Bởi vì tiền lương có vai trò to lớn, là lợi ích kinh tế thiết thân của người lao động, là phương tiện tái sản xuất sức lao động, năng lực của lao động trong quá trình sản sinh ra các giá
Trang 1T R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C
N G O Ạ I T H Ư Ơ N G
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MARX-LENIN
ĐỀ TÀI:
HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG
VÀ VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
GVHD: Th.S Đặng Hương Giang Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hoàng Ly Niên khoá: 58 (2019 - 2023)
Mã lớp hành chính: K58 - Anh 01 - CTTTTC
Mã sinh viên: 1913380015
Mã môn học: TRI115E(58-1/1920).3_LT
Số thứ tự lớp bộ môn: 34
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU _ 2
1 Lý do chọn đề tài _ 2
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu _ 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
I LÝ LUẬN VỀ HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG _ 3
1 Những khái niệm cơ bản _ 3
1.1 Khái niệm hàng hoá _ 3 1.2 Khái niệm sức lao động 3
2 Những điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá _ 3
3 Hàng hoá sức lao động - Thuộc tính của hàng hoá sức lao động _ 3
3.1 Thuộc tính giá trị _ 3 3.2 Thuộc tính giá trị sử dụng 4
II TIỀN LƯƠNG VÀ HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG 5
1 Khái niệm tiền lương 5
2 Bản chất của tiền lương 5
3 Vai trò của tiền lương _ 5
4 Yêu cầu tiền lương trong mối quan hệ với người lao động _ 6
5 Các yếu tố tác động đến tiền lương _ 7 III CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN 9
1 Thực trạng chính sách cải cách tiền lương ở nước ta hiện nay 9
1.1 Những mặt tích cực trong chính sách cải cách tiền lương _ 9 1.2 Những điểm bất cập trong chính sách cải cách tiền lương 10
2 Một số giải pháp cơ bản cải cách tiền lương 11 KẾT LUẬN _ 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng là yếu tố quan trọng và hàng đầu của quá trình lao động sản xuất Chủ nghĩa tư bản ra đời gắn với sự phát triển ngày càng cao của sản xuất hàng hoá Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định sự chuyển hoá tiền thành tư bản,
là một trong những điều kiện tiên quyết thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Hiện nay, tiền lương là vấn đề rất quan trọng được nhiều người quan tâm, nhất là người lao động Bởi vì tiền lương có vai trò to lớn, là lợi ích kinh tế thiết thân của người lao động, là phương tiện tái sản xuất sức lao động, năng lực của lao động trong quá trình sản sinh ra các giá trị gia tăng Bên cạnh đó, vấn đề chính sách cải cách tiền lương còn nhiều phức tạp, nhiều điểm bất cập, chưa phù hợp, có tác động xấu đến thái độ, động cơ của người lao động, có thể dẫn đến kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế
Vì vậy, em chọn đề tài “Hàng hoá sức lao động và vấn đề tiền lương ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài cho tiểu luận này
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Tiểu luận nghiên cứu một cách hệ thống, làm rõ vấn đề về hàng hoá sức lao động và vấn đề tiền lương đồng thời làm bật những mặt tích cực và bất cập trong chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay Từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản để cải thiện chính sách tiền lương ở Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, tiểu luận cần phải:
Phân tích về hàng hoá và hàng hoá sức lao động
Phân tích về vấn đề tiền lương cũng như chính sách tiền lương hiện nay; qua đó đưa ra phương hướng giải quyết phù hợp
Trang 4I LÝ LUẬN VỀ HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG
1 Những khái niệm cơ bản
1.1 Khái niệm hàng hoá
Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán
1.2 Khái niệm sức lao động
Theo C.Marx, “Sức lao động là toàn bộ các thể lực và trí lực tồn tại trong thân thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích” Như vậy, sức lao động là thứ có sẵn trong mỗi một con người
Sức lao động là cái có trước còn lao động là quá trình vận dụng sức lao động
2 Những điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá
Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hoá trong những điều kiện lịch
sử nhất định sau:
Thứ nhất, người lao động là người tự do về thân thể của mình, có khả
năng chi phối sức lao động ấy và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa
Thứ hai, người lao động bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, để tồn tại
buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống
3 Hàng hoá sức lao động - Thuộc tính của hàng hoá sức lao động
3.1 Thuộc tính giá trị
Giá trị hàng hoá sức lao động là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động Tái sản xuất sức lao động bao gồm hai phương diện: tái sản xuất sức lao động về mặt chất lượng, có nghĩa là phải bảo đảm phục hồi và nâng cao thể lực, trí tuệ cho người lao động, và
Trang 5tái sản xuất sức lao động về mặt số lượng, có nghĩa là bảo đảm sự sống cho con cái người lao động Như vậy, giá trị hàng hoá sức lao động do những
bộ phận sau đây hợp thành:
Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết
để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân
Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho
con cái người công nhân
Giá trị hàng hoá sức lao động có tính lịch sử và xã hội, do đó tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi nước và từng thời kỳ mà giá trị hàng hoá sức lao động cao hay thấp
Để biết được sự biến đổi của giá trị hàng hoá sức lao động trong một thời kì nhất định, cần nghiên cứu hai loại nhân tố tác động đối lập nhau đến
sự biến đổi của giá trị hàng hoá sức lao động Một mặt, sự tăng nhu cầu trung bình của xã hội về hàng hoá và dịch vụ, về học tập và trình độ lành nghề, đã làm tăng giá trị hàng hoá sức lao động Mặt khác, sự tăng năng suất lao động xã hội cũng làm giảm giá trị hàng hoá sức lao động
3.2 Thuộc tính giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động thể hiện ở quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động của người công nhân để sản xuất ra một hàng hóa, một dịch vụ nào đó
Trong quá trình lao động, sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn lượng giá trị của bản thân nó, phần giá trị dôi ra so với giá trị sức lao động gọi là giá trị thặng dư Đó chính là đặc điểm riêng có của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động
Trang 6II TIỀN LƯƠNG VÀ HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG
1 Khái niệm tiền lương
Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập được biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm
2 Bản chất của tiền lương
Giá trị hàng hóa sức lao động được biểu hiện trên thị trường thông qua tiền lương Vì vậy, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả của sức lao động mà người sử dụng lao động phải trả cho người cung ứng sức lao động, tuân theo các quy luật của thị trường sức lao động và pháp luật của nhà nước
3 Vai trò của tiền lương
Tiền lương có vai trò quan trọng đối với cả người lao động và người sử dụng lao động Đối với người lao động, tiền lương có tác dụng bù đắp lại sức lao động và chi trả cho quá trình tái tạo sức lao động, là một trong những yếu tố hình thành lợi ích vật chất đối với người lao động Đối với người sử dụng lao động, tiền lương thể hiện rõ vai trò chức năng của mình trong quản lý và vai trò đối với Nhà nước và xã hội
Thực tế, tiền lương còn được coi như một thước đo chủ yếu về trình độ lành nghề và thâm niên nghề nghiệp của người lao động Tiền lương cũng
là một đòn bẩy quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp công bằng và hợp
lý sẽ góp phần duy trì, củng cố và phát triển lực lượng lao động
Không chỉ vậy, đối với người lao động, tiền lương nhận được thoả đáng
sẽ là động lực hình thành năng lực sáng tạo để làm tăng năng suất lao động,
Trang 7mặt khác khi năng suất lao động tăng thì lợi nhuận doanh nghiệp tăng, nguồn phúc lợi của doanh nghiệp mà người lao động nhận được cũng sẽ tăng lên, nó là phần bổ sung cho tiền lương, làm tăng thu nhập và tăng lợi ích cho cung ứng sức lao động, tạo ra sự gắn kết cộng đồng giữa người lao động với mục tiêu và lợi ích của doanh nghiệp
4 Yêu cầu tiền lương trong mối quan hệ với người lao động
Vì tiền lương là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, tiền lương mà người lao động nhận được phải bảo đảm được các yêu cầu sau:
Một là, một bộ phận của tiền lương phải bảo đảm mua được lượng hàng
hóa và dịch vụ cần thiết đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần để người lao động sống và hoạt động bình thường trong môi trường sống và lao động của họ
Hai là, một bộ phận của tiền lương phải bảo đảm trang trải các chi phí
đào tạo để họ có được trình độ lành nghề thích hợp bởi vì người lao động tham gia vào quá trình sản xuất không chỉ dựa vào thể lực mà còn sử dụng
cả trí tuệ Bên cạnh đó, sản xuất ngày càng phát triển, lao động ngày càng phức tạp nên chi phí đào tạo ngày càng tăng Những người lao động làm việc trong các lĩnh vực khác nhau, với trình độ lao động khác nhau (lao động giản đơn hoặc lao động phức tạp) có phí tổn đào tạo khác nhau nên mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần để duy trì sự sống
và hoạt động bình thường cũng khác nhau Vì vậy, mức lương của những người lao động giản đơn và lao động phức tạp có sự chênh lệch
Ba là, một bộ phận của tiền lương phải bảo đảm nuôi con cái người lao
động Bởi vì, tái sản xuất sức lao động không chỉ về chất lượng mà còn về
số lượng Con cái người lao động chính là lực lượng thay thế và bổ sung cho thị trường sức lao động
Không chỉ vậy, quy mô của những nhu cầu của người lao động còn tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, tập quán, trình độ văn minh đã đạt được Điều
Trang 8này cho thấy, một mặt, giá trị sức lao động của những người sống ở các vùng khác nhau có sự khác nhau, nên tiền lương của họ có sự chênh lệch Mặt khác, sản xuất ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến
bộ, trình độ văn minh ngày càng cao, nên nhu cầu của con người cũng ngày càng tăng về số lượng, chất lượng và chủng loại Vì vậy, giá trị sức lao động cũng như tiền lương không phải là cố định mà xu hướng vận động của chúng ngày càng tăng lên
5 Các yếu tố tác động đến tiền lương
Tiền lương là giá cả của sức lao động, nên một mặt nó dựa trên cơ sở giá trị sức lao động, mặt khác, cũng tuân theo các quy luật của thị trường sức lao động Do đó, tiền lương phụ thuộc vào các yếu tố thị trường như:
Thứ nhất, quan hệ cung - cầu về sức lao động Tương quan cung cầu về
sức lao động ở các ngành khác nhau không giống nhau Nhìn chung, những ngành sử dụng lao động giản đơn là chủ yếu thường có cung lớn hơn cầu
về sức lao động, vì thế tiền lương ở những ngành này có xu hướng ngày càng thấp đi Ngược lại, ở những ngành sử dụng lao động trí tuệ, lao động
có trình độ cao là chính, thường có cung nhỏ hơn cầu về sức lao động, vì thế tiền lương có xu hướng tăng cao Tương quan cung - cầu về sức lao động cũng thay đổi ở các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế Chẳng hạn, khi nền kinh tế bị suy thoái, tiền lương cũng có xu hướng giảm, khi nền kinh tế hưng thịnh, đầu tư mở rộng, cầu về lao động tăng thì tiền lương cũng có xu hướng tăng Giữa các vùng khác nhau trong một quốc gia hoặc giữa các quốc gia khác nhau có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, tương quan cung - cầu về sức lao động cũng khác nhau nên tiền lương cũng
có sự chênh lệch
Thứ hai, giá cả hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị
trường Ở đây, cần phân biệt tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế Tiền lương danh nghĩa là tiền lương mà người lao động nhận được dưới
Trang 9hình thức tiền tệ Tiền lương thực tế là lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người lao động mua được bằng tiền lương danh nghĩa với mức giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường Trong điều kiện phát triển bình thường của nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát tự nhiên hằng năm thường ở mức một con số
Do đó, tiền lương danh nghĩa nếu không được điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát thì tiền lương thực tế sẽ giảm xuống Vì vậy, để bảo đảm tiền lương thực tế cho người lao động cần có sự điều chỉnh tiền lương danh nghĩa theo
tỷ lệ lạm phát Đối với người lao động, lợi ích và mục đích cuối cùng của việc cung ứng sức lao động là tiền lương thực tế chứ không phải là tiền lương danh nghĩa
Thứ ba, các yếu tố chính trị - xã hội, chẳng hạn như sự can thiệp của
nhà nước thông qua chính sách tiền lương; vào sự phát triển và tác động của các tổ chức công đoàn, tổ chức đảng trong các doanh nghiệp Cơ chế điều tiết của thị trường lao động phải được định hướng bằng chính sách tiền lương của nhà nước, trong đó việc quy định và kiểm soát mức lương tối thiểu là sự cần thiết tất yếu
Về mức lương tối thiểu cũng có những quan điểm khác nhau Mức lương tối thiểu đo lường giá cả loại sức lao động giản đơn trong điều kiện làm việc bình thường, với một khung giá các tư liệu sinh hoạt hợp lý Quan điểm của kinh tế học hiện đại về mức lương tối thiểu lại xuất phát từ quy luật cung- cầu trên thị trường lao động, từ mối quan hệ giữa khả năng cung ứng và khả năng sử dụng lao động Theo quan điểm này, cơ chế thị trường
là tác nhân chủ yếu quy định và điều tiết mức lương Song trong điều kiện mức cung lớn hơn mức cầu về lao động, làm cho mức lương trên thị trường giảm sút không bảo đảm khả năng tái sản xuất sức lao động, thì nhà nước cần quy định mức lương tối thiểu lớn hơn mức lương trên thị trường lao động để bảo hộ lợi ích cho người lao động
Trang 10III CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN
1 Thực trạng chính sách cải cách tiền lương ở nước ta hiện nay
1.1 Những mặt tích cực trong chính sách cải cách tiền lương
Quan điểm, chủ trương và chính sách về cải cách tiền lương của Đảng
từ năm 2003 đến nay là đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cụ thể:
Thứ nhất, đã ngày càng quán triệt hơn quan điểm cải cách chính sách
tiền lương theo định hướng thị trường và đảm bảo công bằng xã hội trong từng giai đoạn phát triển; đặc biệt quan điểm coi việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực để phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Bộ máy Nhà nước
Thứ hai, tách dần tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực
hành chính nhà nước và khu vực sự nghiệp cung cấp dich vụ công, chính sách tiền lương với chính sách bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công Mỗi khu vực có chính sách và cơ chế tiền lương phù hợp Đó là bước tiến rất quan trọng trong chính sách tiền lương trong điều kiện mới
Thứ ba, từng bước đổi mới chính sách tiền lương theo định hướng thị
trường, nhất là trong khu vực sản xuất kinh doanh, từng bước tính đúng, tính đủ tiền lương theo nguyên tắc theo thị trường, chống bình quân, cào bằng
Thứ tư, tiếp tục đổi mới cơ chế tiền lương, mở rộng và làm rõ trách
nhiệm, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập trong việc xếp lương, trả lương gắn với năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ công theo tinh thần xã hội hóa Đây cũng là định hướng rất quan trọng trong cải cách tiền lương
Thứ năm, tiền lương danh nghĩa của cán bộ, công chức, viên chức có xu
hướng tăng do nhiều lần điều chỉnh mức lương tối thiểu chung trên cơ sở