Định nghĩa văn hóa (Trong các bài thi nên sử dụng những quan niệm sau về văn hóa) ...Để làm rõ quan điểm của Đảng ta về............ vấn đề này, trước hết, chúng ta cần làm rõ thuật ngữ văn hoá. Văn hoá là một lĩnh vực rất rộng lớn và phức tạp, đối tượng nghiên cứu rất đa dạng, phong phú, có nhiều khoa học tham gia nghiên cứu như nhân loại học, dân tộc học, xã hội học, triết học… Hiện nay đã có trên 400 định nghĩa khác nhau về văn hoá, vì vậy để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu văn hoá trên khía cạch chính trị xã hội dựa trên tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta có thể đưa ra một vài định nghĩa về văn hoá dưới đây: a. Hồ Chí Minh Đứng trên quan điểm mục đích luận, chức năng luận, chỉ ra nguồn gốc, bản chất, những thành tố cơ bản của của văn hoá, Hồ Chí Minh, danh nhân văn hoá thế giới, đã quan niệm về văn hoá như sau: ”Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, nghệ thuật…, những phương tiện phục vụ cho việc ăn, mặc, ở, đi lại và cách thức sử dụng. Tất cả những phát minh, sáng tạo ấy tức là văn hoá”...
Trang 1Định nghĩa văn hóa
(Trong các bài thi nên sử dụng
những quan niệm sau về văn hóa)
Để làm rõ quan điểm của Đảng ta
về vấn đề này, trước hết, chúng ta cần làm
rõ thuật ngữ văn hoá
Văn hoá là một lĩnh vực rất rộng
lớn và phức tạp, đối tượng nghiên cứu rất đa
dạng, phong phú, có nhiều khoa học tham gia
nghiên cứu như nhân loại học, dân tộc học, xã hội
học, triết học… Hiện nay đã có trên 400 định
nghĩa khác nhau về văn hoá, vì vậy để phù hợp
với mục tiêu nghiên cứu văn hoá trên khía cạch
chính trị- xã hội dựa trên tư tưởng của chủ nghĩa
Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta
có thể đưa ra một vài định nghĩa về văn hoá dưới
đây:
a Hồ Chí Minh
Đứng trên quan điểm mục đích
luận, chức năng luận, chỉ ra nguồn gốc, bản chất,
những thành tố cơ bản của của văn hoá, Hồ Chí
Minh, danh nhân văn hoá thế giới, đã quan niệm
về văn hoá như sau: ”Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo ra
ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, nghệ
thuật…, những phương tiện phục vụ cho việc ăn,
mặc, ở, đi lại và cách thức sử dụng Tất cả những
phát minh, sáng tạo ấy tức là văn hoá”
b Unesco
Định nghĩa Văn Hóa của
UNESCO được thông qua trong
Bản tuyên bố về những chính sách
văn hóa tại hội nghị quốc tế do
UNESCO chủ trì từ ngày 26 tháng
7 đến ngày 6 tháng 8 năm 1982 tại
Mêhicô: “ Văn hóa là tổng thể
những nét riêng biệt tinh thần và
vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết
định tính cách của một xã hội hay
của một nhóm người trong xã hội
Văn hóa bao gôm nghệ thuật văn
chương, những lối sống, những
quyền cơ bản của con người,
những hệ thống giá trị, những tập
tục và tín ngưỡng Văn hóa đem
lại cho con ngươi khả năng suy xét
bản thân Chính văn hóa đã làm
cho chúng ta trở thành những sinh
vật đặc biệt nhân bản, có lý tính,
có óc phê phán và dấn thân một
cách có đạo lý Chính nhờ Văn
hóa mà con người tự thể hiện, tự ý
thức được bản thân, tự biết mình
là một phương án chưa hoàn thành
đặt ra để xem những thành tựu của
bản thân, tìm tòi không biết mệt
những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo
nên những công trình mới mẻ,
những công trình vượt trội bản
thân”
Nhằm đưa ra những nội dung cơ
bản của văn hoá như nguồn gốc, cấu trúc, bản
chất, chức năng, đặc biệt nhấn mạnh văn hoá gắn
liền với mỗi dân tộc, tổng GĐ UNESCO
F.Mayor đã quan niệm về văn hoá phù hợp với
góc độ chính trị- xã hội mà chúng ta nghiên cứu:
“Văn hoá là tổng thể sống động những hoạt động
sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong
quá khứ và trong hiện tại Qua nhiều thế kỉ, hoạt
động sáng tạo ấy hình thành nên hệ thống những
giá trị, những truyền thống và thị hiếu- những yếu
tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”
c GS TS Hoàng Vinh
“ VH là toàn bộ sáng tạo của con người tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử văn hóa của cộng đồng người.”
=> Nói một cách chung nhất, văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần
do loài người sáng tạo ra nhằm mục đích phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng loài người Văn hoá là thiên nhiên thứ hai được sáng tạo bởi con người và mục đích vì sự tiến bộ của con người Văn hoá vừa là khái niệm chỉ thuộc tính loài người, vừa là khái niệm chỉ trình độ và chất lượng sống của con người trong hoạt động thực tiễn xã hội Văn hoá được biểu hiện sinh động và đa dạng trong những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể và đặc biệt là biểu hiện trong nhân cách, lối sống, nếp sống của cộng đồng xã hội, trong cách ứng xử của con người với tự nhiên, với xã hội và với bản thân mình Chính vì nhận thức sâu sắc và toàn diện khái niệm văn hoá cho nên con người ngày càng nhận thấy vai trò quan trọng của văn hoá đối với sự tiến bộ xã hội
3 vấn đề thường được sử dụng Vấn đề 1: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Văn hóa Việt Nam là thành quả qua hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt nam, là kết quả của quá trình giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc Sự nghiệp CNH – HĐH đất nước là nhiệm vụ to lớn, bao trùm suốt thời ký quá độ lên CNXH ở nước ta, nó đòi hỏi phải phát huy năng lực, trí tuệ tinh thần con người Việt nam, văn hóa Việt Nam Nghị quyết TW 5 (khóa VIII)- năm
1998 là nghị quyết về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đảng ta đã xác định rõ mục tiêu và phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhằm làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư và mọi sinh hoạt, mọi quan hệ con người nhằm tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực cho
sự nghiệp HĐH – CNH đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH
I Tại sao phải xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
(Sự cần thiết phải xây dựng nền văn hóa VN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc)
Đây là nhiệm vụ quan trọng của xây dựng CNXH trong thời kỳ đổi mới
- Nước ta chuyển từ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh
tế thị trường, KT nhiều thành phần, KT mở cửa giao lưu và hội
nhập quốc tế Tương thích với nền
KT này phải là nền KT này phải là nền VHtt, đđbsdt
- Sự nghiệp CNH- HĐH đất nước
mà trước hết là sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn- nông dân làm chuyển đổi cơ bản, toàn diện đời sống KTXH và VH của nước ta phải xây dựng nền vhtt, ddbsdt
- Sự thay đổi KT, kết cấu XH, nhu cầu tăng nhanh về VH trong mọi tầng lớp nhân dân làm thay đổi nhiều mặt đời sống văn hóa dân tộc bao gồm cả tích cực và tiêu cực
Hiện nay có thực trạng suy thoái về
tư tưởng, đạo đức, lối sống của 1 bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân=> đòi hỏi ta phải chấn hưng VHDT thông qua
sự nghiệp xây dựng nền vhtt, ddbsdt
- Trong thời kỳ mở cửa để hoà nhập với khu vực và thế giới, để tiếp thu các thành tựu văn minh nhân loại, đòi hỏi ta phải có trình độ VH tương ứng để tiếp biến các thành tựu VH-VM đó
- Thời kỳ đổi mới là thời kỳ hội nhập sâu rộng, nhưng hội nhập chứ không hoà tan BSVHDT sẽ là sức
đề khỏng văn hoá, giúp ta chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của xu thế toàn cầu hoá và mặt trái của quá trình hiện đại hoá đang diễn ra
- Xây dựng sẽ không mất đi BSVH dân tộc mình, không trở thành cái bóng mờ của kẻ khác (TQ, phương Tây), không làm mất
đi con đường XHCN mà Đảng và Bác đã chọn
II Tính chất tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc của nền văn hóa VN hiện đại
Nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là nền văn hóa thống nhất biện chứng giữa tính chất tiên tiến và tính chất dân tộc của văn hóa
1 Tính chất “tiên tiến” (5 đặc trưng)
a Tính chất tiên tiến của nền văn hóa là gì ? Là thể hiện trình độ cao, tiến bộ cả đời sống vật chất và tinh thần, kết tinh mọi tinh hoa quá khứ, hòa quện vào phẩm chất hiện đại và đem lại hạnh phúc cho con người
b Thế nào là nền văn hóa tiên tiến?
(5 đặc trưng)
- Là nền văn hóa thể hiện tinh thần yêu nước và tiến bộ
- Là nền văn hóa thể hiện tinh thần nhân văn cách mạng
- Là nền văn hóa thể hiện tinh thần dân chủ
- Là nền văn hóa thể hiện tính hiện đại
- Là nền văn hóa thể hiện ở hình thức biểu hiện và phương tiện truyền tải nội dung
Phân tích
* Nền văn hóa tiên tiến trước hết là nền văn hóa yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là độc lập dân
tộc và CNXH dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là nấc thang có giá trị cao nhắt trong bảng giá trị văn hóa của dân tộc Đây là chủ nghĩa yêu nước chân chính xuất phát
từ mục tiêu, nhiệm vụ của việc xây dựng và bảo
vệ tổ quốc Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là hệ thống những quan điểm tư tưởng lý luận về độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, về chủ quyền và
an ninh quốc gia, về vai trò trách nhiệm và nghĩa
vụ của người dân đối với vận mệnh dân tộc Chủ nghĩa yêu nước này hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa sovanh nước lớn và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi Trong đấu tranh chống xâm lược trước đây, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã kết thành làn sóng vững mạnh nhấn chìm bè lũ tay sai bán nước
và cướp nước Trong sự nghiệp đổi mới ngày nay, chúng ta phải phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước truyền thống, bổ xung vào khái niệm yêu nước những nội dung mới, gắn kết chủ nghĩa yêu nước với tư tưởng tiến bộ của thời đại Vì vậy tinh thần độc lập dân tộc và CNXH là những giá trị cơ bản,
là nội dung cốt lõi của việc xây dựng nền văn hóa mới
* Nền văn hóa tiên tiến là nền văn hóa mang tinh thần nhân văn cách mạng
- Nền văn hóa tiến bộ là nền văn hóa hướng tới phục vụ nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động, tạo điều kiện tham gia vào quá trình sáng tạo, bảo quản, lưu giữ, thưởng thức các giá trị văn hóa cao của dân tộc và nhân loại
- Mục tiêu của văn hóa là hướng tới con người và
vì con người, phù hợp với mục tiêu xây dựng xã hội mới của chúng ta, đó là mục tiêu xây dựng con người mới XHCN phát triển cao về trí tụê, cường tráng về thể lực, phong phú về tâm hồn, trong sáng về đạo đức…
* Nền văn hóa tiên tiến là nền văn hóa mang tính dân chủ
Nền văn hóa này phải tạo ra bầu không khí dân chủ, phát huy mọi nguồn lực của nhân dân để xây dựng sự nghiệp phát triển văn hóa mà biểu hiện của nó là ở: tinh thần nhân văn của văn hóa; là nền văn hóa đem lại những giá trị (sự sáng tạo, hưởng thụ) cho con người; tôn trọng
di sản văn hóa quá khứ; đảm bảo sự phong phú,
đa dạng, sự bình đẳng giữa các sắc thái, giá trị văn hóa của các dân tộc trong nước; tôn trọng gắn liền với sự tự do sáng tác
Nền văn hóa tiến bộ là nền văn hóa tham gia vào cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới dựa trên hệ tưởng khoa học cách mạng dẫn đường, hệ tư tưởng đó là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng HCM
Nền văn hóa tiến bộ là nền văn hóa gắn liền với việc bảo vệ và xây dựng chế độ chính trị xã hội tiến bộ, đó là chế độ chính trị mà chúng ta hướng tới
* Nền văn hóa tiến bộ bao hàm cả nghĩa hiện đại phản ánh trính độ phát triển của nền văn hóa tương đương với các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế, đó là nền văn hòa hiện đại cả về nội dung và hình thức thể hiện, hiện đại cả cơ sở vật chất kỹ thuật để chuyền tải nội dung Do đó chúng
ta phải tạo ra những cơ sở hạ tầng và điều kiện vất chất (máy móc, trang thiết bị) cho sự phát triển văn hóa
* Nền văn hóa TT ĐĐBSDT thể hiện ở hình thức biểu hiện và phương tiện truyền tải nội dung
Trang 2Khác với các giai đoạn
trước, văn hóa VN hiện nay phỏt
triển trong giai đoạn bùng nổ khoa
học công nghệ nên nền vh tiên tiến
không thể không tiếp thu những
thành tựu đó Phải có cách thức,
phương pháp tiên tiến, để truyền
tải nội dung, làm mới những giá
trị văn hóa cổ truyền
VD : Phim ảnh, truyền
hình
2- Tính chất “ đậm đà BSDT”
(Bản sắc dân tộc của nền văn hóa mới)
Khi chúng ta nói đến bản sắc văn
hóa là chúng ta nói đến bản sắc dân tộc của văn
hóa Văn hóa là yếu tố hình thành dân tộc Văn
hóa biểu hiện cho sức sống, phẩm chất trí tuệ, tinh
thần, tâm hồn của dân tộc “ Văn hóa còn thì dân
tộc còn, văn hóa suy thì dân tộc yếu, văn hóa mất
thì dân tộc diệt.”
a Bản sắc là những nét riêng, dấu
ấn riêng để người ta nhận ra mình
b Bản sắc dân tộc là tổng thể
những đặc điểm riêng của một dân
tộc
c Bản sắc văn hoá dân tộc
- Là hệ thống những đặc tính bên
trong, những sắc thái riêng, là diện
mạo, cốt cách độc đáo về văn hóa
của một dân tộc làm nên sự khác
biệt giữa dân tộc này với dân tộc
khác, khiến cho văn hoá của dân
tộc này không trở thành cỏi
“bóng” của văn hoá dân tộc khác
và ngược lại
- Là những yếu tố độc đáo, đặc sắc của một nền
văn hóa, nó biểu hiện “ đặc tính dân tộc”, “ cốt
cách dân tộc”, chúng tạo nên sức mạnh duy trì
phát triển của đời sống cộng đồng với tư cách là
một bộ gen, một nhận diện của dân tộc, cái mà
đảm bảo cho cơ chế di truyền, trao truyền văn hóa,
nó cũng là cái để phân biệt nền văn hóa này với
nền văn hóa khác
- Bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện tập trung
trong truyền thống văn hóa dân tộc
Truyền thống văn hóa dân tộc và
các giá trị văn hóa do lịch sử để lại, đước thể hệ
sau tiếp nhận và làm sống lại trong thời đại của
họ Truyền thống văn hóa là cơ sở để liên kết xã
hội và liên kết thế hệ tạo nên sức sống liên tục của
lịch sử văn hóa Khi được hình thành truyền
thống mang tính bền vững, có khả năng định
hướng, đánh giá và điều chỉnh hoạt động xã hội
Truyền thống văn hóa được biểu hiện đa dạng và
sinh động trong các giá trị văn hóa vật thể, giá trị
văn hóa phi vất thể, và ở ngay trong chính con
người (cá nhân và cộng đồng) đại diện cho các
giá trị văn hóa của dân tộc
Truyền thống văn hóa là khái
niệm động và mở, nó mang tính lịch sử cụ thể,
luôn luôn tự đổi mới trên cơ sở loại bỏ những yếu
tố lạc hậu, bảo thủ, xây dựng và sáng tạo những
giá trị mới nhằm đáp ứng với nhu cầu phát triển
của thời đại Vì vậy, không nên đồng nhất bản sắc
văn hóa dân tộc với cái cũ, cái quá khứ hoặc
không nên đồng nhất bản sắc văn hóa dân tộc với
cái nguyên gốc do dân tộc mình sáng tạo ra Bản
sắc văn hóa dân tộc vừa bao gồm các giá trị trong
qúa khứ, vừa bao gồm các giá trị đã và đang được
sáng tạo nên, vừa bao gồm các giá trị do dân tộc
mình sáng tạo ra, vừa bao gồm các giá trị từ bên
ngoài được dân tộc tiếp nhận một cách sáng tạo
và đồng hóa nó, biến nó thành nguồn lực nội sinh
để phát triển dân tộc Trong văn hóa Việt nam trước đây cha ông ta đã tiếp nhận văn hóa phật giáo, nho giáo, lão giáo từ nước ngoài để phát triển đất nước Trong sự nghiệp hiện nay, Đảng ta tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng HCM để hiện đại hoá văn hóa dân tộc Không nền đồng nhất văn hóa với một số yếu tố hình thức bên ngoài của nền văn hóa, mà lịch sử văn hóa dân tộc là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức, sự thống nhất giữa trình độ trí tuệ và trình độ tư duy, cách cảm nhận, cách suy nghĩ, ý trí, bản lĩnh cốt cách của dân tộc với các hình thức biểu hiện bên ngoài của nó Vì vậy trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc chúng ta phải chú ý tới xây dựng con người, chủ thể của quá trình sáng tạo văn hóa
Bản sắc văn hóa của dân tộc giúp cho dân tộc thoát khỏi sự dô hộ của kẻ thù, nó biến công cụ và đồng hóa sự vô ý thức của kẻ thù thành sức mạnh của chúng ta, tạo nên nền tảng để chúng ta xây dựng nền văn hóa trong thời đại ngày nay
d Bản sắc văn hoá Việt Nam theo Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII)
Bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là:
- Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí
tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc
- Tinh thần đoàn kết
- Lũng nhân ái khoan dung trọng nghĩa tình đạo lý
- Đức tính cần cù sáng tạo trong lao động
- Sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống
e Đậm đà Bản sắc VHDT
Là làm cho những giá trị bền vững, tinh hoa văn hóa của cộng đồng các DT VN được giữ gìn, phát huy, bảo vệ trong mọi hoạt động văn hóa, mọi lĩnh vực văn hóa
* Chú ý :
- Đậm đà bản sắc VHDT (cái cốt lõi là các giá trị truyền thống, các
di sản văn hoá) không phải là đóng cửa, khép kín, CNDT hẹp hòi mà phải gắn kết với với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cỏi hay, cỏi tiến
bộ trong VH của các dân tộc khác
- Giữ gìn bản sắc VHDT phải đi liền với chống lạc hậu lỗi thời trong phong tục tập quán lề thói
cũ
III Phương hướng- mục tiêu
Trong nghị quyết TW 5 (khóa VIII), Đảng ta đã xác định rõ mục tiêu và phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhằm làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng tập thể và
cộng đồng, từng địa bàn dân cư và mọi sinh hoạt, mọi quan hệ con người nhằm tạo ra trên đất nước
ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp HĐH – CNH đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH
IV 5 quan điểm chỉ đạo cơ bản (Cần tìm tài liệu và đọc kỹ nghị quyết TW5 khoa VIII phân tích rõ các quan điểm này vì rất quan trọng)
- Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là muc tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội
- Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
- Nền văn hóa Việt nam là nền văn hóa thống nhất
mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt nam
- Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng
- Văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng
V 10 nhiệm vụ cụ thể
Để thực hiện mục tiêu của việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
1- Xây dựng con người VN trong giai đoạn cách mạng mới
Xây dựng con người VN trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính: Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, có ý trí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu…; đề cao tinh thần tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung; có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm trung trực, nhân nghĩa, tôn trọng kỉ cương phép nước, qui ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái…; lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kĩ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và toàn xã hội; thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, năng lực thẩm mĩ
và thể lực
2 Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tạo ra
ở các đơn vị cơ sở đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân; giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình VN
3- Phát triển sự nghiệp văn hóa nghệ thuật, phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ
4- Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa, hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, VHCM bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể
5- Phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo và KHCN, coi trọng giáo dục đạo lý làm người, ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước, yêu CNXH, đạo đức lối sống, nếp sống văn hóa dân tộc… bồi dưỡng nâng cao trình độ giáo viên, giảng viên…
6- Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng, củng cố xây dựng phát triển từng bước hiện đại hóa hệ thống thông tin đại chúng, đẩy mạnh thông tin đối ngoại, không ngừng nâng cao trình độ chính trị và nghề nghiệp chất lượng tư tưởng, VH của hệ thống truyền thông đại chúng…
7- Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số: bảo tồn phát huy những giá trị truyền thống, xây dựng các giá trị văn hóa mới; bảo tồn, phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc; khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bảo các dân tộc thiểu số giỏi tiếng nói của mình đi đôi với việc
sử dụng ngôn ngữ phổ thông; xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, mở rộng mạng lưới thông tin ở vùng dân tộc thiểu số…
8- Thực hiện chính sách văn hóa đối với tôn giáo: tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của dân; khuyến khích ý tưởng công bằng, bác ái, hướng thiện trong tôn giáo, tuyên truyền khắc phục tệ mê tín dị đoan…, chăm lo phát triển kinh
tế xã hội giúp đỡ đồng bào theo đạo, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, chăm sóc sức khỏe… 9- Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa: làm tốt việc giới thiệu văn hóa, đất nước con người Việt nam với thế giới, tiếp thu chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, giúp đỡ cộng đồng người Việt nam ở nước ngoài hiểu biết tình hình nước nhà, nêu cao lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống bản sắc dân tộc, phát huy trí tuệ, tài năng sáng tạo, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước
10- Củng cố xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa: tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý có hiệu quả của nhà nước; nâng cao chất lượng hoạt động của các thể chế văn hóa hiện có; thực hiện khẩu lệnh “Nhà nước và nhân dân cùng làm văn hóa “; xây dựng các thể chế văn hóa cơ sở; hoàn chỉnh các văn bản pháp luật về văn hóa Nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là tập trung vào xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh trong xã hội, trước hết là xây dựng môi trường văn hóa ở các cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị, xã hội và trong gia đình; kiên quyết loại bỏ các phần tử thoái hóa, biến chất ra khỏi cơ quan Đảng, Nhà nước; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi các tiêu cực tệ nạn xã hội; xây dựng nếp sống văn hóa trong tiệc cưới, tang, lễ hội; cải thiện đời sống văn hóa ở những vùng gặp nhiều khó khăn
Trang 3Vấn đề 2: Văn hóa và phát triển
( Văn hóa là nền tảng tinh thần
của xã hội, là mục tiêu, là động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
xã hội)
Sau 300 năm phát triển
của CNTB, với cơ chế kinh tế thị
trường, với việc sử dụng có hiệu
quả khoa học và công nghệ hiện
đại, CNTB đã tạo sự gia tăng về
cơ cấu vật chất, gia tăng kinh tế,
thay đổi đời sống của nhiều quốc
gia dân tộc Nhưng bên cạnh đó,
mặt trái của sự phát triển đó là sự
phân hóa giàu nghèo ngày càng dữ
dội, nó hủy hoại môi trường tự
nhiên, làm cho bệnh tât và tội ác
gia tăng, làm nảy sinh nhiều mâu
thuẫn nghịch ký đặc biệt là sự
băng hoại những giá trị truyền
thống và nhân phẩm con người
Thực tiễn đó buộc nhân loại phải
suy nghĩ lại con đường phát triển
đã qua Và từ đó, lý luận về sự
phát triển đang được đổi mới trong
đó cần phải nhận rõ vai trò của
văn hóa đối với sự phát triển kinh
tế xã hội Đảng ta đã khẳng định :
“Văn hóa là nền tàng tinh thần của
xã hội, là mục tiêu, là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã
hội”
1 Văn hóa là gì?:
Văn hoá là một lĩnh vực rất rộng lớn và phức tạp,
đối tượng nghiên cứu rất đa dạng, phong phú, có
nhiều khoa học tham gia nghiên cứu như nhân
loại học, dân tộc học, xã hội học, triết học… Hiện
nay đã có trên 400 định nghĩa khác nhau về văn
hoá, vì vậy để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
văn hoá trên khía cạch chính trị- xã hội dựa trên
tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, chúng ta có thể đưa ra một vài định
nghĩa về văn hoá dưới đây:
a Hồ Chí Minh
Đứng trên quan điểm mục đích
luận, chức năng luận, chỉ ra nguồn gốc, bản chất,
những thành tố cơ bản của của văn hoá, Hồ Chí
Minh, danh nhân văn hoá thế giới, đã quan niệm
về văn hoá như sau: ”Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo ra
ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, nghệ
thuật…, những phương tiện phục vụ cho việc ăn,
mặc, ở, đi lại và cách thức sử dụng Tất cả những
phát minh, sáng tạo ấy tức là văn hoá”
b Unesco
Định nghĩa Văn Hóa của
UNESCO được thông qua trong
Bản tuyên bố về những chính sách
văn hóa tại hội nghị quốc tế do
UNESCO chủ trì từ ngày 26 tháng
7 đến ngày 6 tháng 8 năm 1982 tại
Mêhicô: “ Văn hóa là tổng thể
những nét riêng biệt tinh thần và
vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết
định tính cách của một xã hội hay
của một nhóm người trong xã hội
Văn hóa bao gôm nghệ thuật văn
chương, những lối sống, những
quyền cơ bản của con người,
những hệ thống giá trị, những tập
tục và tín ngưỡng Văn hóa đem
lại cho con ngươi khả năng suy xét bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính,
có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý Chính nhờ Văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình
là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân”
Nhằm đưa ra những nội dung cơ bản của văn hoá như nguồn gốc, cấu trúc, bản chất, chức năng, đặc biệt nhấn mạnh văn hoá gắn liền với mỗi dân tộc, tổng GĐ UNESCO F.Mayor đã quan niệm về văn hoá phù hợp với góc độ chính trị- xã hội mà chúng ta nghiên cứu:
“Văn hoá là tổng thể sống động những hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ và trong hiện tại Qua nhiều thế kỉ, hoạt động sáng tạo ấy hình thành nên hệ thống những giá trị, những truyền thống và thị hiếu- những yếu
tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”
c GS TS Hoàng Vinh
“ VH là toàn bộ sáng tạo của con người tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử văn hóa của cộng đồng người.”
=> Nói một cách chung nhất, văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần
do loài người sáng tạo ra nhằm mục đích phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng loài người Văn hoá là thiên nhiên thứ hai được sáng tạo bởi con người và mục đích vì sự tiến bộ của con người Văn hoá vừa là khái niệm chỉ thuộc tính loài người, vừa là khái niệm chỉ trình độ và chất lượng sống của con người trong hoạt động thực tiễn xã hội Văn hoá được biểu hiện sinh động và đa dạng trong những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể và đặc biệt là biểu hiện trong nhân cách, lối sống, nếp sống của cộng đồng xã hội, trong cách ứng xử của con người với tự nhiên, với xã hội và với bản thân mình Chính vì nhận thức sâu sắc và toàn diện khái niệm văn hoá cho nên con người ngày càng nhận thấy vai trò quan trọng của văn hoá đối với sự tiến bộ xã hội
2 2 4 yếu tố có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế : vốn, tài nguyên, khoa học công nghệ và con người
Nhiều nhà kinh tế học đã nhấn mạng vai trò của nhân tố con người ( bao gồm người quản lý và người lao động) trong sự phát triển kinh tế xã hội
- Nói con người chính là nói văn hóa (vì toàn bộ các giá trị văn hóa làm nên những phẩm chất và năng thực tinh thần của con người)
+ Kỹ thuật : là kế tinh trí tuệ, kinh nghiệm và các sáng tạo của con người, vì vậy nó cũng là sản phẩm của văn hóa
+ Lương tâm, tinh thần trách nhiệm, giác ngộ xã hội của con người đều
có thể coi là văn hóa và nó quyết định đến chất lượng, hiệu quả của lao động
Vì vậy, văn hóa trở thành động lực phát triển kinh tế
Thực tiễn đã chứng minh luận điểm trên Đất nước Nhật Bản đã đưa ra những chính sách phát triển văn hóa nhằm phát triển kinh tế như: Muốn đất nước giàu mạnh phải nâng cao dân trí; Dù có khó khăn nhưng chính phủ không từ một cố gắng nào để phát triển tỷ lệ trẻ em đến trường ( bao cấp ăn trưa cho học sinh tiểu học, phát không sách giáo khoa) Người ta tính rằng:
¼ mức tăng trưởng kinh tế Nhât Bản là nhờ giáo dục Nhật Bản còn vận dụng những yếu tố văn hóa nhằm thúc đẩy sản xuất (sự ganh đua giữa các nhóm)
Hàn Quốc vào năm 1990 đã đầu tư cho giáo dục là 22,3% tổng ngân sách (hơn cả kinh tế và phát triển xã hội)
Chính vì vây, Việt Nam cũng coi việc đầu tư cho văn hóa giáo dục đã trở thành chiến lược quan trọng
3 4 quan niệm về phát triển trong mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và phát triển
- Theo quyết định luận kinh tế: phát triển tương đồng với sự tăng trường kinh tế (GDP) Như vậy đã tuyết đối với vai trò của kinh tế, chỉ có phát triển kinh tế là tiêu chí cho phát triển xã hội
- Theo quyết định luận nhân bản thì lại cho rằng: phát triển tương đồng với sự phát triển nhân bản ( sự phát triên cá thể người) Như vậy, đã tuyết đối hóa vai trò của cá thể người (HDI: GDP + tuổi thọ TB + trình độ học vấn)
- Theo quan niệm chính trị - xã hội thì phát triển tương đồng với sự tiến
bộ xã hội ( phúc lợi xã hội và quyền
tự do, dân chủ của con người) Như vây đã tuyệt đối hóa vai trò của xã hội và quyền tự do dân chủ con người Họ cho rằng GDP hay HDI phát triển cũng không mang lại hạnh phúc nếu con người phải sống trong môi trường xã hội không lành mạnh, quyền tư do dân chủ bị thủ tiêu
- Theo quan niệm của UNESCO:
phát triển tương đồng với sự tăng trưởng kinh tế, phát triển nhân bản (con người) và tiến bộ xã hội Như thế, nhân thức mới về sự phát triển không dừng lại ở các chỉ tiêu kinh
tế Chỉ tiêu kinh tế là đảm bảo sự tồn tại của con người ( đáp ứng nhu cầu vật chất) nhưng có thể đó là nguyên nhân dân tới bất bình đẳng trong thu nhập và hưởng thụ Từ đó khiến xã hội sẽ xuất hiện lối sống
không lành mạnh, ích kỷ, coi thường trí tuệ và nhân cách Phát triển kinh tế phải đi kèm với hàng loạt chỉ tiêu khác như: tuổi thọ bình quân, trình độ học vấn chung, môi trường xã hội lành mạnh ( quyền tự do), môi trường tự nhiên trong sạch
Khái niệm phát triển kinh tế đang chuyển hóa thành phát triển kinh tế xã hội và vấn đề văn hóa và phát triển là vấn đề thời đại, là hành trang cho mọi dân tộc phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới Suy cho cùng đây là mối quan hệ giữa văn hóa và con người, tức là tìm ra phương hướng, cách thức để làm cho mỗi người, cồng đồng người và cả toàn loài người tồn tại và phát triển theo hướng tiến bộ
4 Văn hóa là nền tảng tinh thần
xã hội
- Quan niệm trước đây cho rằng kinh tế là nền tảng của xã hội, văn hóa là kiến trúc thượng tầng vì vậy kinh tế và văn hóa có tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, nhưng kinh tế sẽ quyết định tới văn hóa Quan điểm này chỉ đúng với các hình thái kinh tế xã hội bởi có nhiều lĩnh vực văn hóa nằm ngoài kinh tế thị trường như tri thức khoa học tự nhiên, ngôn ngữ, quy tắc tư duy…
- Đời sống xã hội có 2 mặt: kinh tế
và văn hóa Kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống xã hội, còn văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội
Vì sao? Nói tới văn hóa là nói tới những giá trị được các cộng đồng dân tộc và nhân loại liên tục sáng tạo ra trong quá trình lịch sử lâu dài Như thế hệ giá trị là cái cốt lõi của văn hóa từ đó tạo nên bản sắc của mỗi cồng đồng và có vai trò kiên kết xã hội Nó còn có khả nưng chi phối điều tiết mọi hành
xử của những thành viên trong cộng đồng xã hội đó Như vậy hệ giá trị tồn tại như nền tảng tinh thần của xã hội
- Biểu hiện: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội biểu hiện ở trong sức mạnh tiềm tàng và bản lĩnh của một dân tộc ( được biểu hiện qua truyền thống và hệ giá trị đặc trưng cho BSDT) Truyền thống và hệ giá trị này được thấm nhuần trong mỗi cá nhân và cả cộng đồng, được chắt lọc kế thừa phát triển và phát huy qua các thế
hệ, được vật chất hóa trong cấu trúc thiết chế chính trị - xã hội và trong hoạt động sống của cả dân tộc
Biểu hiện của nó bao gồm: sức sống và sức phát triển, sự hiểu biết
và trí tuệ của con người – dân tộc trong mối quan hệ giữa con người
Trang 4– con người, con người – XH, con
người – tự nhiên
Như vậy, xây dựng và
phát triển văn hóa là xây dựng nền
tảng tinh thần của xã hội Thiếu
nền tảng tinh thần của xã hội tiến
bộ, lành mạnh thì sẽ không có sự
phát triển kinh tế xã hội bền vững
5 Văn hóa là mục tiêu của sự phát
triển kinh tế - xã hội
Theo thuyết Quyết định
luận kinh tế thì phát triển có nghĩa
là tăng trưởng kinh tế ( GDP), lấy
tiêu chí kinh tế làm thước đo, phát
triển gắn liền với thu nhập bình
quân hàng năm theo đầu người
tăng Ngày nay, chính vì nhận thấy
được nhiều mặt trái của sự phát
triển ( băng hoại đạo đức, sa sút
đời sống tinh thần) vì vậy phát
triển phải gắn với những tiêu chí
phát triển về con người ( HDI) và
gắn với sự tiến bộ xã hội , phúc lợi
xã hội ( chất lượng cs)
Phát triển kinh tế có 5
nguồn lực chính: con người, tài
nguyên thiên nhiên, cuộc sống vật
chất – khoa học kĩ thuật, vốn,
nguồn lực bên ngoài Trong 5 yếu
tố này thì nguồn lực quan trọng
nhất chính là nguồn lực về con
người, bởi con người là nguồn lực
của mọi nguồn lực Những nguồn
lực khác không có sức mạnh tự
thân, chúng chỉ phát huy tác dụng
khi kết hợp với nguồn lực con
người và thông qua mọi hoạt động
của nó
Văn hóa là mục tiêu của
phát triển kinh tế có nghĩa là: phát
triển kinh tế phải phải hướng vào
phát triển hoàn thiện con người và
xã hội Có nghĩa là phát triển KT
là phát triển xã hội và nâng cao
đời sống con người Trọng tâm là
phải triển năng lực bản chất và
trình độ riêng có cá nhân Những
năng lực này được “vun trồng”
ngày càng hoàn thiện về thể lực,
trí lực, nhân cách và lối sống
nhằm xây dựng môi trường văn
hóa lành mạnh cho sự phát triển
KTXH
Nguyên tổng Giám đốc UNESCO
F.Mayor đã nói: “ Hễ nước nào tự
đặt mình mục tiêu phát triển kinh
tế mà tách rời môi trường văn hóa
thì nhất định sẽ xảy ra mất cân
bằng nghiêm trọng cả về kinh tế
lẫn văn hóa, tiềm năng sáng tạo
của nước ấy sẽ suy yếu rất nhiều
Văn hóa cần coi mình như một
nguồn cổ súy trực tiếp cho phát
triển” Ngược lại, “ phát triển cần
thừa nhận văn hóa giữ vai trò
trung tâm, 1 vai trò điều tiết xã
hội”
6 Văn hóa là động lực của sự phát
triển KTXH
Chính là đề cập tới vai
trò và chức năng của văn hóa đối
với sự phát triển KTXH Văn hóa
có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người : sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, quan hệ giao tiếp ứng xử con người – xã hội, con người – tự nhiên
Văn hóa có chức năng
và vai trò là động lực của sự phát triển Vì vậy, văn hóa sẽ giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong mọi lĩnh lực đời sống xã hội ( trước hết
là kinh tế) Như vậy, không chỉ có
1 chiều bao cấp cho văn hóa mà văn hóa còn trở thành nguồn dinh dưỡng vô tận cho kinh tế
Nó được biểu hiện :
- Văn hóa định hướng, làm nền cho sự lựa chọn mô hình phát triển kinh tế xã hội ở mỗi khu vực ( bằng sự hài hòa kết hợp giữa tri thức và kinh nghiệm)
- Văn hóa khơi dậy tiềm năng sáng tạo vô tận của nguồn lực con người
- Văn hoá có khả năng tiếp thu và cải biên những yếu tố văn hóa ngoại sinh biến thành nội lực thúc đẩy phát triển KTXH ( trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị ưu việt của dân tộc) Mayor nhấn mạnh: “ Phải coi
VH là động lực, là nền tảng của sự phát triển” Văn hóa phải là cái đi trước, VH phải bao gồm toàn bộ sức mạnh vc và sức mạnh tinh thần quyết định phương hướng vận động của cả xh
7 Văn hóa là hệ điều tiết cho sự phát triển
Không thể lắp ghét KT và
VH vào làm một, không thể lấy
KT bù vào VH Nhưng trong khi phát triển KT ( KT làm trọng tâm),
ta phải chế định ra các biện pháp phát triển KT thông qua nhãn quan văn hóa
Văn hóa tham gia vào điều tiết sự phát triển XH với ý nghĩa chính là động lực của sự phát triển, là nhân tố nội lực của sự phát triển
Phải thấy rằng các yếu tố “ VH”, “ truyền thống”, “ bản sắc”, tác động đến xã hội không thuần túy 1 chiều là thúc đẩy, tạo động lực, mà có khi nó chính là nhân tố cản trở, níu kéo, kìm hãm sự phát triển
Như vậy, mọi sự phát triển đều chịu sự tác động ở các mức độ khác nhau của nhân tố văn hóa và tác động đó có thể theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực
Mục tiêu của chúng ta là không chỉ làm cho dân giàu, nước mạnh mà còn làm cho xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Mục tiêu
đó không thể tự có nếu chúng ta không có biện pháp làm cho quá trình giàu đi đôi với quá trình công
bằng – dân chủ - văn minh Phải lấy thước đo công bằng, dân chủ văn minh làm hệ điều tiết kế hoạch làm giàu
8 Liên hệ với lịch sử VH VN và
VN hiện nay
Văn hóa Vn hình thành và phát triển trong quá trình dựng nước
và giữ nước Chính sự tồn tại của tiếng nói, phong tục tập quán và năng lực nội sinh hóa các giá trị ngoại nhập là điều kiện để duy trì
sự tồn tại độc lập dân tộc trong trường kì lịch sử Lịch sử đã chứng minh cái tạo nên sức mạnh Việt Nam, cái bảo đảm cho dân tộc VN tồn tại và tự khẳng định mình, vượt qua mọi thử thách của thiên tai và giặc ngoại xâm không phải là những của cải vật chất mà là của cải tinh thần – hay những giá trị văn hóa, sự cô kết cộng đồng dân tộc, chuẩn mực nhân nghĩa trong đạo lý làm người, quan niệm có tính truyền thống về sự thống nhất giữa con người và tự nhiên
Nền KT nông nghiệp và thủ công nghiệp lâu đời đã rèn đúc cho dân tộc ta những đức tính kiên trì, cần cù, biết quý trọng tài nguyên thiên nhiên nhưng đã kéo dài sự lạc hậu và tư duy về kinh tế Quan niệm “ lấy cần cù bù thông minh”, “ trời sinh voi sinh cỏ” đã hạn chế rất nhiều sự phát triển của trí tuệ và khoa học trong sản xuất Đó là cơ
sở tồn tại của quan niệm coi nhẹ vai trò động lực của VH đối với kinh tế
Thêm nữa, cơ chế KT quan liêu bao cấp trước đây đã gạt VH ra ngoài quá trình sản xuất
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay cũng đang đặt ra cho VH những thời cơ và thách thức Khi chuyển sang nền KT thị trường, VH
là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng KT, góp phần thay đổi nếp nghĩ, cách làm, kích thích tính năng động sáng tạo Nhưng trong môi trường này,
VH cũng dễ nhiễm phải những căn bệnh của KTTT như chủ nghĩa cá nhân phát triển, sùng bái giá trị của đồng tiễn, lối sống thực dụng
Không ít hoạt động VH hiện nay bị lôi cuốn vào xu hướng thương mại hóa, xuất hiện những sản phẩm kém chất lượng chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận người có tiền
Đồng tiền xuất hiện với tư cách là thước đo các giá trị, đồng thời nó trở thành sức mạnh xuyên tạc bản chất tốt đẹp của con người và nhiêù quan hệ xã hội Đây là nguy cơ lớn chúng ta cần loại trừ
Phát triển nền KTTT ở nước ta hiện nay không có nghĩa là mọi giá trị xã hội, mọi sản phẩm VH đều cân đong, đo đếm theo quy luật thị trường Chúng ta thừa nhận sự chi phối của quy luật giá trị trong lĩnh vực sản xuất tinh thần trong nền KT
hàng hóa Nhưng sự định giá này còn tuân theo quy luật văn hóa, tư tưởng và đạo đức VH phải phục
vụ mục tiêu phát triển con người toàn diện, phục vụ tiến bộ, công bằng, văn minh
Sự nghiệp phát triển VH nước
ta trong thời kỳ CNH- HĐH hiện nay cần giải quyết tốt các mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, văn hóa và CNH- HĐH, văn hóa và môi trường sinh thái, vấn
đề nội sinh và ngoại nhập…
Vấn đê 3: Bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc
Bước vào thế kỉ 21 định hướng của các nước đang phát triển là khơi dậy sức sống tiềm tàng của văn hóa dân tộc để phát triển và hội nhập Đứng trước dòng xoáy của xu thế toàn cầu hóa văn minh đang diễn ra như một tất yếu, với quy mô to lớn và gia tốc mạnh
mẽ, văn hóa dân tộc đã chứng tỏ bản lĩnh vững vàng trong vai trò làm ổn định xã hội Vì vậy, ngày nay văn hóa không còn được xe như thứ hoa lá trang trí cho cỗ máy đại công nghiệp khô khan, mà nó còn là “chốt an toàn”, là “chìa khóa”, là “động lực” của phát triển Hơn thế văn hóa dân tộc còn được coi như một nguồn lực trực tiếp đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội
Ở nước ta, cùng với kinh
tế và chính trị, văn hóa đã có những đóng góp đáng kể vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Chủ tịch
Hồ Chí Minh sinh thời đã từng nói: “ Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề phải chú ý tới, cùng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa” Ngày nay đang nước vào thời kì công nghiếp hóa hiện đại hóa, nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật và cơ cấu kinh tế cho chủ nghĩa xã hội Công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn bó chặt chẽ với việc phát huy nguồn lực con người, xem đó là yếu tố cơ bản cho
sự phát triển và bền vững Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế
xã hội đến năm 2000 đã nêu ra 4 nguồn lực là: vốn, tài nguyên, khoa học – công nghệ và con người Ta biết rằng, các nguồn lực như: vốn, tài nguyên, khoa học – công nghệ không có sức mạnh tự thân, chúng chỉ được phát huy tác dụng khi kết hợp với nguồn lực con người và thông qua hoạt động của nó Với ý nghĩa đó, ta có thể xem con người là nguồn lực của mọi nguồn lực Nhưng con người bao giờ cũng sở thuộc vào một nền văn hóa, con người ở các nước
Trang 5phương Đông thưởng sở thuộc vào
văn hóa dân tộc, nó đại diện mang
những giá trị tinh hoa của văn hóa
dân tộc và cả những khuyết tật của
nền văn hóa đó Vì thế, nói phát
huy nguồn lực con người cũng tức
là phát huy nguồn nội lực của văn
hóa dân tộc
Văn hóa là tiềm lực tinh
thần của dân tộc, thể hiện ở những
giá trị hàm chứa trong vốn di sản
văn hóa dân tộc, được tích lũy từ
trong quá khứ đến hiện tại Di sản
văn hóa dân tộc tồn tại dưới 2
dạng sản phẩm: vật thể và phi vật
thể Tương ứng với quan niệm
trên, di sản văn hóa dân tộc biểu
thị như một nguồn lực kép: nguồn
lực vật thể và nguồn lực phi vật
thể ( vô hình) Vai trò của nguồn
lực vật thể trong phát triển kinh tế
- xã hội thì mọi người dễ nhận ra,
còn tác dụng vô hình thì khó nhận
thấy Chính vì thế, bài này dành
nói kĩ về vấn đề này
Trong cuốn sách “ Văn
hóa chính trị Việt Nam” – truyền
thống và hiện đại” của cố GS
Nguyễn Hồng Phong có giới thiệu
quan điểm của Viện sĩ Alain
Peyrefitte, xem “ động lực phát
triển của các nước xưa nay là yếu
tố tinh thần” Giáo sự viết: các nhà
kinh tế học cổ điển dù là tự do hay
xã hội chủ nghĩa đều xuất phát từ
nguyên lý xem hai yếu tố tư bản
và lao động có vai trò quyết định
trong phát triển Nhưng theo Alian
Peyretitte thì “ yếu tố thứ ba phi
vật chất” mới quan trọng nhất
Nhắc đến quan điểm của Viện sĩ
Peyrefitte, cố giáo sư muốn mượn
cách tiếp cận của ông để giải thích
về công cuộc canh tân ở Đông Á-
trước hết là Nhật Bản Nước Nhật
chuyển mình vào cuối thể kì 19 và
cất cánh ngay sau đó Một sư cất
cánh kì diệu mà không thể cắt
nghĩa bằng các tác nhân tài
nguyên – những thứ mà vốn Nhật
Bản rất nghèo Còn lao động thì
Nhật Bản còn thua xa Trung
Quốc Như vậy, các yếu tố tinh
thần như: ý chí tự cường, niềm tin
vào dân tộc, quyết tâm đổi mới,
tinh thần học tập để đuổi kịp các
nước tiên tiến… Tóm lại, các giá
trị văn hóa tinh thần mới là điều
kiện cho sự cất cánh của nước
Nhật Bản vào nửa đầu TK 20
Tóm lại, các thuật ngữ:
nguồn lực phi vật thể, tài sản vô
hình, tri thức, yếu tố tinh thần,
nhân tố kinh tế điều chỉ một khái
niệm chung là các giá trị tinh thần
hàm chứa trong vốn di sản văn
hóa dân tộc Mọi người đều biết:
các hữu hình thì hữu hạn, còn cái
vô hình một khi có sự tác động cải
biển của con người thì có thể trở
thành cái vô hạn Xuất phát từ
quan niệm như vậy, chúng ta có quyền nhìn nhận lạc quan về nguồn lực vô hình trong phát triển kinh tế, xã hội của nước ta, một quốc gia có truyền thống văn hóa trong nhiều thiên kỉ dựng nước và giữ nước Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao phải biến nguồn lực phi vật thể vô hình trở thành tài sản vật chất hữu hình, góp phần vào
sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta
1 Vai trò của di sản văn hóa dân tộc – nguồn lực phi vật thể trong phát triển kinh tế - xã hội Khái niệm di sản văn hóa dân tộc
Văn hóa là hoạt động sáng tạo của con người, tọa ra những hiểu biết mới, những kinh nghiệm sống, gọi chung là “thông tin”, góp phần vào sự phát triển xã hội Hoạt động sáng tạo ấy phải được thực hiện hóa thành những sản phẩm, được thu hút vào sự vận động lưu thông trong đời sống xã hội thì mới trở thành văn hóa Ví như, một người làm thơ mà chỉ những tứ thơ tồn tại trong óc mình, hoặc một nhà tạc tương mà chỉ có hình tượng điêu khắc hiện lên trong đầu óc mình, thì chưa thể gọi đó là bài thơ và tác phẩm điêu khắc được
Thực ra, trng đời sống thực tiễn – xã hội, hoạt động sáng tạo của con người diễn ra như một quá trình, tức là ý đồ sáng tạo phải được khách thể hóa thành sản phẩm, sản phẩm ấy truyền đạt đến những người xung quanh, nó được ghi vào “bộ nhớ” của xã hội, rồi trao truyền cho các thế hệ tương lai Khi ấy mới hoàn thành quá trình văn hóa
Kết quả của hoạt động văn hóa được gọi là văn hóa phẩm (tác phẩm văn hóa – ocuvre culturelle) nhờ tham gia vào quá trình trao đổi và sử dụng trong xã hội, qua sự sảng lọc và thử thách của thời gian, một bộ phận của văn hóa phẩm ưu tú đọng lại để trở thành di sản văn hóa
Như vậy, di sản văn hóa dân tộc là toàn bộ sản phẩm do các thành viên trong cộng đồng dân tộc sáng tạo, thể hiện dưới dạng những đối tượng vật thể (hữu hình) và phi vật thể (vô hình) mang tính biểu tượng, được lan tỏa (vô thức) và trao truyền (hữu thức) từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, từ thế hệ trước cho thế sau
Chúng ta biết rằng, không phải mọi sản phẩm do con người làm ra đều có thể trở thành
di sản văn hóa Vì thế, cần xác định một số nét đặc trưng của di sản văn hóa, để phân biệt nó với
sản phẩm thông thường khác Để làm rõ điều này phải xuất phát từ những đặc trưng cơ bản của văn hóa
Đặc trưng thứ nhất của văn hóa là “hiểu biết”, biểu thị ở khả năng sáng tạo và tích lũy thông tin Như vậy, trong di sản văn hóa
có chứa đựng vốn kinh nghiệm và tri thức sống của con người Ví dụ, trống dồng Ngọc Lũ chứa đựng bao nhiêu kiến thức sống mà chủ nhân của nó đương thời đã thâu gom được Chưa kể những hình khắc và hoa văn phủ đầy trên mặt và tang trống phản ánh các hình thái sinh hoạt vật chất và tinh thần của cư dân thời đó, mà ngay việc đúc đồng
đã hé mở cho chúng ta về vốn tri thức công nghệ luyện kim thời ấy
đã phát triển khá thuần thục
Đặc trưng thứ 2 của văn hóa là tính giá trị Đó là cái được xã hội coi là cao quý, đáng ao ước
Các giá trị phổ thông được mọi nền văn hóa chấp nhận là cái đúng, cái tốt, cái đẹp và có ích Di sản văn hóa nào cũng mang ít nhất một trong những phẩm chất cao quý đó
Đặc trưng thứ 3 của văn hóa là tính biểu tượng Vì vậy, mỗi
di sản văn hóa thường chứa đựng một hay nhiều ý nghĩa nào đó Toàn
bộ hệ thống hiểu tượng của một nền văn hóa trở thành ngôn ngữ của nền văn hóa đó Lê – vi Xtơ – rootsse quan niệm: văn hóa như là ngôn ngữ, là do thế
Đặc trưng thứ tư của văn hóa là tính lịch sử, vì thế bất cứ một vật thể nào đại diện cho sự kiện lịch
sử quan trọng , một giai đoạn lịch
sử tiêu biểu, hay một nhân vật lịch
sử kiệt xuất đều có thể trở thành di sản văn hóa
Một đối tượng hay sự vật không nhất thiết phải hội đủ các tiêu chí trên nhưng ít nhất phải có một tiêu chí đặc sắc, thì đối tượng hay sự vật
ấy mới trở thành di sản văn hóa
Vấn đề phân loại di sản văn hóa
Dựa theo phân loại của UNESCO, luật di sản văn hóa của nước ta chia
di sản văn hóa thành 2 loại: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể
A- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa , khoa học, bao gồm: di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
a/ Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa,khoa học
b/ Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có
sự kết hợp giữa cảnh quan thiên
nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học c/ Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
d/ Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có gái trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học có từ
100 năm tuổi trở lên
e/ Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu cho đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học
B Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công, tri thức về
y học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
Theo luật di sản, có thể hình dung di sản văn hóa tồn tại dưới hai hình thái: vật thể và phi vật thể
Ngoài ra, sự phát triển của bản thân con người với tư cách
là chủ thể của hoạt động văn hóa, cũng có thể xem là hình thái người của sự tồn tại di sản văn hóa Văn hóa, đó không chỉ là máy móc, nhà cửa, tác phẩm nghệ thuật, tri thức khoa học, mà còn là những bản chất của bản thân con người đã đạt tới trình độ phát triển tinh thần nhất định, có được những tài năng,
kĩ sảo và tri thức cần thiết cho hoạt động sáng tạo của nó Người Nhật xem tài năng của nghệ nhân dân gian như “kho báu sống” thuộc về tài sản văn hóa vô hình Ở Châu Phi ông Haphte –Ba người dân tộc Buốc –ki –na Fa sô quan niệm: khi một cụ già ở châu Phi mất đi, điều
đó có nghĩa là một thư viện cổ vừa bốc cháy Như vây, con người phát triển cao hơn thì trở thành “nhân vật văn hóa”, cao hơn nữa thành
“danh nhân văn hóa”, đều có thể xem là di sản văn hóa của một cộng đồng xã hội
Chúng ta biết rằng: con người sống mang hai bản thể: bản thể sinh vật và bản thể văn hóa Là một sinh thể, con người thuộc về
di sản vật thể, biểu hiện ở sức mạnh thể chất của nó Là một nhân cách văn hóa, nó thuộc về di sản phi vật thể, biểu hiện ở các giá trị văn hóa của cộng đồng mà nó mang vác Trường hợp “danh nhân
Trang 6văn hóa đã khuất” thì hoàn toàn
thuộc về di sản văn hóa phi vật
thể
Tóm lại, xét trên bình diện nội
dung thì di sản văn hóa tồn tại
theo 2 hình thái: vật thể và phi vật
thể Còn xét trên hình thức biểu
hiện thì di sản văn hóa tồn tài theo
ba hình thái: vật thể, phi vật thể và
con người
2 Vấn đề xác định phương hướng,
mục tiêu, xây dựng các nguyên
tắc, quy chế nhằm phát huy giá trị
di sản văn hóa dân tộc, biến nó
thành nguồn lực phi vật thể trong
phát triển kinh tế - xã hội ở nước
ta hiện nay
Qua sự phân tích ở trên,
nhận thấy việc sử dụng các giá trị
văn hóa dân tộc như nguồn lực phi
vật thể trong hoạt động kinh tế -
xã hội thực chất là vấn đề bảo tồn
và phát huy giá trị của vốn di sản
văn hóa trong điều kiện cơ chế thị
trường, định hướng xã hội chủ
nghĩa
Để phát huy tác dụng 2
nguồn lực to lớn đó, ngày
12/7/2001 Chủ tịch nước ta đã
công bố Luật Di sản văn hóa, và
Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 92/2002/NĐ – CP ngày
11/11/2002 quy định chi tiết thi
hành một số điều trong bộ luật
Luật di sản văn hóa ra
đời đã được trên 2 năm, nhưng
báo chí vẫn thường xuyên báo
động về những hiện tượng phạm
pháp Bài báo “Đi sứ” đăng trên
báo Hà Nội mới số 12534 ngày
đầu năm 2004 nói về tình trạng
những lái buôn cổ vật đi săn lùng
cổ vật vẫn diễn ra ráo riết ( tiếng
lóng của làng chơi cổ vật gọi là
“đi sứ”), là một ví dụ tiêu biểu
Bài báo cho biết: sau những cuộc
“khai quật” tự phát tại các địa
phương, dòng chảy di sản văn hóa
dân tộc vẫn đổ về các thị trường
lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, để rồi một bộ phận tinh túy
nhất của nó lại lọt ra nước ngoài
qua những kẽ hở của quản lý
Nhận thức rõ tình trạng
trên đã diễn ra từ lâu, tháng 10
năm 2003, ủy ban Văn hóa, giáo
dục, thanh niên, thiếu niên và nhi
đồng Quốc hội khóa X đã tổ chức
Hội thảo khoa học với đề tài “Vấn
đề bảo vệ và phát huy di sản văn
hóa với sự nghiệp đổi mới đất
nước” Trong Hội thảo, nhiều ý
kiến đã tập trung phân tích, kiến
nghị nhằm bổ sung, hoàn thiện về
“phương hướng,mục tiêu, xây
dựng các nguyên tắc và quy chế”
phát huy tác dụng của di sản văn
hóa giúp cho Luật di sản văn hóa
nhanh chóng đi vào cuộc sống
Chúng tôi cho rằng: nếu
minh định chính xác các thuật ngữ
trên đây nhằm thực hiện hóa các chức năng vốn có của di sản văn hóa, thì tức là đã biến nó thành nguồn lực phi vật thể để phát triển kinh tế - xã hội trong cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa Dưới đây, xin trình bầy các thuật ngữ đó, coi như phương hướng và giải pháp cho vấn đề phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc ở nước ta
2.1 Về phương hướng – mục tiêu Trong Bộ luật Di sản văn hóa, thuật ngữ mục tiêu đã được giải thích như sau, điều 12 ghi:
Di sản Văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích:
- Phát huy giá trị di sản văn hóa
vì lợi ích của toàn xã hội
- Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
- Góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế
Nhận thấy: mục tiêu của chính sách bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc cần biểu hiện
ra trên hai phương diện:
Một là, để vảo vệ di sản văn hóa dân tộc, thì cơ quan quản
lý phải tiến hành kiểm kê để nắm được toàn bộ các loại di sản văn hóa (bao gồm cả vật thể và phi vật thể) do cộng đồng các dân tộc Việt Nam để lại Đồng thời phải tổ chức việc giữ gìn một cách hợp lý , như tôn tại những di tích còn nguyên vẹn nhưng đã bị thời gian làm hư hại, chỉnh lý lại những di sản đã bị biến dạng, có thể khôi phục lại những di sản đã bị mất nếu đủ điều kiện Tiếp tục phát hiện, bổ sung những di sản văn hóa mới, nhằm không ngừng làm giàu cho vốn di sản văn hóa của dân tộc
Hai là, để phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc, thì trước hết cần có sự nhận thức đầy
đủ về nó
Lâu nay nói đến giá trị của di sản văn hóa người ta thườngchỉ đề cập đến giá trị tư tưởng gắn với chức năng giáo dục của nó Điều nay không sai, nhưng chưa đầu đủ Thực ra di sản văn hóa là một thực thể đa chức năng, nói một cách khái quát nó có chức năng kép Đó là chức năng tư tưởng và chức năng kinh tế của di sản văn hóa Với chức năng tư tưởng, di sản văn hóa biểu thị như vốn tài sản tinh thần quý báu của quốc gia, đang hiện diện như bản sắc văn hóa của dân tộc, có khả năng tạo ra nội lực cô kết cộng đồng, hình thành nền văn môi trường văn hóa, nuôi dưỡng bản lĩnh nhân cách người Việt Nam,
góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội
Để phát huy giá trị tư tưởng của di sản văn hóa, thì phải tìm cách cho giá trị ấy tiềm nhập vào đời sống tinh thần của quần chúng Đó là việc xây dựng các bảo tàng, tổ chức cho quần chúng tiếp cận rộng rãi với các dạng di sản văn hóa của đất nước, như tham quan,
du lịch, xem biểu diễn nghệ thuật truyền thống của dân tộc, v v
Di sản văn hóa còn có chức năng kinh tế, nếu đặt nó đúng vào đối tượng kinh doanh của ngành du lịch
Du lịch ngày nay đã trở thành một hướng đi quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước Xét từ góc độ văn hóa, hoạt động du lịch thực chất là hoạt động
do nhu cầu văn hóa thúc đẩy Sống lâu tại một chỗ, con người có nhu cầu xê dịch để có thể tiếp cận, khám phá tính đa dạng của thế giới hiện thực Nhu cầu đổi mới không gian sinh tồn, cũng như nhu cầu giải trí tích cực để nâng cao sức khỏe về thể chất và tinh thần, đã thôi thúc con người đến với du lịch Nhưng hoạt động du lịch chỉ có thể vận hành khi mỗi cộng đồng người sở hữu một kho tàng di sản văn hóa, được tích lũy lâu đời và có sự chăm sóc chu đáo Thống kê sơ bộ cho biết ngành VHTT nước ta đã kiểm
kê được vào khoảng 40 000 di tích văn hóa – lịch sử và cách mạng, trong đó có 5 di tích và một di sản phi vật thể đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, hơn 2.700 di tích được xếp hạnh cấp quốc gia và cấp tỉnh Đến nay, có vào khoảng 14% số di tích đã được đưa bào diện quản lý của Nhà nước
Ngoài ra còn phải kể đến vốn di sản văn hóa phi vật thể, đang tồn tại như các trầm tích văn hóa ở khắp miền đất nước Nếu đánh thức toàn
bộ tiềm năng di sản văn hóa của nước ta, thì hiển nhiên nó trở thành một nguồn lực quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước
Hoạt động của quần thể di tích Huế, của Festival Huế, của Hội An, Hạ Long… trong mấy năm qua là những dẫn chứng sinh động cho vấn
đề này
Vì vậy, theo chúng tôi cần bổ sung thêm một mục tiêu nữa là : nghiên cứu sử dụng vốn di sản văn hóa dân tộc, như một nguồn lực phi vật thể, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trong luật Di sản văn hóa của nước ta có 5 điều nói việc nhà nước cần ban hành chính “chính sách” để thực thi Luật di sản văn hóa Từ “chính sách” ở đây chỉ nên hiểu nó có giá trị như thuật ngữ
“quy chế”
Như vây, theo tôi xây dựng “cơ chế - chính sách” thực chất là xây dựng những quy tắc, để ban hành các quy chế, thể lệ tức những văn bản dưới luật sao cho phù hợp với nhu cầu của thực tiễn luôn luôn biến động, đảm bảo mọi hoạt động văn hóa diễn ra đều đi đúng quỹ đạo chính trị, mà cơ quan quản lý ngành văn hóa mong muốn
Dưới đây, sẽ đề cập đến những nguyên tắc và những quy chế cần thiết cho sự vận hành của di sản văn hóa dân tộc
2.2 Những nguyên tắc vận hành của di sản văn hóa
Để đảm bảo cho các hoạt động bảo
vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc diễn ra đúng định hướng, cần phải thực hiện đồng bộ bốn nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc giữ vững định hướng XHCN trong sự vận hành của di sản văn hóa;
- Nguyên tắc “bao dung” trong đối xử với các loại di sản văn hóa dân tộc;
- Nguyên tắc bảo vệ đi đôi với phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc;
- Nguyên tắc tái tạo ra những di sản văn hóa mới, không ngừng làm giàu cho vốn di sản văn hóa dân tộc
Dưới đây, xin lần lượt trình bày các nguyên tắc đó:
2.2.1 Nguyên tắc giữ vững định hướng XHCN
Nguyên tắc này có tầm quan trọng hàng đầu trong việc định ra kế hoạch thiết thực, hướng toàn bộ các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc phục vụ các nhiệm vụ chính trị
- xã hội, như giáo dục tinh thần đấu tranh bất khuất và lao động sáng tạo của nhân dân ta trong truyền thống bảo vệ và xây dựng
Tổ quốc; động viện mọi người biến các giá trị cao quý của truyền thống thành “hào khí” mới trong phong trào thi đua yêu nước, thực hiện cộng nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Định hướng XHCN đòi hỏi hoạt động bảo vệ và phát huy
di sản văn hóa dân tộc phải được xây dựng trên tinh thần khoa học nghiêm túc, bảo đảm tính trung thực của các tài sản văn hóa; không vì mục đích thiển cận trước mắt mà làm thiên lệch, hoặc biến dạng nó
Định hướng XHCN còn là nguyên tắc chính trị, yêu cầu mọi hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc phải tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước XHCN Điều cần nhấn mạnh là những người hoạt động
Trang 7trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy
di sản văn hóa dân tộc cần phải
tuân thủ Hiến pháp và pháp luật
của Nhà nước, nghiêm chỉnh thực
hiện Luật di sản văn hóa, đồng
thời tổ chức tuyên truyền rộng rãi
trong quần chúng nhân dân, để
mọi người hiểu luật và tự giác
chấp hành
2.2.2 Nguyên tắc “bao dung”
trong đối xử với các loại di sản
văn hóa dân tộc trong thời điểm
hiện nay có ý nghĩa quan trọng
đặc biệt Chúng ra biết rằng: văn
hóa về bản chất là mang tính bao
dung, bởi tinh thần cốt lõi của nó
là sáng tạo Mọi công trình sáng
tạo thường hay va chạm với cái
đương tồn Vì thế, để khuyến
khích hoạt động sáng tạo, người ta
phải đối xử bao dung với văn hóa
phẩm Nhà triết học người Mehico
Leoplodo Zea, trong bài trả lời
phóng viên Tạp chí “Người đưa
tin UNESCO” đã viết : “Cái thên
chốt ở đây là bao dung: phải tôn
trộng những khác biệt của kẻ
khác, để kẻ khác tôn trọng những
khác biệt của ta Trong một thế
giới có xu hướng trở thành duy
nhất, ở đó hàm chứa các vấn đề
mang tính toàn cầu, cần phải
khẳng định lại những dị biệt của
ta, những điều làm cho ta khác
người khác, song vẫn tôn trọng
những gì không giống ta mà vẫn
bình đẳng với ta Ngày nay, điều
quan trọng là có thể khác nhau
một cách bình đẳng trong khi vẫn
khác nhau” Thái độ này phù hợp
với tinh thần bao dung trong sự
chung sống của loài người mà
UNESCO đã đề xuất
Nguyên tắc bao dung
đòi hỏi mọi di sản văn hóa bất kể
nó thuộc thời đại lịch sử nào (cổ
đại, trung đại hay cận đại), thuộc
tôn giáo nào (đạo Lão, đạo Khổng,
đạo Phật, đạo Thiên chúa, tôn
giáo địa phương hay tín ngưỡng
dân gian), thuộc sở hữu của các
vương triều, của tộc người hay của
làng xã, của các tôn vương, quý
tộc, thương gia, học giả hoặc của
bất cứ cá nhân nào, nếu di sản văn
hóa ấy đủ các tiêu chuẩn xác định
như có giá trị lịch sử, văn hóa và
khoa học thì phải được đối xử như
là di sản văn hóa của dân tộc
2.2.3 Nguyên tắc thứ ba nói lên
việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc
cần gắn với các hoạt động phát
huy tác dụng của nó trong đời
sống xã hội Nói khác đi, bảo vệ di
sản văn hóa không có mục đích tự
thân, mà nhà quản lý phải đứng ra
tổ chức, thu hút quần chúng tiếp
cận với di sản văn hóa càng nhiều
càng tốt Để thực hiện điều này,
cần xây dựng hệ tiêu chuẩn, nhằm
phân loại di sản theo ba cấp:
- Cấp Trung ương quản lý những
di sản văn hóa mang tính quốc gia
- Cấp tỉnh quản lý những di sản văn hóa nổi tiếng trong tỉnh
- Còn lại, di sản văn hóa phổ thông do cấp cơ sở quản lý
Đối với di sản văn hóa cấp trung ương và cấp tỉnh, cần xây dựng các dự án, có kế hoạch phục hổi, tôn tạo, tạo ra những điểm tham quan hấp dẫn đối với khách du lịch Còn đối với các di tích phổ thông, cần xây dựng quy chế quản
lý theo tinh thần xã hội hóa, biến các di tích thành những tụ điểm văn hóa ở cơ sở
2.2.4 Nguyên tắc thứ tư cho phép những cơ quan có trách nhiệm quản lý về di sản văn hóa có quyền khôi phục lại, thậm chí tái tạo những di sản văn hóa đã bị thời gian hủy hoại, nếu xét thấy việc làm có lợi cho sự phát triển của đất nước Sở văn hóa – thông tin Hà Nội vừa qua cho khôi phục lại nhà “Thái học” bên cạnh Văn Miếu; Sở Văn hóa – thông tin Quảng Ninh xây dựng cụm di tích Bạch Đằng, xây dựng khu lăng mộ nhà Trần ở Đông Triều ( tựa như Thập tam lăng ở ngoại thành Bắc Kinh Trung Quốc)… là chủ trương đúng cần ghi nhận Nước ta
có vô số những tên đất và tên nhân vật lịch sử hấp dẫn nhưng có rất ít
di tích tưởng niệm Phòng tuyến sông Như Nguyết, cảng Vân Kết, Hàm Tử, v v đều có thể khôi phục lại bằng cách xây dựng tại những địa điểm này các hình thức tưởng niệm phù hợp với điều kiện hiện có Để khôi phục lại các di tích văn hóa – lịch sử đã bị thời gian hủy hoại, chúng ta có thể khảo sát kinh nghiệm của một số nước Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, nhất là Nhật Bản đã phục dựng xong cung điện Heijo thuộc cố đô Nara vài thế kỉ VIII sau công nguyên
Một số đề tham khảo
Đề 1: “Văn hoá có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia, dân tộc;
văn hoá có vị trí trung tâm, điều tiết xã hội; văn hoá là nguồn cổ xuý trực tiếp thúc đẩy quá trình phát triển” (F.May-ơ)
Bằng sự hiểu biết của mình, anh (chị) hãy giải thich và chứng minh nhận định trên bằng thực tiễn hiện nay ở Việt Nam
Đề 2: Đứng trước vận hội lớn và thách thức lớn,
để tiếp tục thành công sự nghiệp đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, trong đường lối phát triển kinh tế xã hội của mình, Đảng ta đã xác định:
phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng đảng là then chốt, coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển
Bằng sự hiểu biết của mình, anh (chị) hãy giải thich và chứng minh quan điểm trên bằng thực tiễn hiện nay ở Việt Nam
Đề 3:
“ Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện Văn hóa là kết quả của kinh tế, đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội”
( Bằng sự hiểu biết của mình, anh (chị)
hãy giải thich và chứng minh quan điểm trên bằng thực tiễn hiện nay ở Việt Nam
Đề 4: Từ các luận điểm:
- “ Văn hóa là hệ thống các giá trị mang tính biểu tượng” (GS Trần Ngọc Thêm)
- “ Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội” (Nghị quyết TW5 khóa VIII)
- “ Văn hóa điều tiết sự phát triển xã hội” (GS Ngô Đức Thịnh)
Anh (chị) hãy trình bày về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển xã hội Từ đó hãy liên
hệ với tình hình Việt Nam hiện nay
Đề 5: Anh (chị) hãy chứng minh rằng xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước
Đề 6:
“ Văn hóa là tiềm lực tinh thần của dân tộc, thể hiện ở những giá trị hàm chứa trong vốn di sản văn hóa dân tộc, được tích lũy từ trong quá khứ đến hiện tại.”
Anh (chị ) hãy trình bày vai trò của di sản văn hóa dân tộc đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay
Đề 7:
“Kinh tế và văn hoá gắn
bó với nhau hết sức chặt chẽ: kinh
tế không tự mình phát triển nếu thiếu nền tảng văn hoá và văn hoá không phải là sản phẩm thụ động của kinh tế Phát triển trên cơ sở kết hợp hài hòa kinh tế và văn hoá là sự phát triển năng động, có hiệu quả và vững chắc nhất”
(Báo cáo của Chủ tịch HĐBT Võ Văn Kiệt tại kỳ họp thứ
X, Quốc Hội khóa VIII)
Bằng sự hiểu biết của mình, anh (chị) hãy giải thích và chứng minh luận điểm trên
1 Để làm tốt bài thi Lý luận văn hóa thì trước hết phải hiểu và nắm chắc kiến thức Văn hóa học đại cương Bởi Lý luận văn hóa là sự vận dụng các lý thuyết văn hóa để giải quyết các vấn đề văn hóa xã hội
ở VN Vì thế theo tôi, chúng ta nhất thiết phải nắm chắc các vấn đề sau của Văn hóa học đại cương:
- Khái niệm/ quan niệm Văn hóa
Trong các bài thi nên sử dụng quan niệm văn hóa của chủ tịch HCM, Unesco, GS Hoàng Vinh Cách đưa
quan niệm VH vào một cách khéo léo chúng ta nên viết “ Để làm rõ quan điểm của Đảng ta về vấn đề này, trước hết, chúng ta cần làm rõ thuật ngữ văn hoá.”
- Các đặc trưng của VH : Tính nhân sinh, tính lịch sử, tính dân tộc, tính hệ thống, tính giá trị (Cái này nên tìm đọc trong CSVHVN của Trần Ngọc Thêm)
- Cơ cấu của VH : Một số tài liệu thường viết là cấu trúc văn hóa Cần chú ý: Mối quan hệ giữa văn hóa vật chất- văn hóa tinh thần, văn hóa cá nhân- văn hóa cộng đồng
- Các chức năng của VH
- 2 quy luật kế thừa văn hóa và giao lưu- tiếp biến văn hóa Khi có kiến thức chắc chắn về vấn
đề lý thuyết này các anh (chị) dễ dàng sử dụng linh hoạt trong các
đề thi
2 Sau đó, các anh (chị), các bạn nên học 3 vấn đề quan trọng mà những năm gần đây thường thi:
- Vấn đề 1: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
- Vấn đề 2: Văn hóa và phát triển ( Văn hóa là nền tảng tinh thần của
xã hội, là mục tiêu, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội)
- Vấn đề 3: Bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc
3 Trong các bài thi một phần vô cùng quan trọng là sự vận dụng vào thực tiễn Dù đề thi có thể không ghi ra là “hãy liên hệ thực tiễn” nhưng nhất thiết lúc làm bài cần phải có phần này Vì thế, chúng ta cần tìm hiểu thông tin về các vấn đề trên hiện nay (như toàn cầu hóa, bảo tồn di sản VH ở VN ) để đưa vào bài viết Nếu đang công tác tại các cơ quan văn hóa các anh (chị) có thể vận dụng chính thực tiễn công việc của mình Những bài làm đó vô cùng
có giá trị
4 Cấu trúc đề thi trong những năm gần đây thường đưa ra theo 2 dạng
- Hỏi trực tiếp luôn vấn đề
- Cho 1 câu nói, 1 quan điểm để phân tích- chứng minh Do đó, nhất thiết phải hiểu quan điểm đó thuộc 1 trong 3 vấn đề nào ở trên
để xác định đúng hướng
Cuối cùng là một số đề thi
để các anh (chị) và các bạn tham khảo Chúc mọi người thành công
và đạt kết quả cao trong kỳ thi sắp tới!