THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THU TRANG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, bản luận văn thạc sĩ chính sách công với đề tài:
“Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Bộ Giáo dục
và Đào tạo” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Khắc Bình
Luận văn không sao chép ở bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác Các số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực và chính xác, các tài liệu tham khảo và trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều có xuất xứ, nguồn gốc, tác giả cụ thể và được ghi trong danh mục các tài liệu tham khảo của luận văn
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên
Hà Nội, ngày 01 tháng 03 năm 2021
HỌC VIÊN
TRẦN THU TRANG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG 8
1.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 8 1.2 Nội dung chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 15 1.3 Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức ở cơ quan hành chính nhà nước Trung ương 19 1.4 Những yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 19 1.5 Nội dung quy trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức 22 1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 28
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 33
2.1 Khái quát về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại
Bộ GDĐT 33 2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức Bộ GDĐT 41 2.3 Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Bộ GDĐT 44 2.4 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách ĐTBD CBCC tại Bộ Giáo dục và Đào tạo 56 2.5 Ưu điểm và hạn chế trong thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Bộ Giáo dục và Đào tạo 59
Trang 5Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRONG NHỮNG NĂM TỚI 63
3.1 Mục tiêu và định hướng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Bộ GDĐT 63 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Bộ Giáo dục và Đào tạo 71
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT KÝ TỰ VIẾT TẮT NỘI DUNG
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Báo cáo chất lượng cán bộ, công chức chia theo đơn vị trực thuộc
Bộ GDĐT 39
(Tính đến ngày 31/12/2020) 39
Bảng 2.2 Kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức năm 2018 tại Bộ Giáo dục và Đào tạo 45
Bảng 2.3 Báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức năm 2019 tại Bộ Giáo dục và Đào tạo 47
Bảng 2.4 Báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức năm 2020 tại Bộ Giáo dục và Đào tạo 49
Bảng 2.5 Số lượng, cơ cấu CBCC Bộ GDĐT giai đoạn 2018 - 2020 51
Bảng 2.6 Tổng hợp trình độ chuyên môn nghiệp vụ CBCC 53
tại Bộ GDĐT giai đoạn năm 2018 - 2020 53
Bảng 2.7 Tổng hợp trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước tại Bộ GDĐT giai đoạn 2018 - 2020 54
Bảng 2.8 Tổng hợp trình độ tin học, ngoại ngữ tại Bộ GDĐT 55
giai đoạn 2018 - 2020 55
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bất cứ nền đào tạo nào cũng đều chú trọng đến công tác bồi dưỡng, đào tạo (ĐTBD) cán bộ, công chức (CBCC) để nâng cao năng lực thực thi, công
vụ đảm bảo thực hiện hiệu quả nhiệm vụ, chức năng được giao
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 -
2020 đề ra mục tiêu đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức có cơ cấu, số lượng, hợp lý, đủ năng lực và trình độ thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và
sự nghiệp phát triển của đất nước
Để xây dựng lên đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt,
có năng lực, có bản lĩnh chính trị, có tính chuyên nghiệp cao và tận tụy phục
vụ nhân dân bên cạnh các khía cạnh khác nhau của công tác tổ chức cán bộ còn cần phải có các hình thức đào tạo, bồi dưỡng hiệu quả, phù hợp
Cán bộ, công chức có vai trò cực kỳ quan trọng trong các hoạch định, triển khai và tổ chức thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước, quyết định sự thành bại của đường lối, chính sách do cơ quan, tổ chức vạch ra Đội ngũ cán
bộ, công chức trực tiếp thực hiện các kế hoạch, chính sách của cơ quan, tổ chức, các mục tiêu quốc gia, thực hiện các giao tiếp (trao đổi, tiếp nhận thông tin…) giữa các cơ quan nhà nước với nhau và với người dân và doanh nghiệp Vậy nên, đội ngũ cán bộ, công chức phải được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng
về năng lực công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 thì là một nhiệm vụ quan trọng được xác định
Từ tình hình thực tế và các yêu cầu, nhiệm vụ mới cần đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu mới đặt ra Trong những năm vừa qua, Nhà nước đã ban hành các chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Chính sách đó đã nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, năng lực thực thi công vụ cho đội ngũ cán
Trang 9bộ, công chức Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, ở một số ngành, địa phương, công tác tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức còn nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn Đối với cơ quan
Bộ Giáo dục và Đào tạo, công tác thực hiện chính sách này vẫn còn những nhược điểm như việc phối hợp giữa các đơn vị trong thực hiện chính sách chưa chặt chẽ; việc quy hoạch và cử cán bộ đi học chưa gắn kết với công việc được giao.v.v
Vì vậy, để đạt được hiệu quả của chính sách trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phải tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Bộ GDĐT trong thời gian tới
Từ thực tiễn trên, tác giả chọn đề tài :“Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Bộ Giáo dục và Đào tạo” làm luận văn thạc
sĩ và mong muốn góp một phần nhỏ trong việc tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Bộ Giáo dục và Đào tạo
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã được một số bài viết, công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung, các bài viết, công trình đó cũng đã đưa ra một số vấn đề lý luận về cán bộ, công chức và
đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức như:
Vấn đề Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC đã được nhiều tác giả nghiên cứu, đánh giá, phân tích ở nhiều mức độ và góc độ khác nhau Trong quá trình xây dựng đề cương tôi đã tham khảo các tài liệu liên quan như sau:
Tác giả Nguyễn Khắc Bình có cuốn sách :“Chính sách giáo dục ở Việt
Nam” đã đề cập đến chính sách giáo dục ở Việt Nam và việc thực hiện chính
sách này ở một số địa phương Tác giả đã đi sâu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách giáo dục ở Việt Nam trong đó nhấn mạnh đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có sự ảnh hưởng đến sự thành công của
Trang 10việc thực hiện chính sách giáo dục Vì vậy việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức ngành giáo dục phải được phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành với ngành giáo dục
Năm 2008, luận án tiến sĩ của Đào Thị Ái Thi: “Kỹ năng giao tiếp của
đội ngũ công chức hành chính trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước Việt Nam” đã đưa ra một vài mô hình cụ thể nhằm hoàn thiện kỹ năng giao
tiếp của đội ngũ công chức hành chính nhà nước Việt Nam trong quá trình cải cách nền hành chính nhà nước Đây cũng là một trong số những năng lực hành chính cần có với cán bộ, công chức hành chính nói chung và cán bộ CCCX nói riêng
Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo
vị trí chức danh” của tác giả Nguyễn Thị Xuân và Lục Tiến Dũng đã cho thấy
ý nghĩa thực tiễn của việc ĐT,BD theo vị trí chức danh là thực hiện một bước đổi mới trong công tác ĐT,BD cán bộ, công chức theo hướng thiếu gì sẽ bồi dưỡng cái đó, tức là bồi dưỡng tăng cường TCNL
Tác giả Nguyễn Trọng Điều “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức nhà nước”, Tạp chí Cộng sản, số 16/2001 Bài viết đã sáng
tỏ nhiều vấn đề về thực tiễn, lý luận và đưa ra các giải pháp của việc nâng cao chất lượng ĐTBD CBCC nhà nước
Tác giả Ngô Thành Can “Nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng công
chức và cán bộ”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 5/2008 Tác giả nghiên cứu về
các giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả công tác ĐTBD CBCC trong nền công vụ của nước ta hiện tại
Tác giả Vũ Anh Tuấn “Một số vấn đề chính sách công ở Việt Nam hiện
nay” đã nêu ra những vấn đề trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt
động hoạch định và thực hiện CSC ở nước ta trong giai đoạn hiện nay và thời gian sắp tới
Trang 11Tác giả Trần Thị Hạnh và Nguyễn Minh Phương “Hoàn thiện quy
phạm pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức” đã chỉ ra
những bất cập và hướng hoàn thiện cho các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt ĐTBD CBCCVC
Tác giả Vũ Thanh Xuân “Cải cách quy trình đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ” đã làm sáng tỏ quan
điểm, quy trình về ĐTBD CBCC, thực thi cải cách trong ĐTBD CBCC để nâng cao hiệu quả ĐTBD
Tác giả Nguyễn Văn Phong “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta hiện nay” đã chỉ ra thực trạng đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của nước ta hiện nay, đồng thời đề ra một số giải pháp giúp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu phục vụ quần chúng nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế
Tác giả Nguyễn Thị Hà cùng luận văn “Chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ công chức từ thực tiễn Bộ Khoa học&Công nghệ”, Học viện Khoa học
- xã hội Việt Nam Tác giả đã hệ thống hóa và làm rõ các nội dung liên quan đến công tác đào tạo cán bộ công chức tại Bộ Khoa học công nghệ, các nội dung đào tạo, các chính sách cho đối tượng trực tiếp của chính sách và đối tượng gián tiếp của chính sách Nhờ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách ĐTBD công chức của Bộ trong thời gian tới
Đây là các công trình nghiên cứu phân tích đề cập rất cơ bản về hệ thống quan điểm, cơ sở lý luận và thực tế công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC
và chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC trong bối cảnh đổi cơ chế mới cho quản lý nhà nước và cải cách nền hành chính và công vụ quốc gia Xuất phát
từ những điều này, tôi đã tiến hành khảo cứu, bổ sung để hoàn thiện định hướng nghiên cứu cũng như nội dung luận văn sau này
Trang 12Dưới góc độ khoa học chính sách công, các công trình nói trên có giá trị thực tế đối với những người đã và đang nghiên cứu hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhưng cho đến hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào cụ thể và toàn diện về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức dưới góc độ khoa học chính sách công ở cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo Vì vậy, tác giả nghiên
cứu đề tài: Thực hiện Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại
Bộ Giáo dục và Đào tạo” góp phần làm sinh động thực tiễn việc thực hiện
chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và nền giáo dục của đất nước
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Từ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Bộ Giáo dục và Đào tạo để đề xuất các giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Bộ Giáo dục và Đào tạo; góp phần nâng cao năng lực thực hiện công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức tại Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới giáo dục và đào tạo trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 13Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Cơ sở lý luận của nghiên cứu đề tài là thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở cơ quan hành chính nhà nước cấp Trung ương
Về thời gian: từ 2018 đến năm 2020
Về không gian: Khảo sát thực trạng tại một số đơn vị thuộc cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thiện luận văn tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp đánh giá: Đánh giá quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức giai đoạn 2018 - 2020 để thấy kết quả đã đạt được trong thời gian qua, nêu nguyên nhân và nêu ra những giải pháp, biện pháp khắc phục
Phương pháp so sánh, phân tích và tổng hợp: là phương pháp được áp
dụng phổ biến trong quá trình viết luận văn Qua đó, xây dựng và thực hiện chính sách một cách phù hợp và đạt hiệu quả nhất
Phương pháp thu thập thông tin: thu thập thông tin về tổ chức qua
nhiều phương tiện như: Các Quyết định, Nghị quyết, thông tư, mạng Internet, Quy định pháp luật về cán bộ, công chức, báo cáo tổng kết hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo…và tham khảo các giáo trình khác
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Qua kết quả nghiên cứu, luận văn đã góp phần khái quát và làm rõ thêm
cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; Phân tích được thực trạng trình độ, năng lực; tìm ra bất cập, hạn chế trong thực hiện chính sách đào tạo cán bộ, công chức trong cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo; đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách này nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức
Trang 14tại cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo; góp phần thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách trong tổ chức thực hiện các chính sách của Nhà nước; đặc biệt là trong việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đối với cán bộ công chức
ở các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; bố cục của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức ở cơ quan hành chính nhà nước Trung ương
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Bộ Giáo dục và Đào tạo
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Bộ Giáo dục và Đào tạo cho những năm tới
Trang 15
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG
1.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1 Khái niệm Chính sách
“Chính sách” là thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong các tài liệu, trên các phương tiện truyền thông và đời sống xã hội Nhưng đây cũng là thuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách rõ ràng và cụ thể Theo từ điển tiếng Anh (Oxford English Dictionary) “chính sách” là “một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách ” Theo sự giải thích này, chính sách không đơn thuần chỉ là một quyết định để giải quyết một vấn đề cụ thể, mà nó là một đường lối hay phương hướng hành động Hugh Heclo (năm 1972) đã định nghĩa một chính sách có thể được xem như là một đường lối không hành động hoặc hành động thay vì những quyết định hoặc các hành động cụ thể David Easton (năm 1953) thì phát biểu:
“chính sách bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động mà trong đó phân phối thực hiện các giá trị” Smith (năm 1976) định nghĩa “khái niệm chính sách bao hàm sự lựa chọn có chủ định không hành động hoặc hành động, thay vì những tác động của các lực lượng có quan hệ với nhau” Smith
đã nhấn mạnh “không hành động” cũng như “hành động” và nhắc nhở rằng
“sự quan tâm sẽ không chỉ tập trung vào các quyết định tạo ra sự thay đổi, mà còn phải thận trọng với những quyết định chống lại sự thay đổi và khó quan sát vì chúng sẽ không được tuyên bố trong quá trình hoạch định chính sách”
Có quan niệm khác lại cho biết chính sách là những hành động có tính toán của chủ thể để đối phó với đối tượng quản lý theo hướng đồng thuận hay phản đối Vì vậy, chúng ta khó có thể đưa ra một định nghĩa duy nhất đúng về
Trang 16chính sách Các chính sách đôi lúc có thể được nhận định dưới hình thức các quyết định đơn lẻ, nhưng thông thường nó bao gồm một tập hợp các quyết định hoặc được nhìn nhận như là một sự định hướng hành động cụ thể Chính sách của nhà nước không những tác động đến một khu vực, một bộ phận dân
cư nhất định, mà còn tác động rộng khắp đến mọi đối tượng, mọi quá trình trên phạm vi toàn quốc Tác động của nhà nước đến các đối tượng có thể mang tính hành chính, kinh tế, chính trị, hay kỹ thuật được lồng ghép vào các
cơ chế quản lý điều hành thống nhất Đồng thời ở các thời kỳ phát triển khác nhau, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước cũng có sự thay đổi một cách thích hợp, vì thế mà quan niệm về chính sách do nhà nưóc ban hành (chính sách
công) cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau
1.1.2 Khái niệm Chính sách công
Từ “chính sách” khi gắn với vai trò, chức năng của “khu vực công” sẽ gọi là chính sách công Đây không chỉ đơn giản là sự ghép từ thuần túy, mà
đã có sự thay đổi cơ bản về nghĩa, bởi vì nó có sự khác biệt về chủ thể ban hành chính sách, về mục đích tác động của chính sách và vấn đề mà chính sách hướng tới giải quyết Cho tới hiện tại, có không ít những định nghĩa khác nhau về chính sách công, trong đó có một số định nghĩa khá phức tạp và bao hàm tương đối rộng các chức năng và hoạt động
Thomas Dye (năm 1972) đã đưa ra một định nghĩa khá súc tích, đầy đủ
về chính sách công như sau: “Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” Định nghĩa này khá cô đọng, nhưng không cung cấp cho ta đầy đủ những hiểu biết sâu sắc về chính sách công, bởi nó không đưa ra một sự phân định những hoạt động nào được gọi là chính sách trong vô số các hoạt động của nhà nước Tuy nhiên, định nghĩa này cũng đã
chỉ ra những dấu hiệu nhận biết rõ ràng về chính sách công Thứ nhất, nhà nước là chủ thể ban hành chính sách công Thứ hai, chính sách công bao gồm
sự lựa chọn cơ bản từ phía nhà nước theo hướng không làm hoặc làm gì
Trang 17B Guy Peters (năm 1990) cho rằng: “Chính sách công là tất cả các hoạt động của nhà nưóc có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của toàn bộ người dân” Quan niệm này của B Guy Peters đã bổ sung thêm một khía cạnh quan trọng của chính sách công, đó là tác động của chính sách công đến đời sống cộng đồng xã hội hay của mọi người dân, thay vì tác động lên một cá nhân hoặc một tổ chức cụ thể Nói cách khác, chính sách công hướng tới giải quyết những vấn đề công và khi giải quyết vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến một hoặc nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội
Michael Howlett and M Ramesh: Studying Public Policy: Policy Cycles and Policy Subsystems, Oxford University Press, 1995, p.6 Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách có thể thực hiện trong một thời gian nhất định và trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, phương hướng và nội dung của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, văn hóa, kinh tế ”
Nghiên cứu những cách tiếp cận trên về chính sách công của các tác giả, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về chính sách công như sau: Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau Trong đó bao hàm định hướng mục tiêu
và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội Khái niệm không những vừa thể hiện đặc trưng của chính sách công là do nhà nước chủ động xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tượng quản lý một cách tương đối
ổn định, mà còn cho thấy bản chất của chính sách công là công cụ định hướng cho hành vi của các cá nhân, tổ chức phù hợp với thái độ chính trị của nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội
1.1.3 Khái niệm thực hiện chính sách công
Thực hiện chính sách là một bước cấu thành chu trình chính sách, là toàn
bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các
Trang 18đối tượng quản lý nhằm đạt mục đích nhất định Tổ chức thực thi chính sách
là trung tâm kết nối các khâu trong chu trình chính sách trở thành một hệ thống Thực tế, hoạch định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng, chuẩn chính sách còn quan trọng hơn Có chính sách đúng nhưng nếu không được thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không có giá trị, ý nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách (uy tín của nhà nước) Nếu mà chính sách không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự phản ứng của nhân dân, sự thiếu tin tưởng đối với nhà nước Điều này bất lợi hoàn toàn về mặt chính trị và xã hội, sẽ gây những khó khăn, bất ổn cho nhà nước trong công tác quản lý Qua thực hiện thực tế mới biết được chính sách có đúng, phù hợp và đi vào cuộc sống hay không Quá trình thực hiện với những hoạt động thực tế sẽ đóng góp điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của cuộc sống Bên cạnh đó, việc phân tích, đánh giá một chính sách (mức độ tốt, xấu) chỉ có cơ sở đầy đủ và tạo nên sức thuyết phục sau khi được thực hiện Thực tiễn là chân lý và kết quả của thực hiện chính sách là thước
đo, là cơ sở đánh giá một cách chính xác nhất, khách quan chất lượng và hiệu quả của chính sách Để đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là cả một quá trình phức tạp và đầy biến động, chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố giúp các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách có kinh nghiệm để đề ra được các giải pháp hiệu quả trong thực hiện chính sách.
1.1.4 Khái niệm cán bộ, công chức
Quan niệm về cán bộ, công chức hiện nay còn nhiều cách hiểu khác nhau
do cách tiếp cận khác nhau
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Cán bộ chỉ những người được bổ nhiệm giữ chức vụ trong các tổ chức (đảng, nhà nước, đoàn thể nhân dân) hoặc được bầu hoặc thuộc hệ thống chính trị của quốc gia, ở các cấp từ trung ương tới cơ sở Còn công chức chỉ những người được các cơ quan nhà nước
Trang 19bổ nhiệm, tuyển dụng vào làm việc thường xuyên, liên tục trong các cơ quan chuyên môn công quyền và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
Theo Luật CBCC năm 2020: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu
cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã trực thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
“Công chức là công dân Việt Nam, được bổ nhiệm hay tuyển dụng vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là quân nhân, sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là hạ sĩ quan, sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Công chức Nhà nước được Nhà nước trao cho một quyền hạn nhất định
để thực hiện công việc được giao phù hợp với vị trí việc làm của họ Trong thời gian đảm nhiệm chức vụ đó thì chỉ được tiến hành các hoạt động trong phạm vi quyền hạn của họ Họ được giao và phải gánh vác một nghĩa vụ nhất định đối với Nhà nước, đồng thời thực hiện và hoàn thành nó Cần lưu ý, không như người lao động là hoạt động của họ tạo ra của cải vật chất, công chức nhà nước thực hiện hoạt động thi hành công vụ và không trực tiếp tạo ra của cải vật chất Đây là hoạt động thuộc về lĩnh vực quản lý Nhà nước Ở đây ngân sách Nhà nước là quỹ lương mà công chức được nhận từ đó Việc tạo ra quan hệ lao động này được xác lập dựa trên sự chấp thuận đồng ý của công chức và hơn hết đó là yếu tố quyết định ở đây là ý chí của cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền
Trang 20Công chức được tuyển dụng theo chỉ tiêu biên chế của Nhà nước, yêu cầu nhiệm vụ và vị trí làm việc Việc tuyển dụng công chức đó là bằng hình thức thi tuyển Người đăng ký thi tuyển công chức làm việc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên thì được tuyển dụng thông qua hình thức xét tuyển
1.1.5 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
ĐTBD là hai thuật ngữ sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực cuộc sống của xã hội hiện đại, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý nhà nước Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã hoàn thành quy trình đào tạo, bồi dưỡng Hoạt động này luôn gắn liền với sự phân công hợp lý và được thực hiện trong suốt quá trình làm việc Có thể nhận thấy, công tác đào tạo và bồi dưỡng là hoạt động riêng biệt được thực hiện trong hệ thống các cơ quan nhà nước và đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng là đội ngũ cán bộ, công chức
Mà đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý và sử dụng cán bộ, công chức, đặc biệt là cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý Thông qua bồi dưỡng, đào tạo nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, có đủ năng lực xây dựng nền hành chính hiện đại, tiên tiến, đáp ứng được cho yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Cán bộ
là gốc của tất cả công việc” Vì vậy huấn luyện cán bộ là việc gốc của Đảng”;
“Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học để phụng sự đoàn thể, giai cấp
và nhân dân, nhân loại và Tổ quốc” Như vậy ta có thể hiểu:
Về Đào tạo
“Đào tạo” theo nghĩa chung nhất đó là quá trình tác động có hệ thống đến con người làm cho con người đó nắm vững và lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… đạt được năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, để chuẩn
Trang 21bị cho người đó thích nghi với cuộc sống, có khả năng nhận sự phân công lao động xã hội nhất định Theo khoản 1 điều 5 nghị định số 18/CP ngày 05 tháng
3 năm 2010 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì
“Đào tạo là quá trình tiếp nhận, truyền thụ có hệ thống những tri thức, kĩ năng theo quy định của từng cấp bậc học”
Trước đây, trong công tác đào tạo, chúng ta thường sử dụng khái niệm
“Đào tạo lại” để chỉ một quá trình đào tạo những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cho cán bộ, công chức có sự thay đổi nghề nghiệp hay phương thức hoạt động nghề, hoặc đáp ứng những thay đổi của môi trường làm việc, khái niệm này hầu như không còn được sử dụng bởi tính đa nghĩa của nó
Khái niệm “Đào tạo” có những nghĩa khác biệt, được dung phổ biến trong xã hội và hệ thống giáo dục quốc dân Đào tạo ở đây còn được trang bị những kiến thức, kỹ năng mới - những kiến thức, kỹ năng mà trước đó người CBCC có thể chưa được học, chưa được đào tạo
Về bồi dưỡng
Bồi dưỡng là giai đoạn tiếp theo sau đào tạo, là hoạt động hướng vào mục tiêu liên tục bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, nâng cap năng lực nói chung cho những người đã được đào tạo sau một thời gian công tác nhất định
Theo điều 5 nghị định số 18/CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 đã xác định
“Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, nâng cao, cập nhật kiến thức, kỹ năng làm việc” Bồi dưỡng theo quy chuẩn ngạch là trang bị kỹ năng, kiến thức hoạt động theo chương trình quy định cho từng ngạch công chức Bồi dưỡng theo chức vụ lãnh đạo, quản lý Bồi dưỡng theo vị trí việc làm đó là trang bị, cập nhật kỹ năng, kiến thức, phương pháp cần để hoàn thành tốt công tác được giao”
Trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng thường cập nhật, trang bị them và mới về thái độ, kiến thức, kỹ năng thực thi nhiệm vụ, công việc được giao giúp cho con người ngày càng hoàn thành công việc được giao có hiệu quả, chất lượng hơn
Trang 22Trong điều kiện ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự bùng nổ công nghệ thông tin, chính sách pháp luật của nhà nước luôn có sự điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh một cách kịp thời, đảm bảo cho sự nghiệp cải cách kinh tế, cải cách nền hành chính nhà nước, do vậy bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà nước và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng thực thi công vụ
là vấn đề quan trọng và mang tính cấp thiết
Ngoài việc bồi dưỡng kiến thức về quản lý và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng thực thi công vụ ra thì việc bổ sung các kiến thức về các chính sách, pháp luật, ngoại ngữ, tin học… là yêu cầu hết sức quan trọng, đòi hỏi phải được tiến hành một cách thường xuyên với những nội dung thích hợp
Như vậy, khái niệm “Đào tạo, bồi dưỡng” trên thực tế đã trở thành một
“thực thể” thống nhất, có nội hàm là hoạt động nhằm không ngừng nâng cao trình độ kiến thức, kỹ năng công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức Do tính chất đặc biệt trong cơ quan nhà nước, đào tạo là thuật ngữ dung diễn tả hoạt động trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết cho đội ngũ cán bộ, công chức nhằm giúp họ hoàn thiện tốt các nhiệm vụ được giao
Đào tạo thường dùng trong trường hợp cán bộ, công chức chưa được trang bị những kiến thức, những kinh nghiệm quý giá để thực hiện một công việc nào đó
Bồi dưỡng là một thuật ngữ dùng diễn tả hoạt động cung cấp thêm những kiến thức, những thông tin, những kinh nghiệm cần thiết cho cán bộ, công chức nhằm giúp họ hoàn thành nhiệm vụ được giao với hiệu quả cao nhất
1.2 Nội dung chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Trang 23cả về chất và lượng cùng với hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ trình độ, phẩm chất và năng lực để đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế
1.2.2 Các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
a) Đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước
(1) Về bồi dưỡng
- Lý luận chính trị: Bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị theo tiêu chuẩn quy định cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, cho các chức danh công chức, viên chức và cán bộ, công chức; Cập nhật nâng cao trình độ lý luận chính trị theo quy định Cập nhật nội dung các văn kiện, nghị quyết, đường lối của Đảng;
- Kiến thức quản lý nhà nước: Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn chức danh công chức; tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý Cập nhật kiến thức pháp luật, văn hóa công sở, nâng cao ý thức đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp Cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp quản lý chuyên ngành; kiến thức, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao
- Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh theo các chương trình quy định cho cán bộ, công chức, viên chức
- Bồi dưỡng kiến thức tin học, ngoại ngữ theo tiêu chuẩn quy định; tiếng dân tộc cho cán bộ, công chức, viên chức công tác tại vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống
- Cập nhật và nâng cao kiến thức, năng lực hội nhập quốc tế
(2) Về đào tạo
- Đào tạo trình độ đại học cho cán bộ, công chức ở các cơ quan hành chính nhà nước Trung ương phù hợp với điều kiện và yêu cầu phát triển của từng ngành, lĩnh vực
Trang 24- Khuyến khích cán bộ tự học và đào tạo trình độ sau đại học, công chức phù hợp với chuyên môn, gắn với quy hoạch sử dụng lâu dài của từng ngành, lĩnh vực; đáp ứng yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
b) Đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài:
Bên cạnh các nội dung đào tạo, bồi dưỡng trong nước thì chính sách đào tạo, bồi dưỡng còn hướng tới đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài với các nội dung: Quản lý nhà nước chuyên ngành, lĩnh vực, Chính sách công, dịch vụ công, Quản lý, điều hành các chương trình kinh tế-xã hội; Quản lý hành chính công;; Xây dựng tổ chức và phát triển nguồn nhân lực;; Kiến thức hội nhập quốc tế
c) Các hình thức đào tạo
Thứ nhất, đào tạo tập trung: đây là hình thức đào tạo mà người học
cần dành hầu hết thời gian cho học tập và nghiên cứu theo quy định của chương trình tại cơ sở đào tạo Tùy từng bậc học sẽ quy định việc tập trung thời gian nhiều hay ít, dài hay ngắn nhằm bảo đảm việc học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo Trong đó, tập trung ở bậc đại học tùy theo khối ngành đào tạo mà có thời gian tập trung học tập tại cơ sở đào tạo từ 4 năm trở lên; thời gian đào tạo tiến sĩ từ 2 đến 3 năm đối với người có bằng thạc sĩ và 4 năm đối với người có bằng đại học, đào tạo sau đại học, chương trình thạc sĩ phải có thời gian học tập trung 2 năm
Thứ hai, đào tạo bán tập trung: đây là hình thức đào tạo mà người học
vừa làm vừa theo học một vài buổi trong tuần hoặc một số ngày trong tháng, người học được tạo điều kiện học tập xen kẽ với làm việc Đối với hình thức đào tạo này, người học có thể dành một phần thời gian làm việc khác, nhưng tổng thời gian dành cho học tập và nghiên cứu tập trung tại cơ sở đào tạo phải bằng thời gian đào tạo theo hình thức tập trung Trong quá trình học tập, người học sẽ có ngày học, ngày làm việc, hoặc tuần học, tuần làm việc, giúp
Trang 25người học không bị gián đoạn thời gian làm việc quá lâu, không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết công việc của công chức đảm nhiệm tại cơ quan, đơn vị công tác và tiếp thu kiến thức
Thứ ba, đào tạo vừa làm vừa học: là hình thức đào tạo được thực hiện
thông dụng, người học chủ yếu là những người đang đi làm Mỗi chương trình được xây dựng tương ứng cho từng ngành và chuyên ngành đào tạo cụ thể, đảm bảo các yêu cầu về nội dung giống như nội dung chương trình hệ chính quy cùng trình độ đào tạo Nhưng thời gian hoàn thành một chương trình theo hình thức vừa làm vừa học sẽ phải dài hơn so với chương trình đó ở cùng trình độ hệ chính quy từ nửa năm đến một năm
Thứ tư, đào tạo từ xa: là hình thức học trên cơ sở phát huy tính tự học,
tự nghiên cứu của người học dưới sự hướng dẫn, tổ chức và cung cấp tài liệu của các cơ sở đào tạo Cùng với sự phát triển công nghệ thông tin, hình thức ĐTBD từ xa thông qua sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn cũng được coi là một hình thức ĐTBD đang được quan tâm Người học theo hình thức này chủ yếu là tự học, tự giác, kiên trì, quyết tâm qua giáo trình, băng hình, băng tiếng, phần mềm vi tính, bằng việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn
cá nhân, phát thanh, truyền hình, các tổ hợp truyền thông đa phương tiện, mạng internet (có sự giãn cách giữa người dạy và người học về mặt không gian và thời gian) dưới sự tổ chức của cơ sở đào tạo Mục đích của đào tạo từ
xa là tạo cơ hội cho người đang làm việc, những người không có cơ hội hoặc không có cơ hội đến lớp thường xuyên được học tập, nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức
Tùy điều kiện thực tế của mỗi người mà người học sẽ chọn lựa hình thức ĐTBD thích hợp giúp họ vừa có thể dễ dàng tham gia học tập vừa trau dồi, rèn luyện kiến thức, vừa có thể hoàn thành công việc đang phụ trách tại đơn vị
Trang 261.3 Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở cơ quan hành chính nhà nước Trung ương
Chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức bao gồm:
Chủ thể chính thực hiện chính sách: Bộ Nội vụ, các bộ và cơ quan
ngang bộ là các cơ quan tổ chức triển khai các hoạt động trong quá trình thực hiện chính sách nhằm đạt được mục tiêu của chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Chủ thể phối hợp thực hiện chính sách: Bao gồm các cơ quan, tổ chức
có trách nhiệm phối hợp trong tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Cụ thể, trong thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức có sự phối hợp của các cơ quan liên quan như: Tổ chức Đảng ở các cơ quan hành chính Nhà nước Trung ương, các cơ sở giáo dục và đào tạo, các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương và các tổ chức chính trị - xã hội tại các cơ quan hành chính Nhà nước Trung ương và đội ngũ cán bộ, công chức ở các cơ quan hành chính Nhà nước Trung ương
Do đó, để chính sách này đưa vào cuộc sống cần phải phối kết hợp một cách nhịp nhàng, chặt chẽ của nhiều chủ thể mang tính liên ngành Vì vậy, để đảm bảo chính sách có đạt được các mục tiêu chính sách và tính khả thi cao cần phải có sự phân công, phối hợp thực hiện của các cơ quan, đơn vị liên quan
1.4 Những yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
1.4.1 Đảm bảo thực hiện được mục tiêu chính sách
Trước hết là, xác định mục tiêu, hình thức, phương pháp ĐTBD, vấn đề
phân cấp và đổi mới trong chính sách ĐTBD Vừa qua, Bộ Nội vụ và Học viện Hành chính đã xây dựng các chương trình, tài liệu ĐTBD chung, thống nhất cho các đối tượng là cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp và cán bộ quản lý các cấp
Trang 27Sau khi Bộ Nội vụ ban hành được chương trình chung, các địa phương,
bộ, ngành sẽ căn cứ vào đó để xây dựng bộ tài liệu cho địa phương mình, ngành mình Chương trình chung phải đảm bảo các yếu tố như: phản ánh được trình độ của các cấp, ngạch, bậc cũng như của các cấp lãnh đạo, quản lý
và yêu cầu nhiệm vụ; nội dung các chương trình, tài liệu phải đảm bảo kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng thực hành, tính liên thông và không được trùng chéo; chương trình phải có hướng mở để được bổ sung, đảm bảo tính cập nhật phù hợp với thực tế
Từ những điều trên, Bộ Nội vụ quản lý chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, chương trình ĐTBD theo tiêu chuẩn chức vụ, lãnh đạo, quản lý Các cơ quan bộ và ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý chương trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo chuyên ngành
Thứ hai là, xác định chế độ ĐTBD, gồm 4 chế độ: hướng dẫn tập sự đối
với công chức trong thời gian tập sự; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức (từ cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp); ĐTBD theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu kiến thức, kỹ năng chuyên ngành hàng năm (hay theo nhu cầu công việc, theo vị trí việc làm) Thời gian tham gia các khoá bồi dưỡng được cộng dồn và yêu cầu CBCC phải được bồi dưỡng tối thiểu 40 tiết trong một năm Như vậy, Chính phủ đã có đổi mới về chế độ bồi dưỡng
Thứ ba là, phân cấp và tăng quyền chủ động trong thực hiện chính sách
ĐTBD cho cơ sở Tăng quyền chủ động cho cấp dưới, phân cấp ĐTBD ngạch
từ cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính giao cho các tỉnh, thành phố và các
bộ, ngành tổ chức thực hiện (trước kia bồi dưỡng ngạch chuyên viên, chuyên viên chính do Học viện Hành chính chịu trách nhiệm) Đối với cán bộ quản lý cấp phòng cũng giao cho bộ, ngành, các địa phương và đặc biệt là bồi dưỡng theo kiến thức bắt buộc, theo vị trí việc làm hay theo chuyên ngành cũng hoàn toàn giao cho các đơn vị, địa phương, bộ, ngành có nhu cầu tự tổ chức ĐTBD
Trang 28Gắn với việc tổ chức ĐTBD là quyền được cấp chứng chỉ và chứng chỉ
đó có giá trị như nhau Các trường chính trị, trường đào tạo cán bộ của các bộ, ngành, địa phương được ĐTBD theo sự phân cấp và có quyền được cấp chứng chỉ Giá trị chứng chỉ bồi dưỡng ngạch giúp cho CBCC có điều kiện để tham gia thi nâng ngạch
Chứng chỉ ĐTBD cán bộ quản lý có tác dụng để xem xét trước khi đề bạt CBCC Chứng chỉ về bồi dưỡng bắt buộc để xem xét mức độ hoàn thành công việc của CBCC Việc khuyến khích các cơ sở nâng cao chất lượng ĐTBD cũng như tạo cho người học có quyền lựa chọn chương trình học và trường học cũng là hướng đổi mới Hướng tới có module để chọn và triển khai chương trình ĐTBD theo chế độ bắt buộc, theo vị trí việc làm hoặc theo nhu cầu công việc Đây là điểm mới cần tập trung thực hiện tốt
Như vậy, việc thực hiện khép kín từ xây dựng chương trình, tài liệu cho đến chế độ quản lý, phân cấp và ra quyền tự chủ để nâng cao chất lượng
ĐTBD CBCC đã được Luật Cán bộ, công chức, Nghị định 18 và chủ trương
trong Chương trình CCHC nhà nước cho đến Kế hoạch ĐTBD của Chính phủ
đã được thể hiện rất rõ Nếu chúng ta thực hiện được tốt thì chắc chắn kết quả ĐTBD CBCC sẽ hiệu quả hơn
Cuối cùng, để năng lực, trình độ CBCC được nâng cao, đòi hỏi khâu
tuyển dụng CBCC cũng phải tiến hành chặt chẽ Quy trình tuyển dụng CBCC
sẽ góp phần thực hiện tốt việc quy hoạch, kế hoạch ĐTBD cũng như Chương trình cải cách hành chính nhà nước trong 10 năm tới Bên cạnh đó, công tác ĐTBD CBCC cũng là khâu hết sức quan trọng, giúp cho CBCC có đủ trình
độ, năng lực đáp ứng yêu cầu công việc
1.4.2 Đảm bảo tính hệ thống trong thực hiện chính sách
Thể hiện trong sự thống nhất về mức độ phối hợp hay lợi ích trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách của các CBCC Đơn cử như trong tổ chức thực hiện chính sách ĐTBD CBCC sự khác nhau giữa các chế độ phụ cấp
Trang 29trong thực hiện chính sách Vậy nên cần có sự thống nhất, phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị trong quá trình thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
1.4.3 Đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các đối tượng thụ hưởng
Chính sách ĐTBD CBCC với mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC có kỹ năng, trình độ và tận tụy với công việc nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của nền hành chính Cho nên, việc tạo điều kiện khuyến khích học tập nhằm nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ là cực kỳ cần thiết, nên chính sách này được đón nhận tích cực từ phía đội ngũ CBCC
1.5 Nội dung quy trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
Đi đôi với bản kế hoạch thực hiện chính sách chúng ta phải xây dựng nội quy, quy chế tổ chức điều hành thực hiện chính sách Năng lực xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách được thể hiện tính qua khả thi của bản kế hoạch, được đo bằng độ chính xác Năng lực xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách tốt chính là khả năng xây dựng được bản kế hoạch thực hiện chính sách có tính khả thi cao và độ chính xác, không cần điều chỉnh bổ sung trong quá trình thực hiện Vì vậy, đòi hỏi đội ngũ CBCC tham mưu xây dựng phải hiểu và
Trang 30nắm chắc nhiệm vụ, mục tiêu, nội dung, phạm vi, đối tượng, quy mô, tầm quan trọng của chính sách Trên cơ sở đó ta sẽ xác định mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, các nguồn nhân vật lực, thời gian và giải pháp tổ chức thực hiện chính sách
1.5.2 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
Là kiến thức hiểu biết về chính sách và các giải pháp, kỹ năng phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách của CBCC Năng lực phổ biến, tuyên truyền chính sách thể hiện qua khả năng tuyên truyền, phổ biến thực hiện chính sách có hiệu quả cao Vì vậy, đòi hỏi CBCC phải am hiểu chính sách; đầy đủ mục tiêu, nắm chính xác, nội dung, nhiệm vụ, yêu cầu, phạm vi, đối tượng của chính sách Trên cơ sở đó lựa chọn các kỹ năng, giải pháp, hình thức quán triệt phổ biến, tuyên truyền chính sách phù hợp với từng loại đối tượng như: mở các lớp tập huấn tập trung để quán triệt nghiên cứu các nội dung, chính sách, bàn các giải pháp và phân công thực hiện (hình thức này phù hợp với các đối tượng tham gia trực tiếp vào quá trình tổ chức thực hiện
và kiểm tra thực hiện chính sách); xây dựng văn bản hướng dẫn phổ biến cụ thể việc thực hiện chính sách gửi cho các cơ quan hữu quan để họ tự nghiên cứu xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách; tổ chức các lớp tuyên truyền chính sách cho các cơ quan thông tin đại chúng, cán bộ làm công tác tuyên truyền; Ngoài ra, có thể đăng tải, tuyên truyền trên tạp chí, các báo, trang thông tin điện tử để các đối tượng được thụ hưởng chính sách và mọi người dân biết để thực hiện Trong quá trình xây dựng các văn bản hướng dẫn cụ thể thực hiện chính sách cũng như các văn bản phổ biến, hướng dẫn phải đảm bảo chính xác, dễ hiểu, cụ thể và dễ thực hiện Tuyệt đối không được bổ sung các quy định mang tính chất thủ tục rườm rà và làm sai lệch chính sách
1.5.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
Năng lực phân công, phối hợp thực hiện chính sách là khả năng tổ chức điều hành thực hiện chính sách một cách hợp lý, chặt chẽ và khoa học Đó là
Trang 31việc phân công trách nhiệm cụ thể cho các cá nhân, tổ chức có liên quan trong thực hiện chính sách; xác định tổ chức, cá nhân chủ trì, chịu trách nhiệm chính, các cá nhân, tổ chức tham gia phối hợp trong quá trình thực hiện chính sách Thông qua việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách một cách hợp
lý, khoa học sẽ phát huy được tính tích cực và góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
Trong phân công nhiệm vụ cần đặc biệt chú ý đến năng lực chuyên môn, khả năng, trình độ và thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân, hạn chế tình trạng chồng chéo nhiệm vụ và không rõ trách nhiệm Năng lực phân công, phối hợp thực hiện chính sách còn được thể hiện qua việc tổ chức điều hành và phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện chính sách Năng lực phối hợp, phân công trong tổ chức điều hành thực hiện chính sách là năng lực của người lãnh đạo, người chỉ huy, người quản lý trong triển khai thực hiện kế hoạch đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống
1.5.4 Duy trì thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
Duy trì chính sách là kiến thức, khả năng, và kỹ năng của CBCC trong tham mưu đề xuất các giải pháp, biện pháp bảo đảm cho chính sách được duy trì, tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Khi thực hiện gặp những khó khăn do môi trường thực tế biến động, yêu cầu đội ngũ cán bộ thực thi chính sách phải có năng lực, khả năng, kiến thức sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách; chủ động tham mưu, đề xuất với chủ thể ban hành chính sách điều chỉnh chính sách và áp dụng các giải pháp, biện pháp thực hiện chính sách phù hợp với hoàn cảnh mới Năng lực tham mưu đề xuất các biện pháp, giải pháp duy trì bảo đảm cho chính sách tồn tại và phát huy tác dụng là vô cùng quan trọng trong thực hiện chính sách Thực tế, nhiều chính sách ban hành đúng nhưng trong quá trình thực hiện chính sách không có các biện pháp, giải pháp phát triển và duy trì dẫn đến hiệu quả thực hiện chính sách thấp, gây
Trang 32lãng phí, không đáp ứng được yêu cầu quản lý, yêu cầu thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước Để có năng lực, khả năng (kỹ năng và kiến thức) sử dụng các công cụ quản lý trong tham mưu đề xuất các giải pháp, biện pháp, duy trì bảo đảm sự tồn tại và phát huy tác dụng bền vững của chính sách đòi hỏi đội ngũ CBCC thực hiện chính sách phải am hiểu sâu sắc chính sách, phải nắm chắc mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, yêu cầu, đối tượng, công cụ thực hiện chính sách Đồng thời phải biết sử dụng các công cụ quản lý khác tác động đến việc thực hiện chính sách, trách nhiệm tham mưu đề xuất các giải pháp hỗ trợ duy trì chính sách và phải có trình độ năng lực
1.5.5 Điều chỉnh giải pháp thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
Việc điều chỉnh giải pháp thực hiện chính sách là khả năng (hay kiến thức, thái độ và kỹ năng) của CBCC trong tham mưu đề xuất điều chỉnh các biện pháp, giải pháp, cơ chế để chính sách được thực hiện có hiệu quả nhưng không làm thay đổi mục tiêu chính sách Nếu gặp khó khăn trong quá trình thực hiện do môi trường thực tế thay đổi, do chính sách còn những bất cập, hạn chế chưa phù hợp với thực tiễn cần phải có những điều chỉnh nhất định để đáp ứng yêu cầu quản lý và phù hợp với tình hình thực tế Về nguyên tắc, thẩm quyền bổ sung, điều chỉnh chính sách là của cơ quan, tổ chức ban hành chính sách Nhưng trên thực tế việc điều chỉnh các biện pháp, các cơ chế chính sách diễn ra rất linh hoạt và năng động trong thực hiện chính sách Do
đó, đội ngũ CBCC thực thi chính sách cần phải có kiến thức và năng lực, kỹ năng đề xuất các biện pháp, giải pháp, cơ chế để chính sách thực hiện có hiệu quả, bảo đảm mục tiêu chính sách đã đề ra Vì vậy, đòi hỏi CBCC phải am hiểu, nắm chắc các quy định, các công cụ thực hiện chính sách; phải có kiến thức, kỹ năng phân tích các hạn chế, bất cập của chính sách, phải đề cao trách nhiệm trong tham mưu điều chỉnh biện pháp, các yêu cầu thực tiễn đặt ra trong thực hiện chính sách; cơ chế chính sách; tôn trọng nguyên tắc khi điều chỉnh chính sách Để chính sách tiếp tục phát huy và tồn tại tác dụng bền
Trang 33vững chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu chính sách theo yêu cầu thực tế Nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, cũng như làm thay đổi chính sách thì coi như chính sách đó bị thất bại Năng lực điều chỉnh chính sách cũng như năng lực duy trì chính sách là các năng lực không thể thiếu được đối với CBCC thực hiện chính sách
1.5.6 Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, là nhiệm vụ và là khâu quan trọng trong thực hiện chính sách Năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ CBCC được biểu hiện, phản ánh cụ thể ở kỹ năng, khả năng, kiến thức và trách nhiệm trong việc theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, thực hiện chính sách Khả năng, kiến thức, kỹ năng đó thể hiện ở mức độ am hiểu sâu sắc mục tiêu của chính sách, đối tượng chính sách và các quy định, các giải pháp thực hiện, các công cụ; nắm chắc, chính xác các quy định trong kế hoạch, các quy chế, nội quy thực hiện chính sách
Ngoài ra, phải có kỹ năng cập nhập, thu thập đầy đủ các nguồn thông tin, các cơ sở dữ liệu thông tin phản ánh về quá trình triển khai và kết quả thực hiện chính sách từ các cơ quan, tổ chức hữu quan Đặc biệt là từ các đối tượng thụ hưởng chính sách và của người dân Từ cơ sở đó, phân tích xử lý thông tin, đối chiếu so sánh với các quy định trong chính sách, các quy định trong
kế hoạch, nội quy, quy chế thực hiện chính sách để có cơ sở phát hiện, phòng ngừa và xử lý vi phạm (nếu có); đề xuất các giải pháp chấn chỉnh việc thực hiện, điều chỉnh các biện pháp, cơ chế góp phần hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, phát hiện sơ hở trong quản lý, trong
tổ chức thực hiện,
Trang 341.5.7 Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
Đánh giá, tổng kết việc thực hiện chính sách là quá trình xem xét, kết luận về sự chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện chính sách của chủ thể thực hiện chính sách (các cơ quan, tổ chức và đội ngũ CBCC có chức năng thực hiện chính sách) và việc chấp hành, thực hiện của các đối tượng thụ hưởng chính sách Để đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm chính xác cần phải căn cứ vào các tiêu chí, quy chuẩn, và các nguyên tắc nhất định Cơ sở để xây dựng tiêu chí đánh giá công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách của các cơ quan nhà nước của CBCC là bản kế hoạch và nội quy, quy chế ban hành kèm theo; ngoài ra, còn phải sử dụng các văn bản liên tịch giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các báo cáo kết quả thực hiện chính sách của các cơ quan, tổ chức hữu quan, các văn bản quy phạm pháp luật khác; phải căn cứ vào các nguyên tắc đã được xác định, thống nhất giữa các cơ quan hữu quan bảo đảm tính toàn diện, công bằng và khách quan Việc đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm phải chỉ ra được chính xác ưu nhược điểm, kinh nghiệm thực hiện chính sách, các tổ chức cá nhân thực hiện tốt hoặc không tốt
Cùng với việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo thực hiện, điều hành của các cơ quan nhà nước, của đội ngũ CBCC còn phải xem xét, đánh giá kết quả của việc thực hiện của các đối tượng thụ hưởng trực tiếp, gián tiếp từ chính sách Thước đo, căn cứ để đánh giá kết quả thực hiện chính sách của các đối tượng này là ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu và các quy định cụ thể của chính sách tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm là công việc khó, phức tạp trong quá trình thực hiện chính sách, đòi hỏi các cơ quan, tổ chức và CBCC tham gia vào công việc này phải có trình độ, năng lực, kỹ năng và kiến thức nhất định Không có trình độ, kiến thức, năng lực, kỹ năng và kinh nghiệm khó có thể
Trang 35đánh giá được chính xác kết quả thực hiện và rút ra được các bài học kinh nghiệm trong thực hiện chính sách
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Hiện nay, việc thực hiện chính sách đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ, công chức được đánh giá rất nặng về lý thuyết, thiếu tính ứng dụng, chưa chú trọng những đặc thù riêng biệt đến từng vị trí việc làm Để nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, đòi hỏi các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách phải thiết kế được chương trình đào tạo, bồi dưỡng thích hợp với khung năng lực của từng
vị trí làm việc Để được như vậy, trước hết phải xác định rõ các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức
Thực tiễn trong nhiều năm qua đã cho thấy, thực hiện chính sách công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung đã đạt được nhiều thành tựu góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ở nước ta Tuy nhiên, thực hiện chính sách đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức được đánh giá là nặng lý thuyết, thiếu hụt tính ứng dụng, chưa chú trọng những đặc thù riêng biệt của từng vị trí việc làm, từng địa phương; đặc biệt là
ở những địa phương có những đặc thù riêng Để nâng cao hiệu quả trong thực hiện chính sách đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, đòi hỏi các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách phải thiết kế được chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hơp với khung năng lực của từng vị trí làm việc, thích hợp với điều kiện kinh tế xã hội của cơ sở hoặc địa phương vùng Muốn vậy, trước hết phải xác định tốt các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức Nhiều nhân tố tác động đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có những nhân tố mang tính khách quan và chủ quan như sau:
Trang 361.6.1 Các yếu tố khách quan
Một là, môi trường thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đó là toàn bộ các thành phần phi vật chất, vật chất tham gia thực hiện chính sách như: các điều kiện vật chất, kỹ thuật trong nền kinh tế; các nhóm lợi ích có được từ việc thực thi chính sách này; bầu không khí chính trị, trật tự
xã hội ở địa phương Nhìn chung môi trường thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng ở các địa phương của nước ta có nhiều thuận lợi Đó là, hệ thống chính trị ổn định; Đảng và Nhà nước quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói riêng và đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật trong lĩnh vực giáo dục nói chung Ngoài một số điểm nóng về trật tự trị an do kiện tụng về đất đai, nói chung các cơ sở ở nước ta khá ổn định về trật tự xã hôi Các tổ chức Đảng, đoàn thể cùng chính quyền địa phương luôn thống nhất trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và thực hiện đúng chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Đây cũng là một yếu tố khách quan thuận lợi để thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta
Hai là, đối tượng thực hiện chính sách: Nguồn tuyển dụng đầu vào luôn yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của đội ngũ công chức Tuyển dụng được người học đúng ngành, chuyên ngành sẽ làm cho việc sử dụng và
bố trí công chức sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn; việc đánh giá năng lực của công chức cũng sát với thực tế hơn Nếu đội ngũ công chức được tuyển dụng hoặc được luân chuyển không sát với yêu cầu công việc sẽ là một bất lợi, thiệt hại cho tổ chức vì phải tiến hành đào tạo, đào tạo lại mới có thể sử dụng được Nguồn và chất lượng đầu vào của đội ngũ cán bộ, công chức sẽ ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng Trình độ chuyên môn nghiệp vụ kém sẽ ảnh hưởng đến việc tiếp thu các kiến thức đào tạo, bồi dưỡng mới; nhất là kiến thức có tính hội nhập quốc tế Tinh thần thái độ học tập cũng là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến thực hiện kế hoạch của chương trình đào tạo, bồi dưỡng Nếu người học không có thái độ và ý thức tích cực đối với các quy
Trang 37định trong đào tạo yếu thì không chỉ người đó khó tiếp thu được kiến thức bồi dưỡng mà còn làm ảnh hưởng đến cả khóa học và gây dư luận không tốt cho thực hiện chính sách trên ở địa phương, đơn vị
Ba là mối quan hệ giữa cơ sở bồi dưỡng, đào tạo, đội ngũ giảng viên và người được đề xuất đi học ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cũng như công tác thực hiện chính sách trên ở cơ sở Nếu như cơ sở đào tạo, bồi dưỡng tạo điều kiện thuận lợi cho người học; đội ngũ giảng viên nhiệt tình và tâm huyết thì chắc chắn chất lượng đào tạo, bồi dưỡng sẽ có kết quả tốt Khi thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng sẽ hoàn thành đúng tiến độ và đạt được mục tiêu đề ra
1.6.2 Các yếu tố chủ quan
Một là, thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quá trình thực hiện chính sách Đây là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách nói chung và chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức nói riêng Thực hiện chính sách luôn luôn là một chu trình đòi hỏi phải thực hiện đầy đủ các bước, các khâu bởi các bước này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu thiếu một bước thì việc thực thi chính sách sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí sẽ làm cho việc thực hiện chính sách không đạt được hiệu quả như mong muốn, thậm chí gây mất công bằng đối với các đối tượng thực thi chính sách
Hai là, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo và bồi dưỡng Thủ tục hành chính rườm rà gây khó khăn trong quản lý đào tạo, bồi dưỡng và thái độ làm việc không minh bạch, không thân thiện có thể làm học viên bỏ học hoặc không có nguyện vọng học tập hết khóa, bỏ học giữa chừng Có cho rằng chất lượng hiệu quả thực hiện chính sách này phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và thái độ làm việc của đội ngũ công chức của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng Thực hiện chính sách của công chức năng lực tốt, thì quá trình thực hiện
Trang 38chính sách sẽ diễn ra thuận lợi, thậm chí trong các bước tổ chức thực hiện chính sách có phát sinh những tình huống, vấn đề mới thì cũng dễ dàng điều chỉnh để đạt được mục tiêu chính sách đã đặt ra Ngược lại, thực hiện chính sách của công chức có năng lực kém thì quá trình thực hiện chính sách sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể kéo dài thời gian và không đạt được mục tiêu chính sách trên
Ba là, điều kiện vật chất ảnh hưởng nhiều đến quá trình xây dựng, thực thi chính sách: Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều quan tâm, bố trí điều kiện vật chất cho việc phát triển đội ngũ công chức nói chung và đào tạo, bồi dưỡng công chức nói riêng Nhưng điều kiện này chưa đáp ứng tốt nhất cho việc thực hiện chính sách một cách hiệu quả nhất Điều kiện vật chất quan trọng nhất là nguồn kinh phí hỗ trợ cho công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng Quản lý và sử dụng ngân sách dành cho đào tạo, bồi dưỡng hợp lý sẽ
có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng Nguồn kinh phí được sử dụng đúng mục đích đề ra, đúng đối tượng cần đào tạo, bồi dưỡng sẽ đem lại kết quả lớn cho tổ chức cũng như cá nhân công chức Ngược lại, nếu nguồn ngân sách được sử dụng sai mục đích, lãng phí không những vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý đào tạo, bồi dưỡng công chức mà còn ảnh hưởng tới quyền lợi chính đáng của công chức về nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng Không đảm bảo điều kiện vật chất cho quá trình xây dựng, thực hiện chính sách cũng sẽ tác động đến việc duy trì chính sách
Trang 39Những vấn đề lý luận liên quan đến việc thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức được nêu ở Chương 1 của luận văn sẽ tạo cơ sở khoa học để tác giả đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo trong thời gian qua; làm cơ sở lý luận để đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo trong thời gian qua
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
2.1 Khái quát về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại Bộ GDĐT
2.1.1 Khái quát về Bộ Giáo dục và Đào tạo
Theo nghị định số 69/2017/NĐ-CP ngày 25 tháng 05 năm 2017 của Chình phủ ban hành Nghị định Quy định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ và
cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Về Vị trí và chức năng
Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, giáo dục đại học và các cơ sở giáo dục khác về: Mục tiêu, nội dung giáo dục, chương trình; quy chế thi, tuyển sinh và văn bằng, chứng chỉ; phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; cơ sở vật chất và thiết bị trường học; kiểm định chất lượng giáo dục bảo đảm chất lượng; quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ
- Về Nhiệm vụ và quyền hạn
Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ và các cơ quan ngang bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
+ Trình Chính phủ các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị định của Chính phủ theo chương trình xây dựng pháp luật hàng năm của bộ
đã được phê duyệt và các nghị quyết, dự án, đề án theo sự phân công của