1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài thu hoạch tranh chấp ly hôn (Hảo - Nguyệt)

14 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 277,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Thị Hương Giang Họ và tên: VMT Sinh ngày: Số báo danh:: 41 Lớp: Vai diễn: không HỌC VIỆN TƯ PHÁP CƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN DÂN SỰ BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Mô

Trang 1

Hậu Giang, ngày 05 tháng 12 năm 2021

Môn: Kỹ năng luật sư tham gia giải quyết các vụ việc dân sự

Mã hồ sơ: LS.DS 07/B4.TH4_DA1/HNGĐ Diễn lần: 01

Ngày diễn: 05.12.2021 GVHD: Ths Nguyễn Thị Hương Giang

Họ và tên: VMT Sinh ngày:

Số báo danh:: 41 Lớp:

Vai diễn: không

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

CƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN DÂN SỰ

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn : KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ

Mã hồ sơ: LS.DS 07/B4.TH1/DS_DA2/DS

Vụ án dân sự “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản, nuôi con”

Nguyên đơn: Bà HOÀNG THỊ HẢO, sinh năm 1978;

Bị đơn: Ông NGUYỄN VĂN NGUYỆT, sinh năm 1976;

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị Thoa – mẹ của anh Nguyệt

- Ông Nguyễn Văn Cang – bố của anh Nguyệt

- Đại diện ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

I NỘI DUNG VỤ ÁN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ

1 TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngày 02/01/2016 chị Hoàng Thị Hảo, Địa chỉ: thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương kiện anh Nguyễn Văn Nguyệt, Địa chỉ: thôn Thượng Triệt

I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương

Nội dung:

* Yêu cầu cầu ly hôn với anh Nguyệt;

* Yêu cầu nuôi 2 con chung tên Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04/01/2000 và Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/6/2007 Không yêu cầu cấp dưỡng

* Yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà và đất số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 Được Ủy ban nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp giấy CNQSDĐ vào sổ số H497 ngày 31/12/2005 đứng tên Nguyễn Văn Nguyệt và Hoàng Thị Hảo Đất tọa lạc tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương

* Kèm theo đơn khởi hiện: Bản sao giấy chứng nhận kết hôn, bản sao giấy khai sinh cháu Nhi vàchấu Anh, bản sao sổ hộ khẩu, bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Ngày 03/01/2016 Tòa án thông báo nộp tiền tamị ứng án phí số 15/TB-TA số tiền 10.000.000 đồng

Ngày 03/3/2017 chị Hảo nộp tiền tạm ứng án phí 10.000.000 đồng theo thông báo số 15/TB-TA của tòa án

Ngày 10/01/2016 TAND TP.Hải dương thông báo thụ lý vụ án số 02/TB-TLVA

Trang 2

Biên bản ghi lời khai ngày 18/01/2016 anh Nguyệt trình bày:

Hai người tự tìm hiểu và đến với nhau, có đăng kết hôn ngày 26/3/1999 tại UBND xã Thượng Đạt Nguyên nhân mâu thuẫn là do cô Hảo hay ghen nay cô Hảo xin ly hôn tôi đồng ý và đề nghị nuôi 2 con chung không yêu cầu cấp dưỡng

Về tài sản chung là 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh 10m2,

1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng 1,6m2, anh Nguyệt đồng ý chia đôi và ai sử dụng thì phải trả phần trên lệch, ngoài ra không còn gì

Còn đất số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 tọa lạc tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương không phải là tài sản chung Nguồn gốc đất là

do bố mẹ và anh em đóng góp mua Đến năm 1999 bố mẹ cho vợ chồng anh Nguyệt xây nhà và công trình phụ trên đất để ra riêng tuy nhiên không tuyên bố cho 2 vợ chồng thửa đất này mà chỉ cho ở nhờ Năm 2005 UBND xã Thượng Đạt và UBND huyện Nam Sách tự làm giấy để tên 2 vợ chồng anh chứ anh không hề kê khai đề nghị cấp giấy Hiện phần đất trên đang thuế chấp ngân hàng

Ngoài ra còn 1.965 m2 đất ruộng, ao thuê khoán anh xác định đây là chỉ do anh đứng ra thuê, không có phần của vợ anh nên không đồng ý chia

* Các tài liệu, chứng cứ tòa án thu thập:

Biên bản xác minh ngày 09/3/2016 ông Đỗ Văn Tự là cán bộ Tư pháp trình bày: anh Nguyệt cấm chị Hảo thăm con, thường đánh con, mâu thuẫn là do anh Nguyệt có chơi bời

Biên bản xác minh ngày 09/3/2016 ông Nguyễn Văn Bích xác định người thuê đất là anh Nguyệt, và Hảo, nếu bị thu hồi thì cả 2 đều được bồi thường

Biên bản lấy lời khai ngày 21/3/2016 ông Nguyễn Văn Quyết xác định phần đất cất nhà là của anh Nguyệt ông không có ý kiến gì

Bản tự khai ngày 18/3/2016 ông Nguyễn Văn Cương trình bày đất là của mẹ ông là bà Thoa, sau đó cho vợ chồng Nguyệt Hảo ra riêng năm 1999

Biên bản lấy lời khai ngày 21/3/2016 ông Nguyễn Văn Chuyển trình bày: nguồn gốc đất của gia đình, không phải tài sản chung của anh Nguyệt chị Hảo Tuy nhiên, gia đình có họp và đồng ý cho anh Nguyệt, chị Hảo ra cất nhà ở riêng trên đất nhưng không có tuyên bố là cho riêng anh Nguyệt Đất lúc đầu san lấp ½, sau đó anh Nguyệt chị Hảo mới san lấp thêm Trước năm 2007 ông có biết đất đã được cấp giấy QSDĐ vì có nhờ làm thủ tục vay Kể từ khi ở cho đến khi biết việc cấp giấy gia đình không có ý kiến gì Ông xác định thửa đất là của anh Nguyệt ông không có ý kiến

Trang 3

Biên bản lấy lời khai ngày 06/5/2016 bà Thoa khai không biết việc cấp giấy cho anh Nguyệt, chị Hảo, đến lần vay vốn thứ 2 thì chị mới biết nhưng không có ý kiến phản đối gì Chị Hảo làm công nhân, có phụ giúp anh Nguyệt công tác trên đất

* Tại Biên bản hòa giải ngày 12/7/2016,

Chị Hảo trình bày: được ly hôn, được nuôi 2 bé (Nhi, Anh) không yêu cầu cấp dưỡng Đề nghị được chia một nửa diện tích 216m2 phần đất không có tài sản trên đất, tọa lạc tại thôn Thượng Trệt I, xã Thượng Đạt theo thửa số 496 tờ bản đồ số 1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Hảo và Nguyệt Không đồng ý hủy giấy CNQSDĐ của anh Nguyệt

Anh Nguyệt trình bày: đồng ý ly hôn, không đồng ý giao cháu Anh cho cô Hảo nuôi Về tài sản trên đất anh Nguyệt đồng ý chia đôi nhưng xin nhận hiện vật và trả tiền cho cô Hảo Anh Nguyệt không đồng ý với yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích

216 m2

Bà Nguyễn Thị Thoa trình bày: đất của vợ chồng Nguyệt là của bà Thoa cho ở nhờ, không đồng ý chia đất cho chị Hảo

Ngày 03/8/2017 tòa án thành phố Hải Dương đưa vụ án ra xét xử số 73/2017/QĐST-DS

2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ

2.1 Xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Nguyệt;

Yêu cầu được nuôi 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi (sinh 04/01/2000) và Nguyễn Đức Anh (sinh 13/6/2007), không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng

Yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà, đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương

Các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ

và hợp pháp:

Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/3/1999;

Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Đức Anh 13/6/2007;

Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Thị Nhi 04/01/2000;

Sổ hộ khẩu; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H497 cấp ngày 31/12/2005;

2.2 Quan hệ pháp luật tranh chấp:

Trang 4

Tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con chung và tranh chấp tài sản chung (Tài sản và nợ phải trả) giữa chị Hoàng Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt

2.3 Điều kiện khởi kiện:

+ Chủ thể có đủ năng lực hành vi dân sự (Căn cứ Điều 19, khoản 2 Điều 20 BLDS 2015);

+ Kết hôn đúng pháp luật (Căn cứ Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014)

2.4 Thẩm quyền giải quyết:

+ Căn cứ theo Điều 28 BLTTDS 2015 quy định “Những tranh chấp về hôn nhân

và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án” thì đây là tranh chấp về hôn

nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án

+ Căn cứ theo Điểm a, Khoản 1, Điều 35 BLTTDS 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và căn cứ theo Điểm a, Khoản 1, Điều 39 BLTTDS 2015 thì Tòa án nơi bị đơn cư trú sẽ được xác định để giải quyết vụ án này Như vậy, Tòa án nhân dân Tp Hải Dương sẽ là nơi thụ lý và giải quyết vụ án

2.5 Tư cách tố tụng:

+ Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Hảo, sinh năm 1978;

+ Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm 1976;

+ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Thoa – mẹ của anh Nguyệt Ông Nguyễn Văn Cang – bố của anh Nguyệt Đại diện ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

2.6 Thời hiệu khởi kiện:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với những tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Người khởi kiện có thể khởi kiện bất cứ thời điểm nào mà người khởi kiện cho rằng là cần thiết Do vậy vụ án này không cần xét về vấn đề thời hiệu khởi kiện

2.7 Tính hợp pháp của tài liệu, chứng cứ:

+ Về quan hệ hôn nhân: chị Hảo và anh Nguyệt tự nguyện sống chung với nhau

và có Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày 26/3/1999 tại UBND xã Thượng Đạt Do

đó việc kết hôn của chị Hảo và anh Nguyệt là đúng quy định pháp luật (theo quy định điều 8 luật hôn nhân gia đình năm 1986)

+ Về tài sản chung: Giấy CNQSDĐ thửa đất số 496, tờ bản đồ số 1, diện tích đất 216m2 tọa lạc tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp cho chị Hảo, anh Nguyệt ngày 31/12/2005 đến 10/1/2016 mà ông Cang và bà Thoa không có ý kiến, không có tranh chấp Do đó việc cấp giấy CNQSDĐ của UBND xã Thượng Đạt là

Trang 5

đúng quy định pháp luật.( điều 50 luật đất đai 2003, được hướng dẫn bởi Điều 48 Nghị

định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính Phủ)

+ Về con chung: Đơn đề nghị của cháu Nhi và cháu Anh

2.8 Trình tự thủ tục tố tụng:

+ Hồ sơ xin ly hôn của nguyên đơn đã đầy đủ theo thủ tục tố tụng;

+ Về thụ lý vụ án: Vụ việc đã được tòa án thụ lý vụ án ngày 10/01/2016, tuy

nhiên đến ngày 03/3/2017 chị Hảo mới nộp tiền tạm ứng án phí (Bút lụt 13) Căn cứ

theo khoản 2 điều 195 “Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí

và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.” và điểm d khoản 1 điều 192 BLTTDS 2015 quy định “Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này

mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng;” thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện Như

vậy tòa án thụ lý vụ việc như trên là không đúng luật định

+ Thời hạn chuẩn bị xét xử: vụ án thụ lý ngày 06/1/2016 đến ngày 15/5/2016 ra quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử và ngày 03/8/2017 ra quyết định đưa vụ án

ra xét xử mà không có quyết định tạm đình chỉ Do đó thời hạn được tính kể từ ngày thụ lý vụ án đến ngày đưa vụ án ra xét xử đã vượt quá thời hạn của luật định ( điều 203 BLTTDS 2015)

+ Về thẩm quyền ký Quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử (bút lụt 106) không phải Chánh án ký là sai luật định (điểm a khoản 1 điều 203 BLTTDS 2015)

+ Các biên bản giao nhận chứng cứ tại bút lục số 43 ngày 02 tháng 02 năm 2016,

bút lục số 24 ngày 18 tháng 01 năm 2016, bút lục số 26 ngày 20 tháng 01 năm 2016 đều thiếu thông tin ghi nhận thời gian giao nhận chứng cứ (Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 211 BLTTDS 2015)

+ Thủ tục thu thập chứng cứ: Tòa án đã thu thập, tham khảo, xin ý kiến chứng cứ

từ các cơ quan chức năng như UBND huyện Nam Sách, UBND TP Hải Dương;

+ Tòa án không tiến hành định giá tài sản do các bên đương sự đã thống nhất được

+ Phiên họp công khai chứng cứ: thành phần tham dự, đã công khai đầy đủ các chứng cứ mà đương sự giao nộp;

+ Biên bản hòa giải ngày 12/7/2017 không ghi nhận nội dung đã được các bên thống nhất (Ly hôn); không ghi nhận lại những nội dung chưa thống nhất giữa các bên;

Trang 6

+ Ngoài ra hồ sơ không có Quyết định phân công thẩm phán giải quyết của Chánh án tòa án là vi phạm thủ tục tố tụng (khoản 2 điều 197 BLTTDS 2015)

2.9 Văn bảnpháp luật áp dụng:

- Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Bộ luật dân sự 2015;

- Luật Hôn Nhân và Gia Đình;

- Luật đất đai 2013;

- Án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 về vụ án “ly hôn”

II KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TOÀ

Hỏi bị đơn ông Nguyễn Văn Nguyệt:

 Ông cho biết hiện tại ông làm gì và thu nhập như thế nào?

 Ông cho biết cuộc sống hôn nhân của ông và bà Hảo như thế nào? Hai người sống

ly thân từ lúc nào?

 Ông và bà Hảo phát sinh mâu thuẫn vợ chồng từ thời điểm nào? Mâu thuẫn đó là gì?

 Ông thường làm gì để giải quyết mâu thuẫn giữa hai người? Ông có chửi, hay đánh đập bà Hảo không?

 Gia đình ông có biết về việc mâu thuẫn của hai người không?

 Ông có thường xuyên sử dụng rượu cùng bạn bè hay không?

 Ông có đóng góp cho gia đình và chăm sóc nuôi dạy các con ông hay không?

 Ông có biết lý do tại sao dẫn đến hôn nhân tan vỡ như hôm là do ai gây ra không?

 Ông đang sống chung với cháu Nguyễn Đức Anh đúng không? Ông kể cho cháu Anh nghe việc mẹ cháu không cho cháu Nhi đi học đúng không?

 Công việc của ông hiện tại là gì?

 Ông với bà Hảo có nợ chung không? Có yêu cầu tòa án giải quyết không?

 Thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 là do cha mẹ ruột của ông tặng cho sau khi ông cưới bà Hảo đúng không? Ông và bà Hảo có xây dựng nhà và cải tạo lại đối với phần đất này không?

 Khi Ủy ban nhân dân huyện Nam Sách cấp GCN quyền sử dụng đối với thửa đất

496 cho vợ chồng ông thì mọi người trong gia đình ông có phản đối gì không?

Hỏi nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hảo

 Bà cho biết hiện tại bà làm nghề gì và thu nhập như thế nào?

 Mâu thuẫn giữa hai người bắt đầu từ khi nào? Nguyên nhân mâu thuẫn là gì? Gia đình bà có biết về mâu thuẫn của hai ông bà không?

Trang 7

 Khi xảy ra mâu thuẫn ông Nguyệt có chửi, đánh đập bà và các con không?

 Có ai chứng kiến biết việc này không?

 Những lúc ông Nguyệt chửi và đánh đập bà thì bà có báo chính quyền địa phương giúp đỡ không?

 Ông Nguyệt có đóng góp gì phụ bà để chăm lo gia đình và các cháu hay không?

 Từ lúc sinh cháu Đức Anh thì ai là người trực tiếp chăm sóc cháu?

 Theo như trong lời khai của bà thì hai vợ chồng thực tế đã sống li thân khoảng 01 năm nay đúng không?

 Bà có lường trước những khó khăn nếu sau khi được ly hôn một mình phải gánh vác nuôi 2 con nhỏ, nuôi dạy chăm lo cho con ăn học trở thành người có ích cho xã hội?

 Bà có ý kiến gì thêm trong phiên tòa hôm nay không?

Trang 8

III LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO NGUYÊN ĐƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hậu Giang, 05 tháng 12 năm 2021

BẢN LUẬN CỨ

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn Hoàng Thị Hảo“Tranh chấp ly hôn, nuôi con,chia tài sản” với Nguyễn Văn Nguyệt

Kính gửi: - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TAND THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

- CHỦ TỌA - THẨM PHÁN PHẠM THÚY HẰNG

- ĐẠI DIỆN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TP HẢI DƯƠNG

Kính thưa Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện kiểm sát và các vị Luật sư đồng nghiệp

Tôi là Luật sư Võ Mai Trung thuộc Đoàn Luật sư Hậu Giang, được Công ty Luật LS23HauGiang trụ sở tại tỉnh Hậu Giang giới thiệu, tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn - Hoàng Thị Hảo “Tranh chấp ly hôn, nuôi con,chia tài sản” với Nguyễn Văn Nguyệt

 Vụ án hiện đang được TAND TP.Hải Dương thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm theo hồ sơ thụ lý số 20/2016/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2016 Nay được đưa

vụ án ra xét xử theo Quyết định số Số: 65/2017/QĐXXST-DS, ký ngày ngày 03 tháng 8 năm 2017

 Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành và qua diễn biến thực tế của phiên tòa hôm nay, tôi trình bày quan điểm bảo vệ cho Nguyên đơn như sau:

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 02/01/2016 gửi Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương thì nội dung vụ kiện như sau:

Nguyên đơn bà Hoàng Thị Hảo (địa chỉ Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương) khởi kiện ly hôn với chồng là ông Nguyễn Văn Nguyệt (địa chỉ Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương)

Nội dung khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Vấn đề thứ nhất: về quan hệ hôn nhân

Trang 9

Bà và ông Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, nay là thành phố Hải Dương ngày 26/3/1999 Sau khi kết hôn bà và ông Nguyệt sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn Bà Hảo và ông Nguyệt sống ly thân hơn 01 năm nay Mâu thuẫn

vợ chồng giữa ông bà ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được vì vậy bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyệt

Vấn đề thứ hai: về con chung

Bà Hảo và ông Nguyệt có với nhau 02 đứa con chung: 01 cháu gái tên Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/01/2001); 01 cháu trai tên Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/6/2007) Bà Hảo yêu cầu được nuôi 02 con chung và không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng

Vấn đề thứ ba: về tài sản

Ông bà có tài sản chung là nhà đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 Bà Hảo yêu cầu chia đôi nhà, đất, tài sản trên đất không yêu cầu chia

Tòa án đã tiến hành xác minh, tổ chức các buổi hòa giải nhưng hai bên không thống nhất và đã lập biên bản hòa giải không thành đồng thời quyết định đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa hôm nay

II CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ BẢO VỆ CHO YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa hôm nay, để làm

rõ cơ sở pháp lý cho các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Nguyễn Thị Hảo, sau đây tôi trình bày các căn cứ như sau :

Thứ nhất: yêu cầu xin ly hôn của bà Hảo là có căn cứ pháp luật cụ thể tại Điều

51, Điều 54, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Qua các bằng chứng, lời khai

của các đương sự cho thấy tình trạng của vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được Cụ thể tại các bút lục số 17, 18, 19,

20, 24, 61, 64, 81, 83, 84, 92, 104, 108, 115 thì sau khi cưới được khoảng thời gian 02 năm thì ông Nguyệt và bà Hảo phát sinh mâu thuẫn do anh Nguyệt thường xuyên tụ tập ăn chơi, và đánh, chửi mẹ con chị Hảo, vợ chồng tính tình không hợp nhau, không hợp cả về lối sống và sinh hoạt Khi xảy ra mâu thuẫn thì ông Nguyệt thường đánh, chửi và đuổi chị Hảo ra khỏi nhà Gia đình ông Nguyệt cũng biết chuyện mâu thuẫn giữa hai người Đồng thời, theo như lời khai của chị Hảo và có sự chứng kiến của những người trong xóm đều chứng kiến việc anh Nguyệt đánh, chửi mẹ con chị Vợ chồng ông bà hiện nay đã sống ly thân nhau từ cuối năm 2014, không còn quan tâm giúp đỡ gì đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn

Trang 10

Kính thưa HĐXX qua những bằng chứng xác thực nêu trên đủ để chứng minh rằng tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà Hảo thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể kéo dài, họ đã không còn sống với nhau từ năm 2014 đến nay chính vì vậy đề nghị HĐXX xét cho thân chủ tôi được ly hôn theo như mong muốn

Thứ hai: Bà Hảo yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi hai đứa con sau khi được

ly hôn là phù hợp với pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành, cụ thể tại khoản 2 Điều

81 quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Hai cháu Nguyễn Thị Nhi và Nguyễn Đức Anh đều có nguyện vọng muốn được

ở chung với mẹ ghi nhận tại Bút lục số 30, 166 Hiện tại bà Hảo và cháu Nhi đang sinh sống tại nhà của mẹ ruột mình và đi làm công nhân cho công ty Trấn An với mức thu nhập ổn định 6.000.000 đồng mỗi tháng Chính vì những lẽ trên nên sau khi ly hôn bà Hảo được trực tiếp nuôi dạy hai con là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng

của con và vì lợi ích của các con của bà Hảo và ông Nguyệt

Thứ ba: về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân do hai người cùng đứng tên là

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H497 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 Căn cứ vào các chứng cứ tại bút lục số 75, 81, 83, 84, 92, 96, 97, 99, 112, 113, 121, 137, 138, 175 thì nguồn gốc đất

là do gia đình ông Nguyệt mua từ năm 1991, sau này vợ chồng ông Nguyệt sinh sống trên phần đất này Năm 2001 ông Nguyệt bà Hảo có đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2005 Ủy ban nhân dân huyện Nam Sách cấp giấy chứng nhận cho vợ chồng ông Nguyệt, bà Hảo Thời điểm này phía gia đình ông Nguyệt biết

rõ tuy nhiên không ai có ý kiến phản đối, tranh chấp đối với việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất trên

Căn cứ Án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 về vụ án “ly hôn”, có nội dung án lệ như sau:

“Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng, nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và

đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất.”

Xét thấy, thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 ông Nguyệt và bà Hảo

đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được

Ngày đăng: 10/01/2022, 11:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w