Câu 26 – Phân tích định nghĩa ý thức xã hội và tồn tại xã hội Trong lĩnh vực DVLS, phạm trù TTXH và YTXH là hai phạm trù cơ bản. TTXH là toàn bộ đời sống vật chất của xã hội. Trong những quan hệ xã hội VC, thì quan hệ giữa người với TN và quan hệ VC giữa người với người là hai loại quan hệ cơ bản. TTXH bao gồm các yếu tố chính là PTSXVC, điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số…, trong đó PTSX VC là yếu tố cơ bản nhất. YTXH là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống… nảy sinh từ TTXH và phản ánh TTXH trong những giai đoạn phát triển nhất đinh. Tùy theo góc độ xem xét, YTXH có thể được phân thành các dạng sau: Yếu tố thông thường và yếu tố lý luận: YTXH thông thường là những tri thức, nhưng quan niệm của con người hình thành một cách trực tiếp trong hoạt động thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa. YT lý luận là những tư tưởng, quan điểm được hệ thống hóa, khái quát hóa thành các học thuyết xã hội, hoặc được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật. Hai dạng của YTXH có mối liên hệ, bổ trợ lẫn nhau. YT thông thường thường phản ánh sinh động, trực tiếp nhiều mặt và chi phối cuộc sosongs hàng ngày của con người. Trình độ YT thông thưowfng tuy thấp hơn so với YT lý luận nhưng những tri thức kinh nghiệm phong phú của nó là tiền đề quan63 trọng cho sự hình thành các lý thuyết KH. Ngược lại, YT lý luận có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ bản chất của các SV – HT....
Trang 1Câu 1: Vấn đề cơ bản của triết học và các trường phái triết học ?
- Triết học: là một trong những hình thái ý thức XH, là học thuyết ncứu về những vđề chung nhất của tự nhiên, XH, con người của mqhệ giữa con người nói chung và tư duy con người nói riêng với
TG xung quanh họ
- TH là một trong những h.thái ý thức XH xuất hiện từ khá sớm trong lsử Nó có ng.gốc từ nhận thức và ng.gốc XH Xuất phát từ ycầu đòi hỏi cần khái quát hoá, trừu tượng hoá những tri thức của con người và chỉ khi con người đạt đến một trình độ nhận thức khái quát, trừu tượng nhất định thì mới xhiện triết học
Mặt khác về mặt XH, sự phát triển của sxuất, XH cũng ptriển đến tr.độ nhất định Có sự phân công
lđ trí óc, lđ chân tay thì mới có đkiện xhiện những triết gia, những trường phía TH
- TH ncứu những qluật chung nhất có trong cả XH, tự nhiên, tư duy con người Sự ncứu của TH dựa trên csở t.kết sự khái quát lsử của các ngành KH, dựa trên tư liệu của các ngành KH đó, đồng thời dựa trên csở tổng kết chính lsử của bản thân TH
Vđề cbản của mọi trường phái TH từ trước đến nay là qhệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tâm và vật hay còn gọi là giữa ý thức và vật chất
Chính vì vậy Mác-Anghen đã khẳng định: “ Vđề cbản của mọi TH, đbiệt của TH hiện đại là vđề qhệ giữa tư duy và tồn tại”
Việc giải quyết mqhệ giữa VC và YT sẽ đặt nền móng cho sự giải quyết các vđề căn bản khác trong
TH Từ việc giải quyết mqhệ này mà lsử TH nhân loại phân chia thành 2 trường phái đối lập nhau là Duy vật và Duy tâm
Sở dĩ qhệ giữa tư duy và tồn tại trở thành vđề cbản của TH vì:
+ Đây là vđề xuyên suốt lsử của TH từ trước đến nay mà bất cứ trường phái, học thuyết TH nào cũng phải đề cập giải quyết nó Các học thuyết các trường phái TH dù có khác nhau đến mấy thì câu hỏi đặt ra trước hết và cần phải giải quyết là TG được con người tạo ra trong đầu óc của họ có qhệ ntnào với TG bên ngoài Việc giải quyết mqhệ giữa VC và YT là điểm xuất phát và lad csở để giải quyết những vđề lớn khác của TH
+ Thông qua việc giải quyết mqhệ này để phân định sự khác nhau về mặt lập trường và TG quan của các nhà TH và để phân chia các hệ thống TH khác nhau trong lsử và đương đại
* Nội dung của vđề cbản của TH bgồm:
- Mặt thứ nhất nhằm trả lời câu hỏi: VC và YT cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
- Mặt thứ hai: YT của con người có khả năng nhận biết đúng đắn, chính xác, trung thực bản chất, qluật vđề của TG khách quan hay ko? Con người có khả năng nhận biết TG xquanh mình được hay ko?
Căn cứ vào việc giải quyết mặt thứ nhất của vđề cbản của TH, từ trong lsử TH đã được pchia thành những trường phái lớn sau đây:
Trường phái 1 Những nhà TH cho rằng VC, giới tự nhiên có trước và giữ vtrò quyết định đvới YT
con người được gọi là các nhà duy vật và học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của CNDV
CNDV trong lsử đã hình thành, ptriển qua 3 hình thái nổi bật:
+ CNDV thời cổ đại mang tính chất phác, ngây thơ và chủ yếu dựa trên quan sát trực tiếp, cảm tính chưa có csở KH ( âm dương ngũ hành ở Trung Quốc - đất, nước,lửa, khí ở Ấn Độ - Khí…Phương Tây)
+ CNDV siêu hình máy móc ở thế kỉ 17 -18 Hình thái này bị ảnh hưởng bởi phương pháp tư duy của các môn KH tự nhiên đặc biệt là vật lý học Nó nhìn nhận, giải thích TG trong trạng thái ko vận động, ptriển, ko có mlhệ hoặc có thì cũng chỉ diễn ra như là sự vận hành của các hệ thống máy móc khác nhau mà thôi
+ CNDV biện chứng có đặc điểm nổi bật là: CNDV có sự thống nhất, kết hợp chặt chẽ với phép biện chứng và được xdựng trên csở kế thừa những thành tựu lý luận của nhân loại, đồng thời khái quát được thành tựu của các KH chuyên ngành
Ngoài ra trong lsử ptriển của CNDV còn có CNDV tầm thường ( đồng nhất VC với YT và xem nhẹ vtrò của YT), và hình thái chủ nghĩa CNDV ktế ( trong đó xem ktế là nhân tố duy nhất quyết
Trang 2định sự tồn tại và ptriển của XH)
Trường phái 2 Những người cho rằng tinh thần là cái có trước và có vtrò quyết định, sinh ra VC
được gọi là các nhà TH duy tâm và học thuyết, quan điểm của họ hợp thành các môn phái khác nhau của CNDT
CNDT tồn tại và phát triển dưới 2 hình thức sau đây:
+ CNDT khách quan (Praton, Heghen) cho rằng có một thực thể tinh thần hay ý niệm tuyệt đối ko những tồn tại trước, tồn tại ở bên ngoài độc lập với con người và TG vật chất mà còn sản sinh và quyết định sự tồn tại, ptriển của TG VC và con người
+ CNDT chủ quan( Becoli, Hium) cho rằng cảm giác và YT của con người là cái có trước và tồn tại sẵn có trong con người, mọi sự vật hay TG VC chỉ là kết quả của sự phức hợp của cảm giác mà thôi ( ĐH VI Đảng phân tích chủ quan duy ý chí…)
Tuy có sự khác nhau trong quan niệm cụ thể về cái có trước và về sự có trước, nhưng cả 2 dạng của CNDT đều thống nhất với nhau ở chỗ coi YT, tinh thần là cái có trước, là cái sản sinh ra VC và quyết định VC ( CNDT thường có csở lý luận của tôn giao)
- Trong lsử TH luôn luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT với tính chất là 2 đảng phái chính trong TH Cuộc đấu tranh đó tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của tư duy TH Đồng thời cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT cũng biểu hiện bằng cách này hay cánh khác cuộc đấu trạnh hệ tư tưởng của các giai cấp đối địch trong XH
Ngoài 2 trường phái chính trên đây còn có trường phái thứ 3: Những nhà TH cho rằng VC và YT
là 2 nguyên thể song song tồn tại ko cái nào quyết định cái nào, cả hai cùng là nguồn gốc tạo ra TG được gọi là các nhà nhị nguyên và học thuyết của họ hợp thành học thuyết nhị nguyên luận ( Deacton)
+ Căn cứ vào việc giải quyết mặt thứ hai của vđề cbản của TH là con người có khả năng nhận thức được TG khách quan hay ko thì trong lsử TH đã pchia thành 2 trường phái đối lập nhau: Khẳng định
và Phủ định
Trường phái thứ nhất cho rằng con người ko có khả năng nhận biết đươc TG xung quanh hoặc chỉ nhận biết được vẻ bên ngoài của TG mà thôi ( tiêu biếu là thuyết ko thể biết - bất khả tri của Hium
va Cantơ)
Trường phái thứ 2 cho rằng con người có khả năng nhận biết được TG từ hiện trạng đến bản chất,
từ tất nhiên đến ngẫu nhiên, từ rời rạc dến qui luật
Với sự ra đời của mình TH Mác- Lênin đã tạo nên sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng trong lsử ptriển TH của nhân loại Giải thoát CNDV khỏi tính hạn chế siêu hình, Mác đã làm cho CNDV trở nên hoàn bị và mở rộng hoạ thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức XH loài người, CNDV lsử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng KH Đó là một cuộc cách mạng thực sự trong TH về XH
Câu 2: Quan niệm của các nhà triết học duy vật trước C.Mác về Vật chất?
Việc tìm hiểu, khám phá về bản chất, cấu trúc, sự tồn tại của TG xung quanh mà trước hết là
Trang 3TG các vật thể hữu hình luôn luôn là một vđề được quan tâm trong lsử nhận thức của nhân loại Các trường phái TH đều đặt vđề qhệ VC-YT là nvụ trugn tâm cbản của mình Vì vậy, phạm trù VC được xhiện từ rất sớm ( trong TH HY lạp ở tkì cổ đại) và ngay từ đầu đã diễn ra cuộc đtranh ko khoan nhượng giữa CNDV và CNDT xung quanh viêch nhận thức và lý giải về VC CNDT tìm mọi cách phủ nhận VC và họ cho rằng csở tồn tại của TG hoặc là do một thực thể tinh thần nào đó quyết định hoặc là do ý muốn, YT, cảm giác của con người tạo thành Ngược lại, CNDV khẳng định csở tồn tại của TG là VC, VC tồn tại khách quan, vinhc cửu, tạo nên mọi SV-HT trong TG Tuy nhiên, việc lập luận và lý giải về VC của các nhà TH ở tkì trước Mác là ko thống nhất với nhau
Vào tkì cổ đại, ở Hi Lạp nói riêng, ở phương Tây nói chung các nhà TH DV đã đồng nhất VC nói
chung với các dạng cụ thể nào đó của nó, tức là những vật thể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở TG bên ngoài Chẳng hạn Talét coi thực thể của TG là nước, Anaximen coi thực thể đó là không khí, với Hêraclit thực thể đó là lửa, còn với Ămpêđoclơ thì thực thể đó bgồm cả 4 ytố: đất, nước, lửa và không khí…Đỉnh cao trong quan niệm về vật chất ở tkì cổ đại là thuyết nguyên tử của Lơxip và Đêmocrip Theo thuyết này thì VC là nguyên tử và nó là phần tử nhỏ bé nhất, ko thể phân chia được, ko thể xâm nhập, ko quan sát được và nói chung là ko nhận biết đươc Nguyên tử chỉ có thể nhận biết được bằng tư duy Nguyên tử có vô vàn hình dạng Sự kết hợp hay tách rời các nguyên tử theo các trật tự khác nhau sẽ tạo nên những SV-HT khác nhau Thuyết nguyên tử cổ đại tồn tại đến cuối thế kỉ 19 đầu tkỉ 20 mới bị KH đánh đổ, và tất nhiên nó còn có những hạn chế lsử nhất định Song thuyết nguyên tử đã có vtrò to lớn trong việc định hướng cho sự ptriển KH nói chung đbiệt là lvực vật lý sau này Đồng thời nó có tác dụng to lớn trong cuộc đấu tranh chống CNDT, thần học, tôn giáo
Vào tkì cổ đại ở phương đông quan niệm VC được thể hiện qua một só trường phái TH Ấn Độ và
Thuyết ngũ hànhcủa Trung Hoa cổ đại lại có xu hướng phân tích về cấu trúc của vạn vật để qui nó
về những ytố khởi nguyên với tính chất khác nhau và sự tương tác khác nhau Theo thuyết này có 5 ytố khác nhau tạo nên vạn vật là: K-M-T-H-T
+ Kim tượng trưng cho tính chất trắng, khô, cay, ở phía Tây
+ Mộc - xanh, chua, ở phía Đông
+ Thuỷ - đen, mặn, ở phía Bắc
+ Hoả - đỏ, đắng, ở phía Nam
Vào tkì cận đại ( tkỉ 17, 18 ) nền KH tự nhiên, thực nghiệm ở Châu Âu có sự ptriển mạnh mẽ Đặc
biệt là trên lvực vật lý học với phát minh của Niu-ton, phương pháp nghiên cứu ở trong vật lý đã xâm nhập ảnh hưởng rất lớn vào trong TH Sự xâm nhập ấy đã chi phối sự hiểu biết, nhận thức về vật chất, mọi hiện tượng tự nhiên đã được giải thích là sự tác động qua lại giữa lực hút và lức đẩy giữa các SV Mọi sự phân biệt về chất giữa các SV đều bị quy giản về sự khác nhau về mặt lượng
Vì vậy, các nhà THDV tkì này đã đồng nhất vật chất với khối lượng; kế thừa quan điểm nguyên tử
Trang 4luận của thời cổ đại vẫn coi nguyên tử là dạng vật chất nhỏ bé nhất ko thể pchia được, tách rời nguyên tử với vận động, ko gian, thời gian, coi vận động của VC chỉ là vận động cơ học ( sự thay đổi của nó chỉ là mặt vtrí, hình thể trong ko gian ) Họ lý giải ng.nhân của sự vận động đó là do tác động từ bên ngoài dẫn đến thừa nhận “cái hích của thượng đế”
Vào tkỉ 19, trong nền TH cổđiển Đứcm xhiện nhà THDV vĩ đại là Phoiơbắc, ông đã chứng minh và
khẳng định rằng TG này là vật chất và vật chất theo ông là toàn bộ TG tự nhiên Nó ko do ai stạo ra, tồn tại độc lập với ythức và ko phục thuộc vào bất cứ thực thể tinh thần hay 1 ý niệm nào đó Csở tồn tại của VC nằm ngay trong bản thân nó Tuy nhiên, Phobách lại ko thấy được mqh giữa VC và
YT, mqh giữa con người và XH, cũng như hoạt động VC của con người là gì Mặc dù vậy những qniệm của ông về VC đã có ý nghĩa lsử to lớn trong cuộc đtranh chống CNDT và tôn giáo, trong việc khôi phục những tư tưởng DV thành hệ thống Và vì vậy THDV của ông đã trở thành một trong những tiền đề, nggốc lý luận của TH Mác xít sau này
Đến cuối tkỉ 19 đầu tkỉ 20, những phát hiện mới trong vật lý học đã làm đảo lộn qniệm máy móc,
siêu hình về VC và tạo csở KH vững chắc cho qniệm về VC của TH Mác Năm 1895 Rơn-ghen phát hiện tia X; năm 1896 Béc-cơ-ren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ của ngtố U-ran; 1897 Tôm-xơn phát hiện ra điện tử; 1898-1902 ông bà Quy-ri khám phá các phóng xạ mạnh là pô-lô-ni và ra-đi Tất
cả những phát hiện đó chứng tở dứt khoát rằng nguyên tử ko phải là nhỏ nhất, mà có thể bị phân rã chuyển hoá
Năm 1905 thuyết tương đối hẹp của Anh-xtanh ra đời, từ đó trở đi KH đã chứng minh rằng khối lượng ko phải là bất biến và có ko đặc trưng cho VC nói chung được Hàng loạt những phát hiện tiếp theo, cho đến nay ta đã biết có gần 299 hạt cbản và mỗi hạt cbản đó cũng là cả một TG có kết cấu và thuộc tính vô tận ở bên trong Mọi đối tượng VC đều là những hệ thống kết cấu bao hàm nhiều nhân tố khcá nhau hợp thành Trong từng hệ thống, mỗi nhân tố đều có tính độc lập tương đối
củ nó, nhưng tất cả đều có quan hệ chuyển hoá qua lại, thâm nhập vào nhau, tạo nên những nội dung tổng hợp, Những tính chất mới chung cho toàn bộ hệ thống mà từng nhân tố riêng biệt ko có Mỗi
SV đều là 1 hệ thống toàn bộ, chỉnh thể của nhiều nhân tố
Trong TG ko có và ko thể có những đối tượng ko có kết cấu, tức ko thể có đơn vị cuối cùng để đặc trưng chung cho VC Chính vì thế dự đoán thiên tài của Lênin cho rằng “ điện tử cũng vô cùng như nguyên tử, tự nhiên là vô tân” đã htoàn được KH hiện đại xác minh Mặt khác, Kh cũng đme lại hang loạt những phát hiện chứng minh rằng mọi đối tượng VC với tất cả những thuộc tính cụ thể của nó ko phải là bất biến, tất cả đều ko ngừng sinh ra và ko ngừng chuyển hoá thành cái khác Vdụ:
sự chuyển hoá giữa hạt và trường, hạt và phản hạt, hạt khối lượng, qhệ bất định… tất cả đều chững
tỏ tính đa dạng, phong phú của TG do vận động, chuyển hoá của các đối tượng VC tạo ra
Từ những phát hiện mới của Vật lý, có những nhà KH “giỏi KH nhưng kém cỏi về TH” đã rút ra những kết luận sai lầm về mặt TG quan như sau:
+ Nguyên tử ko phải là đơn vị nhỏ nhất, có thể bị pchia, bị tan rã, bị “mất đi”, do đó VC có thể bị biến mất
+ Qui luật học ko còn tác dụng gì trong TG “kì lạ” này nữa, phải chăng TG tồn tại ko có tính qluật
gì nữa, KH sẽ trở thành thừa ?
+ Có hiện tượng ko có khối lượng cơ học, hạt chuyển thành trường như vậy phải chăng VC chỉ còn
là năng lượng, là song phi VC ?
Từ những kết luận đó, nhiều nhà KH tự nhiên đã trượt từ CNDV máy móc, siêu hình, đến chủ nghĩa tương đối, hoài nghi rồi đến CNDT Lê-nin cho đó là: “một bước ngoặt nhất thời, là mọt tkì
ốm đau ngắn ngủi trong lsử KH, một chứng bệnh của trưởng thành” và để giải quyết cuộc khủng hoảng này Lê-nin cho rằng: “ tinh thần duy vật cbản của vật lý học, cũng như của tất cả KH tự nhiên hiện đại sẽ chiến thắng được tất cả mọi thứ khủng hoảng, nhưng với đkiện tất yếu là CNDV biện chứng phải thay thế CNDV siêu hình”
- Mác đã nêu ra qniệm về sự đối lập giữa VC và YT, về bản chất và tính thống nhất VC của TG, về tính chất khát quát của phạm trù VC và sự tồn tại của VC dưới các dạng cụ thể Lê-nin đã đem đối lập VC với YT để định nghĩa VC là đặc điểm mới trong qniệm của CNDV Mác xít về VC Điều đó
đã giải quyết được về mặt nhận thức luận trong vật lý học đầu tkỉ 20 và khẳng định một cách chắc chắn sự đúng đắn của qniệm DV trước mác chưa làm được
Trang 5TL: Các nhà TH DV trước Mác trong cuộc đấu tranh chống CNDT đã hết sức qtâm giải quyết vđề
cốt lõi là VC Họ đã đưa ra những kiến giải khác nhau về VC và qua đó đã có những đóng góp hết sức quan trọng đvới lsử ptriển của TH DV Tuy nhiên tất cả họ đều mắc phải hạn chế lớn nhất là đã đồng nhất VC với vật thể hoặc một thuộc tính nào đó của vật thể., họ ko thấy được sự tồn tại của VC gắn liền với vận động và họ ko chỉ ra được biểu hiện của VC trong đời sống XH và chỉ đến khi TH Mác xít xuất hiện thì phạm trù VC mới được giải quyết một cách KH
Câu 3: Định nghĩa vật chất của Lê-nin?
VC với tính cách là một phạm trù TH đã ra đời trong TH Hy Lạp ở tkì cổ đại Ngay từ lúc mới xuất
Trang 6hiện, xung quanh phạm trù này diễn ra cuộc đấu tranh ko khoan nhượng giữa CNDV và CNDT Cùng với sự tiến triển của tri thức loài người, đến nay nội dung của phạm trù này đã trải qua những biến đổi sâu sắc
Vào thời đại của mình C.Mác –Ănghen đã đưa ra qniệm về VC như sau: “VC với tính chất là VC,
là môt sự stạo thuần tuý của tư duy, là sự trừu tượng hóa thuần tuý Chúng ta bỏ qua những sự khác nhau về chất của những SV mà chúng ta gộp chúng, với tư cách là những SV tồn tại hữu hình vào khái niệm VC Do đó, khác với những VC nhất đinh và đang tồn tại, VC với tính cách là VC ko có
sự tồn tại cảm tính” Như vậy, trong tư tưởng của mình, Mác-Ănghen đã nhấn mạnh VC là cái tồn tại khách quan bên ngoài YT và để hiểu được VC thì phải trừu tượng hoá Nó ko phải là một dạng
cụ thể nào đó mà chỉ bằng cảm tính người ta có thể nhận biết được nó Tuy nhiên do có những hchế
về đkiện lsử khách quan nên M-Ăg đã chưa đưa ra được một định nghĩa hoàn chỉnh về VC
Vào cuối tkỉ 19-đầu tkỉ 20, KH tự nhiên và những đkiện lsử, ktế, XH…dã có những thay đổi lớn, lquan trực tiếp đến vđề cbản của TH và đòi hỏi phải có nhận thức mới, qniệm mới về VC
Trên lvực KH tự nhiên 1895 Rơn-ghen phát hiện ra một tia lạ (tia X)- đó là một song điện từ có khả năng xuyên thấu Năm 1896 Béc-cơ-ren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ của ngtố U-ran 1897 Tôm-xơn phát hiện ra điện tử(e) và chứng minh được rằng điện tử là một thành phần cấu tạo nên nguyên tử Năm 1901 Kaufman chứng minh được khối lượng của điện tử ko phải là khối lượng tĩnh
mà thay đổi theo tố độ vận động của nó, Như vậy, KH tự nhiên với những phát minh đó đã bác bỏ một cách trtực diện những quan điểm siêu hình về VC Những qniệm về giới hạn cuối cùng của VC
là nguyên tử, nó ko thể pchia được, ko thể xuyên qua, khối lượng của nó là ko thể thay đổi đã sụp đổ htoàn trước những phát minh KH Điều này đã gây nên cú sốc, sự hoang mang cho các nhà KH tự nhiên và xuất hiện cuộc khủng hoảng trên lvực vật lý học
Trên bình diện TH của những người theo CNDT đã lợi dụng những phát minh KH để tấn công CNDV, phủ nhận CN Mác Họ cho rằng VC đã tiêu tan vì vậy CNDV ko có csở để tồn tại, họ cho rằng chỉ có YT và thần linh tồn tại Vì vậy, nhiệm vụ cần khái quát những thành tựu của KH tự nhiên đưa TH Mác lên một tầm cao mới và XD một định nghĩa hoản chỉnh về VC đã được đặt ra
Về mặt lsử XH, đầu tkỉ 20 trung tâm của cách mạng TG đã chuyển dần từ Tây Âu sang Đông Âu tập trung ở nước Nga, nơi mà những mâu thuẫn về giai cấp, dtộc, XH ngày càng trở nên gay gắt Những đkiện khách quan và chủ quan cho một cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga đang tới gần Cuộc đấu tranh trên bình diện tư tưởng, bình diện lý luận giữa những người cộng sản với CN cơ hội, xét lại, duy tâm…đang diễn ra quyết liệt, vđề bvệ, ptriển TH Mác-Ănghen làm csở phương pháp luận cho cuộc cách mạng sắp tới đã được đặt ra 1 chách trực tiếp
Từ tất cả những ycầu đó đã đặt ra vđề cần phải bvệ và ptriển THDV cảu Mác chống lại CNDT, CN
cơ hội, giải quyết cuộc khủng hoảng trên lĩnh vực vật lý và KH tự nhiên, chuẩn bị về mặt lý luận cho cuộc cách mạng vô sản đang tới gần Lê-nin đã viết một tác phẩm quan trọng: “CNDV và CN kinh nghiệm phê phán” và chính trong tác phẩm này khái niệm VC đã được định nghĩa 1 cách rõ rang, mang tính kinh điển Theo Lê-nin: “VC là một phạm trù TH dung để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác cảu chúng ta sao lại, chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại ko lệ thuộc vào cảm giác”
Với định nghĩa này, trước hết Lê-nin khẳng định VC là một phạm trù TH tức là VC là đối tượng nghiên cứu của TH Nó là VC mói chung ko phải là các vật thể với tư cách là đối tượng của các ngành KH cụ thể
- VC là cái tồn taị khách quan ở bên ngoài YT, ko phụ thuộc vào YT, tất cả những gì tồn tại ở bên ngoài và ko phục thuộc vào YT của con người thì đều thuộc về phạm trù VC Đây là thuộc tính cbản nhất, chung nhất của mọi dạng VC Là cái căn bản để phân biệt đâu là VC, đâu ko phải là VC
- VC cũng là cái gây nên ở con người cảm giác về cự tồn tại của chúng, khi nó tác động lên các giác quan của con người bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hay gián tiếp Điều này có nghĩa là VC
lá cái có thật tồn tại thực sự và con người hoàn toàn có thể nhận biết được sự tồn tại đó, thông qua các phương tiện công cụ KH VC ko phải là cái hư vô hoặc là cái thần bí để con người ko thể nhận biết được nó Nghĩa là ngoài dấu hiệu tồn tại khách quan, VC còn có thể có một thuộc tính quan trọng khác là tính có thể nhận thức được Vì vậy, về nguyên tắc, ko có đối tượng nào ko thể nhận biết, chỉ có những đối tượng chưa được nhận thức mà thôi Điều này đã bác bỏ h.toàn thuyết ko thể
Trang 7biết, cổ vũ và động viên các nhà KH ngày càng đi sâu vào TG VC, phát hiện những kết cấu mới, những thuộc tính mới cung như qluật vận động và ptriển cảu TG, từ đố làm giàu thêm kho tang tri thức nhân loại
-VC cũnglà cái mà cảm giác của con người, tư duy, YT con người chẳng qua chỉ là sự phản ánh về
nó mà thôi.Điều này chứng tỏ VC là cái có trước, còn YT về VC là cái có sau Những nội dung của
YT chẳng qua là từ TG VC được di chuyển vào trong bộ óc con người
Cần chú ý, về mặt phương pháp, Lê-nin chỉ ra rằng ko thể định nghĩa VC bằng phương pháp định nghĩa các khái niệm thông thường, nghĩa là qui khái niệm cần định nghĩa vào các khái niệm rộng hơn nó rồi chỉ ra đặc điểm của nó
Nhưng với phạm trù VC, với tư cách là một phạm trù TH- một phạm trù “rộng đến cùng cực, rộng nhất, mà cho đến nay, thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt quá được” Với phạm trù này, phương pháp định nghĩa thông thường- quy phạm trù cần định nghĩa vào một phạm trù khác rộng hơn, đồng thời chỉ ra đặc điểm riêng của nó- trở thành bất lực Người ta ko thể qui VC vào một phạm trù nào rộng hơn nó Do vậy, ko thể có phạm trù nào rộng hơn phạm trù VC – thì duy nhất về mặt phương pháp luận chỉ có thể định nghĩa VC bằng cách đối lập nó tuyệt đối với YT, xem VC là thực tại khách quan tồn tại độc lập với YT, YT là cái phản ảnh nó Lê-nin khẳng định “ VC ko phải là cái gì khác hơn là thực tại khách quan tồn tại độc lâp với YT con người, và được YT con người phản ánh” Chú ý: Sự đối lập giữa VC và YT vừa mang ý nghĩa tuyệt đối, vừa mang ý nghĩa tương đối Tuyệt đối là ở chỗ trên phương diện nhận thức luận để nhằm phân biệt rạch ròi cái gì là VC, cái gì ko phải
là VC nhằm khẳng định VC có trước, YT có sau Còn tương đối là ở chỗ nói về qhệ biện chứng và
sự tác động qua lại giữa VC và YT nhằm khẳng định nguồn gốc nội dung của YT lại có liên quan mật thiết với VC
Lê-nin từng nhấn mạnh: “ Dĩ nhiên sự đối lập giữa VC và YT có ý nghĩa hết sức hẹp trong vđề nhận thức luận về cbản là thừa nhận cái gì là có trước cái gì là có sau Ngoài ra ko còn nghi ngờ gì nữa, rằng sự đối lập ấy chỉ là tương đối”
Định nghĩa về VC của Lê-nin là kết quả của sự khái quát những thành tựu KH và hoạt động thực tiễn của con người Định nghĩa này đã khắc phục được những nhược điểm, khiếm khuyết trong qniệm, quan điểm của các nhà DV trước đây về VC, đã bvệ và ptriển TH Mác lên một tầm cao mới Khắc phục được cuộc khủng hoảng trên lvực vật lý, định hướng cho các nhà KH tự nhiên tiếp tục nghiên cứu, phát minh ra các dạng khác nhau của VC Nó có ý nghĩa TG quan và phương pháp luận rất quan trọng trong việc nhận thức và cải tạo TG, trong cuộc đấu tranh chống CNDT, thuyết ko thể biết, CNDV siêu hình và mọi biến tướng của chúng trong các trào lưu TH tư sản hiện đại
Đồng thời thông qua định nghĩa VC, Lê-nin đã giúp cho các nhà KH xác định rõ hơn về các dạng
VC cụ thể, đặc biệt là trên lvực XH, có csở lý luận để giải thích những nguyên nhân cuối cùng của những biến cố XH, những nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức SX, trên csửo đó, người ta có thể tìm ra phương án tối ưu để hoạt động thúc đẩy XH ptriển
Câu 4: quan điểm Mác xít về vận động
Trong TH, bàn về phạm trù VC luôn gắn liền với việc phải bàn tới các phạm trù liên quan tới sự
Trang 8tồn tại của nó Đó là phạm trù vận động, ko gian và thời gian Những phạm trù trên xuất hiện rất sớm trong lsử TH Cùng với thời gian, nội dung của các phạm trù trên đã đượ làm phong phú, sâu sắc thêm nhờ sự phát triển của các KH cụ thể Vậy vận động là gì ? Các trường phái TH khác nhau
có quan điểm hết sức khác nhau về vận động
CNDT, xuất phát từ lập trường phủ nhận sự tồn tại của VC, CNDT đã phủ nhận luôn sự vận động của VC., họ chỉ thừa nhận sự vận động của TT, linh hồn hay ý niệm tuyết đối…Có nghĩa là họ đã tách vận động ra khỏi VC, trở thành vận động thuần tuý
Quan điểm của CNDV trước Mác ko coi trọng vđề vận động của VC hoặc có thừa nhận sự vận động của VC nhưng lại qniệm rằng sự vận động đó chỉ là sự chuyển dịch về mặt vtrí trong ko gian (vận động cơ học), đồng thời nhấn mạnh nguyên nhân sự vận động đó là do sự tác động từ bên ngoài
Theo qniệm của CNDVBC thì vận động là mọi sự biến đổi, biến hoá nói chung Ănghen định nghĩa như sau: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất- tức được hiểu là phương thức tồn tại của
VC, là một thuộc tính cố hữu của VC, - thì bgồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vtrí đơn gian cho đến tư duy”
+ TH Mác xít khẳng định sự vận động gắn liền với VC, và ko có VC nào mà ko tham gia vào hình thức vận động nào đó Vận động là thuộc tính cố hữu của VC, la phương thức tồn tại của VC Điều
đó có nghĩa là vận động là cái vốn có của mọi đối tượng VC và các dạng VC tồn tại bằng vận động
và thông qua vận động Chỉ có vận động thì mọi dạng VC mới chứng tỏ sự tồn tại, sự hiện diện của chính mình “ko thể hình dung nổi” “VC ko có vận động” Ngược lại cũng ko thể tưởng tượng nổi vận động nào lại ko phải là vận động của VC, ko thuộc về VC Có nghĩa là vận động luôn gắn liền với VC Ko có 1 loại vận động nào là thuần tuý, diễn ra bên ngoài VC Bản thân sự vận động của tư duy, ý thức về thực thể cũng là sản phẩm của sự vận động của TG VC Ở đâu có VC thì ở đố có vận dộng và các dạng vận động gắn liền với các dạng khác nhau của TG VC
Mác-Ănghen đã nhấn mạnh: “ Các hình thức và các dạng khác nhau của VC chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động, thuộc tính của vật thể chỉ bộc lộ qua vận động và về một vật thể ko vận động thì ko có gì để nói cả”
+ Với tính cách là thuộc tính bên trong, vốn có của VC, theo quan điểm của TH M-L, vận động của
VC được tạo nên do sự tác động lẫn nhau giữa các thành tố trong cấu trúc của VC Mọi sự biến đổi của VC ko phải do nguyên nhân bên ngoài tác động vào, mà nguồn gốc của sự vận động nằm ngay bên trong bản thân SV, ko có 1 sức mạnh nào nằm bên ngoài VC lại khiến cho VC vận động Sự tác động ảnh hưởng lẫn nhau giữa các ytố, đặc biệt ;là việc giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong mỗi SV chính là nhân tố tao nên nguồn sinh lực làm cho SV đó biến đổi Đây là csở KH
để TH Mác xít khẳng định: “ V/đ của VC là tự thân v/đ” Luận điểm này ngày càng được chứng minh bởi những thành tựu của các ngành KH tự nhiên
+ V/đ của VC là vĩnh viễn, ko do ai stạo ra và ko thể bị tiêu diệt V/đ gắn liền với VC và do vậy v/đ cũng vô cùng, vô tận và bất diệt như VC V/đ được bảo toàn cả về lượng và chất, nếu 1 hình thức v/đ nào đó bị chấm dứt thì đó cũng là điểm khởi đầu nảy sinh 1 hình thức v/đ khác thay thế nó Điều
đó có nghĩa bản thân các hình thức v/đ của VC có khả năng chuển hoá cho nhau, thay đổi vtrí lẫn nhau còn v/đ nói chung thì vĩnh viễn tồn tại cùng với sự tồn tại vĩnh viễn của VC Ănghen nhấn mạnh: “ Cần phải hiểu tính bất diệt của v/đ ko chỉ đơn thuần về mặt ssố lượng mà cần phải hiểu cả
về mặt chất lượng nữa” Nhận định này chứng minh, đặc biệt là định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng
+ Khi TH M-L khẳng định TG VC tồn tại trong sự vận động vĩnh cửu của nó, thì điều đó ko có nghĩa là phủ nhận hiện tượng đứng im của TG VC Trái lại, CNDVBC thừa nhận rằng quá trình vận động ko ngừng của TG VC chẳng những ko lại trừ mà còn bao hàm trong nó hiện tượng đứng im tương đối, ko có hiện tượng đứng im tương đối thì ko có SV nào tồn tại được Tuy nhiên, trạng thái đứng im chỉ là tương đối, tạm thời, là có điều kiện xét trong một thời điểm, 1 mqhệ cụ thể xác định nào đó Về thực chất đứng im cũng là một dạng v/đ đặc biệt- v/đ trong trang thái cân bằng Ănghen
đã nhận xét: “ V/đ riêng biệt có xu hướng chuyển hoá thành cân bằng nhưng v/đ toàn bộ lại phá hoại
sự cân bằng riêng biệt, mọi sự cân bằng chỉ là tương đối,là tạm thời trong sự v/đ tuyết đối ko ngừng của”
Trang 9+ Các hình thức v/đ của VC là hết sức đa dạng, phong phú và nhiều vẻ, song TH M-L đã khái quát
sự đa dạng nhiều vẻ ấy trong 5 hình thức sau:
-V/đ cơ học: biểu hiện qua sự chuyển dịch của các vật thể trong ko gian
- V/đ vật lý: biểu hiện qua sự biến đổi của các phân tử, hạt, song…và các quá trình như nhiệt, điện, quang
- V/đ hoá học: biểu hiện qua sự biến đổi các nguyên tố, hợp chất, các quá trình phân giải, hoá hợp, các phản ứng hoá học…
- V/đ sinh học: biểu hiện qua quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường
- V/đ XH; thể hiện qua sự biến đổi va fthay thế lẫn nhau của các chế độ XH, các hình thái ktế XH trong lsử
+ Khi phân chia các hình thức v/đ TH M-L nhấn mạnh: Các hình thức v/đ khác nhau về chất, từ v/đ
cơ học đến v/đ XH thể hiện sự ptriển tiến lên từ thấp đến cao về mặt trình độ v/đ Trong đó, trình độ v/đ cao có thể bao hàm trình độ v/đ thấp, song trình độ v/đ thấp ko thể chứa đựng trình độ v/đ cao hơn nó
+ trong sự tồn tại của mình mỗi SV Mối kết cấu VC khác nhau có thể tham gia vào nhiều hình thức v/đ khác nhau Song bản thân sự tồn tại của kết cấu VC bao giờ cũng được đặc trưng bởi một hình thức v/đ cơ bản nào đó Điều này là khách quan do dạng VC đó tự lựa chọn, nhìn chung kết cấu đơn giản thì hình thức v/đ ở dạng thấp Riêng đối với con người và XH người thì hình thức v/đ đặc trưng
là v/đ XH, là những qui luật XH
Ý nghĩa: Khi nghiên cứu giải quyết một SV hay vđề nào đó, cần phải đặt nó trọng trạng thái v/đ
biến đổi ko ngừng và thông qua việc nghiên cứu những biến đổi của nó để tìm hiểu, xác định bản chất của vđề
- Cần xác định đúng những hình thức v/đ đặc trưng cho SV hiện tượng hay vđề đang nghiên cứu, đặc biệt cần chống xu hướng áp đặt v/đ sinh học vào trong đời sống XH và giải quyết những vđề
XH Việc giải quyết những vđề XH cần phải vận dụng các qui luật v/đ XH để giải quyết
- Cần chống quan điểm siêu hình, bảo thủ, định kiến trong nhận thức và hành động trong thực tiễn, cần XD quan điểm v/đ với tư duy năng động
Câu 5: Nguồn gốc và bản chất của ý thức:
Lsử TH là lsử của những cuộc đấu tranh xung quanh những vđề cbản với 2 phạm trù lớn là VC và
Trang 10YT Nếu CNDT cho rằng YT có trước và sinh ra VC, quyết định VC; thì CNDV tầm thường lại coi
YT như là 1 dạng VC Những quan điểm này đầu ko có tính KH Trên csở những thành tựu TH DV, của KH và của thực tiễn XH, TH M-L khẳng định: YT là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, stạo
Theo quan điểm Mác xít YT được hình thành từ 2 nguồn gốc: tự nhiên và XH
* Nguồn gốc tự nhiên: Trước Mác, nhiều nhà DV tuy ko thừa nhận tính chấtm siêu nhiên của YT,
song do KH chưa phát triển nên cũng đã ko giải thích đúng nguồn gốc và bản chất của YT Dựa trên những thành tựu của KH tự nhiên, đặc biệt là KH sinh lý học thần kinh, TH Mác xít khẳng định rằng: YT là một thuộc tính của VC, nhưng ko phải là bất kì một dạng VC nào, mà chỉ có ở dạng VC sống, có tổ chức cao, có cấu trúc tinh vi và hoàn thiện đó là bộ óc của con người Bộ óc người là cơ quan VC của YT và YT là chức năng của bộ óc người, hoạt động của YT diễn ra trên csở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người và khi hệ thống thần kinh của bộ óc bị tổn thương thì hoạt động tâm lý cảu YT sẽ bị rối loạn Vì vậy, ko thể tách rời hoạt động YT ra khỏi hoạt động sinh lý thần kinh, tuy nhiên quá trình YT ko đồng nhất với quà trình sinh lý thần kinh Thực ra nó là hai mặt của một quá trình duy nhất đó là quá trình sinh lý thần kinh trong óc người mang nội dung YT TH Mác xít cũng chỉ rõ ko có bộ óc người thì ko thể có YT, tuy nhiên chỉ riêng bộ óc con người thôi thì chưa thể hình thành nên YT
- YT con người có liên quan mật thiết với TG VC, là sự ptriển đến đỉnh cao cảu 1 thuộc tính phổ biến của mọi dạng VC- đó là thuộc tính phản ánh Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống VC này ở một hệ thống VC khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào 2 ytố đó là vật tác động và vật nhận tác động Trong đó, vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động lên nó Đây là điều hết sức quan trọng để làm sáng tỏ nguồn gốc tự nhiên của YT
Thuộc tính phản náh của VC có quá trình ptriển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong giới tự nhiên vô sinh chỉ có sự phản ánh vật lý, hoá học Sự phản ánh này mang tính thụ động, chưa
có sự định hướng, sự lựa chọn Trong giới tự nhiên hữu sinh, sự phản ánh đã ptriển lên một trình độ cao hơn, đó là phản ánh sinh học, thể hiện qua các hình thức như sự kích thích ( ở thực vật), các phản xạ ( ở động vật Đến động vật cao cấp có đầu óc, sự phản ánh đạt đến trình độ tâm lý động vật, Tuy nhiên đó chưa phải là YT, mà sự phản ánh đó mang tính bản năng do qui luật sinh học chi phối
YT chỉ nảy sinh ở giai đoạn ptriển cao nhất của TG vcgắn liền với sự xuất hiện của con người và sự phản ánh cũng đạt đến trình độ cao nhất YT là YT của con người, nằm trong con người, ko thể tách rời con người YT ra đời là kết quả sự ptriển lâu dai của thuộc tính phản ánh của VC, nội dung của
nó là thông tin về TG bên ngoài, về vật được phản ánh YT là sự phản ánh TG bên ngoài vào trong
bộ óc người Bộ óc người là cơ quan phản ánh, song chỉ có riêng bộ óc thôi thì chưa thể có YT Ko
có sự tác đọng của TG bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động YT ko thể xảy ra Như vậy, bộ óc người cùng với TG bên ngoài tác động lên bộ óc – đó là nguồn gốc tự nhiên của YT
* Nguồn gốc XH: Để cho YT ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, ko thể
thiếu được, song chưa đủ Điều kiện quyết định cho sự ra đời của YT là những tiền đề, nguồn gốc
XH YT ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ
XH YT là sản phẩm của sự phát triển XH, phụ thuộc vào XH và ngay từ đầu đã mang tính XH Quá trình hình thành YT ko phải nhờ sự tác động thuần tuý, mọt chiều của TG bên ngoài vào bộ óc người mà chủ yếu thông qua hoạt dodọng thực tiễn của con người trong quá trình tác động cải tạo
TG khách quan Chính thông qua hoạt động đó, con người đã chủ động tác động vào TG bên ngoài, buộc TG bên ngoài phait bộc lộ những tính chất, thuộc tính, đặc điểm qui luật vận động của nó để con người nhận thức Qua đó con người có những tri thức, có những hiểu biết về TG bên ngoài Trong những hoạt động thực tiễn của con người, TH Mác xít đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò ý nghĩa
tác dụng của hoạt động LĐ SX Hoạt động này đen lại cho con người cả 2 giá trị Một là: tạo ra những sản phẩm VC để con ngườ thoả mãn những nhu cầu của sự tồn tại của mình…Hai là: thông
qua LĐ SX đã khám phá ra những bí mật cảu giói tự nhiên, có những kinh nghiệm trong qhệ với giới tự nhiên Đồng thời cũng qua quá trình đó các giác quan của ocn người ngày càng trở nên hoàn thiện Tác động sinh lý thần kinh của con người ngày càng trở nên có hiệu quả Tức là con người
Trang 11ngày càng hoàn thiện bản thân và điều đó có tác dụng quyết định hình thành nên YT của bản thân
họ Như vật qua LĐ con người dần tích luỹ những hiểu biết, tri thức của mình về TG hiện thực, từ
đó hình thành nên YT
- Ngôn ngữ: Cũng chính trong quá trình LĐ ấy, ở con người xuất hiện nhu cầu phải trao đổi kinh nghiệm, tri thức, thông tin cho nhau…từ nhu cầu đó làm nảy sinh hệ thống ngôn ngữ Ngôn ngữ là một trong những đặc trưng cbản của con người để phân biệt với loài vật Ngôn ngữ chính là cái voẻ
VC của tư duy, nó vừa là phương tiện để giao tiếp XH, vừa là công cụ để tư duy và động thời ptriển
YT Cũng nhờ có ngôn ngữ mà những tri thức cảu con người được tích luỹ truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác, cũng như để khám phá hình thành những tri thức mới YT do vậy ko phải là hiện tượng của mỗi cá nhân riêng lẻ mà là một hiện tượng có tính XH Ănghen khẳng đinh: “ trước hết là
LĐ và sau LĐ là ngôn ngữ, đólà 2 kích thích tố cho ra đời YT ”
Tóm lại: YT ra đời từ 2 nguồn gốc tự nhiên và XH, nếu thiếu một trong hai nguồn gốc ấy thì YT
ko thể ra đời được Tuy nhiên nguồn gốc XH là chủ yếu và mang tính quyết định
YT có bản chất là sự phản ánh stạo lại hiện thực, theo nhu cầu thực tiễn XH Vì vậy, “YT chẳng qua chỉ là VC được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó” Nói cách khác, YT là hình ảnh chủ quan của TG KQ, là sự phản ánh năng động stạo HT KQ vào trong bộ óc con người
Tính stạo của YT được thể hiện bên ngoài rất đa dạng, phong phú Nó phản ánh lại hiện thực bên ngoài theo nhu cầu thực tiễn của XH nhằm phục vụ lại lợi ích của con người Nó có thể tạo ra những tri thức mới về SV, có thể tưởng tượng ra những cái chưa có hoặc ko tồn tại trong thực tế YT cũng
có thể tiên đoán dự báo về tương lai, có thể tạo ra được những ảo tưởng, XD nên những giả thuyết
và những lý thuyết KH hết sức trừu tượng và khái quát
Do tính stạo của YT, quá trình của YT là quá trình thống nhất của 3 mặt sau đây:
+ Một là: có sự trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh, sự trao đổi này có tính chất 2 chiều, có chọn lọc, có định hướng
+ Hai là: sự mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần Về thực thể đây là quá trình mã hoá các đối tượng VC thành các ý tưởng tinh thần phi VC
+ Ba là: chuyển mô hình từ trong tư duy ra thành HT KQ, tức là quad trình hiện thực hoá tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn nhằm biến các ý tưởng, kế hoạch trong tư duy thành các dạng VC bên ngoài Trong giai đoạn này, con người lữa chọn những phương pháp, phương tiện, công cụ để tác động vào HT KQ nhằm thực hiện mục đích của mình
Tuy nhiên, cần lưu ý tính stạo của YT ko có nghĩa là YT đẻ ra VC Stạo của YT là stạo của sự phản ánh, theo qui luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh mà kêt quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần Stạo và phản ánh là 2 mặt thuộc bản chất của YT YT – trong bất cứ trường hợp nào – cũng là sự phản ánh và chính thực tiễn XH của con người tạo ra sự phản ánh phức tạp, năng động, stạo của bộ óc
Trong hoạt động thực tiễn, một mặt chúng ta phải chống quan điểm chủ quan, duy ý chí, nhưng mặt khác chúng ta phải phát huy tính năng động, tích cực khi kết hợp chặt chẽ giữa nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan, song ý thức chỉ phát huy vtrò tích cực khi kết hợp chặt chẽ giữa nhân
tố chủ quan với đkiện khách quan, YT phải phản ánh đúng qui luật khách quan Đồng thời chúng ta phải chủ động dự báo tương lai trên csở phản ánh đúng đắn hiện thực, phát hiện ra những vđề thuộc bản chất, những qui luật vận động của hiện thực, từ đó hướng dẫn hoạt động của con người theo qluật
Trang 12Câu 6: quan niệm của TH DV biện chứng về kết cấu của YT
ÝT là sự phản ánh htkq vào trong bộ óc nguời 1 cách năng động, sang tạo
Trang 13Yt thuộc về hện tượng tinh thần và là 1 vđề hết sức phức tạp, là đ/tượng n/c của nhiều ngành khoa học khác nhau như tâm lý học,sinh học,TH
Trong l/vực TH trường phái triết học khác nhau cũng dưa ra những cách tiếp cận, lý giảikhác nhau xung quanh vđề YT TH Mác cho rằng ý thức là sự p/á của HTKQ và HTKQ hết sức đa dạng, phức tạp, nhiều vẻ Vì vậy, YT với tư cáh là sự phản ánhhtkq đó cũng rất đa dạng, phong phú và có kết cấu phức tạp, bao gồm những thành tố có q/hệ với nhau theo những t/c, những kết cấu khác nhau Tuỳ theo góc độ tiếp cận cũng như mục đích yêu cầu nghiên cứu thì ý thức có thể phân chia theo những kết cấu khác nhau như sau:
a- Nếu tiếp cận từ góc độ các yếu tố hợp thành theo lát cắt chiều ngang thì kết cấu của YT bao gồm: Tri thức, tình cảm, niềm tin và ý chí
Tri thức: là kết quả của quy trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, làm tái hiện trong
tư duy, tư tuởng của c/người những thuộc tính, những q/luật của thế giới đó và diễn đạt chúng dưới h/thức ngôn ngữ hoặc các kí hiệu Tri thức trên nhiều lĩnh vực khác nhau như tri thức về tự nhiên, XH,c/người Tri thức cũng có nhiều cấp độ khác nhau như tri thức cảm tính, lý tính, tri thức kinh nghiệm- lý luận, tri thức tiền khoa học- tri thức kho học…
Tri thức là ph/thức tồn tại của YT, đồng thời là cách để YT thể hiện ra bên ngoài Sự h/thành và p/triển của Yt có liên quan mật thiết đến q/trình c/ngưòi tiếp nhận, tích luỹ những hiểu biết của mình
về thế giới xung quanh Tri thức về sự vật càng phong phú bao nhiêu thì YT về sự vật đó càng sâu sắc bấy nhiêu, càng gần với bản chất,q/luật bấy nhiêu.YT mà không bao hàm tri thức, không dựa vào tri thức thì đó chỉ là sự trừu tượng trống rỗng, không giúp ích cho con người trong hoạt động thực tiễn Mác đã từng nhấn mạnh: “ Tri thức là ph/thức và theo đó YT tồn tại và theo đó một cái gì
đó nảy sinh ra đố với YT… Cho nên một cái gì đó nảy sinh ra đối với YT chừng nào mà YT biết đuợc cái đó”
Ngày nay vai trò động lực của tri thức đối với sự phát triển của k/tế xã hội càng trở nên rõ nét, loài nguời đang bước vào nền kinh tế tri thức trong đó có sự sinh ra, sự phổ cập và ứng dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với việc phát triển kinh tế Tất cả các nghành trong nền kinh tế áp dụng những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ vào trong qúa trình sx Vì vậy đầu tư vào tri thức, đầu
tư cho khoa học trở thành yếu tố then chốt cho sự phát triển kinh tế bền vững
- Sự tác động của thế giới bên ngoài đến con người không chỉ đem lại cho con nguời sự hiểu biết về thế giới mà còn đem lại những xúc cảm, tình cảm của họ về thế giới,về đ/tượng p/ánh Tình cảm sự cảm động, rung động của con ngưòi trong mqh giữa mình và thế giới xung quanh với xã hội, với nguời khác và đói với bản thân mình Tình cảm là một h/thái đặc biệt của sự p/ánh YT, nó p/ánh mqh giữa con người với con nguời,giữa con nguời với thế giưới kỳ quan Khi đuợc hình thành tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của con người và giữu vị trí quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động của c/ngưòi
Tình cảm có thể mang tính chủ động chứa đựng những xúc cảm tích cực và từ đó nó trở thành 1 động lực để nâng cao năng lực sống, hoạt đông của con người Nguợc lại tình cảm có thể mang tính thụ động chứa đựng những cảm xúc tiêu cực và với trạng thái như vậy nó thường cản trở, ức chế hoạt động của con nguời
Tri thức và tình cảm có quan hệ chặt chẽ với nhau và tạo nên niềm tin, nâng cao ý chí để biến thành hành động trong thực tiễn Trong các yếu tố đó thì tri thức nhân tố cơ bản, côt lõi nhất Không có tri thức thì niềm tin ý chí sẽ trở nên mù quáng, tình cảm mà không dựa trên sự hiểu biết thì dễ mất phuơng hướng và không bền vững Nguợc lại tri thức phải biến thành 1t/cảm mãnh liệt, 1niềm tin thì mới đạt đến độ sâu sắc và thông qua đó mới định hướng thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người, nếu tri thức không hỗ trợ tình cảm để biến thành niềm tin ý chí thôi thuc hành động thì tri thức cũng không phát huy được sức mạnh của mình
Nếu tiếp cận từ góc độ nghiên cứu về chiều sâu của thế giới nội tâm của con người theo lát cắt chiều dọc của YT bao gồm các yếu tố: Tưj ý thức, tiềm thức và vô thức
Tự ý thức cung là YT, là 1 thành tố quan trọng của YT,nhưng là YT về bản thân mình trong quan
hệ với YT về thế giới bên ngoài Thông qua tự ý thức mà con người tự đánh giá, nhìn nhận về bản thân mình như 1 thực thể hoạt động có cảm giác, tư duy, có các hành vi đạo đức và có vị thế trong XH.Q/tình tự ý thức diễn ra thông qua mqh giữa bản thân với nguời khác, giữa bản thân với thế giới
Trang 14xung quanh đặt trong quá trình hoạt động thực tiễn, sinh sống cảu bản thân Như vậy tự ý thức cũng
là ý thức huớng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài, với XH Chính sự giao thiệp xã hội và hoạt động thực tiễn XH của con nguời đã đòi hỏi họ phải tự ý thức về mình để đánh giá nhận thức về bản thân rõ hơn chính xác hơn Mặt khác tự ý thức còn diễn ra thông qua những giá trị văn hoá mà bản thân đã sang tạo ra hoặc tiếp nhận.Văn hoá cũng chính là gương soi để giúp con nguời tự ý thưc về bản thân Trình độ tự ý thức là thuớc đo trình độ phát triển của nhân cách, trình độ làm chủ bản thân và nhờ có tưj ý thức mà con nguời tự điều chỉnh hành vi cách ứng xử hoạt động của mình theo quy tắc chuẩn mực của XH đuơng thời
Tiềm thức là những tri thức mà chủ thể đã tích luỹ đuợc từ truớc, nhưng gần như đã trở thành bản năng, kỹ năng, nằm dưới tang sâu YT của chủ thể, là ý thưc dưới dạng tiềm năng.Tiềm năng có thể
tự động gây nên các hoạt động tâm lý và nhận thức mà chủ thể ko cần kiểm soát chúng một cách trực tiếp Tiềm thức có vtrò quan trong trong đời sống cá nhân cũng như trong hoạt động tâm lý hàng ngày, nó góp phần làm giảm tải hoạt dodọng của hệ thần kinh, của tư duy trong việc xử lý các tài liệu, dữ liệu, tin tức diễn ra hàng ngày, lặp lại mà vẫn đảm bảo độ chính xác cao
Vô thức: là những trạng thái tâm lý trong chiều sâu của YT, nó điều chỉnh hành vi, thái độ ứng xử
của con người mà chưa có sự tranh luận nội tâm, chưa có sự truyền tin bên trong, chưa có sự ktra tính toán của lý trí Lực lượng vô thức liên quan đến những hoạt dộng xảy ra ở bên ngoài phạm vi lý trí của con người ko kiểm soát đượcc chúng trong một phạm vi nào đó, trong một khoảng thời gian nào đó Nó được biểu hiện ra bên ngoài thành những hiện tượng khác nhau như bản năng, ham muốn, giấc mơ, sự thôi mien, sự lỡ lời…
Vô thức có vtrò và tác động nhất định trong đời sống của con người, nó giải toả những ức chế trong hoạt động thần kinh vượt ngưỡng, nhất là những bản năng ko được phép bộc lộ ra ngoài, ko được thực hiện trong đời sống công cộng Nhờ nó mà con người cũng tránh được những tình trạng căng thẳng ko cần thiết về mặt thần kinh và thực hiện được những chuẩn mực của XH một cách tự nhiên, ko có sự khiên cưỡng, bắt buộc
Tuy nhiên, ko nên cường điệu hoá, tuyệt đối hoá, thần thánh hoá vô thức, đặt vô thức đối lập với
YT Thực ra, vô thức cũng nằm trong YT và chỉ xảy ra trong con người có YT và giữ vtrò chủ đạo dẫn dắt hoạt động của con người là YT chứ ko phải vô thức Nhờ có ý thức c/người mới điều khiển được tiềm thức và vô thức hướng tới chân thiện mỹ.Vô thức sự thật chỉ là mắt khâu quan trọng trong cuộc sống có ý thức, là vô thức trong trạng thái có ý thức của c/người XH
Ý nghĩa: Thường xuyên nâng cao tri thức(học tập, n/c )Xây dựng niềm tin, tình cảm đẹp, niềm tin,ý chí phải dựa tên cơ sở tri thức Muốn đấu tranh chống TP phỉa tìm hiểu về nó phải có niềm tin, lý tưởng hăng say, khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao; bồi dưỡng về tri thức về TP(ph/thức, thủ đoạn)cho quần chúng để quần chúng tích cực tham gia vào công tác đấu tranh chống TP, đồng thời làm cho dân tin tưởng vào đường lối, chính sách của đảng, tin vào CQCA Tăng cường rèn luyện biến những hành vi tích cực thành thói quen, diễn ra 1 cách tự động Tự đánh giá ý thức bản thân thông qua tự phê bình va phê bình
Câu 7: Mối quan hệ giữa VC và YT? Ý nghĩa phương pháp luận của mlhệ này?
Quan hệ giữa vật chất và YT là vấn đề cơ cản của TH, mọi trường phái triết học đều quan tâm giải
Trang 15quyết vấn đề này Tuy nhiên, việc phân tích, lý giả làm rõ mqh giữa VC và YT ở mỗi truờng phái triết học là khác nhau thậm chí đối lập nhau.CNDT cho rằng YT là cái có truứơc quyết định VC Còn theo quan điểm của CNDV tầm thường là YT cũng chỉ là 1 dạng VC mà thôi Chỉ đến khi triết học Mac- Lênin ra đời thì quan hệ giữa VC và YT mới được giải quyết 1 cách khao học và triệt để trên cơ sở kế thừa những tư tưởng tiến bộ đã đạt đuợc trong lịch sử tư duy nhân loại, đồng thời klhái quát những thành tựu mà những ngành khoa học cụ thể đã đạt được
Theo TH-ML : VC là 1phạm trù triết học dung để chỉ thực tại KQ đuợc đem lại cho con ngưòi trong cảm giác, đuợc cảm giác của chúng ta sao lại, chép lại, p/ánh và tồn tai không phụ thuộc vào cảm giác
Còn ý thức, theo quan điểm của TH-ML là sự phản ánh HTKQ vào trong bộ óc con người 1 cách năng động sang tạo
VC và YT không hoàn toàn tồn tại tách biệt nhau, ko cô lập hay tuyệt đối với nhau mà giữa chúng
có mối quan hệ BC
Theo quan điểm của TH Mác-xit, trong mqh giữa VC và YT thì VC là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ 2 VC giữ vai trò quyết địng đói với ý thức Sự khẳng định này dựa trên những căn cứ chủ yếu sau đây:
Trước hết, xét về mặt thời gian:VC là cái có truớc, là cái vô cùng vô tận ko có khởi đầu YT là cái có sau, chỉ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của c/ngưòi và loài nguời Mà theo các ngành khoa học cụ thể: khảo cổ học, nhân chủng học thì sự xuất hiện đo mới chỉ có truớc đây vài triệu năm Đó
là kết quả của q/trình tiến hoá rất lâu đời của tự nhiên và là sản phẩm của những hoạt động XH của con nguời Với tu cách là cái có sau thì YT ko thể và ko bao giờ có thể đẻ ra được VC- VC là cái có trước từ lâu Điều này chứng tỏ sự phi lý ko có căn cứ khoa học của các quan điểm duy tâm, tôn giáo khi cho rằng ý thức có truớc,Vc có sau, YT sinh ra VC
Xét về mặt nguông gốc: VC ko do ai sinh ra, nó có nguyên nhân từ trong bản thân nó, còn ý thức đuợc hình thành tù những tiền đề nguồn gốc tụ nhiên và XH Những tiền đề nguồn gốc này có liên quan mật thiết đối với TGVC, xuất phát từ TGVC Không có dạng VC có tổ chức cao là bộ óc con nguời Ko có thuộc tính phổ biến của mọi dạng VC là p/ánh thì ko có tiền đề làm xuất hiện YT Hơn nũa, nếu ko có môi trường, ko có những hoạt động mang tính VC của con người là lao động sx, ko
có những vỏ VC mang nội dung thông tin là ngôn ngữ thì YT ko thể hình thành và ra đời đươc Tóm lại VC chính là nguồn gốc của YT, ko có TGVC thì ko thể có những tiền đè hình thành nên YT được
Xét về mặt nội dung: thì VC và cái đuợc p/ánh, còn YT chỉ là cái p/ánh, là hình ảnh chủ quan của TGKQ bên ngoài Dĩ nhiên nếu ko có cái bị p/ánh ko có TGKQ bên ngoài thì chẳng có cái để phản ánh, chảng có 1hình ảnh chư quan,1 tri thức, 1cảm giác nào mô tả về nó cả Về mặt thực chất nd của
YT chỉ là những hình ảnh chủ quan về TGKQ bên ngoài mà thôi Những hình ảnh, những tri thức về TGVC đuợc hình thành trong bộ não con nguời là k/quả của sự p/ánh sang tạo hiện tượng KQ thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Xét về sự vân động và phát triển: TGVC tồn tạ, vận động, phát triển theo những quy luật KQ vốn
có của nó Còn ý thức biến đổi, phát triển phụ thuộc và sự vận động sự phát triển của TGVC, sự tác động của thế giới hiên thực vào con người Chính sự tác động thường xuyên, liên tục cuả TG bên ngoài, từ sự vận động và biến đổi ko ngừng của tự nhiên và XH, từ trình độ ngày càng cao của hoạt động mang tính VC của con người là lao động sx thì trình độ nhận thức của con người, tri thức của con người ngày càng đuợc tích luỹ, phát triển theo hướng từ chưa biết đến biết, từ thấp đến cao, từ hiện tượng đến bản chất, từ ngẫu nhiên đến phát hiện theo quy luật.Như vậy về thực chất tư duy của c/người vận động, p/triển cùng với sự v/đ,p/triển của hiện thực và chịu sự chi phối của HTKQ Tóm lại, xét trên tất cả các lĩnh vực từ nguồn gốc hình thành nội dung, sự biến đổi, ở đâu chúng ta cũng thấy vai trò quyết định thuộc về VC và do đó TH-ML k/định: VC là tính thư nhất ,YT là tính thứ 2, VC quyết định YT
Ý thức có tác động mạnh mẽ đối với TGVC Trong khi nhấn mạnh vai trò quyết định thuộc về
VC, TH M-L đồng thời thừa nhận vai trò quan trọng của YT đối với VC Đây cũng là sự thể hiện tính cách mạng và khoa học cuat TH Mac-xit so với các nền TH duy vật trước đó Truớc Mac các nhà duy vật đã mắc phải nhược điểm là ko đánh giá đúng ý nghĩa tầm quan trọng của YT Họ đã
Trang 16hoặc là đồng nhất ý thức với VC, hoặc là cho rằng YT là 1 nhân tố thụ động và đây cũng chính là 1 điểm yếu, 1kẻ hở để CNDT lợi dụng tấn công CNDV TH Mac đã khắc phục những nhược điểm này khi k/định: YT do VC sinh ra và quyết định, song sau khi hình thành YT có tính độc lập tưong đối
và sang tạo nên có sự tác động trở lại rất mạnh mẽ đối với TGVC, thông qua hoạt đọng thực tiễn của con nguời
Ý thức tác động đ/với VC theo cả 2 chiều huớng:Những YT đúng đắn khoa học, cách mạng ,p/ánh đúng bản chất quy luật v/động của TGVC thì nó có tác động tích cực cho việc thúc đấy sự vân động,phát triển của TGVC Nguợc lại những YT, tư tưởng lạc hậu, phản khoa học, phản ánh xuyên tạc bản chất, quy luật vận động của quy luật hiện tượng KQ thì nó sẽ t/động kìm hãm sự vận động, p/triển của TGVC
Cần chú ý sự t/động của YT đối với VC bao giờ cũng thông qua con đuờng hoạt động thực tiễn của con nguời Bản thân YT tự nó ko trực tiếp làm thay đổi đuợc j trong TGVC Vì vậy, nói đến vai trò của YT về thực chất là nói đến vai trò của c/ngưòi, tính chủ đọng sang tạo của c/người.YT chỉ đạo hoạt động cuat c/người, h/thàh ở họ mục tiêu, kế hoạch, phuơng pháp Từ đó h/thành nên ý chí quyết tâm, thúc đẩy những hoạt động thực tiễn của con nguời
sự t/đ trở lại của YT đối với VC, cho dù là rất to lớn, bao giờ cũng diễn ra trên cơ sở VC là tính thứ nhất, YT là tính thứ hai Trong bất kỳ truờng hợp nào thì YT cũng chỉ là sự p/ánh đối với TGVC và
sự sang tạo cuả YT là sang tạo trong q/trình p/ánh, trong khuôn khổ của sự p/ánh và đuợc định huớng bởi những nhu cầu thực tiễn YT muốn t/đ trở lại VC phải bằng lực luợng VC, thông qua hoạt động thực tiễn có tính VC của c/người và ko có 1 t/hợp nào YT quyết định VC cả
N/c mqh VC và YT có ý nghĩa phuơng pháp luận sâu sắc đ/với hoạt động thực tiễn của chúng ta
- trước hết trọng hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần XD và quán triệt quan điểm khách quan, chống chủ quan duy ý chí, phải xuất phát từ thực tế khách quan và lấy thực tế khách quan làm căn
cứ, làm csở cho mọi hoạt động của mình Lê-nin nhấn mạnh: ko được lấy ý chí chủ quan của mình
để định ra chính sách, ko được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược cách mạng Nếu xuất phát từ ý muốn chủ quan, lấy ý chí áp đặt cho thực tế thì sẽ rơi vào bệnh chủ quan duy ý chí và nhất định sẽ thất bại trong hoạt động thực tiễn Trên thực tế ở VN nước ta trước tkì đổi mới, chúng
ta đã phạm những sai lầm chủ quan duy ý chí Tại ĐH7 ĐCS VN đã khẳng định: “Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm qui luật khách quan”
Từ kinh nghiệm thành công và thất bại trong hoạt động thực tiễn cách mạng, Cương lĩnh của Đảng
đã rút ra bài học là: “Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trong qui luật khách quan” Tới ĐH IX tổng kết 15 năm đổi mới Đảng ta đã chỉ rõ một trong 4 bài học là:
“đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn và luôn luôn stạo”
Đ/với công tác công an, điều tra khám phá đúng bản chất của SV-HT chúng ta cần phải tôn trọng thực tế khách quan Và tôn trọng thực tế khách quan phải được quán triệt từ điểm khỏi đầu cho đến khi kết thúc, quán triệt ngay từ khi nhận tin đến khi khám nghiệm hiện trường, đến điều tra…muốn khám phá đúng thực tế khách quan đòi hỏi người cán bộ cảnh sát, công an phải có tri thức, phải ko ngứng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn
- phát huy tính năng động, stạo của YT, tính tích cực chủ quan trong hoạt động cải biến Tg khách quan của con người, chống xu hướng của CNDV tầm thường bảo thủ, trì trệ Vai trò tích cực của YT
ko phải là ở chỗ nó trực tiếp tạo ra hay làm thay đổi TG VC mà là nhận thức đúng đắn TG VC Từ
đó hình thành mục đích, phương hướng, biện pháp và ý chí cần thiết cho hoạt động thực tiễn của mình Sức mạnh của YT con người ko phải ở chỗ tách rời điều kiện VC, thoát ly khỏi hiện thực mà
là biết dựa vào những điều kiện VC đã có phản ánh đúng qui luật khách quan để cải tạo TG khách quan một cách chủ động stạo của YT, phát huy vtrò nhân tố con người trong hoạt động là vđề có ý nghĩa quyết định đến thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng
Tại ĐH VIII ĐCS VN khẳng định: “trong tkì đổi mới phải lấy việc phát huy nguồn lực của con người làm ytố cbản cho sự phát triển nhanh và bền vững, phải khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường để phát huy tài trí của con người VN, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghoè nàn và lạc hậu”
Tại ĐH IX Đảng tiếp tục nhấn mạnh: phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người VN, coi phát triển GD và đtạo, KH và CN là nền tảng và động lực của sự nghiệp CNH, HĐH,
Trang 17phát huy nguòn lực con người là ytố cbản để ptriển XH, tăng trưởng ktế nhanh và bền vững
Câu 8: nguyên lý về mqhệ phổ biến và ý nghĩa phương pháp luận? ( csở lý luận và yêu cầu quan điểm toàn diện )
Nguyên lý về mlhệ phổ biến là một trong hai nguyên lý cbản của P.BCDV nguyên lý này nhằm
Trang 18làm sang tỏ vđề các SV- HT trong TG KQ tồn tại trong trạng thái ntn, chúng có mqh ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập tách rời nhau
trước Mác, quan điểm của CNDV siêu hình xem xét, nhìn nhận SV HT trong trang thái tồn tại biệt lập tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng ko có sự phụ thuộc, ko có sự ràng buộc và qui định lẫn nhau, nếu có thì cũng chỉ là những qui định hời hợt bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên họ
ko thấy được sự tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng và do đó ko cắt nghĩa được sự vận động, biến đổi của chúng
ngược lại, TH Mác khẳng định các SV HT tồn tại trong sự rang buộc, liên hệ, ảnh hưởng lẫn nhau Theo TH Mác, mlhệ là 1 phạm trù cảu P.BCDV dùng để chỉ sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, rang buộc chế ước nhau, qui định và chuyển hoá cho nhau của các SV HT hay giữa các mặt, các thuộc tính bên trong của SV HT trong TG KQ
CNDV BC khẳng định: Csở của mlhệ giữa các SV HT là thuộc tính thống nhất VC của TG Các
SV HT dù đa dạng và khác nhau đến mấy thì chúng cỉ là những dạng tồn tị khác nhau cảu một TG duy nhất là VC mà thôi Ngay bản thân YT vốn ko phải là VC nhưng cũng chỉ là thuộc tính của một dạng VC có tổ chức cao nhất là bộ óc con người, nội dung của YT có mlhệ chặt chẽ với TG bên ngoài Quan điểm này đã bác bỏ quan điểm của CNDT cho rằng csở cảu sự lhệ, tác động qua lại giữa các SV HT là các lực lượng siêu tự nhiên, ở YT, ở ý niệm tuyệt đối
mlhệ giữa các SV HT là khách quan vốn có của bản thân chúng, đồng thời mlhệ còn mang tính phổ biến và tính phổ biến ấy được thể hiện ở những vđề sau đây:
xét về mặt ko gian: mỗi SV HT là một chỉnh thể riêng biệt, song chúng tồn tại ko phải trong trạng
thái biệt lập tách rời tuyết đối với các SV HT khác ngược lại, trong sự tồn tại của mình, chúng có tác động ảnh hưởng lẫn nhau, vừa tác động và vừa nhận sự tác động của những SV HT khác Chúng vừa tách biệt, vừa phụ thuộc nhau, chế ước nhau, làm tiền đề cho nhau tồn tại và phát triển đó là hai mặt của quá trình tồn tại, vận động và ptriển của bản thân mỗi SV HT.Ănghen đã khẳng định: “tất
cả TG mà chúng ta có thể nghiên cứu là một hệ thống, một tập hợp gồm các vật thể liên hệ khăng khít với nhau và việc các vật thể ấy có mqhệ với nhau đã có nghĩa là các vật thể này tác động qua lại lẫn nhau và sự tác động qua lại ấy chính là sự vận động”
trong đời sống XH ngày nay ko có một quốc gia, dân tộc nào mà ko có mqhệ, liên hệ với quốc gia dân tộc khác về mọi mặt của đời sống XH Đây chính là sự tồn tại, ptriển cho mỗi quốc gia, dtộc trên TG đã và đang xuất hiện xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá của mọi mặt của đời sống XH Các quốc gia dtộc ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, tác động lẫn nhau đến con đường ptriển của mình
Xét về mặt cấu tạo, cấu trúc bên trong của SV HT: mỗi SV HT đều được tạo thành bởi nhiều nhân
tố, nhiều bộ phận khác nhau và các nhân tố đó, bộ phận đó ko tồn tại riêng lẻ, tách rời nhau hoặc hỗn độn với nhau mà chúng được tổ chức, sắp xép theo một logic nhất định, trật tự nhất định, một kiểu tính chất nhất định để tạo thành một chỉnh thể Các mặt, các ytố trong chỉnh thể đó vừa có chức năng riêng của mình, vừa tạo đkiện cho những mặt, những ytố khác, nghĩa là chúng có sự ảnh hưởng, ràng buộc táca động lẫn nhau sự biến đổi của một bộ phận, một mặt nào đó trong cấu trúc của SV HT sẽ ảnh hưởng đến các bộ phận khác và đvới cả chỉnh thể
Xét về mặt thời gian: mỗi một SV HT nói riêng và cả TG nói chung trong sự tồn tại ptriển của mình
đều phải trải qua các giai đoạn, các tkì khác nhau, tự phát sinh, tồn tại, phát triển và chuyển hoá thành cái khác Các giai đoạn đó ko tách rời nhau, có lhệ làm tiền đề cho nhau, sự kết thúc của giai đoạn này là mở đầu cho giai đoạn khác tiếp theo điều này thể hiện rõ trong mlhệ giữa quá khứ- hiện tại – tương lai (hiện tại chẳng qua là bước tiếp theo của quá khứ và là bàn đạp ch tương lại)
TL: xét trên các phương diện vĩ mô và vi mô, ko gian và thời gian, ở đâu chúng ta cuãng thấy mlhệ
là lan tràn, bao trùm, là xuyên thấu vì vậy, TH M-L khẳng định mlhệ của các SV HT là phổ biến Tính phổ biến của mlhệ giữa các SV HT còn được thể hiện ở tính phong phú, đa dạng và phức tạp của các mqhệ Khi nghiên cứu HT KQ có thể phân chia mlhệ thành từng loại khác nhau, tuỳ theo tinhd chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ nông hay sâu, vtrò trự tiếp hay gián tiếp… khái quát lại, TH M-L phân chia mlhệ thành những nhóm chính sau đây: mlhệ bên trong- bên ngoài, chủ yếu- thứ yếu, chung – riêng, trực tiếp- gián tiếp, bản chất- ko bản chất, ngẫu nhiên- tất nhiên… trong đó nhấn mạnh những mlhệ bên trong, trực tiếp, bản chất và tất nhiên bao giờ cũng giữ vtrò quan trọng, quyết định cho sự tồn tại và phát triển của SV HT
Trang 19Triết học Mác xít, đồng thời cũng thừa nhận rằng các mlhệ khác nhau có khả năng chuyển hoá cho nhau, thay đổi vtrí của nhau và điều đó diễn ra có thể là do sự thay đổi phạm vi bao quát SV HT hoặc có thể do kết quả vận động khách quan của SV HT đó
từ việc nghiên cứu mlhệ phổ biến cần phải xây dựng và quán triệt quan điểm toàn diện trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn
trước hết, về mặt nhận thức khi nghiên cứu SV HT phải đặt nó trong mlhệ tác động qua lại với
những SV HT khác và cần phải phát hiện ra những mlhệ giữa các bộ phận, ytố, các thuộc tính, các giai đoạn khác nhau của bản thân sự vật Lê-nin khẳng định: “muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mlhệ và qhệ gián tiếp của sự vật đó”.Tuy nhiên, quan điểm toàn diện không có nghĩa là cào bằng, tràn lan mà phải thấy được vị trí của từng mối quan hệ, từng mặt từng yếu tố trong tổng thể của chúng, làm nổi bật cái cơ bản , cái quan trọng nhất của SV HT đó.Có như vậy chúng ta mới nắm được bản chất của SV
Mặt khác, để nhận thức đúng SV HT cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Ứng mỗi con người, mỗi giai đoạn và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn các mlhệ Vì vậy tri thức về các SV
HT chỉ là tương đối, ko đầy đủ, ko trọn vẹn và cần phải được thường xuyên bổ sung thêm (tránh tuyệt đối hoá những tri thức đã có về SV)
Quan điểm toàn diện về sự vật đòi hỏi cta phải phát hiện ra không chỉ là mlhệ mà còn phải biết xác định phân loại t/chất, vai trò, vị trí của mỗi loại liên hệ đối với sự phát triển của sự vật Cần chống
cả hai khuynh hướng sai lầm phiếm diện một chiều, cũng như đánh giá ngang bằng vị trí của các mlhệ
Về mặt thực tiễn: Quan điểm toàn diện đòi hỏi để cải tạo SVHT cần làm thay đổi mối liên hệ bên trong của SVHT, cũng như mối liên hệ giữa SVHT khác Muốn vậy cần phải xd, sử dụng đồng bộ các phương pháp, các biện pháp, phương tiện để tác động nhằm giải quyết những mối liên hệ tương ứng Mặt khác, quan điểm toàn diện phải đòi hỏi trong hoạt động thực tiễn cần kết hợp chính sách dàn đều chính sách có trọng điểm, vừa chú ý giải quyết về mặt tổng thể vừa biết lựa chọn những vấn
đề trọng tâm để tập trung giải quyết dứt điểm tạo đà cho việc giải quyết những vấn đề khác
Đối với VN, trong sự nghiệp đổi mới hiển nay, Đảng CS VN xác định cần phải đổi mới toàn diện các lĩnh vực đời sống xã hội, chủ trương tăng trưởng kinh tếđi liền với t/hiện công bằng XH, giải quyết những vấn đề xã hội , đẩy mạnh CNH-HDH, đi đôi với việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, vừa chủ động hộ nhập kinh tế quốc tế, vừa giương cao ngọn cờ độc lập tự chủ đại biểu ANQP… trong đó xác định phát triển ktế là trọng tâm
Câu 9: Nguyên lý về sự phát triển, ý nghĩa phương pháp luận?
Trong BPCDV, nguyên lý về mlhệ phổ biến gắn liền với nguyên lý về sự phát triển Sự liên hệ, t/đ qua lại của các SVHT tất yếu dẫn tới sự v/đ, phát triển của chúng Nhiệm vụ quan trọng của BPCDV
Trang 20là nghiên cứu toàn diện, bao quát sự v/đ, p/triển k/quan ấy của thế giới, tìm ra b/chất và những q/luật phổ biến của q/trình đó
Theo TH M-L, phát triển là phạm trù triết học dung để chỉ q/trình v/đ tiến lên từ thấp đến cao, từ dơn giản đến phức, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
Quan điểm của CNDT xem sự phát triển như là kết quả của những ý niệm của các lực lượng siêu tự nhiên hoặc của ý muốn chủ quan con người Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình xem sự p/triển đơn giản là sự tăng lên hay giảm đi về mặt lượng, họ không quan tâm đến sự sinh thành, sự
ra đời của cái mới, chất mới Họ cho sự p/triển tiến lên liên tục không có bước quanh co và nguồm gốc của sự p/triển là do bên ngoài
Đối lập với quan điểm siêu hình, quan điểm BC xem xét sự pt là 1 qtrình tiến lên từ thấp đến cao, qtrình đó vừa diễn ra dần dần, vừa nhảy vọt đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ
TH Macxít k/định pt là 1 trường hợp đặc biệt của sự vđộng Nói đến pt là nói đến sự vđ Tuy nhiên không phải mọi sự vđ dều là sự pt mà chỉ có qtrình vđ bíên đổi nào làm nảy sinh ra những nhân tố mới, những tính qui định mới cao hơn về chất mà nhờ đó làm tăng cường tính phức tạp của sự vật, làm cho cả cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại của vđ của sự vật cùng những chức năng vốn có của
nó ngày càng được hoàn thiện hơn thì mới được gọi là pt Như vậy sự pt chỉ khái quát xu hướng chung của vđ là xu hướn đi lên sự vật mới, cái mới ra đời thay thế cái cũ và đó là trường hợp đặc biệt của vđ
Trong hiện thực kquan sự pt được t/hiện theo cách khác nhau, tuỳ thuộc vào những h/thức tồn tại cụ thể của các dạng vật chất Đối với gới vô cơ, sự pt thể hiện dưới dạng biến đổi các yếu tố và
hệ thống vật chất ở sự tác động qua lại giữa chúng làm xuất hiện những VC phức tạp hơn đối với giới hữu cơ sự pt thể hiện ở khả năng thích nghi của cơ thể, khả ngăng tiến hoá, khả năng hoàn thiện, qtrình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường, ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với tốc
độ ngày càng cao hơn, làm xuất hiện những giống nòi mới
Trong XH thì sự pt thể hiện ở năng lực chinh phục tự nhiện, cải tạo XH, nâng cao đời sống mọi mặt của con người, giải phóng con người, tạo đkiện cho c người pt toàn diện nhân cách của mình Trong tư duy sự pt thể hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầ đủ, chính xác b/chất của quy luật vđộng của hiện thực Đối với mỗi con người sự pt thể hiện ở khả năng tự hoàn thiện mình cả về thể chất và tinh thần phù hợp với sự biến đổi của môi trường sống của chính con người
Sự pt diến ra theo con đường quanh co, phức tạp, trong đó bao hàm cả những bbước thụt lùi tương đối Đó là một qtrình tích luỹ về lượng đẻ thay đổi về chất, là kết quả đấu tranh đẻ gquyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập, là trải qua nhiều lần phủ định Vì vậy, con đường của sự pt ko phải
là thẳng tắp, cũng ko phải là vòng trong khép kín mà diển ra theo chiều “xoắn ốc”, nghĩa là trong quá trình pt dường như có sự quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng ở trình độ cao hơn Lê-nin
đã từng khẳng định rằng: “Nếu hình dung sự pt của toàn TG như con đường thẳng tắp ko có những bước quanh co, những sự thụt lùi, đôi khi ra xa so với xu hướng chủ đạo là ko thực tế, ko biện chứng”
Nguồn gốc của sự pt: nằm ngay trong bản thân svật do những mâu thuẫn của svật qui định Sự ptriển
là kết quả của cuộc đấu tranh giải quyết những mâu thuẫn bên trong của svật Vì vậy, cũng như vận động nói chung, sự ptriển là quá trình tự thân ptriển TH Mác-xít khẳng định: Pt là quá trình tự thân của SV HT, mang tính khách quan, độc lập với YT con người Sai lầm của CNDT về vđề này là đi tìm nguồn gốc của sự ptriển trong lực lượng siêu tự nhiên hay cho rằng YT con người quyết định tất
cả Còn nhược điểm của CNDV siêu hình trước Mác là lại ở chỗ đi tìm sự ptriển từ sự tác động bên ngoài hoặc cho rằng sự ptriển chỉ là sự tăng lên về mặt số lượng Lê-nin đã từng so sánh: “hai quan niệm cơ bản của sự pt (sự tiến hoá): sự pt coi như giảm đi và tăng lên, như là lặp lại và sự pt coi như
là sự thống nhất của các mặt đối lập…Quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan Quan niệm thứ hai là sinh động Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khoá của “sự tự vđ” của tất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khoá của những “bước nhảy vọt” của sự “gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “chuyển hoá thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh ra cái mới”
Sự pt diễn ra không ngừng trong tự nhiên, Xh và tư duy Nếu xét trong 1 không gian hẹp, thời gian ngắn và ở những trường hợp cụ thể thì có những v/động tuần hoàn, v/động đi xuống thụt lùi và
Trang 21v/đ đi lên Song nếu xét cả quá trình v/đ với không gian rộng lớn, thời gian liên tục và 1 tổng thể của thế giới HTKQ thì pt đi lên là khuynh hướng chủ đạo Vì vậy TH M-L k/định: “pt là khuynh hướng chung của sự vđ của TGKQ”
Nghiên cứu nguyên lý về sự pt có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc đối với chúng ta trong hoạt động thực tiễn Trước hết, hoạt động nhận thức và thực tiễn cần xd và quán triệt quan điểm pt, chống quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến Yêu cầu cơ bản của quan điểm pt là khi xem xét nghiên cứu SVHT hay một đ/tượng nào đó cần phải đặt nó trong trạng thái vđ, pt vạch ra xu hướng biến đổi
và chuyển hoá của chúng Lênin viết: “Lôgíc biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự pt, trong sự tự vđ, sự biến đổi của nó”
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần xây dựng quan điểm lsử cụ thể Quan điểm này đòi hỏi khi chúng ta nhận thức về SV và tác động vào SV phải chú ý đ/kiện, h/cảnh l/sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đó SV sinh ra, tồn tại và pt Một luận điểm, một giải pháp có thể là đúng đắn, là chân lý trong đ/kiện này, nhưng sẽ không đúng thậm chí là sai lầm trong đ/kiện khác Vì vậy, phân tích tình hành cụ thể, đề ra những giải pháp cụ thể, từng công việc cụ thể…Đó là nguyên tắc, b/chất sống của chủ nghĩa M-L
Bên cạnh đó, từ sự nhìn nhận 1 cách khoa học về sự pt, chúng ta cần phải có thái độ lạc quan cách mạng, tin tưởng vào sự chiến thắng tất yếu của cái mới Đồng thời nhận thức rõ pt là q/trình biện chứng đầy mâu thuẫn, sự chiến thắng của cái mới là vô cùng khó khăn, phức tạp và có thể phải trả giá, trên con đường tiến tới cái mới có cả sự vấp ngã, mất mát
Sự pt biện chứng của các quá trình hiện thực và của tư duy được thực hiện bằng con đường thông qua tích luỹ về lượng mà tạo ra sự thay đỏi về chất, thông qua phủ định của phủ định Do vậy, việc v/dụng quan điểm pt vào hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo SV còn đòi hỏi chúng ta cần phải phát hiện ra mâu thuẫn của chính sự vật tạo đk cho sự vật giải quyết mâu thuẫn của mình Song cũng cần chống bảo thủ, trì trệ, không dám đổi mới hoặc nóng vội chủ quan đốt cháy giai đoạn
Đối với VN chúng ta trong những năm gần đây trước những năm gần đây trước những khó khăn của đất nước, một số người muốn ND ta từ bỏ con đường XHCN hoặc lùi lại giai đoạn CM DCND Quan điểm này là sai lầm Việc kiên trì con đường XHCN là sự lựa chọn duy nhất đứng đắn, đây là sự lựa chọn của l/sử nó đã dứt khoát từ năm 1930 trong cương lĩnh của Đảng
Đặc biệt trong tình hình thế giới hiện nay đang có những biến đổi phức tạp, sự nghiệp đổi mới đã được chính thức phát động và triển khai trên quy mô toàn quốc từ sau ĐH VI của đảng trhán
12 năm 1986 Về thực chất sự nghiệp đổi mới ở VN là nhằm t/hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
XH công bằng, dân chủ văn minh Theo định hướng XHCN Q/trình đổi mới diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống XH và thực sự đó là quá trình phức tạp khó khăn lâu dài, là q/trình giải quyết những mâu thuẫn, nhằm đưa lại sự pt của VN theo hướng CNH – HĐH: Thực sự đổi mới ở VN là quá trình pt đưa nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang một trình độ CNH – HĐH văn minh Động lực của sự pt, của sự nghiệp đổi mới là nguồn nội lực trong đó có sự tranh thủ ngoại lực từ bên ngoài nhằm đưa đất nước pt hơn nữa theo định hướng XHCN
Câu10: Thế nào là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (Q/luật m/thuẫn)?
Bằng việc kế thừa những thành quả tư tưởng BC về mâu thuẫn, bằng việc tổng kết từ thức tế lịch sử của loài người Các nhà kinh điển của CN Mác đã cho rằng chúng ta phải tìm xung lực vận động và phát triển của sự vật trong chính sự vật đó Sự phát triển của bất cứ sự vật, hiện tượng nào đều trải qua quá trình của 3 quy luật cơ bản của phép Biện chứng Duy Vật Sau đây chúng ta xem xét quy luật sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Q/luật này vạch rõ nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động, phát triển của các Sự vật hiện tượng trong Thế Giới Khách Quan Việc nắm vững nội dung quy luật này là điều kiện, cơ sở để có thể nhận thức đúng đắn, sâu sắc những phạm trù, những quy luật khác của phép biện chứng Vì vậy trong toàn bộ phép Biện Chứng Duy Vật, quy
luật này được đánh giá là hạt nhân Lê Nin từng nhấn mạnh: “ Có thể định nghĩa vắn tắt phép Biện Chứng là học thưyết về sự thống nhất của các mặt đối lập và như thể là nắm được hạt nhân của phép biện chứng”
Nội dung cơ bản của quy luật được thể hiện thông qua những phạm trù cơ bản và mối liên hệ giữa những phạm trù đó như các mặt đối lập, mâu thuẫn, sự thống nhất của các mặt đối lập, cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập
Trang 22Mặt đối lập là phạm trù dùng để chỉ những mặt có đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định
có khuynh hướng biến đổi trái chiều nhau và tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và
tư duy
Trong hiện thực khách quan tất cả các sự vật, hiện tượng đều chứa đựng các mặt đối lập và sự tồn tại của chúng là khách quan và phổ biến Song, cần chú ý rằng nói đến mặt đối lập là đương nhiên nói đến sự khác nhau Song không phải tất cả sự khác nhau đều là những mặt đối lập, chỉ có sự khác nhau có khuynh hướng vận động trái chiều nhau, phủ định nhau, chuyển hoá cho nhau thì mới gọi là những mặt đối lập Cũng không được nhầm lẫn mặt đối lập với mâu thuẫn Mỗi mâu thuẫn, bao giờ cũng gồm ít nhất hai mặt đối lập Song không phải mỗi mặt đối lập đều tạo thành mấu thuẫn, chỉ có những mặt đối lập nằm trong một chỉnh thể, một sự vật và giữa chúng có mối lien hệ khăng khít, rang buộc với nhau thì mới tạo thành mâu thuẫn Như vậy, mâu thuẫn là sự lien hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi phải có nhau của các mặt đối lập Sự tồn tại của các mặt đối lập này phải lấy sự tồn tại của các mặt đối lập kia làm tiền đề cho mình Tuy hai mặt đối lập có xu hướng bài trừ, phủ định nhau nhưng lại gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng đồng thời tồn tại trong một sự vật hiện tượng Vì vậy, nói sự thống nhất giữa các mặt đối lập trước hết là nói đến tính không thể tách rời nhau của hai mặt đó ( Trong tự nhiên có lực hút – lực đẩy, đồng hoá – dị hoá )
Mặt khác, giữa hai mặt đối lập bao giờ cũng có tồn tại những nhân tố giống nhau Vì vậy, nói thống nhất của các mặt đối lập, còn bao hám sự đồng nhất của các mặt đó trên một số yếu tố Chính nhờ vào tính chất, đặc điểm này mà các mặt đối lập đến một lúc nào đó có khả năng chuyển hoá được cho nhau
CNTB và CNXH tuy khác nhau về bản chất nhưng giống nhau về kinh tế, đều chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế CNXH cũng cần giá trị thặng dư như CNTB nhưng điểm khác biệt ở đây là cách sử dụng giá trị thặng dư đó Sự giống nhau của hai c/độ này là cuộc đấu tranh chống TP, do đó cần phải só sự hợp tác trong lĩnh vực phòng ngừa, đấu tranh chống TP
Sự thống nhất của các mặt đối lập còn được thể hiện trong trạng thái t/đ ngang nhau, cân bằng nhau giữa các mặt đối lập khi mà thế và lực của từng mặt đối lập chưa đủ mạnh để chiếm thế áp đảo tuyệt đối, chi phối chuyển hoá hoặc phủ định mặt kia Điều này tạo nên trạng thái cân bằng tạm thời giữa các mặt đối lập, làm cho sự vật nằm trong trạng thái ổn định tương đối
Đấu tranh giữa các mặt đối lập: là cuộc đấu tranh theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa
các mặt đó Đấu tranh giữa các mặt đối lập diễn ra rất đa dạng, tuỳ thuộc vào tính chất của các mặt đối lập, cũng như mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng Tuỳ thuộc vào lĩnh vực mà trong đó các mặt đối lập tồn tại, tuỳ thuộc vào điều kiện mà ở đó diễn ra cuộc đấu tranh, không nên hiểu đơn giản đấu tranh chỉ là sự thủ tiêu nhau Thực ra sự thủ tiêu chỉ là một trong những hình thức đấu tranh mà thôi Ngoài hình thức đó, đấu tranh giữa các mặt đối lập còn thể hiện sự ảnh hưởng lẫn nhau, biến đổi cho nhau, chế ước lẫn nhau, kìm hãm nhau, thúc đẩy chuyển hoá cho nhau
hiện nay chúng ta đã đổi mới trong tư duy về đấu tranh Trước đây chúng ta nôn nóng xoá bỏ kinh tế
Tư bản, nhưng hiện nay chúng ta đã sử dụng kinh tế Tư bản (tư bản tư nhân, tư bản nhà nước) để xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội
Giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có mối quan hệ với nhau Sự thống nhất có quan
hệ chặt chẽ với trạng thái đứng im, với sự ổn định tạm thời của Sự vật Còn đấu tranh có quan hệ gắn bó với trạng thái vận động, phát triển không ngừng của Sự vật Do đó, sự thống nhất của các
mặt đối lập chỉ là tương đối, sự đấu tranh giữa chúng là tuyệt đối Lê nin khẳng định: Sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện, là tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập, bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự vận động, sự phát triển là tuyệt đối
Sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện cho cuộc đấu tranh giữa chúng, nó tạo môi trường, địa bàn để các mặt đối lập triển khai cuộc đấu tranh, không có thống nhất thì không thể có đấu tranh Chính sự thống nhất tạo điều kiện để sự vật thể hiện nó đang còn là nó và chưa phải là cái khác và chỉ trong điều kiện như thế thì cuộc đấu tranh mới có thể diễn ra
Sự vận động, phát triển của sự vật bao giờ cũng là kết quả của sự kết hợp giữa tính ổn định và tính biến đổi Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, quy định sự ổn định và biến đổi của nó
Trang 23Do vậy, mâu thuẫn và cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động, phát triển của sự vật Chủ nghĩa Mác quan niệm đấu tranh là động lực của sự phát triển
Tóm lại: Nội dung thực chất của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là mọi sự vật
hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành nhũng mâu thuẫn trong bản thân nó, những mâu thuẫn này phát triển đến độ gay gắt và khi có điều kiện chin muồi thì hai mặt đối lập chuyển hoá cho nhau dẫn tới sự mất đi cái cũ và sự ra đời của cái mới Sự thống nhất cũng bị phá vỡ, sự thống nhất mới được thiết lập và lại xuất hiện những cuộc đấu tranh giữa những mặt đối lập mới Chính sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập đã trở thành xung lực nội tại, tạo nên nguồn gốc và động lực cho sự phát triển trong thế giới khách quan
Liên hệ: N/c quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập có ý nghĩa phương pháp luận sâu
sắc đối với hoạt động thực tiễn của chúng ta
Trong quá trình nhận thức sự vật, hiện tượng, việc nghiên cứu sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập cho ta biết được mâu thuẫn của nó và biết được nguồn gốc của sự vận động và phát triển
Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét toàn diện các mặt đối lập; theo dõi quá trình phát sinh, phát triển của các mặt đó; nghiên cứu sự đấu tranh của chúng qua từng giai đoạn; tìm hiểu những điều kiện làm cho những mặt đó biến đổi; đánh giá đúng tính chất và vai trò của từng mặt và của cả mâu thuẫn trong từng giai đoạn; xem xét sự giống nhau và khác nhau của chúng
Hoạt động thực tiễn nhằm biến đổi sự vật là quá trình giải quyết mâu thuẫn của nó Muốn vậy, phải xác định trạng thái chín muồi của mâu thuẫn; tìm ra phương thức; phương tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn và tổ chức thực tiễn để giải quyết mâu thuẫn một cách thực tế
Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi Cho nên, chúng ta không được giải quyết mâu thuẫn một cách vội vàng khi chưa có đủ điều kiện; cũng không được để cho việc giải quyết mâu thuẫn diễn ra một cách tự phát; phải cố gắng tạo điều kiện thúc đẩy sự chin muồi của mâu thuẫn và điều kiện giải quyết
Mâu thuẫn được giải quyết bằng con đường đấu tranh Đối với mâu thuẫn khác nhau phải có cách giải quyết khác nhau Điều đó tuỳ thuộc vào bản chất của mâu thuẫn, vào những điều kiện cụ thể Trong bối cảnh đất nước hiện nay, với nhiệm vụ lớn nhất là xây dựng và bảo vệ tổ quốc, mâu thuẫn
cơ bản và chủ yếu là nhu cầu phát triển đất nước và sự phá hoại của các thế lực thù địch
Việc giải quyết…………
Câu 11: Mâu thuẫn là gì? Nêu các loại mâu thuẫn? vận dụng mâu thuẫn này phân tích mâu thuẫn ở trên thế giới và ở Việt Nam? Phương thức giải quyết mâu thuẫn
Mâu thuẫn là một phạm trù của phép biện chứng duy vật dung đẻ chỉ sự thống nhất và đấu tranh của hai mặt đối lập trong một chỉnh thể tạo thành sự vật - hiện tượng Mâu thuẫn là hiện tượng mang tính khách quan và phổ biến, nó tồn tại trong tất cả các sự vật hiện tượng thuộc tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Nó tồn tại trong mọi giai đoạn khác nhau từ phát sinh, phát triển cho đến
Trang 24chuyển hoá của các sự vật - hiện tượng Tuy nhiên, trong mỗi một lĩnh vực, mỗi một giai đoạn, một đối tượng vật chất khác nhau thì mâu thuẫn được biểu hiện một cách khác nhau Tính phong phú, đa dạng của mâu thuẫn được quy định một cách khách quan bởi các đặc điểm của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn, bởi những điều kiện mà trong đó sự tác động qua lại của các mặt đối lập được thể hiện, bởi trình độ t/c của hệ thống (SV) mà trong đó mâu thuẫn tồn tại
Triết học Mác xít đánh giá cao vai trò, vị trí của mâu thuẫn đối với sự vận động và phát triển và khẳng định rằng mâu thuẫn chính là nguồn gốc, động lực của sự phát triển
Mâu thuẫn có nhiều loại khác nhau và tuỳ theo góc độ nghiên cứu, đánh giá, đặc điểm tính chất cũng như vai trò ý nghĩa của chúng mà có thể phân chia mâu thuẫn theo những dạng chính sau đây:
Nếu căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập đối với một sự vật thì mâu thuẫu bao gồm hai loại bên trong – bên ngoài Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập của cùng một sự vật hay trong cùng một sự vật Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật là mâu thuẫn diễn ra trong mối liên hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác Sự phân loại mâu thuẫn bên trong và bên ngoài chỉ mang ý nghĩa tương đối, tuỳ thuộc vào phạm vi xem xét, giải quyết Có thể cùng một mâu thuẫn nhưng trong mối quan hệ này nó là mâu thuẫn bên trong nhưng trong mối quan hệ khác nó lại là mâu thuẫn bên ngoài và ngược lại
Hai loại mâu thuẫn này có vị trí, ý nghĩa khác nhau đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật Trong đó mâu thuẫn bên trong đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với sự phát triển của sự vật Tuy nhiên, mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài lại vận động trong sự tác động lẫn nhau, vì thế, việc giải quyết mâu thuẫn bên trong không tách rời việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài và việc giải quyết nâu thuẫn bên ngoài tạo điều kiện để giải quyết mâu thuẫn bên trong
Chẳng hạn, VN là thành viên của tổ chức ASEAN, đây là một tổ chức đồng thuận nhưng trong đó cũng có sự khác biệt Trong 10 nước ASEAN chỉ có VN là có ĐCS cầm quyền, vì thế VN và ASEAN vừa hợp tác, vừa đấu tranh VN tham gia ASEAN để phát triển đất nước, giải quyết mối quan hệ bên ngoài để giải quyết mâu thuẫn bên trong ASEAN vừa hội tụ lẫn nhau, vừa mâu thuẫn với nhau Trước lợi ích chung thì ASEAN gắn kết với nhau nhưng trước lợi ích riêng của quốc gia, dân tộc thì lại có xu hướng tách rời nhau, thể hiện như các nước ASEAN đều sửa đổi Luật đầu tư để thu hút đầu tư vào nước mình
Nếu căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật thì mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn qui định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật Nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật và khi nó được giải quyết thì sự vật có sự thay đổi về chất Mâu thuẫn không co bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào đó của sự vật, quy định sự vận động, phát triển một mặt nào đó của sự vật mà không quy định bản chất của sự vật, Việc giải quyết mâu thuẫn này không làm thay đổi căn bản về chất của sự vật
Nếu căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một giai đoạn nhất định thì mâu thuẫn được phân chia thành hai loại mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hang đầu trong một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật, nó chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó Việc giải quyết mâu thuẫn này ở trong từng giai đoạn là điều kiện cho sự vật chuyển sang giai đoạn mới Thực ra giữa mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu có mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ với nhau Trong đó mâu thuẫn chủ yếu là hình thức biểu hiện của mâu thuẫn cơ bản trong từng giai đoạn và việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu là những bước, những nấc thang trong quá trình giải quyết mâu thuẫn cơ bản Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát triển nào đó của sự vật nhưng
nó không đóng vai trò chi phối mà nó bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối Việc giải quyết mâu thuẫn thứ yếu góp phần vào việc từng bước giải quyết mâu thuẫn chủ yếu
Nếu căn cứ tính chất của các lợi ích đối lập trong xã hội thì có các mâu thuẫn xã hội và các mâu thuẫn này được phân chia thành 2 loại mâu thuẫn đối kháng - mâu thuẫn không đối kháng Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, tập đoàn người có lợi ích cơ bản đối lập nhau Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau, chỉ đối lập về những lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời Cần chú ý, mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng chỉ xuất hiện trong xã hội loài người, việc giải quyết
Trang 25mâu thuẫn đối kháng phải bằng phương pháp, phương thức đối kháng, việc giải quyết mâu thuẫn không đối kháng phải bằng phương pháp, phương thức giáo dục, thuyết phục… Mọi ý định dùng phương pháp giải quyết loại mâu thuẫn này vào việc giải quyết mâu thuẫn có bản chất khác đều sai lầm Trong cả 2 trường hợp đó, mâu thuẫn không những không được giải quyết mà thường trở nên trầm trọng them
Khi đánh giá tính chất của thời đại, (trong VK ĐH LX) Đảng ta xác định trên thế giới có 4 loại mâu thuẫn sau:
_ Mâu thuẫn giữa CNXH mâu thuẫn với CNTB đây là mâu thuẫn cơ bản, bao trùm, xuyên suốt cả thời kỳ quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới được mở đầu bằng thắng lợi của cuộc cách mạng tháng 10 nga
_ Mâu thuẫn giữa giai cấp TS với giai cấp CN cùng các tầng lớp NDLĐ khác trong lòng các nứơc
TB
_ Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với CNĐQ Hiện nay mâu thuẫn này đang đựơc chuyển thành mâu thuẫn giữa các nước chậm phát triển, bị lệ thuộc với các nước TB phát triển trên thế giới
_ Mâu thuẫn giữa các nước TBCN với nhau
Tại Đại hội 9 Đảng CSVN đã khẳng định các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại tà phát triển có phần sâu sắc hơn Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra gay gắt CNTB hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường, song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có, đặc biệt là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của LLSX với chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX, mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển với các nước đang phát triển Các quốc gia độc lập ngày càng tăng cường cuộc đấu tranh để tự lựa chọn và quyết định con đưòng phát triển của mình CNXH trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định tiến tới CNXH
Đối với VN, trước đổi mới Đảng ta xác định mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở
nước ta là mâu thuẫn giữa hai con đường XHCN và TBCN Điều đó đến nay về cơ bản vẫn là chính các Tuy nhiên sự khái quát đó chưa thật đầy đủ tính đặc thù của những điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước đang trong thời kỳ quá độ Tại ĐH 7 trong cương lĩnh XD đất nứơc đã khẳng định: “Để thực hiện mục tiêu dân giầu, nứơc mạnh theo con đường XHCN điều quan trọng nhất là phải cải biến cơ bản tình trạng kinh tế, xã hội kém phát triển, chiến thắng những lực lượng cản trở việc thuẹc hiện mục tiêu đó, trước hết là các thế lực thù địch chống đối độc lập dân tộc và CNXH.” Tới ĐH 9
có sự bổ sung, phát triển quan điểm về mâu thuẫn cơ bản, đồng thời nhận thức và giải quyết những mặt khác nhau của những mâu thuẫn đó trong những chặng đường trước mắt của thời kỳ quá độ Hiện nay ở VN có các loại mâu thuẫn sau:
_Loại mâu thuẫn giữa hai khuynh hưóng, giữa hai con đường là TBCN và XHCN Con đường đi lên CNXH của VN là bỏ qua chế độ TBCN vì vậy mâu thuẫn giữa CNXH và CNRB được biểu hiện ở
VN thành mâu thuẫn giữa hai khả năng: phát triển đi lên CNTB hay đi lên CNXH Đấu tranh giải quyết mâu thuẫn ở VN do vậy là đấu tranh giữa hai con đường nhằm đem lại thắng lợi cho con đường đi lên CNXH
_ Loại mâu thuẫn biểu hiện giữa trạng thái KT – XH kém phát triển với yêu cầu xây dựng một XH dân giầu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ văn minh Hiện nay, mâu thuẫn giữa mục tiêu dân giàu, nứơc mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh, đi lên CNXH và khả năng còn hạn chế của nền kinh tế cộng với âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong cà ngoài nước là mâu thuẫn chủ yếu cần tập trung giải quyết
_ Loại mâu thuẫn giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
_ Loại mâu thuẫn giữa nhân tố chủ quan và khách quan trong quá trình đi lên CNXH và biểu hiện cụ thể là mâu thuẫn giữa mặt nhận thức những quy luật, những điều kiện và khả năng khách quan, giữa yêu cầu phải nhận thức với một bên là nhận thức của Đảng và nhà nước trong quá trình lãnh đạo và quản lý đất nước
Để giải quyết mâu thuẫn trên ở Việt nam hiện nay cần tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp theo mội
Trang 26dung mà Đại hội lần 9 của Đảng cộng sản Việt nam đã xác định như sau: “thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo kém phát triển; thực hiện công bằng xã hội, trống áp bức, bất công; đâua tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc”
Trong đâú tranh giải quyết mâu thuẫn chúng ta có thể và cần phải sử dụng kết hợp linh hoạt các hình thức, biện pháp đấu tranh, vừa cứng rắn, vừa mềm dẻo, bằng chính trị quân sự, kinh tế và ngoại giao, bằng đối thoại và đối đầu, hợp tác và cạnh tranh; mở cửa và bảo vệ bản sắc dân tộc; bỏ qua và
kế thừa, sử dụng kinh tế cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội
Câu 12 quy luật những sự thay đổi về luật dẫn đến sự thay đổi về chất? ý nghĩa pp luận của quy luật này?
Phép biện chứng là học thuyết về sự phát triển, sự phát triển của bất cứ sự vật, hiện tượng nào đều trải qua quá trình của ba quy luật Sau đây chúng ta xem xét quy luật từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất Đây là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này vạch rõ cách thức của sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng thông qua sự tác động qua
Trang 27lại giữa lượng và chất của chúng
Bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng bao gồm mặt chất và mặt lượng Hai mặt đó thống nhất hữu cơ với nhảutong sự vật hiện tượng Trong quá trình phát triển, tư tưởng TH của nhân loại cũng đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm chất, lượng cũng như quan hệ giữa chúng Những quan điểm đó phụ thuộc, trứơc hết và chủ yếu vào thế giới quan và phương pháp luận của các nhà triết học hay của các trường phái triết học quy định Chỉ khi phép biện chứng duy vật ra đời mới đem lại quyết định đúng đắn về khái niệm chất, lượng và quan hệ qua lại giữa chúng, từ đó khái quát thành quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại
_ Chất là một phạm trù chiết học, dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác
Mỗi sự vật có rất nhiều thuộc tính khác nhau và mỗi thuộc tính đó cũng có những đặc trưng về chất của riêng mình, vì vậy, mỗi thuộc tính lại trở thành một chất Do đó, có thể nói mỗi sự vật bao gồm nhiều chất khác nhau Tuy nhiên, với tư cách là những khía cạnh của chất được bộc lộ ra trong các mối quan hệ thì các thuộc tính của sự vật có vị trí khác nhau, trong đó có những thuộc tính cơ bản và những thuộc tính không cơ bản Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo thnhf chất căn bản của sự vật Mặc dù ở mỗi sự vật có nhiều chất khác nhau nhưng chỉ có một chất căn bản là đặc trưng cho
nó, đó là loại chất mà sự tồn tại hay mất đi của nó quyết định sự tồn tại hay mất đi của sự vật
Chất của sự vật, không chỉ được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành nên nó mà còn bởi cấu trúc bên trong của sự vật, bởi phương thức liên kết, sắp xếp các yếu tố cấu thành sự vật đó Vì vậy,
sự thay đổi về chất của sự vật không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố cấu thành nên nó mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi vè phương thức tổ chức, sắp xếp, phương thức liên kết các yếu tố đó với nhau VD: Kim cương và than chì; cùng một thập thể đó nếu để như cũ thì hoạt động đó trì trệ Nếu đổi mới công tác chỉ đạo điều hành, phương thúc, cách thức sắp xếp tổ chức, phương pháp làm việc thì
nó tạo nên sức mạnh của đơn vị đó Và cũng như vậy, nếu cho cán bộ học nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cũng tạo nên sự thay đổi về chất
Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy
mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của sự vật cũng như của các thuộc tính của sự vật
Lượng nói lên kích thước dài hay ngắn, quy mô to hay nhỏ, số lượng ít hay nhiều, cao hay thấp, đậm hay nhạt Trong tự nhiên và xã hội, lượng có thể được biểu thị bằng những con số cụ thể, chúng ta
có thể xác định cụ thể, chính xác bằng những công cụ đo lường Nhưng cũng có những trường hợp lượng được biếu thị dưới dạng trừu tượng và chỉ được xác định trên cơ sở những căn cứ có tính tượng đối Có những trường hợp lượng là nhân tố quyết định bên trong của sự vật Nhưng cũng có những trường hợp lượng chỉ nói lên nhân tố bên ngoài của sự vật Vì vậy, sự biểu thị của lượng là hết sức đa dạng, nếu một sự vật có nhiều chất thì tương tự như vậy, sự vật đó cũng có nhiều lượng
và lượng của sự vật cũng mang tính khách quan
Tuy nhiên, sự phân biệt chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối Điều này phụ thuộc vào từng mối quan hệ cụ thể xác định Có những tính quy định trong mối quan hệ này là chất của sự vật, song trong mối quan hệ khác lại biểu thị lượng của sự vật và ngược lại
Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất
_ Bất kỳ sự vật nào cũng có chất và lượng, chúng quy định lẫn nhau, không thể tách rời, mỗi một chất bất lỳ bao giờ cũng có lượng tương ứng với nó Không có chất và lượng thuần tuý tách khỏi nhau Trong quá trình tồn tại và vận động của sự vật thì chất và lượng cũng có sự biến đổi Tuy nhiên sự biến đổi về lượng và chất không diễn ra độc lập tách rời nhau, trái lại gắn bó chặt chẽ với nhau, sự biến đổi của mặt này sẽ tác động làm ảnh hưởng đến sự biến đổi của mặt kia và ngược lại Chúng ta cần chú ý rằng không phải một sự thay đổi nào về lượng cũng trực tiếp và ngay lập tức làm thay đổi căn bản về chất của sự vật Lượng có thể biến đổi trong một phạm vi giới hạn nhất định
mà chưa làm cho chất thay đổi Chỉ khi vượt qua phạm vi giới hạn đó thì mới có sự biến đổi về chất, phạm vi giới hạn đó được gọi là Độ
_ Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn, mà trong đó, sự thay đổi về lượng của
Trang 28sự vật chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật đó
Trong giới hạn của Độ, về cơ bản chất và lượng thống nhất với nhau mà sự vật còn là nó mà chưa
chuyển thành cái khác
_ Về mặt tốc độ thì lượng thay đổi trước và nhanh hơn chất, sự vận động và biến đổi của sự vật bao giờ cũng được bắt đầu từ những sự biến đổi về lượng và quá trình này diễn ra một cách tiện tiến theo chiều hướng tăng dần, hoặc giảm dần và khi sự thay đổi đó sẽ đạt tới điểm giới hạn cuối cùng mà tại
đó lượng tiếp tục biến đổi thì sẽ xảy ra sự thay đổi về chất Điểm giới hạn cuối cùng đó được gọi là điểm nút
Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ để làm cho chất của sự vật thay đổi Bất kỳ độ nào cũng đựoc giới hạn bởi hai điểm nút Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn tới sự ra đời của chất mới Sự thống nhất giữa lượng và chất mới tạo thành độ mới và điểm nút mới Quá trình đó diễn ra liên tiếp trong sự vật và vì vậy sự vật luôn phát triển chừng nào nó còn tồn tại
Sự thay đổi về chất không giống như sự thay đổi về lượng Nó không diễn ra một cách tiệm tiến đân dần mà thường được thực hiện thông qua bước nhảy
Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hoá về chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra
Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu cho một giai đoạn tiếp theo Nó là sự gián đoạn trong quá trình vận động và phát triển liên tục vủa sự vật Có thể nói, trong quá trình phát triển của sự vật, sự gián đoạn là tiền đề cho sự liên tục và liên tục là sự kế tiếp của hàng loạt sự gián đoạn
Bất kỳ một sự thay đổi căn bản nào về chất của sự vật cũng đều chỉ được thực hiện thông qua bước nhảy Nếu chỉ bằng phạm trù về tính tiệm tiến thì chúng ta không thể giải thích sự xuất hiện chất mới, sự ra đời sự vật mới Lênin nhấn mạnh: “Tính tiệm tiến mà không có bước nhảy vọt, thì không giải thích được gì cả”
Sự thay đổi về chất của sự vật diễn ra hết sức đa dạng với nhiều hình thức, nhiều bước nhảy khác nhau, được quyết định bởi bản thân sự vật, bởi những điều kiện cụ thể trong đó sự vật thực hiện bước nhảy Tuỳ theo tính chất, đặc điểm của bước nhảy, có thể phân loại như sau:
Xét về mặt thời gian của sự thực hiện thay đổi về chất thì có bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần Trong đó, bước nhảy đột biến là bước nhảy làm biến đổi một cách nhanh chóng về chất ở tất cả các bộ phận cấu thành lên sự vật Chẳng hạn như những vụ nổ hạt nhân, những phản ứng hạt nhân Bước nhảy dần dần là quá trình thay đổi về chất của sự vật thông qua sự tích luỹ những chất mới và loại bỏ dần dần những chất cũ Chẳng hạn quá trình chuyển hoá vượn thành người diễn ra rất lâu dài, hàng vạn năm Cần chú ý: bước nhảy dần dần khác sự thay đổi dần dần về lượng ở chỗ sự thay đổi về lượng diễn ra trong khuôn khổ của chất đang có nhưng bước nhảy dần dần lại là sự chuyển hoá từ chất mày sang chất khác, là sự đứt đoạn của tính liên tục
Xét về quy mô thực hiện bước nhảy, có thể chia thành bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi về chất một cách toàn diện trên tất cả các mặt, các yếu tố của sự vật Bước nhảy cục bộ là loại bước nhảy chỉ làm thay đổi về chất một số mặt, một số yếu tố, một số bộ phận của sự vật
Đối với các sự vật phức tạp về tính chất, cấu trúc thì bước nhảy theo con đường từ những thay đổi
về chất cục bộ dẫn đến thay đổi về chất toàn bộ (quá độ lên CNXH)
Nếu xem xét sự thay đổi về chất trên lĩnh vực xã hội thì có thể phân chia thành thay đổi mang tính
cách mạng và thay đổi mang tính tiến hoá Cách mạng là sự thay đổi mà trong quá trình đó chất của
sự vật biến đổi căn bản, không phụ thuộc vào sự cải tạo đó diễn ra như thế nào Tiến hoá là sự thay đổi về lượng cùng với những sự biến đổi nhất định về chất nhưng là chất không căn bản Cần chú ý:
cách mạng là khái niệm hẹp hơn bước nhảy bởi vì nó chỉ là sự cải tạo, thay đổi chất căn bản và sự thay đổi đó mang tính tiến bộ chuyển hoá lên nấc thang phát triển cao hơn, còn nếu sự thay đổi đó
mà làm cho xã hội có bước thụt lùi thì đó là phản cách mạng
Sự thay đổi về chất là kết quả của sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút và chất mới ra đời, nó lại có sự tác động trở lại đối với sự biến đổi của lượng, nó làm cho lượng thay đổi ở quy mô, mức
độ, nhịp điệu páht triển của nó
Trang 29Tóm lại là những phân tích trên có thể rút ra nội dung cơ bản của quy luật: Bất kỳ sự vật nào cũng là
sự thống nhất giữa chất và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng trong khuôn khổ của độ đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua những bước nhảy, chất mới ra đời tác động trở lại đến
sự biến đổi của lượng mới Quá trình đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng phát triển Nói chung quy luật này có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chúng ta
Trước hết, về mặt nhận thức, để có một tri thức đầy đủ về sự vật thì phải nhận thức cả về lượng và chất của nó Những nhận thức ban đầu về chất của sự vật chỉ trở nên đúng đắn và được làm sâu sắc thêm, khi đạt tới tri thức về sự thống nhất giữa chất và lượng của sự vật đó
Ví sự thay đổi về lượng và thay đổi về chất có mối quan hệ biện chứng với nhau cho nên trong hoạt động thực tiễn phải đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò, ý nghĩa của mỗi một loại thay đổi của chất và lượng đối với sự phát triển, kịp thời chuyển từ sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất,
từ những thay đổi mang tính tiến hoá sang những thay đổi mang tính cách mạng
Xem xét tiến hoá và cáh mạng trong mối quan hệ biện chứng của chúng là một trong những nguyên tắc phương pháp luận Hiểu đúng đắn mối quan hệ đó là cơ sở để chống lại chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa xét lại hữu huyanh cũng như chủ nghĩa tả huynh
Thứ hai, trong thực tiễn, việc nắm vững nội dung của quy luật cũng như ý nghĩa phương pháp luận của nó có vai trò to lớn trong việc xem xét và giải quyết những vấn đề do công cuộc đổi mới hiện nay đặt ra Theo tính chất, ý nghĩa và phạm vi bao quát của nó, đổi mới có ý nghĩa như là một quá trình cách mạng Việc thực hiện thành công quá trình đổi mới trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội
sẽ tạo ra những bước nhảy về chất ở đó, và tạo điều kiện để thực hiện thành công quá trình đổi mới toàn diện tất cả các mặt của đời sống xã hội nhằm tạo ra bước nhảy về chất của toàn xã hội nói chung
như bất kỳ sự thay đổi về chất nào khác, những bước nhảy trong quá trình đổi mới chỉ có thể là kết quả của quá trình thay đổi về lượng thích hợp Vì vậy, bất kỳ sự nôn nóng, chủ quan, ảo tưởng nào đều có thể gây ra sự tổn thất cho cách mạng, cản trở sự nghiệp đổi mới đất nứơc
Câu 13 Quy luật phủ định của phủ định? ý nghĩa phương pháp luận?
Bất cứ sự vật hiện tượng nào trong thế giới khách quan đều trải qua quá trình sinh ra, tồn tại, phát triển và diệt vong Sự vật cũ mất đi được thay thế bằng sự vật mới Sự thay thế đó là tất yếu trong quá trình vận động và phát triển của sự vật Không như vậy, sự vật không phát triển được Sự thay thế đó được triết học gọi là phủ định
Trong lịch sử triết học, tuỳ theo thế giới quan và phương pháp luận, các nhà triết học và các trường
Trang 30phái triết học có quan điểm khác nhau về sự phủ định Có quan điểm cho rằng, sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ hầu như lặp lại toàn bộ quá trình của sự vật cũ (Pitago cho rằng sự phát triển của
xã hội phải trải qua một chu kỳ là 78 vạn năm) Những người theo quan điểm siêu hình coi sự phủ định là sự diệt vong hoàn toàn của các cũ, sự phủ định sạch trơn, chấm dứt hoàn toàn sự vận động
và phát triển của sự vật Họ tìm nguyên nhân của phủ định ở bên ngoài sự vật, ở một lực lượng siêu nhiên nào đó
Theo triết học Mác-Lênin, sự phủ định là sự thay thế một sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận động và phát triển Sự thay thế này được thực hiện theo hai cách Cách thứ nhất có thể do sức mạnh từ bên ngoài tác động vào làm cho sự vật bị phá huỷ, bị biến dạng trở thành sự vật khác Cách thứ hai, sự thay đổi được thể hiện thông qua việc giải quyết mâu thuẫn nội tại bên trong sự vật, thông qua quá trình tích luỹ về lượng của bản thân sự vật làm cho sự vật đó tự phủ định mình chuyển hoá thành cái khác
Triết học Mác-xít nhấn mạnh và quyết tâm đến dạng phủ định thứ hai và chỉ rõ đó là sự phủ định
BC
PĐBC là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự thân, Sự phát triển tự thân, nó là một khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời của một sự vật mới, tiến bộ hơn sự vật cũ
PĐBC có hai dặc trưng (đặc điểm) cơ bản là tính khách quan và tính kế thừa
Tính khách quan của PĐBC thể hiện ở chỗ nguyên nhân của sự PĐ nằm ngay trong bản thân sự vật,
nó kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật Nhờ vào việc giải quyết những mâu thuẫn mà sự vật luôn phát triển, vì thế PĐBC là một tất yếu khách quan trong quá trình vận động và phát triển của sự vật Mặt khác, mỗi sự vật lại có phương thức PĐ riêng tuỳ thuộc vào việc giải quyết mâu thuẫn của bản thân chúng, điều này có nghĩa là PĐBC không phụ thuộc vào ý muốn, ý chí của con người Con người, trên cơ sở nắm vững quy luật phát triển của sự vật, chỉ có thể tác động vào quá trình đó làm cho nó diễn ra nhanh hay chậm mà thôi
Sự kế thừa của PĐBC thể hiện ở chỗ, nó duy trì một số yếu tố, một số đặc trưng của cái bị phủ định PĐBC là tự thân phủ định, là kết quả của sự phát triển tự thân của sự vật nên nó không thể là sự thủ tiêu, sự phá huỷ hoàn toàn cái cũ Cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng của cái cũ Cái mới xuất hiện không phải từ hư vô mà nó là sự phát triển tiếp tục của cái cũ, từ cái cũ, trên cơ sở gạt bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu của cái cũ và chọn lọc, giữ lại, cải tạo những mặt còn thích hợp, những mặt tích cực, bổ sung những mặt mới phù hợp với hiện thực như vậy, sự phát triển chẳng qua chỉ là sự biến đổi trong đó giai đoạn sau bảo tồn tất cả những mặt tích cực được tạo ra ở giai đoạn trước và bổ sung thêm những mặt mới phù hợp với hiện tại Đây là điểm khác biệt cơ bản nhất giữa phủ định biẹn chứng và phủ định siêu hình, nó làm cho sự phủ định không tạo ra sự cắt đứt với
quá khứ Lênin khẳng định:”Không phải sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bane chất trong phép biện chứng mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của liên
hệ, vòng khâu của sự phát triển, với sự duy trì của cái khẳng định.”
Những người theo quan điểm siêu hình đã xem xét phủ định đơn giản chỉ là sự xoá bỏ hoàn toàn cái
cũ, chấm dứt sự liên hệ vận động, phát triển của bản thân sự vật, họ không thấy được tiền đề của sự nảy sinh ra cái mới được chuẩn bị từ trong cái cũ Mặt khác khi nói đến kế thừa thì họ lại hiểu nó như là sự giữ lại nguyên xi toàn bộ, không có cải tạo lọc bỏ Họ lắp ghép các yếu tố của cái cũ vào trong cái mới, một cách giản đơn áp đặt máy móc
Ngược lại, PĐBC không chỉ là sự khắc phục cái cũ mà còn là sưk liên kết giữa cái cũ với cái mới, giữa sự khẳng định với sự phủ định, quá khứ với hiện tại Vì vậy, PĐBC trở thành vongd khâu tất yếu của mối liên hệ và sự phát triển
Trong một lần đến thăm VN, Lý Quang Diệu đã nói rằng: : Đừng sợ nghèo, trong thời đại ngày nay dân tộc nào rồi cũng hiện đại hoá được, chỉ sợ HĐH rồi không giữ được bản sắc của dân tộc” Trong thời kỳ cải cách ruộng đất chúng ta đã cải cách với khẩu hiệu “đào tận gốc, trốc tận rễ địa chủ, cường hào, phong kiến”, chúng ta đã phá huỷ rất nhiều các giá trị văn hoá trong các đình làng, đền, chùa, miếu Chúng ta lầm tưởng dần đó là tàn dư của chế độ phong kiến Thực ra đó là giá trị văn hoá truyền thống, bản sắc của dân tộc Việt nam quá khứ không bao giờ biến mất hoàn toàn, trong dòng chảy vô tận của thời gian những nhân tố quá khứ sẽ để lại những dấu ấn nhất định ở hiện tại
Trang 31Những nhân tố của qua khứ sẽ tham gia vào việc tạo lập cái hiện tại, tạo nên sợi dây sinh động liên
hệ giữa quá khứ với hiện tại Vì vậy ta phải biết gạn đục, khơi trong, lưu giữ những nhân tố tích cực của quá khứ và cải tạo biến đổi cho phù hợp với điều kiện mới
PĐBC mới nói lên một giai đoạn một nấc thang trong quá trình phát triển Để cho sự vật mới ra đời thì phải trải qua nhiều lần phản đối biện chứng và đến đó, tức là sự vật mới ra đời, thì một chu trình phát triển mới được thực hiện hoàn toàn Như vậy, phản đối biện chứng phải diễn ra ít nhất 2 lần và mỗi lần phủ định đó lại có 1 đặc điểm, tính chất riêng Phản đối biện chứng lần 1 làm cho sự vật cũ chuyển hoá thành cái đối lập với mình, đây là bước trung gian của quá trình phát triển Kết quả của lần phủ định này chưa làm xuất hiện cái mới hoàn chỉnh và trong kết quả ấy đã hàm chứa những nhân tố cho sự phủ định tiếp theo Cần lưu ý, kết quả của nó có thể dẫn đến sự tiến bộ hay cái mới xuất hiện, nhung cũng có thể là bước thụt lùi tạm thời so với cái ban đầu Phủ định lần 2 ( tức là phủ định của ohủ định), mới dẫn đến sự ra đời của cái mới một cách trọn vẹn Về hình thức, kết quả của lần phủ định này dường như có sự quay trở lại với điểm xuất phát ban đầu nhưng không phải lặp lại nguyên xi như cái ban đầu mà trên một cơ sở mới trình độ mới cao hơn Ở trong nó có sự kế thừa những yếu tố tích cực của cả cái xuất phát ban đầu và của cả cái trung gian Vì vậy cái mới xuất hiện, với tư cách là kết quả của phủ định lần 2 có nội dung toàn diện hơn, phong phú hơn so với cái xuất phát ban đầu và cái trung gian
Ví dụ: Hạt lúa cây lúa hạt lúa ( trong cây lúa bao hàm chứa trong nó sự phủ định tiếp theo, phủ định lần 2 thành những hạt lúa nó khắc phục nhũng đặc điểm tố chất của hạt lúa ban đầu nhưng trên
cơ sở cao hơn)
Kết quả phủ định của phủ định vừa là điểm kết thúc cho một chu kỳ phát triển vừa là để khởi đầu cho một chu kỳ phát triển tiếp theo và cứ như vậy sự vật mới liên tục xuất hiện thay thế cho sự vật
cũ
Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính chất, khuynh hưóng tiến lên của sự phát triển, quá trình đó không đơn giản theo một đuờng thẳng mà quanh co, phức tạp và qua nhiều lần phủ định Triết học Mác-Lênin quan niệm con đường của sự phát triển là theo hình xoáy ốc Với đặc trưng là tính kế thừa, tính lặp lại nhưng không quay trở lại và tiến lên Mỗi một vòng mới của xoáy ốc ấy thể hiện tính vô cùng, vô tận, tính không có giới hạn của quá trình phát triển đi lên từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Lênin đã khái quát: “Sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua nhưng dưới một hình thức khác, ở một trình độ cao hơn (Phủ định của phủ định); Sự phát triển có thể nói là theo đường xoáy ốc chứ không theo đường thẳng”
Quy luật phủ định của phủ định vạch rõ khuynh hướng và con đường của sự phát triển Phủ định của phủ định được thực hiện ít nhất là qua hai lần Tuỳ thuộc vào đặc điểm, tính chất của từng đối tượng cụa thể của mỗi sự vật hiện tượng mà số lần phủ định trong một chu kỳ phát triển của nó trên thực tế của nó có thể nhiều hơn hai lần
Tóm lại: quy luật phủ định của phủ định nói lên mối liên hệ, sự kế thừa cái khẳng định và cái phủ định Do có sự kế thừa đó phản đối biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn, xoá bỏ tất cả những gì đã đạt đựoc từ những giai đoạn trước đó mà nó thực sự là điều kiện cho sự phát triển Nó duy trì và gìn giữ những nội dung tích cực của các giai đoạn trước bổ sung thêm những thuộc tính mới làm cho sự vật phát triển theo đường xoắy ốc
N/c quy luật này có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc trong hoạt động của chúng ta Qua nghiên cứu quy luật này giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về hướng phát triển của sự vật, quy trình phát triển của sự vật không diễn ra theo đường thẳng mà quanh co, phức tạp, trong đó bao gồm nhiều chu
kỳ khác nhau, chu ký sau bao giờ cũng tiến bộ hơn chu kỳ trước
Ở mỗi chu kỳ phát triển sự vật có những tính chất đặc điểm khác nhau cần phải phát hiện ra nhũng đặc điểm tính chất đó để có cách tác động phù hợp làm kimg hãm hoặc thúc đẩy sự phát triển phục
vụ lợi ích của con người
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, chúng ta phải biết phát hiện cái mới đích thực và ủng hộ nó Khi mới ra đời cái mới luôn còn yếu ớt, ít ỏi, vì vậy, chúng ta phải ra sức bồi dưỡng tạo điều kiện cho nó chiến thắng cái cũ phát huy ưu thế của nó Điều này đòi hỏi phải có tri thức và bản lĩnh giúp
ta bảo vệ cái mới -> không ngừng học hỏi để nâng cao tri thức, không ngừng rèn luỵên nâng cao bản
Trang 32lĩnh Thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám vạch ra sự thực là lực cản lớn cho sự phát triển
Trong quá trình đấu tranh chống lại cái cũ phải biết cải tạo cái cũ để nó phù hợp với điều kiện mới, phải biết khai thác, kế thưà các truyền thống tố đẹp của dân tộc, của nhân loại, phải tuyệt đối tránh
tư tưởng phủ định sạch trơn Đồng thời tránh tư tưởng bảo thủ, trì trệ, thoả mãn, với những gì đã có, không chịu đổi mới nhận thức và trong hoạt động thực tiễn
Đối với Việt nam chúng ta đang tiến hành sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa với mục đích làm chuyển biến nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu sang công nghiệp hoá- hiện đại hoá, đương nhiên trong quá trình đó phải thực hiện sự phản đối biện chứng đối với cái cũ, về thực chất,
nó đã nhằm phủ định caí cũ để cho ra đời cái mới Trong quá trình đó, cần phải biết giữ gìn, bảo tồn bản sức văn hoá dân tộc kế thừa và phát huy những thành tích chúng ta đã đạt đựoc từ trước tới nay
và dùng những giá trị đó là một trong những cơ sở tiền đề tạo ra cái mới Đảng ta chủ trương cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, phải xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại trong hoàn cảnh như vậy, nói chung nắm vững phép biện chứng duy vật, thấu suốt những nguyên tắc, phương pháp luận của nó càng cần thiết phải đổi mới tư duy, thực hiện thành công sự việc đổi mới ở nước ta hiện nay
Câu 14: Mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng
1_ Khái niệm: Cặp phạm trù cái chung - cái riêng là một trong 6 cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật Mối quan hệ giữa cia chung – cái riêng là mối quan hệ phổ biến nhất, liên quan tới toàn bộ quá trình nhận thức của con người
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung, không những có ở một kết cấu vật chất nhất định mà còn được lặp lại ở nhiều sự vật hiên tượng hay quá
Trang 33trình riêng lẻ khác Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chỉ
có trong một kết cấu vật chất nhất định và không có sự lặp lại ở bất kỳ một sự vật hiện tượng nào hay một kết cấu vật chất nào khác
Về thực chất CC và cái ĐN đều nằm trong một sự vật Sự khác biệt giữa chúng là ở chỗ CC không những có ở trong sự vật này mà còn có trong những sự vật riêng lẻ khác, còn cái ĐN chỉ có trong một sự vật mà thôi Như vậy, CC và cái ĐN nằm trong CR
Ví dụ: giai cấp công nhân Việt nam là cái riêng, trong giai cấp công nhân Việt nam có những đặc điểm, tính chất, nhiệm vụ của giai cấp công nhân thế giới, đó là cái chung Nhưng có đặc điểm riêng mình là ra đời trước giai cấp TS VN không có công nhân quý tộc Có mối liên hệ mật thiết với nhân dân, sớm có ĐCS lãnh đạo, sớm giành được chính quyền đó là cái đơn nhất
Mối quan hệ giữa cái chung, cái riêng và cái đơn nhất
Trong lịch sử triết học đã có nhũng quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Phái duy thực cho rằng, cái riêng chỉ tồn tại tạm thời, thoáng qua, không phải là cái tồn tại vĩnh viễn, chỉ có cái chung mới tồn tại vĩnh viễn, thật sự độc lập với ý thức của con người CC không phụ thuộc vào cái riêng, mà còn sinh ra cái riêng Ngược lại, phái duy danh cho rằng, chỉ có cái riêng tồn tại thực sự, còn CC chỉ là những tên gọi chống rỗng, do tư tưởng con người bịa dặt ra, không phản ánh cái gì trong hiện thực Quan niệm này không thừa nhận nội dung khách quan của các khái niệm Cả quan niệm của phái duy thực và phái duy danh đều sai lầm ở chỗ, họ đã tách rời cái riêng ra khỏi cái chung, tuyệt đối hoá cái riêng, phủ nhận cái chung hoặc ngược lại Họ không thấy được sự tồn tại khách quan và mối liên hệ khăng khít giữa chúng
Triết học Mác xít cho rằng, CR, CC và cái Đn đều tồn tại khách quan, giữa chúng tó mối liên hệ hữu
cơ với nhau Điều đó thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, CC chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua những cái riêng để thể hiện sự tồn tại của mình Điều này có ý nghĩa là sự tồn tại của cái chung là có thật Nhưng sự tồn tại của nó không biệt lập lơ lửng ở đâu đó bên ngoài, mà là ở bên trong những cái riêng Không có cái chung thuần tuý, trừu tượng, mà là cái chung của chính những cái riêng, chính cái riêng đã hàm chứa trong nó cái chung Chính thông qua những cái riêng khác nhau mà bộc lộ những đặc điểm, những thuộc tính giống nhau giữa chung, qua đó làm xuất hiện cái chung Như vậy, CC được khái quát, Được rút ra từ những cái riêng, thông qua sự tồn tại, sự tác động lẫn nhau giữa những cái riêng mà làm xuất hiện những cái chung giữa chúng
Thứ hai, CR chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung, không có cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với cái chung Mỗi CR bao giờ cũng xuất hiện tồn tại trong một môi trường, một hoàn cảnh xác định và có sự tương tác với môi trường, hoàn cảnh đó Do đó, nó tham gia vào các mối liên hệ hết sức đa dạng với những sự vật hiện tượng khác xung quanh mình Các mối liên hệ
đó trải rộng dần, gặp gỡ giao thoa với các mối liên hệ khác kết quả là tạo nên một mạng lưới những mối liên hệ Trong mạng lưới đó xuất hiện một hoặc mốt số những đặc điểm, những thuộc tính chung
Mặt khác, mỗi CR trong quá trình tồn tại, vân động sẽ có sự chuyển hoá cho nhau, không có cái riêng nào là vĩnh viễn , chúng vừa là nhân vừa là quả của nhau, có thể là trực tiếp, gián tiếp qua nhiều khâu trung gian Mặc dù có những CR rất khác nhau nhưng giữa những cái riêng đó đều có những điểm chung là phải tuân thủ những quy luật chung mang tính khách quan (quốc gia, dân tộc nào, dù đang tồn tại ở cấp độ nào cũng phải tham gia vào những cái chung của thế giới) Lênin đã khẳng định:” CR không tồn tại như thế nào khác ngoài mối liên hệ dẫn tới cái chung và thông qua hàng nghì sự chuyển hoá, nó cond liên hệ với những cái riêng thuộc loại khác”
Thứ ba, CR là cái toàn bộ, cái chỉnh thể, nó phong phú đa dạng hơn CC Còn CC là cái bộ phận nhưng nó sâu sắc hơn cái riêng Sở dĩ có hiện tượng này là bởi lẽ, ở CR bao giờ cũng giữ lại cho mình những cái ĐN, tức là những đặc điểm, tính chất độc đáo chỉ nó mới có, và điều đó đủ để phân biệt giữa cái riêng này với cái riêng khác Ngượic lại CC sâu sắc hơn bởi lẽ nó phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ tất nhiên, ổn định, lặp lại ở nhiều cái riêng và do đó cái chung gắn liền với bản chất, gần gũi với quy luật, nó quy định phương hướng vận động và phát triển của sự vật Lênin khẳng định: “Bất cứ CC nào cũng là một bộ phận, một khía cạnh hay một bản chất của cái riêng Bất cứ CC nào cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi sự vật riêng lẻ, bất cứ CR nào