát triển nhà (HDB) là cơ quan quản lý nhà ở xã hội duy nhất ở Singapore Nhiệm vụ của Cục phát triển nhà ở là phải giải quyết nhà ở cơ bản phù hợp với sức mua của người dân từng giai đoạn; quy hoạch và phát triển các khu ở mới, huy động vốn và quản lý nguồn vốn của nhà nước trợ cấp về chương trình nhà ở; phân phối, quản lý công bằng có hiệu quả và đề ra các chính sách về nhà ở Việc xây dựng các căn hộ do các nhà thầu xây dựng và bàn giao cho Cục phát triển nhà quản lý, Cục
Trang 26- xã hội và các đặc điểm hiện trạng sử dụng đất, kiến trúc và hạ tầng kỹ thuật và xã hội của phường Lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch định hướng phát triển không gian phường Phú Thượng đến năm 2010
Trong quá trình nghiên cứu lập quy hoạch chi tiết, thiết lập các dự án khả thi
và lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của phường, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà làm quy hoạch, nhà nghiên cứu, hoạch định kế hoạch và quan trọng nhất là
có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương khi triển khai thực hiện Các cuộc khảo sát hiện trạng, lập phiếu điều tra nhu cầu, nguyện vọng của cộng đồng về tổ chức sản xuất, mạng lưới hạ tầng kỹ thuật, vệ sinh môi trường, cộng đồng được tham gia đóng góp trong việc xác định vị trí các công trình, lựa chọn phương án quy hoạch không gian, các dự án ưu tiên đầu tư và đóng góp nguồn lực trong việc thực thi đồ án quy hoạch và triển khai thực hiện (đóng góp công sức, vốn đầu tư, xây dựng đường ngõ xóm, cấp thoát nước, thu gom rác…) Hình thức tham gia của
Trang 2724
người dân thông qua việc trả lời các phiếu phỏng vấn hộ gia đình về thực trạng và những vấn đề trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại phường Phú Thượng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của phường được tổ chức lấy ý kiến của đại diện ban, ngành đoàn thể và đại diện cụm, tổ dân cư…trước khi trình cơ quan thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch định hướng phát triển không gian phường Phú Thượng đạt được sự đồng tình của công đồng dân cư cao do sự điều tra, khảo sát, đánh giá kỹ hiện trạng, ghi nhận các ý kiến đóng góp của cộng đồng về các vấn đề mà cộng đồng quan tâm, từ đó cộng đồng có ý thức và trách nhiệm trong việc thực thi quy hoạch vào thực tế Hệ thống hạ tầng kỹ thuật được hoàn chỉnh dần, đường sá rộng rãi, thông thoáng, nhà ở hộ dân được cải tạo lại hay đi chuyển đến những khu vực cho phù hợp với điều kiện sống như các hộ nông nghiệp, bán nông nghiệp, phi nông nghiệp…
1.4.2.2 Kinh nghiệm của Thành phố Đà Nẵng trong xây dựng kết cấu hạ tầng, chỉnh trang đô thị
Kinh nghiệm thực tế tại thành phố Đà Nẵng trong vận dụng sáng tạo huy động sức dân khi thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, Đà Nẵng đã tạo ra một nguồn lực rất lớn để đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng, chỉnh trang
đô thị Đa số công trình loại nhỏ thực hiện ở các khu dân cư, người dân vừa là chủ đầu tư vừa giám sát việc thi công xây dựng; chính quyền quận hỗ trợ một phần kinh phí và bảo đảm các khâu quy hoạch, thiết kế Tùy theo khả năng tài chính của từng quận/huyện mà sự tham gia của ngân sách quận/huyện; có nơi người dân đóng góp toàn bộ chi phí thậm chí lo cả việc cơm nước động viên người thi công Chính nhờ
nỗ lực này mà nhiều điểm tụ cư không theo quy hoạch, dưới chuẩn dần dần đổi thay thành những khu dân cư sạch, đẹp, vệ sinh Công tác lập và quản lý thực hiện quy hoạch được tổ chức công khai và dân chủ, người dân được tham gia ở mức độ cao nhất vào quá trình lập quy hoạch và triển khai các dự án có liên quan đến cuộc sống của họ Tăng cường tính tự quản ở khu dân cư, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ
sở như là một phương cách tốt để thực hiện và mở rộng sự tham gia của người dân
Trang 28- Mọi chính sách xây dựng và phát triển đô thị đều hướng tới mục tiêu đem lại lợi ích cho người dân chứ không vì lợi ích của nhóm hay cá nhân nào
- Tập trung mọi nguồn lực để xây dựng quy hoạch, đảm bảo quy hoạch đạt chất lượng cao và ít phải điều chỉnh Những nguyên tắc chính, những ý tưởng chính đều được quyết định từ trước, ở những cấp chính quyền cao hơn và được thể hiện cụ thể hơn ở từng cấp thấp hơn Quy hoạch phải có tầm nhìn xa đến việc phát triển giao thông, hạ tầng kỹ thuật - xã hội Đồng thời gắn kết quy hoạch chung của đô thị với quy hoạch vùng
- Không quá tập trung vào quy hoạch chi tiết mà nên quan tâm sâu đến quy hoạch chiến lược Quy hoạch phải mang tính dân chủ công khai, đảm bảo mọi người dân và các
cơ quan chức năng, các doanh nghiệp được quyền tham gia và được thông tin đầy đủ Sau khi nội dung quy hoạch đã được công bố, giá trị pháp lý của quy hoạch phải được đảm bảo, không chịu sự can thiệp của các cá nhân hoặc cơ quan nào, việc quản lý xây dựng theo quy hoạch rất nghiêm khắc, nâng cao ý thức tự giác của người dân
- Quy hoạch không phụ thuộc vào ranh giới hành chính mà theo các phân khu chức năng, nhằm thúc đẩy sự phát triển và cung cấp các dịch vụ một cách thống nhất và chặt chẽ
- Áp dụng biện pháp điều chỉnh lại đất đai nhằm cải thiện các khu vực đô thị hiện hữu Nâng cao kiến thức về quy hoạch cho người dân để nhận được sự phối hợp rộng rãi Coi trọng công tác tuyên truyền, vận động người dân thực hiện chính sách liên quan đến xây dựng kết cấu hạ tầng, chỉnh trang đô thị, đền bù, giải tỏa, tái định cư qua việc thực hiện các phong trào hành động cách mạng tại địa phương, nhằm nâng cao nhận thức người dân, nâng cao ý thức cộng đồng, ý thức công dân tạo điều kiện thuận lợi để các chính sách, các dự án sớm đi vào cuộc sống
- Sự tham gia của cơ quan tài chính trong lĩnh vực quy hoạch nhằm xác định
kế hoạch thực hiện, tính khả thi của các dự án quy hoạch, chú trọng thực hiện các
Trang 29và rút ra những nhận định quan trọng để triển khai nghiên cứu vấn đề quản lý nhà
nước về quy hoạch đô thị trên địa bàn huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
Tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận quản lý nhà nước về quy hoạch đô
thị; trong đó chỉ ra quan niệm về quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị; nội dung
quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị tại cấp huyện; các yếu tố ảnh hưởng tới quản
lý nhà nước về quy hoạch đô thị; kinh nghiệm tại các quốc gia trên thế giới và tại các địa phương khác trong nước có thể áp dụng vào quá trình quản lý nhà nước về
quy hoạch đô thị tại huyện Phục Hòa
Trang 3027
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TẠI
HUYỆN PHỤC HÒA, TỈNH CAO BẰNG 2.1 Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng tác động đến công tác quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
Đô thị Phục Hòa nằm ở phía Đông Nam tỉnh Cao Bằng, thuộc vùng Trung
du và miền núi phía Bắc Việt Nam; Có tọa độ địa lý: 22027’ - 22041’ vĩ độ Bắc; 106022’ - 106039’ kinh độ Đông; Ranh giới tiếp giáp với 4 huyện thuộc tỉnh Cao Bằng và 1 huyện thuộc Trung Quốc; Cụ thể (phụ lục 1: Sơ đồ vị trí và mối
liên h ệ vùng của huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng) :
Phía Đông giáp huyện Hạ Lang;
Phía Tây giáp huyện Hòa An;
Phía Tây Nam giáp huyện Thạch An;
Phía Bắc giáp huyện Quảng Uyên;
Phía Đông Nam giáp huyện Long Châu, Trung Quốc
Khu vực đô thị Phục Hoà đề nghị công nhận đô thị loại IV bao gồm: toàn bộ thị trấn Tà Lùng (Bản Bó Pết; Bản Bó Pu; Bản Hưng Long; Đoỏng Lèng; Pác Phéc, Phia Khoang, Pò Tập); Các xóm, phố của thị trấn Hòa Thuận (xóm Bó Chiểng; xóm
Bó Tờ; xóm Nà Mười; xóm Pò Rịn; xóm Pác Bó 1; xóm Pác Bó 2; xóm Pác Tò; xóm Phia Xiếp; xóm Bản Cải; xóm Cốc Khau; phố Phục Hoà 1; phố Phục Hoà 2); Các xóm của Mỹ Hưng (Lăng Bản; Tục Mỹ; Bó Lếch; Bản Đâư; Nà Quang; Nà Lếch; Bản Mới; Nà Thắm; Nà Chào; Pò Đồn); có ranh giới như sau:
Phía Đông giáp Trung Quốc;
Phía Tây giáp bản Nà Pò và xóm Lũng Nậm xã Mỹ Hưng;
Phía Bắc giáp xã Đại Sơn;
Phía Nam giáp Trung Quốc
Đây là khu vực đông dân và có hệ thống hạ tầng đô thị phát triển
Khoảng cách (theo đường chim bay) đến thủ đô Hà Nội khoảng 180 km theo hướng Nam - Tây Nam; đến TP Cao Bằng khoảng 40 km theo hướng Tây Bắc; đến
TP Lạng Sơn khoảng 60 km theo hướng Nam - Đông Nam; đến TP Móng Cái
Trang 31tế - xã hội của khu vực các huyện miền Đông toàn tỉnh; đặc biệt là trung tâm của khu kinh tế cửa khẩu
Là đô thị xanh, hướng tới phát triển bền vững, lấy yếu tố cảnh quan tự nhiên, môi trường và văn hoá bản địa làm chủ đạo, kết hợp các giải pháp tổ chức không gian hiện đại, sự gắn kết hài hoà với khu vực nông thôn nông nghiệp tạo nên sự khác biệt, hấp dẫn về phong cách thẩm mỹ đô thị
Khu vực Đô thị Phục Hòa nằm trên 2 trục quốc lộ 3, 4A đầu mối giao thông và là cửa ngõ nối Cao Bằng với trung Quốc, thuận lợi thông thương trao đổi hàng hóa khu vực phía Đông dựa trên cơ sở các trục đường giao thông chính như QL3, QL4 kết nối với các tỉnh và thành phố phía Bắc
Khu vực cửa khẩu Tà Lùng là khu vực có nhiều lợi thế, tiềm năng thu hút đầu tư và sẽ là điểm đến của các công ty, doanh nghiệp trong và ngoài nước đến hoạt động thương mại, XNK, phát triển kinh tế - xã hội… Xứng đáng là khu vực kinh tế trọng điểm của tỉnh trong những năm tiếp theo
Trong những năm gần đây, đô thị từng bước phát triển kinh tế cửa khẩu gắn với phát triển đô thị, phát triển du lịch trên cơ sở phát huy các khu danh lam thắng cảnh, các bản làng văn hóa truyền thống, xây dựng đô thị Tà Lùng, Trà Lĩnh với vai trò là đô thị hỗ trợ dịch vụ, hậu cần cho Khu kinh tế, là điểm trung chuyển của hành lang kinh tế phía Đông của tỉnh
Phát triển hành lang quốc lộ 3, 4A, phát huy tuyến đường vành đai biên giới, tạo ra mối liên hệ phát triển giữa các cửa khẩu, thúc đẩy phát triển kinh tế đối ngoại với Trung Quốc Tập trung hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng khu
vực trung tâm cửa khẩu Tà Lùng, thu hút mạnh các dự án đầu tư kinh doanh, sản xuất trên địa bàn;
Trang 3229
Hệ thống trục đường trung tâm thị trấn Hòa Thuận, trung tâm thị trấn Tà Lùng được đầu tư xây dựng tương đối hoàn thiện Các tuyến đường nhánh và trục kết nối vùng phục vụ nhu cầu phát triển đang được đầu tư Đây là những điều kiện tốt nhất để thúc đẩy nền kinh tế của huyện, của tỉnh phát triển tạo ra
sự đột biến về tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế và dịch vụ
Nâng cấp các cơ sở vật chất, giáo dục, y tế, thương mại dịch vụ nâng cao chất lượng dạy và học, chất lượng khám chữa bệnh cho người dân, giữ vững an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội
Đánh giá nhận xét: Tiêu chuẩn vị trí, chức năng, vài trò của đô thị Phục
Hòa đạt mức khá cao so với tiêu chuẩn của đô thị loại IV theo Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
* Kinh tế
- Về cơ cấu kinh tế
Trong những năm qua, kinh tế tiếp tục phát triển, tốc độ giá trị sản xuất tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016- 2018 là gần 10%/ năm, trong đó Thương mại - Dịch vụ tăng trên 11% Công nghiệp - Xây dựng tăng trưởng 6-7%; Nông, Lâm nghiệp, Ngư nghiệp tăng gần 2%
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, song nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng Giai đoạn 2016 - 2018, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông lâm ngư nghiệp theo mục tiêu đề ra Thu nhập bình quân đầu người tăng gấp hơn 1,2 lần so với năm 2016 Thương mại - Dịch vụ lĩnh vực Nông, lâm nghiệp và chế biến nông sản tăng trưởng mạnh nhất Cơ cấu nội ngành chuyển dịch tích cực, có nhiều mô hình mới hiệu quả; thương mại dịch vụ phát triển khá
Cơ cấu kinh tế theo các thành phần cũng từng bước chuyển dịch phù hợp dần với cơ chế thị trường Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phát triển nhanh và ngày càng chiếm ưu thế trong mọi lĩnh vực, tỏ rõ sự thích nghi với cơ chế thị trường và
có tác động lớn đến nền kinh tế
Tóm lại, thời gian qua đô thị Phục Hoà đã đạt được kết quả đáng khích lệ, tốc
độ tăng trưởng cao Song nhìn chung quy mô nền kinh tế của đô thị còn nhỏ bé,
Trang 33- Về tốc độ tăng trưởng kinh tế
Việc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng lấy đô thị Phục Hoà, huyện Phục Hoà là một trong những đô thị hạt nhân là phù hợp với xu thế phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, vùng trong cả nước; Góp phần tạo hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của vùng Đông Bắc Bộ nói riêng, vùng trung du và miền núi phía
Bắc nói chung
Thời gian qua, cùng với sự phát triển chung của toàn tỉnh và cả nước, nền kinh tế đô thị Phục Hoà luôn phát triển và đạt được nhiều kết quả, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Đặc biệt từ năm 2013 trở lại đây, kinh tế của đô thị Phục Hoà có bước phát triển khá mạnh dựa trên cơ sở khai thác tối đa các tiềm năng, lợi thế của địa phương Các ngành kinh tế chủ yếu trên địa bàn như công nghiệp (các nhà máy đang được đầu tư), thương mại dịch vụ, xuất nhập khẩu (dịch vụ bến bãi, vận chuyển hàng hóa), chế biến nông sản… đều đạt tốc độ tăng trưởng cao, tạo động lực thúc đẩy các ngành khác và toàn bộ nền kinh tế phát triển Năm 2018, tổng GTGT của đô thị đạt khoảng trên 1,6 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành), thu nhập bình quân đầu người (theo GTGT) đạt khoảng gần 65 triệu đồng/1 năm
- Về thương mại và dịch vụ
Khu kinh tế cửa khẩu Tà Lùng được đầu tư xây dựng và trở thành khu vực kinh tế trọng điểm của huyện, tỉnh Đến nay, đã thu hút được 35 dự án đầu tư, với tổng vốn đăng ký hơn 2.000 tỷ đồng và 36 triệu USD, trong đó, 20 dự án hoàn thành đi vào hoạt động
Hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn phát triển nhanh, nhất là thương
mại xuất nhập khẩu như kho chứa hàng, bãi đỗ xe, bãi bốc xếp, hợp tác xã bốc xếp được hình thành và phát triển đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa, kim ngạch
Trang 3431
xuất, nhập khẩu trung bình đạt 275,8 triệu USD/ năm
Mấy năm gần đây, hoạt động dịch vụ thương mại có nhiều tiến bộ Tuy thương nghiệp quốc doanh tạm thời bị thu hẹp, nhưng thương mại ngoài quốc doanh phát triển mạnh đã góp phần lưu thông hàng hoá, khai thác nhiều hàng hoá phong phú từ Hà Nội và các tỉnh khác về phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Giá
Phục Hòa có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, là cửa ngõ
giữa Việt Nam với Trung Quốc và các nước trên thế giới; có nền văn hoá rất đa dạng và phong phú; Là nơi cư ngụ lâu đời của các dân tộc bản địa; Có cửa khẩu ngoại thương lâu đời, từng là nơi buôn bán sầm uất
Xác định bảo tồn và phát huy thế mạnh, tiềm năng của địa phương, những năm qua, huyện Phục Hòa tập trung xây dựng chương trình phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn giá trị văn hoá một cách bền vững
Tiềm năng du lịch tại Phục Hòa là rất phong phú như: du lịch quá cảnh; du lịch sinh thái, cảnh quan; du lịch đô thị; du lịch mua sắm; du lịch cộng đồng; du lịch văn hóa (bản địa, lịch sử ) Gần đây đã triển khai thực hiện dự án du lịch mạo hiểm là một trong những chương trình trọng tâm để phát triển kinh tế
Phát triển nghề làm đường phên kết hợp với phát triển du lịch quá cảnh “cửa khẩu” Vẻ đẹp của sinh thái, cảnh quan được nhiều người ghi nhận, có tiềm năng thu hút khách du lịch như một thắng cảnh du lịch sinh thái độc đáo cùng với phát triển du lịch các làng nghề truyền thống
Với những thuận lợi trên, ngành du lịch đang tập trung phát triển trở thành ngành phát triển mạnh của địa phương, đô thị Phục Hoà hướng tới trở thành một trong những điểm đến nghỉ dưỡng, tham quan tại tỉnh
Có lợi thế cửa khẩu quốc tế, điều kiện tự nhiên xã hội và lịch sử thuận lợi, Phục Hòa cần phát triển thêm các giải pháp để khai thác và phát huy những giá trị sẵn có
Trang 3532
- Về nông nghiệp
Trên toàn huyện, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 100% kế hoạch giao Trong đó: Cây lúa diện tích gieo trồng cả năm năng suất 47,15 tạ/ha, sản lượng đạt trên 100% kế hoạch giao; Cây ngô diện tích gieo trồng năng suất 46,6 tạ/ha, sản lượng đạt trên 100% kế hoạch giao Cây công nghiệp: Cây mía năng suất 662.2 tạ/ha, sản lượng đạt trên 100% kế hoạch giao; Cây sắn năng suất 232,01 tạ/ha, sản lượng đạt 75,7% kế hoạch giao; Cây lạc năng suất 18,78 tạ/ha, sản lượng đạt 318% kế hoạch giao; Cây đỗ tương năng suất 8 tạ/ha, sản lượng đạt 79,6% kế hoạch giao; Cây thuốc lá năng suất 20 tạ/ha, sản lượng đạt 56% kế hoạch giao
Chăn nuôi và thú y: Tình hình chăn nuôi tiếp tục phát triển Trâu, bò, lợn, dê có số lượng đạt trên 100% kế hoạch Kết quả tiêm phòng gia súc các loại dịch bệnh đạt gần 100% chỉ tiêu được giao
* Xã hội
- Dân số
Năm 2018, trong khu vực đề nghị công nhận cấp đô thị của đô thị Phục Hòa
có tổng số dân là 25.879 người; trong đó: thị trấn Tà Lùng 10.887 người, thị trấn Hòa Thuận 10.234 người, xã Mỹ Hưng 4.759 người
Tỷ lệ tăng dân số hằng năm (bao gồm tăng tự nhiên và tăng cơ học) khoảng
>3%; đạt chỉ tiêu trung bình của đô thị loại 4
Về công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình: tăng cường công tác truyền thông, cung cấp các phương tiện tránh thai, thực hiện giảm sinh hợp lý và nâng cao chất lượng dân số, giảm tỷ lệ sinh ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa Mức giảm tỉ xuất sinh năm 2018 là: 0,1%
- Cơ cấu lao động và nguồn lực lao động
Năm 2018, dân số trong độ tuổi lao động trong khu vực đô thị gần 12.000 người, chiếm khoảng gần 50% tổng dân số; Lực lượng lao động chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ chiếm khoảng 47,6%; Nông - lâm - ngư nghiệp với cơ cấu lao động năm 2018 chiếm đến khoảng 31,0% trong tổng lực lượng lao động của huyện, trong khi nhóm ngành công nghiệp - xây dựng chỉ chiếm khoảng 21,42%
- Về thu nhập
Khu vực Đô thị Phục Hoà đã thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, tăng cường vốn và các cơ sở vật chất kỹ thuật đưa nền kinh tế phát triển và bền vững
Trang 36- Về giảm nghèo
Kết quả rà soát năm 2018, tổng số hộ nghèo trong khu vực đề nghị công nhận cấp đô thị của đô thị Phục Hòa là 178 hộ/ hơn 2.500 hộ Tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm bình quân trên 3%/năm Đến nay, khu vực đô thị Phục Hoà còn chưa tới 7%
hộ nghèo; đạt ngưỡng tối thiểu quy định cho Đô thị loại IV theo Nghị quyết
Trình độ lý luận chính trị: cao cấp lý luận chính trị có 20 đồng chí; trung cấp
lý luận chính trị - hành chính có 16 đồng chí
Trình độ quản lý nhà nước: chuyên viên cao cấp có 01 đồng chí; chuyên viên chính có 06 đồng chí; chuyên viên có 42 đồng chí
(Phụ lục 3: Số lượng cán bộ, công chức thuộc UBND huyện Phục Hòa năm 2019)
Thẩm định, trình UBND huyện phê duyệt các đồ án QH theo thẩm quyền; phối hợp với Chủ đầu tư lập quy hoạch, UBND xã lấy ý kiến cộng đồng dân cư và công bố công khai quy hoạch, cung cấp thông tin về quy hoạch khi người dân có
Trang 3734
yêu cầu bằng các hình thức giải thích trực tiếp, chứng chỉ quy hoạch… Tham mưu cấp phép xây dựng, phê duyệt Báo cáo kinh tế kỹ thuật các dự án nguồn vốn ngân sách… Phổ biến, hướng dẫn UBND các xã, thị trấn các nội dung chuyên môn về lĩnh vực quy hoạch - xây dựng; phối hợp với các cơ quan thanh tra, kiểm tra đề xuất
xử lý đối với tổ chức, cá nhân vi phạm trong lĩnh vực quy hoạch - xây dựng
Đội trật tự đô thị: Kiểm tra, phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính và ngừng thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng, yêu cầu chủ đầu tư tự phá dỡ công trình vi phạm đối với các công trình không đủ điều kiện cấp giấy phép xây dựng, nhắc nhở vận động hoàn thiện thủ tục xin cấp phép đối với các công trình
đủ điều kiện cấp phép Phối hợp cùng UBND xã, thị trấn, công an địa phương tổ chức thực hiện các quyết định xử phạt, cưỡng chế hành chính của cấp có thẩm quyền về việc dỡ bỏ công trình vi phạm
Phòng Tài nguyên - Môi trường: Thực hiện tham mưu chuyển mục đích sử dụng đất, giao thuê đất theo quy hoạch đã được phê duyệt
Phòng Kinh tế: Tổ chức quản lý đăng ký kinh doanh hộ cá thể theo quy hoạch, quy hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông nông thôn, thủy lợi, là thành viên thường trực Ban chỉ đạo chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Tham gia có ý kiến trên các lĩnh vực quy hoạch phát triển kinh tế, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Phòng Tài chính - Kế hoạch: Phân bổ nguồn vốn cho công tác lập quy hoạch
đô thị trên địa bàn và triển khai thực hiện các dự án, công trình sử dụng nguồn vốn
từ ngân sách nhà nước
Ban Quản lý Đầu tư Xây dựng Công trình: Làm chủ đầu tư các dự án quy hoạch, phối hợp đơn vị tư vấn lập và trình thẩm định, phê duyệt các đồ án quy hoạch, phối hợp các phòng ban để tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư và công bố quy hoạch
Thanh tra nhà nước: Thanh tra, kiểm tra, xử lý các khiếu nại, vi phạm của công dân trên các lĩnh vực quy hoạch đô thị, xây dựng
UBND xã, thị trấn: Chịu trách nhiệm chính trong việc phát hiện công trình
xây dựng không phép trên địa bàn Tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật
về lĩnh vực quy hoạch, xây dựng cho người dân Chủ trì các buổi tổ chức lấy ý kiến
Trang 38- Về cải tạo, chỉnh trang các khu chức năng cũ
Các khu dân cư cũ cải tạo và chỉnh trang, khu dân cư ven đường giao thông phải đảm bảo hành lang an toàn giao thông Cải tạo, nâng cấp các hệ thống cống, đường ống gần khu vực dân cư đảm bảo an toàn thoát nước về mùa lũ
Về cải tạo, chỉnh trang các khu chức năng cũ chủ yếu tập trung ở đô thị Phục Hoà Các khu vực đô thị cũ (các khu ở cũ, các trung tâm hành chính, các cơ quan công sở) đã được tập trung xây dựng theo đúng quy hoạch Nâng cấp hệ thống chiếu sáng, xây dựng đồng bộ vỉa hè, lòng đường; bảo đảm cấp nước sạch cho nhân dân
Các dự án cải tạo, chỉnh trang các khu chức năng cũ: Trồng cây xanh đô thị thị trấn Hòa Thuận, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng; Bảng điện tử cổng chào huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng; Hệ thống chiếu sáng đường nội thị huyện lỵ Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng; Lắp đặt hệ thống chiếu sáng bằng quang năng tại thị trấn Tà Lùng; Thay bóng đèn chiếu sáng đường ra cửa khẩu Tà Lùng, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng; Cải tạo, sửa chữa Chợ Phục Hòa thị trấn Hòa Thuận, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng; Chợ thực phẩm Tà Lùng; Xây dựng trung tâm văn hóa hữu nghị Tà Lùng; Quảng trường trung tâm thị trấn Hòa Thuận; Trạm Y tế TT Tà Lùng; Cải tạo, sửa chữa Trường Mầm non Phục Hòa (điểm trường Hòa Thuận); Trường THCS Phục Hòa; Trường Tiểu học - THCS Tà Lùng; Trường Mầm non Tà Lùng; Trường Tiểu học Phục Hòa; Trường Tiểu học thị trấn Tà Lùng; Trường Tiểu học Nà Quang
- Mỹ Hưng; Trường Mầm non Cách Linh) Cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường và hình thành tuyến du lịch sinh thái Di chuyển các xí nghiệp sản xuất ô nhiễm môi trường vào các khu công nghiệp, di dời một số công trình nghĩa trang, bãi chôn lấp chất thải rắn ra khỏi khu vực trung tâm
Đánh giá nhận xét: Số lượng dự án cải tạo, chỉnh trang của đô thị Phục Hòa được thực hiện khá nhiều (>20), góp phần lớn để bộ mặt đô thị Phục Hòa khởi sắc nhanh chóng trong mấy năm qua, đạt mức tối đa so với tiêu chuẩn của đô thị loại IV theo Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13
Trang 39Cơ sở hạ tầng xã hội, đặc biệt là các ngành học đã đạt chuẩn, nhà văn hóa gắn với các sân thể dục thể thao tương đối đầy đủ Hệ thống tổ chức chính trị vững mạnh, an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội luôn được đảm bảo và giữ vững Cơ
sở hạ tầng kỹ thuật đang được hoàn thiện
- Về phân bố dân cư và phát triển nhà ở
Đô thị Phục Hoà, khu dân cư nông thôn mang đặc trưng của thôn, bản vùng miền núi Đô thị có 2 thị trấn, 1 xã với tổng diện tích Đất khu ở (đất ở + công cộng cấp khu ở) khoảng trên 124 ha, chiếm 4,38% diện tích tự nhiên
Hiện tại, đô thị Phục Hoà có 3.140 ngôi nhà; trong đó, có 2.955 nhà kiên cố, bán kiên cố, 185 nhà tạm Diện tích nhà ở: 686.075 m2 sàn
Các khu dân cư phân lô chủ yếu bám mặt đường chính, các công trình kiến trúc tại các xóm xung quanh chủ yếu là công trình cấp 4
Đánh giá nhận xét: Các tiêu chuẩn về nhà ở của đô thị Phục Hòa đạt mức tối
đa so với tiêu chuẩn của đô thị loại IV theo Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13
- Về xây dựng, phát triển công trình dịch vụ, thương mại
Hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn chủ yếu là công ty thương nghiệp và các hộ tư thương, hàng hoá trên thị trường phong phú, đa dạng, đáp ứng phần lớn nhu cầu sản xuất và phục vụ đời sống của nhân dân trên địa bàn huyện; thực hiện đầy đủ các mặt hàng chính sách trợ giá, trợ cước,
Nhìn chung hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn trong những năm gần đây đã có nhiều thay đổi đáng kể đáp ứng với nền kinh tế thị trường, các mặt hàng chính sách được cung ứng đầy đủ và kịp thời, đáp ứng kịp thời phục vụ sản
xuất và đời sống nhân dân trong huyện
Trang 4037
Hiện nay trong khu vực có 02 điểm chợ (gồm chợ Phục Hòa, và chợ cửa khẩu Tà Lùng) và 1 điểm trung tâm thương mại Tà Lùng, thu hút và tạo điều kiện cho hàng nghìn hộ dân tham gia kinh doanh
Khu vực thị trấn Tà Lùng hiện có chợ cửa khẩu với diện tích đất đang quản
lý 22051,77 m2, chợ tạm với diện tích đang quản lý là 3050,13 m2, chợ Tà Lùng với diện tích đang quản lý 8480 m2, trung tâm thương mại Tà Lùng với diện tích đang quản lý 3000 m2, siêu thị, chợ gia súc để đáp ứng nhu cầu giao lưu trao đổi hàng hóa của người dân
Hiện chợ Phục Hòa, và chợ cửa khẩu Tà Lùng đạt cấp đô thị; còn lại các chợ khác chỉ đạt cấp khu ở; các hạng mục cơ sở vật chất thiết yếu của chợ như ki ốt bán hàng, công trình vệ sinh công cộng, công trình thu gom rác thải, hệ thống phòng cháy, chữa cháy, nhà để xe đang dần từng bước xây dựng và hoàn thiện
Các cơ sở kinh doanh thương mại, khách sạn - nhà hàng phần lớn có quy mô nhỏ, chỉ đạt cấp khu ở, chưa đạt cấp đô thị Đa số các chợ trên địa bàn thời gian qua
bị xuống cấp, chưa đạt quy định chuẩn quốc gia; hiện nay đang dần từng bước chỉnh trang, nâng cấp
- Về xây dựng, cải tạo hệ thống công trình y tế, khám chữa bệnh
Khu vực đô thị Phục Hoà có 01 bệnh viện đa khoa huyện Phục Hòa, diện tích 11.825m2 (địa điểm: TT Hòa Thuận); 03 trạm y tế xã, thị trấn (trạm y tế TT Tà Lùng 1.641 m2, trạm y tế TT Hòa Thuận 120 m2, trạm y tế xã Mỹ Hưng 1.600 m2);
Năm 2018, chất lượng khám chữa bệnh đã từng bước được nâng cao, tuy nhiên chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân
Công tác phòng, chống dịch bệnh được quan tâm chỉ đạo thường xuyên Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương trình mục tiêu y tế quốc gia Công tác tiêm chủng mở rộng được thực hiện tại các thị trấn, xã, đảm bảo chất lượng, không có tai biến sau tiêm chủng
Hàng năm được quan tâm nâng cấp đầu tư xây dựng về cơ sở vật chất trang thiết bị
Nhận xét: Chỉ số bình quân trên 3 giường bệnh/1000 người vượt chỉ tiêu tối
đa đô thị loại IV (yêu cầu tối thiểu 2,4 giường/1000 người; tối đa ≥ 2,8 giường/
1000 người), hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật cơ bản đã được trang bị