1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn: ĐẢNG BỘ HUYỆN TRẤN YÊN LÃNH ĐẠO MỘT SỐ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

85 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 188,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách xã hội là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng không chỉ nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của CSXH mà còn khẳng định rõ tính thống nhất biện chứng giữa CSXH với chính sách kinh tế; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt CSXH trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững cho phát triển kinh tế xã hội. Thực hiện CSXH trên địa bàn miền núi, dân tộc không chỉ nhằm mục tiêu đưa miền núi tiến kịp miền xuôi mà còn phải đảm bảo quyền bình đẳng thực sự trong cả Hiến pháp, pháp luật và trong thực tế, nhất là bình đẳng về cơ hội phát triển, bình đẳng về cơ hội tiếp cận nguồn lực và hưởng thụ các phúc lợi xã hội, đảm bảo đưa miền núi hướng tới tăng trưởng bền vững. Vì vậy, thực hiện CSXH ở vùng miền núi, dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược lâu dài, vừa mang tính cấp bách trong tình hình mới.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam coi CSXH là một bộ phậnquan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng, Nhà nước, một bộ phận cấu thànhchiến lược phát triển kinh tế - xã hội và là động lực to lớn thúc đẩy, phát huy tínhnăng động, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Tiếp tục phát huy những thành quả đạt được trong thực hiện CSXH, Đảng đã cónhiều chủ trương, chính sách cụ thể để giải quyết các vấn đề xã hội phù hợp vớithực tiễn đất nước trước yêu cầu mới, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng XHCN

Tiếp tục định hướng xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thựchiện tiến bộ và công bằng xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng

đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội (Bổ sung, phát triển năm 2011) Cương lĩnh của Đảng nêu rõ vai trò của CSXHtrong thời kỳ mới là: Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là độnglực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của Nhân dân trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từngbước và từng chính sách Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa nghèobền vững; giảm dần tình trạng chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng miền, cáctầng lớp dân cư Tại Đại hội XIII Đảng ta đã khẳng định trong những năm tới tiếptục: “ thực hiện tốt CSXH, bảm đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người,tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công

bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc Nhân dân” (VKĐH XIII, tập 1, trang 47) Điều này đã thêm một lần khẳng định an sinh xã hội, an ninh con

người được đảng xác định là yếu tố xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nướctrong thời gian tới

Quá trình nghiên cứu tìm ra những CSXH phù hợp với yêu cầu của giai đoạncách mạng đất nước hiện nay trước hết đòi hỏi phải nhận thức và giải quyết đúngđắn những vấn đề lý luận về CSXH cũng như những vấn đề của thực tiễn đất nướcđang trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH Trong các vấn đề đó nổi lên hàng đầu làcác vấn để giải quyết việc làm cho người lao động, vấn đề xoá đói giảm nghèo,thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng thực tiễn cho thấytrong những năm qua nhờ thực hiện đúng đắn CSXH đã góp phần vào thành tựuđổi mới của đất nước

Trấn Yên là một trong chín đơn vị hành chính của tỉnh Yên Bái, địa bànchiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại và môi

Trang 2

trường sinh thái của tỉnh Đây là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc, có trình độ pháttriển không đồng đều Do vậy, Tỉnh ủy, UBND đã có nhiều chính sách, huy độngnhiều nguồn lực nhằm phát triển kinh tế - xã hội đưa Trấn Yên thoát khỏi tình trạngkém phát triển Hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, được sự quantâm của Tỉnh ủy, HĐND- UBND tỉnh, huyện Trấn Yên đã đạt được những thànhtựu đáng kể, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện Trong đóviệc thực hiện chính sách xã hội đã được Đảng bộ luôn quan tâm tạo điều kiện gắnvới các chính sách chung và các chính sách khác ở địa bàn và đạt được nhữngthành quả nhất định Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm của Trấn Yên là một huyệnmiền núi, địa bàn rộng, phân tán, đang trên đà phát triển với điểm xuất phát từ kinh

tế nông nghiệp đang và đã chuyển dịch sang nhiều loại hình kinh tế khác nên đãđặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết đối với các cấp chính quyền huyện,nhất là trên lĩnh vực xã hội, như vấn đề chính sách đối với lao động và việc làm,vấn đề phòng chống các tệ nạn xã hội, chính sách đối với người có công Vì vậy,

đi sâu nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái lãnh đạo thựchiện CSXH từ năm 2015 đến năm 2020, tổng kết kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn

trong giai đoạn tới là rất cần thiết Do đó, tôi lựa chọn vấn đề "Đảng bộ huyện Trấn Yên - tỉnh tỉnh Yên Bái lãnh đạo thực hiện một số chính sách xã hội giai đoạn 2015-2020” làm đề tài khoa học cấp trường năm 2021

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

Xuất phát từ yêu cầu ngày càng cao về các chính sách xã hội ở nước ta hiệnnay, thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học đề cập đến các vấn đề chínhsách xã hội với mức độ và cách tiếp cận khác nhau Có thể kể đến một số côngtrình có đề cập đến vấn đề các chính sách xã hội có liên quan đến đề tài, đó là:

- Chính sách xã hội, một số vấn đề lý luận và thực tiễn của PGS PTS Bùi

Đình Thành, Viện Khoa học xã hội Việt Nam xuất bản năm 1996;

- Chính xách xã hội và đổi mới cơ chế quản lý việc thực hiện của PGS, PTS

Trần Đình Hoàn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003

- Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp của GS Phạm Xuân Nam

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và về chính sách xã hội của PGS PTS

Lê Sỹ Thắng, Nxb Chính trị quốc gia, 2004

- Triết lý phát triển Việt Nam - mấy vấn đề cốt tử của GS Phạm Xuân Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005

- Góp phần tìm hiểu sự phát triển tr duy lãnh đạo của Đảng ta trong công cuộc đổi mới trên các lĩnh vực chủ yếu của Nguyễn Quang Ngọc, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2000,

Trang 3

- Chính sách xã hội trong đổi mới đất nước, Nguyễn Thị Hằng Tạp chí cộng

sản số 11-2000;

- Công bằng xã hội trong kiện kinh tế thị trường và kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa Phạm Xuân Nam Tạp chí Khoa học xã hội, số 2.2008

- Đặng Nguyên Anh:Sự thiếu hụt chính sách an sinh xã hội cho các gia đình

ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, H, 2018

-Ủy ban về Các vấn đề xã hội: Một số ý kiến về việc thực hiện chính sách hô trợ đối với người lao động mất việc làm và các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, Báo cáo chuyên đề, 2021

Một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng đã bảo

vệ, nghiên cứu về quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong giai

đoạn từ 1986 đến năm 2001: Trần Đồng, Chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước

ta trong việc giải quyết các vấn đề xã hội bức bách hiện nay (từ 1986 - 1995);

-Nguyễn Thị Thanh, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội từ năm 1991 đến năm 2001…

- Đinh Xuân Lý (2011), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong 25 năm đổi mới (1986-2011), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

- Đỗ Thế Tùng (2011), "Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xã hội trong phát triển bền vững - những giải pháp chủ yếu đối với Việt Nam", Tạp chí Cộng sản.

Các công trình nghiên cứu trên đã nêu lên những vấn đề cơ bản của chínhsách xã hội và vấn đề phát triển xã hội của nước ta trong thời kỳ đổi mới ở cả lĩnhvực lý luận cũng như quá trình thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng và các cấp ủyđảng, chính quyền địa phương Đây là những tài liệu tham khảo bổ ích cho đề tàinghiên cứu Đề tài kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các công trình nghiên cứu của cácnhà khoa học để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung và phân tích thực trạng vấn đề thựchiện một số chính sách xã hội ở huyện Trấn Yên hiện nay, đề tài đánh giá những ưuđiểm, hạn chế và phát hiện những vấn đề đang đặt ra trong quá trình thực hiện, từ

đó, đưa ra giải pháp chủ yếu nhằm góp phần thực hiện tốt một số chính sách xã hộitrọng điểm trên địa bàn huyện Trấn Yên trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nêu lên những vấn đề lý luận mới về chính sách xã hội và quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam về chính sách xã hội

Trang 4

- Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ huyện Trấn Yên nhậnthức, vận dụng các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhữngchủ trương chính sách xã hội của Đảng bộ tỉnh Yên Bái vào lãnh đạo thực hiệnchính sách xã hội ở địa phương từ 2015 đến năm 2020

- Phân tích quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chính sách xã hội củaĐảng bộ huyện Trấn Yên ở địa bàn từ năm 2015 đến năm 2020

- Rút ra một số kết quả đạt được và một số kinh nghiệm của Đảng bộ huyệntrong lãnh đạo chỉ đạo thực hiện các chính sách xã hội, lãnh đạo thực hiện đườnglối phát triển chính sách xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam ở địa phương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chủ trương và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Trấn Yên trong thựchiện chính sách xã hội, thể hiện thông qua các chủ trương, giải pháp, biện pháp vàquá trình tổ chức thực hiện từ năm 2015 đến năm 2020

4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Về nội dung: Nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách xã hội

của Đảng bộ huyện Trấn Yên ở địa bàn huyện thể hiện trên một số mặt cơ bản: laođộng và việc làm, xoá đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, ưu đãi vớingười có công với cách mạng

Về thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2020

Về không gian: Địa bàn huyện Trấn Yên, Tỉnh Yên Bái.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: đề tài được triển khai nghiên cứu trên cơ sở quan điểm của

chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam về chính sách xã hội Đồng thời, đề tài cũng kế thừa những kết quả củacác công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn

Phương pháp nghiên cứu: : đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa

duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin,phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử để phân tích, đánh giá thực trạng thực hiệnmột số chính sách xã hội ở huyện Trấn Yên Ngoài ra, đề tài sử dụng tổng hợpnhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là các phương pháp: phân tích -tổng hợp, lôgic - lịch sử và một số phương pháp xã hội học như: thu thập thông tin,nghiên cứu tài liệu, quan sát, thống kê, so sánh,

Trang 5

6 Những đóng góp của của đề tài

Đánh giá đúng thực trạng vấn đề thực hiện một số chính sách xã hội ở huyện

Trấn Yên hiện nay Từ đó, đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hơn

nữa một số chính sách xã hội ở huyện Trấn Yên trong thời gian tới

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đối với phát triển kinh tế - xã hội

Đề tài góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về tình hình thực hiện chínhsách xã hội và vị trí, vai trò của chính sách xã hội trong thực tiễn hiện nay Từ đó,

đề xuất những kinh nghiệm phù hợp với thực tiễn của huyện Trấn Yên tỉnh YênBái

Đối với nơi ứng dụng kết quả nghiên cứu

Đề tài cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho Đảng bộ huyện Trấn Yêntham khảo trong quá trình thực hiện chính sách xã hội, từ đó việc thực hiện một sốchính sách xã hội của Đảng bộ huyện sẽ có nhiều đổi mới cả về nhận thức và hoạtđộng, tiếp tục góp phần tích cực vào thành quả của công cuộc đổi mới

Đề tài sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy ở TrườngChính trị tỉnh và Trung tâm chính trị huyện

Đối với phát triển lĩnh vực khoa học có liên quan

Nghiên cứu xây dựng chương trình bồi dưỡng toàn diện, có hệ thống vàđồng bộ nhằm cập nhật, bổ sung và nâng cao chất lượng trong việc thực hiện một

số chính sách xã hội ở địa phương

Đối với công tác đào tạo cán bộ khoa học

Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng có được nộidung, kế hoạch cụ thể trong việc thực hiện chính sách xã hội Từ đó, tiếp tục gópphần tích cực vào thành quả của công cuộc đổi mới

8 Kết cấu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình thực hiện một số chính sách xã hội tạiĐảng bộ huyện Trấn Yên trong giai đoạn từ 2015 - 2020 Ngoài phần mở đầu, kếtluận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài bao gồm 3 chương, 11 tiết

Trang 6

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1.1 Khái niệm chính sách xã hội

Chính sách xã hội (CSXH) là một khái niệm không mang tính hệ thống màmang tính lịch sử Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về CSXH, tùy theo góc độnghiên cứu, tiếp cận vấn đề "xã hội" theo nghĩa rộng hay hẹp

Theo nghĩa rộng, CSXH là quan điểm, đường lối phát triển tổng thể mọi mặtđời sống xã hội con người, mà thực chất là phát triển một chế độ xã hội Còn theonghĩa hẹp, CSXH là chính sách quản lý và giải quyết các vấn đề xã hội - một phân

hệ lĩnh vực trong hệ thống quản lý và phát triển quốc gia, cùng với các chính sáchphát triển chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: CSXH là một bộ phận cấu thành chínhsách chung của một chính đảng hay chính quyền nhà nước trong việc giải quyết vàquản lý các vấn đề xã hội CSXH bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người, điềukiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp vàquan hệ xã hội1

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) chỉrõ: “CSXH bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinhhoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc ”2

Như vậy, đặc điểm của chính sách xã hội là loại chính sách điều chỉnh quan hệ

xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội đang đặt ra, thực hiện những mục tiêu đã đượcxác định trước Do đó, chủ thể tham gia thực hiện chính sách xã hội là Nhà nước, các

tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể xã hội, các tổ chức phi chính phủ và các cánhân làm từ thiện Khách thể của chính sách xã hội gồm: những người mất điều kiệnlàm việc, mất điều kiện sống bình thường, người thuộc diện ưu đãi xã hội và nhữngđiều kiện kinh tế - xã hội tạo nên sự bất công, bất bình đẳng xã hội cho một hoặc một

số nhóm xã hội nào đó

1.1.2 Khái niệm chính sách an sinh xã hội

1 Hội đồng quốc gia biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam:Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 1995,

tập 1, tr 478.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Nxb Sự thật, H, 1987, tr 86

Trang 7

Theo tiếng Anh, an sinh xã hội (ASXH) thường được gọi là Social Security

và khi dịch ra tiếng Việt, ngoài ASXH thì thuật ngữ này còn được dịch là bảo đảm

xã hội, bảo trợ xã hội, an ninh xã hội, an toàn xã hội… với những ý nghĩa khônghoàn toàn tương đồng nhau Theo nghĩa chung nhất, Social Security là sự đảm bảothực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn,

cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ vàbình đẳng trước pháp luật; được học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảmbảo thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn,tuổi già…

Trong Đạo luật về ASXH của Mỹ, ASXH được hiểu khái quát hơn, đó là sựbảo đảm của xã hội, nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị của cá nhân, đồng thờitạo lập cho con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đếntột độ

Để dễ thống nhất, có thể sử dụng khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế

(ILO): ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y

tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.

Ở Việt Nam, các trụ cột cơ bản của hệ thống ASXH gồm tạo việc làm, bảohiểm xã hội, trợ giúp xã hội và giảm nghèo do Nhà nước làm chủ đạo, tạo ra mộtlưới an toàn nhiều tầng cho tất cả các thành viên, các nhóm xã hội, nhất là các đốitượng yếu thế, dễ bị tổn thương khi bị suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập, khi gặprủi ro, hoạn nạn, đau ốm, bệnh tật, ASXH còn nhằm nâng cao khả năng ứng phókhi mất việc làm, đảm bảo cuộc sống ổn định cho người dân, và vì vậy, ASXH gópphần quan trọng vào phát triển xã hội bền vững Trong bối cảnh đại dịch Covid-19đang tàn phá mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, kinh tế suy thoái và tình hình an ninhquốc tế biến động khó lường, ASXH trở thành một trụ cột quan trọng, góp phần ổnđịnh chính trị-xã hội ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới

ASXH ngày nay được đảm bảo và trở thành quyền hiến định tại điều 34 củaHiến pháp 2013: “Công dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội” Chiến lược

an sinh xã hội giai đoạn 2011-2020 xác định: “An sinh xã hội là sự bảo đảm mà xãhội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các

cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đếnsuy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế” Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XIII của Đảng đã nêu rõ một trong những định hướng phát triển đất nước giaiđoạn 2021-2030, đó là “Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảođảm an ninh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội;quan tâm đến mọi người dân, bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập,

Trang 8

thực hiện tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội Không ngừng cải thiện toàn diện đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân” Văn kiện Đại hội XIII của Đảng còn đềcập khá cụ thể những vấn đề cần tiếp tục đổi mới như chính sách bảo hiểm thấtnghiệp, giải quyết việc làm cho lao động khu vực phi chính thức; thực hiện cácbiện pháp chính sách về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, Qua đó, xác định đúng

vị trí, vai trò của ASXH đối với sự phát triển đất nước, phù hợp với tình hình mới,

là cơ sở và điều kiện để người dân được thụ hưởng nhiều hơn thành quả tăngtrưởng kinh tế ở Việt Nam

Như vậy, về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sốngcho các công dân trong xã hội Phương thức hoạt động là thông qua các biện phápcông cộng Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vìvậy mang tính xã hội, tính nhân văn sâu sắc

1.1.3 Khái niệm tiến bộ xã hội

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin xem tiến bộ xã hội ( TBXH ) ởnghĩa bao quát nhất là sự vận động của xã hội loài người từ hình thái kinh tế - xã hộinày lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn, hoàn thiện hơn cả về cơ sở hạ tầng lẫnkiến trúc thượng tầng về pháp lý, chính trị và các hình thái ý thức xã hội Mỗi hìnhthái kinh tế - xã hội tương đương với một chế độ xã hội trong chính thể của nó Sựthay thế một chế độ cũ đã lỗi thời bằng một chế độ xã hội mới tiến bộ hơn cuối cùngphải nhằm phục vụ cho sự phát triển của con người ở những mức độ khác nhau Đây

là cách tiếp cận khái niệm TBXH theo nghĩa rộng

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

năm 1991 và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), khi Đảng Cộngsản Việt Nam khẳng định, nước ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa(TBCN), tạo ra sự chuyển biến về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực, thì điều đócũng chính là hướng thực hiện mục tiêu TBXH theo nghĩa rộng

Căn cứ vào những quan điểm nêu trên của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh cũng như của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời xuất phát từ thực tiễn đấtnước, đặt trong bối cảnh của thế giới ngày nay thì tiêu chí của TBXH theo nghĩa rộngtrong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta như sau:

Một là, kinh tế tăng trưởng nhanh, có chất lượng cao và bền vững trên cơ sở

lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ củalực lượng sản xuất Đây là tiêu chí kinh tế, là thước đo có ý nghĩa nền tảng củaTBXH

Hai là, quyền làm chủ của Nhân dân đối với mọi mặt đời sống xã hội được

đảm bảo; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Nhân dân, do Nhândân và vì Nhân dân trong sạch, vững mạnh Đây là tiêu chí chính trị, là thước đo dânchủ và kỷ cương của TBXH

Trang 9

Ba là, văn hoá, giáo dục, khoa học được mở mang, trình độ dân trí phát triển,

quan hệ giữa con người với con người lành mạnh, những thói hư, tật xấu bị đẩy lùi.Đây là tiêu chí tinh thần, là thước đo trí tuệ và đạo đức của TBXH

Bốn là, môi trường sinh thái được cải thiện Đây là tiêu chí về điều kiện tự

nhiên, là thước đo có ý nghĩa sống còn không chỉ đối với tồn tại xã hội mà cả vớiTBXH

Năm là, con người từng bước được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất

công; có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; có điều kiện dần dần pháttriển toàn diện cá nhân Đây là tiêu chí trung tâm, là thước đo nhân văn của TBXH

Trong mấy thập niên gần đây Liên hợp quốc còn có cách tiếp cận khái niệmTBXH theo nghĩa hẹp: TBXH là sự vận động, phát triển đi lên của lĩnh vực xã hộitrong tương quan với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá của một xã hội tổng thể

1.1.4 Khái niệm công bằng xã hội

Trong mọi thời đại, giá trị công bằng xã hội (CBXH) luôn được nhân loại quantâm, họ đấu tranh cũng vì khát khao muốn có một xã hội công bằng và bình đẳng Vìvậy CBXH trở thành tâm điểm chú ý của không ít các nhà tư tưởng mọi thời đại.Nhưng chỉ đến khi học thuyết Mác - Lênin ra đời thì khi ấy mới cho chúng ta mộtcách nhìn toàn diện, khoa học về vấn đề CBXH

Theo C.Mác, CBXH không đồng nhất với bình đẳng xã hội Trong khi thựchiện CBXH, chúng ta vẫn chưa thực hiện được bình đẳng xã hội CBXH và bình đẳng

xã hội tuy có nội dung gần giống nhau, nhưng đó là hai khái niệm có nội hàm khácnhau: Bình đẳng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa người và người trong xã hộikhông chỉ về phương diện kinh tế mà cả về các phương diện pháp lý, chính trị, vănhoá , dù năng lực, vai trò, sự cống hiến của người này khác người kia

Còn CBXH là sự ngang bằng nhau giữa người và người trong xã hội chủ yếu

về phương diện phân phối sản phẩm xã hội theo nguyên tắc: cống hiến lao độngngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau

Như vậy, CBXH chính là một yếu tố cấu thành bình đẳng xã hội và thực hiệnCBXH là để hướng tới bình đẳng xã hội

Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Chương trình phát triển của Liên hợp quốc(UNDP) lại cho rằng nội dung bao hàm của CBXH là công bằng về cơ hội phát triển,thể hiện ở sự công bằng về cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển đối với mỗi cánhân hay mỗi chủ thể Đến lượt nó, công bằng về cơ hội tiếp cận các nguồn lực pháttriển bao hàm cả sự công bằng trong phân phối các điều kiện sản xuất và công bằngtrong phân phối tư liệu tiêu dùng (phân phối thu nhập)

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay, việc vận dụng đúng đắnquan niệm về CBXH của chủ nghĩa Mác - Lênin đóng vai trò hết sức quan trọngtrong phát triển kinh tế - xã hội CBXH từng bước được đảm bảo sẽ là một loại

Trang 10

động lực xã hội, nó có thể động viên, khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân trongviệc phát triển kinh tế và phát triển xã hội.

1.2 VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

Chính sách xã hội có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạtđộng tổ chức, điều hành và quản lý xã hội, trong việc giải quyết các vấn đề xã hộicấp bách ở từng giai đoạn lịch sử Hiệu quả của việc giải quyết các vấn đề chínhsách xã hội không những góp phần tích cực tạo nên sự ổn định, phát triển lànhmạnh các mối quan hệ xã hội mà còn có tác dụng tái tạo nguồn nhân lực xã hội, tạođộng lực tăng trưởng kinh tế một cách bền vững Bởi lẽ ở bất kỳ xã hội nào, chế

độ chính trị nào, con người luôn là một nguồn lực đặc biệt của sự phát triển.Một chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn pháthuy mọi tiềm năng sáng tạo của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội Một chính sách xã hội vì con người, với sự chăm lo phát triển toàn diệnmỗi cá nhân sẽ có vai trò tích cực trong tạo nguồn nhân lực xã hội

Để đạt tới trình độ ngày càng cao của tiến bộ và văn minh, Đảng cầmquyền phải phát hiện và khai thác được những động lực trong xã hội mình, đó lànhững nhân tố vật chất và tinh thần, kinh tế và xã hội, khoa học và văn hoá,cùng nhiều nhân tố khác mà dưới tác động tích cực của quản lý (thông qua tổchức, cơ chế, chính sách) có thể liên kết, phối hợp chúng với nhau tạo nên hợplực, tác động cùng chiều, hướng vào các mục tiêu phát triển Tham gia vào hệđộng lực ấy, chính sách xã hội và hiệu quả của việc giải quyết các vấn đề xã hội

có thể tạo nên không chỉ sự ổn định, sự phát triển lành mạnh các quan hệ xã hội

mà còn thúc đẩy sự phát triển sản xuất, sự phồn vinh kinh tế của đất nước.Đương nhiên, chính sách xã hội chỉ trở thành động lực của sự phát triển xã hộinếu đó là những chính sách đúng đắn, thể hiện được nguyên tắc công bằng, dânchủ và nhân đạo Những nguyên tắc đó cho chúng ta thấy trung tâm chú ý của

xã hội và đối tượng phục vụ của các chính sách đó là người lao động Ngược lại,nếu chính sách xã hội sai lầm hoặc lạc hậu so với thực tiễn, hoặc không phù hợpvới trình độ thực tế của nền kinh tế, nó có thể phát sinh các mặt tiêu cực, kìmhãm sự phát triển cả sức sản xuất và làm mai một các tiềm năng xã hội

Thực tế cho thấy bao cấp tràn lan, kéo dài dẫn đến thụ động, trì trệ trong sảnxuất, gây lãng phí, tham ô tiền và tài sản xã hội, tạo tính ỷ lại và thói quen vô tráchnhiệm trong các thành viên của xã hội Tương tự như vậy, do nhận thức sai lầm,đồng nhất chủ nghĩa bình quân với công bằng xã hội dẫn tới việc phân phối lợi íchchẳng những không công bằng mà còn làm tăng lên những bất bình đẳng, làm mất

đi ý nghĩa kích thích tính tích cực của lợi ích đối với người lao động, làm cho xãhội thiếu hụt một trong những động lực quan trọng của sự phát triển

Trang 11

Cũng sẽ không đúng nếu từ chỗ xoá bỏ bao cấp trong sản xuất, dẫn đến ápdụng máy móc hạch toán kinh doanh có lãi trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, vănhoá và nghiên cứu khoa học, thả nổi sự hoạt động của các lĩnh vực này, mặc chotính chất cạnh tranh và xu hướng thương mại hoá trên thị trường chi phối Hoạtđộng lành mạnh của những lĩnh vực này gắn liền với nhu cầu thiết yếu của Nhândân, đồng thời tạo nên tiềm năng phát triển của xã hội Đó là những lĩnh vực màNhà nước phải không ngừng quan tâm, tăng mức đầu tư trên cơ sở phát triển sảnxuất và sự tăng trưởng kinh tế, coi đó là đầu tư tái sản xuất, đầu tư theo chiều sâu.Chính sách xã hội với vai trò, ý nghĩa là động lực của phát triển xã hội và xuất phát

từ mục đích nhân đạo đối với con người phải thể hiện được tinh thần ấy

Chính sách xã hội giữ vai trò điều hoà các mối quan hệ giữa lợi ích và tráchnhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ của từng cá nhân, tập thể,cộng đồng, tầng lớp và giai cấp trong xã hội Chính sách xã hội còn điều hoà cácquan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và tập thể, cộng đồng và các giai cấpvới nhau

Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, các bậc minh quân đều có chínhsách "chăm lo cho muôn dân để xóm thôn không còn tiếng oán giận buồn than",được thực hiện bằng bảo trợ người tàn tật, cô quả, góa phụ, phát chẩn khi thiên tai,khẩn hoang để giải quyết việc làm và hạn chế người tha phương, duy trì công điềnnhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, Song chính sách đó vấp phải một mâu thuẫn

không thể giải quyết được giữa một bên là lòng thương dân hàm nghĩa nhân đạo và bên kia là chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến mà chính các bậc "minh quân" ấy

đại diện tối cao Không phủ nhận tác dụng nhất định trong xoa dịu phần nào nỗiđau của dân chúng, kiềm chế nạn bần cùng và tha hoá của người lao động, thì xétđến cùng, mục đích sâu xa của các chính sách đó là đều nhằm giữ vững trật tựphong kiến, ngăn cản nông dân khởi nghĩa Cũng chính vì thế, trong hầu hết các

trường hợp chúng mang kiểu ban phát của nhà nước đối với dân hơn là "chính sách xã hội", do đó không thể giải quyết được cội rễ của vấn đề công bằng xã hội

và các xung đột xã hội luôn tiềm ẩn và bùng nổ khi có điều kiện

Dưới chủ nghĩa tư bản hiện đại, nhờ những thành tựu phát triển của lựclượng sản xuất và thành quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân laođộng hàng thế kỷ, giai cấp tư sản đã có điều chỉnh chính sách xã hội trong chừngmực nhất định bằng trợ cấp thất nghiệp, thực hiện bảo hiểm, giải quyết việc làm,chăm sóc y tế, Tuy vậy, bản thân các chế độ của giai cấp bóc lột, từ bản chất của

nó, không thể giải quyết được triệt để các vấn đề xã hội

Còn đối với thể chế chính trị do Đảng Cộng sản lãnh đạo, giải quyết cácchính sách xã hội không còn là biện pháp nhằm xoa dịu mâu thuẫn giai cấp, mà trởthành một việc làm xuất phát từ bản chất của chế độ Nhìn vào chính sách xã hội

có thể phân biệt được sự khác nhau giữa chế độ của dân, do dân và vì dân với chế

Trang 12

độ của giai cấp bóc lột Tuy vậy, chính sách xã hội không tồn tại tự thân, mà cóquan hệ chặt chẽ với chính sách kinh tế, với quá trình phát triển của lực lượng sảnxuất, với xuất phát điểm của đất nước Không thể giải quyết được chính sách xãhội đúng với bản chất của nó nếu lực lượng sản xuất không phát triển Khó khănlớn nhất trong thực hiện chính sách xã hội đối với nước ta chính là lực lượng sảnxuất thấp kém, khả năng và điều kiện đầu tư chăm lo các vấn đề xã hội rất hạn chế.Quan niệm về bản chất và mục tiêu chính sách xã hội của Đảng ta từ trước tới nayluôn nhất quán, sự khác nhau chính là ở bước đi, phương thức và biện pháp tiếnhành, nhất là giải quyết mối quan hệ giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội

Khi chưa giành được chính quyền, Đảng chủ trương đề cao vấn đề dân tộc,tạm gác vấn đề ruộng đất, giải quyết có giới hạn vấn đề quyền lợi giai cấp, đặtquyền con người trong cuộc đấu tranh cho quyền của dân tộc Không thể giải quyếtđược quyền của mỗi con người, nếu dân tộc không được độc lập, nếu Nhân dânkhông được tự do Tư tưởng đề cao vấn đề dân tộc có sức hấp dẫn lớn trong tậphợp khối đại đoàn kết toàn dân đứng lên làm nên Cách mạng Tháng Tám 1945 vàđảm bảo thắng lợi của hai cuộc chiến tranh giải phóng, mà ở đó mỗi người đềunhận thấy quyền lợi của chính mình Song như vậy không có nghĩa là Đảng chỉthuần tuý giải quyết "vấn đề dân tộc", mà trong đó bao hàm cả những quyền lợithiết thân của các tầng lớp nhân dân lao động đã bị chủ nghĩa thực dân tước đoạt

Khi đã giành được chính quyền, nhất là từ khi bắt tay xây dựng chủ nghĩa xãhội, chính sách xã hội trở thành một bộ phận hợp thành chỉnh thể đường lối xâydựng và bảo vệ Tổ quốc, với nhiều nội dung rộng lớn và phức tạp, từ lao động vàviệc làm, đảm bảo các điều kiện sinh hoạt của nhân dân, bảo vệ và chăm sóc sứckhoẻ, phát triển giáo dục, phòng và chống tệ nạn xã hội, Đây là những vấn đềliên quan trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của nhân dân, phản ánh nhu cầu địnhhình các giá trị của chế độ mới và liên quan chặt chẽ đến thực hiện các nhiệm vụkhác của thể chế chính trị

Trên cơ sở những quan điểm chủ đạo của Đảng và Nhà nước về chính sách

xã hội, có thể khái quát vai trò của chính sách xã hội trên một số điểm cơ bản:

Thứ nhất, chính sách xã hội dân chủ, công bằng, văn minh là thước đo thể

hiện mức độ định hình các giá trị của chủ nghĩa xã hội trong tiến trình đổi mới

Thứ hai, chính sách xã hội tạo động lực phát triển kinh tế, thực hiện mục

tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Thứ ba, chính sách xã hội nhân văn, tiến bộ góp phần định hình lối sống hài

hòa giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa con người vớimôi trường xung quanh

Thứ tư, chính sách xã hội được hoạch định và thực hiện tốt không chỉ góp

phần xây dựng xã hội yên bình, phồn vinh, hạnh phúc, mà còn làm giảm các chiphí quản lý hành chính, kinh tế, quốc phòng, gây dựng niềm tin của Nhân dân đối

Trang 13

với Đảng và Nhà nước.

1.3 PHÂN LOẠI CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

Chính sách xã hội là một vấn đề có phạm vi tiếp cận rất rộng, do đó có nhiềucách phân loại khác nhau tùy theo tiêu chí được xác định làm căn cứ phân loại:

Phân loại chính sách theo lứa tuổi có: chính sách đối với người cao tuổi (hưutrí, người già cô đơn không nơi nương tựa…), chính sách cho trẻ em, chính sáchcho người trong độ tuổi lao động

Phân loại chính sách theo sự tác động đối với từng giai cấp, tầng lớp, bộphận dân cư trong xã hội có: chính sách đối với công nhân, nông dân, trí thức,doanh nhân, thanh niên, phụ nữ, dân tộc thiểu số…

Phân loại theo theo lĩnh vực tác động có các chính sách: chính sách y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân, chính sách giáo dục-đào tạo, chính sách bảo hiểm

-xã hội, chính sách dạy nghề, chính sách lao động - tiền lương, chính sách giảmnghèo

Phân loại theo đối tượng thụ hưởng chính sách có: chính sách đối với ngườinghèo, chính sách đối với người thất nghiệp, chính sách đối với người khuyết tật,chính sách đối với người có công với cách mạng, chính sách đối với người là dântộc thiểu số

Ngoài ra, có thể phân loại chính sách xã hội theo nguồn kinh phí (chính sách

xã hội được đầu tư từ ngân sách nhà nước, chính sách xã hội được thực hiện từnguồn hợp tác và viện trợ quốc tế, chính sách xã hội từ sự đóng góp của cộngđồng), chính sách xã hội theo phương pháp và công cụ của chính sách…

1.4 CƠ SỞ ĐỂ ĐẢNG HOẠCH ĐỊNH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

1.4.1 Cơ sở lý luận

Mỗi thời đại khác nhau, hoàn cảnh lịch sử và chế độ chính trị khác nhau thì

hệ thống chính sách xã hội ở đó cũng mang nội dung khác nhau Sự khác nhau vềnội dung chính sách xã hội được quy định trước hết ở quyền lợi giai cấp cầmquyền mà nhà nước đó là người đại diện

Dưới chế độ tư bản, chính sách xã hội là tổng hợp những biện pháp do nhànước của giai cấp tư sản thi hành đối với quần chúng nhân dân Trên danh nghĩachính sách xã hội được xem như là sự biểu lộ mối quan tâm tới những nhu cầu nhấtđịnh của người lao động; sự trợ giúp đối với người già không nơi nương tựa, bệnh,tật, những người thất nghiệp hoặc mất sức lao động; những người nghèo khổ, vôgia cư và đông con

Chính sách xã hội còn được biểu hiện trong hoạt động của những nhà chínhtrị và tư tưởng tư sản trong các tổ chức giáo dục, y tế, chống tội phạm, chống ô

Trang 14

nhiễm môi trường, hoạt động của các tổ chức công đoàn, hội từ thiện Mục tiêucủa những hoạt động này về thực chất là làm giảm bớt càng nhiều càng tốt nhữngxung đột giai cấp trong xã hội tư bản Bởi vậy, chính sách xã hội trong chế độ tưbản dù phát triển tới mức nào, dù các hình thức có đa dạng, phong phú đến đâu thìcũng không bao giờ vượt ra khỏi cái bản chất cố hữu của nó là nhằm “trả lại chongười lao động từng thìa, trong khi lấy của họ từng thùng” như V.I.Lênin nhận xét.Mâu thuẫn này đang đặt các nước tư bản phát triển trước những vấn đề xã hội nangiải không thể giải quyết nổi Brêzenski, nguyên cố vấn an ninh của Tổng thống

Mỹ Catơ trong khi hết lời ca ngợi “bốn cái nhất” của Hoa Kỳ: “sức mạnh kinh tế,quân sự, văn hoá, chính trị, cũng đã phải thừa nhận 20 điều bế tắc cơ bản của nước

Mỹ Trong đó có 12 điều thuộc về những vấn đề xã hội như: chăm sóc y tế khôngđầy đủ; giáo dục trung học chất lượng kém; xuất hiện một giai cấp giàu cótham lam; tình trạng kiện tụng tràn lan; vấn đề chủng tộc và nghèo đói ngàycàng sâu sắc; tội ác và bạo lực tràn lan; sự lan tràn của nền văn minh ma tuý;tình trạng phổ biến của tâm lý tuyệt vọng; quá nhiều giấy phép mại dâm; sựtruyền bá ồ ạt về đồi truỵ tinh thần; sự suy giảm về ý thức công dân; chínhquyền quan liêu, vô trách nhiệm, tham nhũng và đặc quyền, đặc lợi”3 Từnhững vấn đề xã hội không giải quyết được dẫn đến hình ảnh một nước Mỹhùng mạnh nhưng có đến 36 triệu người sống dưới mức nhân quyền, dù tínhtheo bất cứ tiêu chuẩn nào!

Còn dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, chính mục tiêu, lý tưởng và bản chất tốtđẹp của chế độ là điểm xuất phát của hệ thống chính sách xã hội của chính đảng dogiai cấp vô sản nắm quyền lãnh đạo, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản.Đồng thời hệ thống chính sách xã hội là thước đo trình độ phát triển của mỗi đấtnước trên lộ trình tiến lên đạt mục tiêu cuối cùng

Sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công (1917), nhà nước vô sản

do V.I.Lênin đứng đầu hết sức quan tâm đến việc thực hiện chính sách xã hội.Trong điều kiện phức tạp của những năm đầu tiên dưới chính quyền Xôviết, ĐảngBônsêvích đã hướng sự chú ý của mình vào việc làm thoả mãn những nhu cầu thiếtyếu của người lao động như: nhà ở, nhiên liệu, quần áo, học tập, nhu cầu về dinhdưỡng Tiếp theo những Sắc luật về ruộng đất và hoà bình, nhà nước vô sản đãthông qua: “Tuyên ngôn về quyền của nhân dân lao động và những người bị bóclột”, sắc luật về việc thành lập ở Hội đồng nhân dân những Uỷ ban cứu tế xã hội,

Uỷ ban tài trợ xã hội; thông qua Luận cương về cứu tế xã hội cho nhân dân lao động, Luật về lao động và xã hội

Ở Việt Nam, sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi (1945), mặc dù chínhquyền nhân dân mới ra đời đang còn trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Chính

3 Brêzenski: Ngoài vòng kiểm soát, sự rối loạn toàn cầu bên thềm thế kỷ XXI, xuất bản 1993, dẫn theo Tạp chí Cộng sản,

số 3-1994, tr 56.

Trang 15

phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã ban hành và thực hiện ngaynhiều chính sách xã hội thiết thực, nhằm bước đầu cải thiện đời sống vật chất vàtinh thần của Nhân dân lao động Xuất phát từ bản chất của chế độ xã hội mới doNhân dân làm chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi Đảng phải có trách nhiệm chăm

lo cho nhân dân từ việc lớn như biến đổi nền kinh tế và văn hoá lạc hậu của nước

ta thành một nền kinh tế và văn hoá tiên tiến, cho đến những việc nhỏ như tương

cà, mắm muối cần thiết cho đời sống hằng ngày của Nhân dân Người nhấn mạnh:

“Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống củanhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chínhphủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chínhphủ có lỗi”4

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, trong những thập niên qua, Đảng vàNhà nước tiếp tục thi hành nhiều chính sách xã hội đúng đắn, có tác dụng làm nảy

nở, cổ vũ, nhân lên những tiềm năng sáng tạo của nhân dân, lập nên bao kỳ tíchanh hùng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Chínhsách xã hội của Đảng và Nhà nước ta vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng Cộng sản Việt Nam

do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) sáng lập, đã lựa chọn và kiên địnhmục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đó là con đường duy nhất, đúng, đưacách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng thế giới, đó là con đường “đảm bảophúc lợi đầy đủ, phát triển tự do toàn diện của tất cả các thành viên trong xã hội”.Đây cũng chính là điểm xuất phát, là tiền đề quy định cho hệ thống chính sách xãhội của Đảng và Nhà nước ta Mỗi chính sách xã hội hướng vào một đối tượngnhất định, nhưng tất cả các chính sách đều hướng vào mục tiêu chung là vì conngười, phục vụ bồi dưỡng con người, coi đây là sự tích luỹ then chốt, quan trọngnhất và có hiệu quả nhất cho sự phát triển xã hội

Để thực hiện mục tiêu trên, rõ ràng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vẫn phải lànhiệm vụ trung tâm Bởi lẽ, chỉ có một nền kinh tế năng động và có hiệu quả caodựa trên những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại, thì mới có khả nănghuy động các nguồn lực cho việc thực hiện các chính sách xã hội theo nguyên tắctiến bộ và công bằng xã hội Không thể có một xã hội tiến bộ trên cơ sở một nềnkinh tế thiếu hụt, lạc hậu, chỉ đủ cung cấp cho dân chúng một cuộc sống “giật gấu,

vá vai”, “khéo ăn mới no, khéo co mới ấm” Không thể có một nền kinh tế tăngtrưởng nhanh, có hiệu quả và bền vững dựa trên nền tảng của một xã hội lạc hậuvới đa số dân chúng trí tuệ thấp kém, thể chất ốm yếu, đạo đức suy đồi do thiếu sựtác động của các chính sách xã hội đúng đắn

Chính sách xã hội phải góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế và tiến

bộ xã hội, đảm bảo cho mọi người được sống trong tình nhân ái, bình đẳng và công

4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2009, t 7, tr 572.

Trang 16

bằng xã hội Chính sách xã hội mang tính nhân văn và nhân đạo sâu sắc Chínhsách xã hội phải trở thành công cụ sắc bén của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ

xã hội, xây dựng chuẩn mực xã hội và định hướng giá trị xã hội mới, hướng tới cáithiện, cái tốt, đẩy lùi và hạn chế cái xấu, cái ác

1.4.2 Cơ sở thực tiễn

Đất nước vừa trải qua cuộc chiến tranh lâu dài, ác liệt, hậu quả của nó còn

để lại trên mình đất nước cũng như trong từng cá nhân, từng nhóm xã hội nhữngvết thương: “hơn 4 triệu người thương tật, hơn một triệu người bị mất nguồn nuôidưỡng do con cái chết trong chiến tranh, trên 300.000 trẻ mồ côi và nhiều nạn nhânkhác bị bệnh tâm thần, dị tật do ảnh hưởng chất điôxin”5

Về mặt xã hội, vấn đề bức thiết nhất là số người không có hoặc thiếu việclàm, một số đông thanh niên đến tuổi lao động hằng năm cần phải giải quyết việclàm, trong khi tỷ lệ tăng dân số vẫn ở mức cao trên 2,2% Các bệnh xã hội như sốtrét, lao, phong, bướu cổ còn khá phổ biến trong cả nước, nhất là các tỉnh miền núi,lại thêm di sản của chế độ thực dân cũ và mới, tàn dư của chế độ phong kiến hếtsức nặng nề Vì vậy chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta phải thể hiện đượctruyền thống dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” phải mang đậmtính xã hội, tính nhân văn

Một cơ sở thực tiễn không kém phần quan trọng là từ những yếu kém trongnhận thức lý luận về chính sách xã hội và tổ chức thực thi chính sách xã hội Trongmột thời gian dài chúng ta còn nhận thức phiến diện, giản đơn về chính sách xãhội, trong các nghị quyết của Đảng, chính sách xã hội chưa được đặt thành mộtphương hướng độc lập, có vị trí quan trọng trong đường lối chiến lược mà chỉgộp chung với các chính sách khác, chưa đi sâu vào mọi phương diện của đờisống con người và cộng đồng người trên đất nước ta Chính sách xã hội mới chỉđược coi như là một giải pháp hỗ trợ, bổ sung đơn thuần phục vụ cho kế hoạchxây dựng, phát triển kinh tế của Nhà nước Hơn nữa bản thân những chính sách

ấy cũng chưa được nghiên cứu chu đáo, đầy đủ, chưa sát với thực tiễn cuộcsống, vì thế, chính sách xã hội chưa phát huy được tính tích cực, năng động cáchmạng của nhân tố con người Không ít người trong đối tượng được hưởng chínhsách xã hội thường quan niệm một chiều, rằng xã hội có trách nhiệm với mình,mình được quyền hưởng chính sách, do đó không có ý chí khắc phục khó khănvươn lên cống hiến cho xã hội Số người ngoài diện chính sách thì lại hiểu mình

bị phân biệt đối xử, nên lơ là với trách nhiệm công dân, thậm chí có người tuỳtiện xoay sở, vi phạm kỷ cương, phép nước Từ những nhận thức sai lầm đó, mọiđối tượng đều thờ ơ với chính sách xã hội, kém hăng hái phát huy tiềm năng sángtạo, hoàn thành với chất lượng cao nghĩa vụ của công dân đối với nhiệm vụ xây

5 Chính sách xã hội trong sự nghiệp đổi mới , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 197.

Trang 17

dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mặt khác điều kiện của mỗi nước khác nhau, do đó, chính sách xã hội khôngthể đồng nhất như nhau, nhưng một thời do rập khuôn máy móc mô hình phát triểncủa nước này, nước khác mà chính sách xã hội không phù hợp với thực tế nhu cầuphát triển của đất nước và con người Việt Nam Chính sách xã hội mới chỉ đơngiản lo giải quyết ở mức độ thấp những nhu cầu bình thường của con người về ăn,

ở, đi lại, còn những nhu cầu lớn kích thích sự phát triển đi lên của xã hội conngười, nhất là nhu cầu lao động và việc làm thì chưa được quan niệm là một bộphận quan trọng của chính sách xã hội Vì vậy, trong thời kỳ bao cấp, bên cạnhnhững người lao động tích cực đã hình thành một số không ít người làm việc cầmchừng, tác trách, dựa dẫm, chỉ luôn luôn đòi hỏi Nhà nước phải lo bảo đảm cuộcsống mọi mặt cho mình, không quan tâm làm tròn trách nhiệm công dân trong điềukiện đất nước còn nhiều khó khăn, thử thách nghiêm trọng

Trong tổ chức thực thi chính sách xã hội cũng còn những hạn chế, đầu tưcho chính sách xã hội thường ít ỏi với một tỷ lệ quá nhỏ bé, khoảng cách chênhlệch quá xa so với đầu tư của Nhà nước vào lĩnh vực kinh tế, xây dựng cơ bản,quốc phòng và các lĩnh vực khác Giải quyết các vấn đề xã hội thường chỉ đượcxem như là vấn đề thứ yếu Đầu tư cho chính sách xã hội chỉ được tính toán sau khiNhà nước đã trang trải xong các khoản chi phí, đầu tư khác Tình hình đó dẫn tớiviệc chậm chễ giải quyết các vấn đề xã hội, hoặc giải quyết không có hiệu quả Sựtích tụ cái cũ và sự phát sinh cái mới các vấn đề xã hội đã dẫn đến sự trì trệ và tácđộng tiêu cực trong đời sống xã hội nói chung và các quan hệ giữa con người vớicon người nói riêng, không những làm cho lĩnh vực xã hội trở nên lạc hậu mà cònphát sinh những trở lực đối với sự phát triển kinh tế

Đã một thời, chính sách xã hội nằm bên ngoài sự chú ý của các cơ quanhoạch định chính sách Trong nghiên cứu lý luận, chính sách xã hội cũng là đề tài

bị coi nhẹ, chậm phát triển, nó như mảnh đất trống ít được khai phá Vì những lẽ

đó, các chính sách xã hội chưa thể hiện được đầy đủ tính ưu việt của chế độ mới,chưa toàn diện như một chiến lược có tầm cỡ và chưa thực sự đóng vai trò độnglực thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Ngoài những cơ sở thực tiễn trên đây, việc hoạch định và tổ chức thực thichính sách xã hội còn phải xuất phát từ thực tiễn công cuộc đổi mới theo nguyêntắc của V.I Lênin “Phân tích cụ thể một tình hình cụ thể” Những thành tựu củacông cuộc đổi mới đã đưa đến những thay đổi lớn lao trên các lĩnh vực của đờisống xã hội Nhưng trên con đường đi tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, văn minh, Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn: nước ta cơ bản vẫn làmột nước nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp còn nhỏ bé, các ngành dịch vụ chưaphát triển, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, kinh doanh còn thấp Tổng sảnphẩm quốc dân (GDP) tính bình quân đầu người thuộc nhóm những nước nghèo

Trang 18

nhất thế giới, kết cấu hạ tầng yếu kém Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so vớinhiều nước trong khu vực và trên thế giới là thách thức lớn nhất đối với Việt Nam.Đáng chú ý là chuyển sang nền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế,bên cạnh những tác động tích cực, cũng đã làm cho sự phân tầng xã hội, phân hoágiàu nghèo diễn ra khá sâu rộng ở cả thành thị và nông thôn Cùng với nó là cáccăn bệnh quan liêu, tham nhũng và nhiều tệ nạn xã hội khác đang phục hồi và pháttriển nhanh chóng, đặc biệt là căn bệnh thế kỷ AIDS cho đến nay vẫn chưa cóthuốc đặc trị Những hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực kinh tế đã kéo theo sự suythoái, rạn nứt về mặt xã hội, bởi sự tác động của trào lưu chạy theo đồng tiền, sốnggấp, ăn chơi xa hoa, truỵ lạc bất chấp đạo lý, chà đạp lên tình cảm, coi thường đạođức, xem nhẹ nhân phẩm, v.v

Từ sự phân tích về cơ sở thực tiễn để Đảng ta hoạch định chính sách xã hội,

có thể thấy cơ sở thực tiễn quan trọng nhất chính là xuất phát từ đặc điểm củachính sách xã hội Việt Nam từ khi giành được chính quyền (năm 1945) đến thời kỳđổi mới (năm 1986) Trải qua hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và xây dựngđất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện duy trì mô hình quản lýkinh tế kế hoạch hoá, tập trung, quan liêu, bao cấp, chính sách xã hội của Việt Namnổi lên một số đặc điểm chủ yếu sau:

- Tư tưởng bình quân chủ nghĩa còn ảnh hưởng rất nặng nề trong xã hội.

Phá bỏ xã hội cũ bất công đã khó, nhưng kiến tạo một xã hội mới công bằng, bìnhđẳng lại càng khó hơn Hai nguy cơ thường trực đặt ra đối với thể chế cầm quyềntrong thiết kế chính sách xã hội mới, đó là: 1) Nguy cơ tái lập các quan hệ bóc lộtmới, nhất là trong điều kiện sử dụng các nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa để pháttriển lực lượng sản xuất; 2) Nguy cơ rơi vào chủ nghĩa bình quân, do tàn dư của tưtưởng tiểu nông còn ảnh hưởng nặng nề trong xã hội và cả trong tư duy lãnh đạo,

mà trong nhiều trường hợp ngộ nhận đó là công bằng, bình đẳng Trên thực tế,trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới, chúng ta đã bị rơi vàonguy cơ thứ hai

- Chịu tác động bởi hoàn cảnh chiến tranh, nên chính sách xã hội vừa phải làm nhiệm vụ huy động sức dân, vừa phải bồi dưỡng sức dân Huy động sức dân

cho kháng chiến đòi hỏi phải giải quyết tốt những vấn đề về mô hình tổ chức vàphương pháp tiến hành nhằm đảm bảo khả năng động viên sức người, sức của ởmức cao nhất và không dẫn tới các bất ổn ở hậu phương, mà ở đó cơ chế kế hoạchhoá tập trung bao cấp và chế độ công hữu có những khía cạnh phù hợp Bồi dưỡngsức dân vừa thể hiện bản chất của chế độ, vừa là động lực để đảm bảo khả nănghuy động được sức dân một cách ổn định, lâu dài phục vụ cuộc kháng chiến

- Chính sách xã hội được thực hiện trong điều kiện duy trì mô hình kinh tế

"công hữu, kế hoạch hoá, phi thị trường" Theo quan niệm lúc bấy giờ, việc thủ

tiêu các hình thức sở hữu tư nhân sẽ tạo được công bằng xã hội ngay từ quyền sở

Trang 19

hữu tư liệu sản xuất và nhờ đó "triệt tận gốc" các bất bình đẳng nảy sinh từ chế độ

tư hữu Kế hoạch hoá nền kinh tế sẽ cho phép gắn kết giữa khâu sản xuất với khâu

phân phối kết quả sản xuất bằng áp đặt ý chí của Nhà nước, bằng việc hiện vật hoá chế độ tiền lương Thiết lập sự quản lý trực tiếp của Nhà nước thông qua "thị

trường có tổ chức" sẽ triệt tiêu được các biểu hiện tự phát của thị trường tự do cónguy cơ đẩy xã hội tới rối loạn, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của nhân dân

- Thực hiện bằng ý chí tuyệt đối của Nhà nước, không nhận thức đầy đủ vai trò của các tổ chức phi chính phủ và người dân trong giải quyết các chính sách xã hội Về đầu tư, quan niệm lúc bấy giờ cho rằng, nguồn đầu tư của Nhà nước gần

như là giải pháp tuyệt đối để thực hiện các chính sách xã hội Về phân phối, Nhànước thực hiện bằng bao cấp giá trị hiện vật cho dân và được xem là cách thứctối ưu khẳng định tính chất "vì dân" của chế độ và nhờ đó đảm bảo công bằng,bình đẳng Trong trường hợp này, người dân là đối tượng trông chờ thụ hưởngchính sách xã hội của Nhà nước mà không phải là chủ thể kiến tạo nên các chínhsách xã hội

Chính sách sách xã hội nêu trên phù hợp với yêu cầu của đất nước tronghoàn cảnh có chiến tranh, nhất là đảm bảo sự ổn định của hậu phương thông quacác chế độ tương trợ lao động, điều hoà lương thực - thực phẩm, phân phối bằngchế độ hiện vật ; xây dựng được một xã hội trong trật tự và ổn định, con ngườisống có trách nhiệm với nhau Nhưng việc kéo dài chính sách xã hội nêu trên khi

chiến tranh kết thúc đã dẫn tới những hậu quả tiêu cực:

+ Việc thủ tiêu các hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất - mà lẽ rachúng còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội - đã triệttiêu những mặt tích cực mà các hình thức sở hữu ấy tạo ra Chế độ công hữu đượcthiết lập nóng vội chẳng những không có tác dụng "kéo" lực lượng sản xuất pháttriển, mà còn "kìm hãm" lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất bị kìm hãm đãđẩy nền kinh tế lâm vào khó khăn, khủng hoảng và do đó không đủ các điều kiệnvật chất tối thiểu để giải quyết các vấn đề xã hội

+ Việc thuần tuý dựa vào nguồn lực của Nhà nước thông qua bao cấp đã triệttiêu khả năng huy động các nguồn lực khác để giải quyết các chính sách xã hội.Khi nguồn viện trợ bên ngoài bị suy giảm, sản xuất trong nước bị đình trệ, Nhànước không còn khả năng để "bao cấp" thì các vấn đề xã hội càng bức xúc Khókhăn về xã hội càng bức xúc thì càng tác động tiêu cực đối với nền sản xuất, tạonên vòng luẩn quẩn của khủng hoảng kinh tế - xã hội

+ Thiết lập hệ thống "thị trường có tổ chức" để phân phối kết quả sản xuấtbằng biện pháp hành chính mệnh lệnh đã tạo nên những bất bình đẳng chính trong

hệ thống ấy Lực lượng nắm giữ "thị trường có tổ chức" trở thành một tầng lớp đặcquyền trong thụ hưởng các tư liệu tiêu dùng hoặc tuồn hàng ra "thị trường tự do"

để kiếm lợi bất chính Nền kinh tế đất nước càng gặp khó khăn thì bất bình đẳng

Trang 20

nảy sinh từ hệ thống phân phối ấy càng tăng lên, với các tệ nạn đầu cơ, tích trữ,găm hàng, móc ngoặc, làm cho đời sống người dân thêm khó khăn

+ Phân phối bình quân chủ nghĩa trên thực chất đã tách rời giữa lao động vàkết quả lao động, thoát ly nguyên tắc phân phối theo lao động vẫn được khẳng địnhtrên phương diện lý luận Kéo dài phân phối theo kiểu bình quân đã gây ra tìnhtrạng trì trệ, lười biếng, ỷ lại, triệt tiêu mọi năng lực sáng tạo của người lao động.Các biểu hiện dong công phóng điểm của các hợp tác xã nông nghiệp hoặc tắctrách trong sản xuất ở các xí nghiệp quốc doanh là hệ quả của chế độ quản lý vàphân phối ấy

Khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra vào cuối thập niên 70, đầu 80 là hệ quảcủa mô hình kinh tế và chính sách xã hội nêu trên, đòi hỏi Đảng phải đổi mới quanniệm về chính sách xã hội và mối quan hệ giữa chính sách kinh tế với chính sách

xã hội để làm sao vừa định hình được giá trị của chủ nghĩa xã hội, vừa tạo động lựcthúc đẩy kinh tế tăng trưởng Đổi mới trở thành mệnh lệnh của cuộc sống, của chủnghĩa xã hội, là nhu cầu cả từ phía Đảng và nhân dân, trong đó có đổi mới về chínhsách xã hội

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, Đảng đã từng bước nhận thứctầm quan trọng của chính sách xã hội để từ đó có sự đổi mới trong hoạch định và tổchức thực thi chính sách xã hội Việc hoạch định và thực thi các chính sách xã hộinếu thiếu cơ sở thực tiễn hoặc sai lầm sẽ tạo ra hiệu ứng phản tác dụng, kìm hãm

sự phát triển kinh tế, hạn chế tính năng động, sáng tạo, nhiệt tình của con người,thậm chí kéo lùi sự tiến bộ xã hội Trái lại việc đề ra các chính sách xã hội đúngđắn và tổ chức thực thi có hiệu quả sẽ trở thành một động lực to lớn, đoàn kếtđược toàn dân tộc, ổn định vững chắc xã hội, phát huy mọi tiềm lực vật chất,tinh thần, tài năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, tạo nên sức mạnh tổnghợp có khả năng khắc phục từng bước nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, phòngngừa nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, phát động được khí thế của toàndân đấu tranh có hiệu quả chống tệ quan liêu, tham nhũng, buôn lậu Kết quảtốt đẹp của việc thực hiện những chính sách xã hội đó sẽ là bức thành đồngvững chắc ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hoàbình” của các thế lực thù địch

1.4.3 Quan điểm của Đảng về chính sách xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6-1996) đánh giá, qua 10 năm thựchiện đường lối đổi mới, đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, chophép chuyển sang thời kỳ mới - thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Từ thực tế

triển khai chính sách xã hội trước đó, Đại hội VIII đã tổng kết thành 5 quan điểm

định hướng cho chính sách xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đó

Trang 21

là:

- Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trongtừng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâuphân phối hợp lý tư liệu sản xuất và khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạođiều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát huy tốt năng lực của mình

- Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động

và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp cácnguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi

xã hội, đi đôi với chính sách điều tiết hợp lý, bảo hộ quyền lợi của người lao động

- Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo.Thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, cácdân tộc, các tầng lớp dân cư

- Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc "uống nước nhớ nguồn", "đền ơnđáp nghĩa, nhân hậu, thuỷ chung"

- Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhànước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp,các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giảiquyết những vấn đề xã hội6

Năm quan điểm cơ bản nêu trên đã định hình trên tổng thể tư duy lý luận của Đảng về chính sách xã hội trong thời kỳ đổi mới Nó vừa thích ứng với nhu

cầu tạo động lực cho sự phát triển, vừa hướng tới giá trị công bằng và tiến bộ xãhội được thực hiện bằng hình thức, biện pháp mềm dẻo, uyển chuyển, linh hoạt,thích ứng với cơ chế thị trường Thực hiện công bằng xã hội vừa được đảm bảobằng tác động vào khâu phân phối tư liệu sản xuất, khâu phân phối kết quả sảnxuất, đồng thời tác động vào các điều kiện nhằm tạo ra cơ hội cho nhóm người yếuthế phát triển Đó chính là sự nhận thức đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh về côngbằng xã hội trong chặng đường đầu thời kỳ quá độ:

"Làm cho người nghèo đủ ăn,

Người đủ ăn thì khá giàu,

Người khá giàu thì giàu thêm"7

Thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đại hội VIII, các chính sách từ lao động vàviệc làm, xoá đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, bảo vệ và chăm sóc sứckhoẻ nhân dân, đến thực hiện ưu đãi với người có công với cách mạng đều đượcđổi mới Chính sách lao động và việc làm đã gắn chặt với quá trình chuyển dịch cơcấu nền kinh tế, phát triển sản xuất, đẩy mạnh đào tạo tay nghề cho người lao động

đủ khả năng tiếp cận thị trường lao động, mở rộng dịch vụ tư vấn nghề nghiệp, đẩymạnh xuất khẩu lao động Chính sách xoá đói giảm nghèo được đặc biệt coi trọng

6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, sđd, tr.113-114

7 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.65

Trang 22

với việc hình thành Chương trình quốc gia theo Quyết định 133 của Thủ tướng

Chính phủ (23-7-1998), bằng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho xã nghèo, giảiquyết ruộng đất và hỗ trợ nông cụ cho người nghèo, lập Ngân hàng người nghèo(1996) có chức năng hỗ trợ tín dụng ưu đãi, thực hiện định canh định cư và di dânvùng kinh tế mới, ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số các xã đặc biệt khókhăn, Ưu đãi người có công được luật hoá bằng Pháp lệnh do Quốc hội ban hành(và sửa đổi) với những chế độ trợ cấp ưu đãi đặc biệt Bảo vệ và chăm sóc sứckhoẻ cho Nhân dân được đảm bảo bằng mở rộng mạng lưới y tế đến cộng đồngdân cư, thực hiện chế độ bảo hiểm y tế Phòng và chống tệ nạn xã hội được đảmbảo bằng luật pháp, nhất là sự ra đời của Luật Phòng và chống ma tuý (2000) vàtích cực đấu tranh với các loại tội phạm nảy sinh trong cơ chế thị trường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã tổng kết 15 năm đổi mới và đề raChiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 Về chính sách xã hội, Đạihội IX và các Hội nghị Trung ương khoá IX đã bổ sung, cụ thể hoá thêm các quan

điểm mà Đại hội VIII đã trình bày với những nội dung mới đáng chú ý:

- Giải quyết chính sách xã hội phải gắn liền với sự hình thành thể chế kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế Đặc biệt "phát triển thị trường lao động; người lao động được tìm

và tạo việc làm ở mọi nơi trong nước; đẩy mạnh xuất khẩu lao động với sự thamgia của các thành phần kinh tế"()

- Tăng cường vai trò của Nhà nước trong giải quyết chính sách xã hội theo

hướng vừa là người điều tiết, vừa là nhà đầu tư Với tư cách là người điều tiết, Nhà

nước nỗ lực ban hành thể chế, chính sách, thông qua các công cụ quản lý vĩ mô để

cơ cấu lại tư liệu sản xuất, phân phối kết quả sản xuất và phúc lợi xã hội, ví như:tạo điều kiện để công nhân có cổ phần và hưởng lợi tức từ cổ phần đó, hạn chế tìnhtrạng mua bán ruộng đất ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên và TâyNam Bộ, Với tư cách là nhà đầu tư, Nhà nước đầu tư mạnh mẽ vào các khâu, cáclĩnh vực cho các nhóm người khó khăn, chịu tác động mạnh từ ngoại ứng tiêu cựccủa chế thị trường, có cơ hội vươn lên

- Cùng với quá trình định hình cơ chế thị trường phải coi trọng công bằng trong hưởng thụ các dịch vụ, đặc biệt là công bằng trong thụ hưởng dịch vụ giáo

dục và chăm sóc y tế, với việc tạo cơ hội cho những đối tượng, những vùng cònkhó khăn có cơ hội được chăm sóc tốt hơn

- Phân biệt, tách bạch ngày càng rõ hơn hệ thống cung ứng dịch vụ công ích với hệ thống dịch vụ hoạt động theo cơ chế tự trang trải Từ đó tạo cơ sở pháp lý

và tổ chức cho sự hình thành hệ thống cung cấp dịch vụ công ích để thực hiện tốthơn phúc lợi công cộng với những trách nhiệm của Nhà nước trên từng hạng mụcchính sách, lĩnh vực cụ thể

 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, sđd, tr.192-193

Trang 23

Từ những thành tựu đạt được và đối diện với những thách thức mới, Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ X (4-2006) đã đề ra chủ trương “Thực hiện tiến bộ vàcông bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển”, với nhữngđịnh hướng chủ yếu sau:

- Khuyến khích mọi người làm giàu theo luật pháp, thực hiện có hiệu quảcác chính sách xoá đói giảm nghèo

- Xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ côngcộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân về giáo dục và đào tạo, tạo việc làm,chăm sóc sức khoẻ, văn hoá - thông tin, thể dục thể thao

- Phát triển hệ thống y tế công bằng và hiệu quả, bảo đảm mọi người dânđược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ

- Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ, tầm vóc con ngườiViệt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi

- Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình

- Chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội

- Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Namtiếp tục khẳng định: “Phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tếvới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đờisống vật chất và tinh thần của Nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ởvùng sâu, vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm; gắnphát triển kinh tế với phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng, an ninh, tăngcường quan hệ đối ngoại, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc”(1) Đồng thời, “đổi mới quan hệ phân phối, chính sách tiền lương,thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; khắc phục tìnhtrạng bất hợp lý và tác động tiêu cực của quan hệ phân phối, chính sách tiềnlương, thu nhập hiện nay”(2)

Đặc biệt, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã tiếp tục khẳng định việc xây dựng và thựchiện chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là “động lực mạnh mẽphát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kếthợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến

bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách”8 Đại hội XIchủ trương, trong thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội; thựchiện tốt chính sách đối với người và gia đình có công với nước; chú trọng cải thiệnđiều kiện sống, lao động và học tập của thanh, thiếu niên, giáo dục và bảo vệ trẻ

(1) 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr 316.

(2) 2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.324.

8 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, sđd, tr.79

Trang 24

em; chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và trẻ

mồ côi; hạn chế, tiến tới đẩy lùi và giảm tác hại của tệ nạn xã hội Bảo đảm quy môhợp lý và chất lượng dân số

Đến Đại hội XII, quan điểm về chính sách xã hội phù hợp với các giaicấp, tầng lớp và cộng đồng dân cư được nhấn mạnh và nhận thức sâu sắc hơn:

“Xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội; giảiquyết hài hòa các quan hệ xã hội, ngăn chặn, giải quyết có hiệu quả những vấn

đề xã hội bức xúc, những mâu thuẫn có thể dẫn đến xung đột xã hội… quan tâmthích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộcthiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóagiàu – nghèo, bảo đảm sự phát triển xã hội ổn định và bền vững Kịp thời kiểmsoát và xử lý các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội…”

Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII tại Đại hộiĐại biểu toàn quốc lần thứ XIII nêu rõ: Từng bước hoàn thiện đồng bộ và thựchiện có hiệu quả chính sách xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo; phát triển thịtrường lao động, hướng tới xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến

bộ, tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế Bảo đảm cơ bản an sinh xã hội, quan tâmhơn phúc lợi xã hội cho người dân; thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách đốivới người có công; tiếp tục cải thiện chính sách tiền lương; mở rộng bảo hiểm

xã hội (tỉ lệ bảo hiểm y tế đạt trên 90%) Hệ thống tổ chức y tế tiếp tục đượckiện toàn Quy mô, năng lực, chất lượng y tế dự phòng, khám, chữa bệnh,phòng, chống dịch, chăm sóc sức khoẻ nhân dân có bước phát triển, tiếp cậnđược nhiều kỹ thuật tiên tiến trên thế giới Đời sống nhân dân được cải thiện rõrệt; tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm còn dưới 3%; nhà ở xã hộiđược quan tâm; đã hoàn thành mục tiêu Thiên niên kỷ và chuyển sang thực hiệnmục tiêu phát triển bền vững

Ngoài các chủ trương chung về chính sách xã hội đối với cộng đồng dân

cư, Đảng ta có những nghị quyết riêng để phát huy vai trò tích cực của mỗi giaicấp, tầng lớp Tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá X,Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/1/2008 về “Tiếp tụcxây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước” Đến Hội nghị Trung ương 7 khoá X, có Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Cũng trong Hộinghị này, xác định rõ vai trò to lớn của tầng lớp trí thức, Đảng ta ban hành Nghịquyết số 27-NQ/TW về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Đến Đại hội khoá XI, lần đầu tiên, Đảngban hành nghị quyết riêng để phát triển tầng lớp doanh nhân Ngày 9/12/2011,

Bộ Chính trị khoá XI, ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về “Xây dựng và pháthuy đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,

Trang 25

hiện đại hoá đất nước” Nghị quyết 15, khóa XI, ngày 1/6/2012 một số vấn

đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020; Những chủ trương, chính sáchphát huy đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục được khẳng định tại Hội nghịTrung ương năm khoá XII với sự ra đời của Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày3/6/2017 về “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng củanền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Bên cạnh đó, có các Nghịquyết 27, khóa XII, về cải cách chính sách tiền lương; Nghị quyết 28, khóa XII

về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội tiếp tục hoàn thiện chính sách xã hội ởViệt Nam trong giai đoạn hiện nay

Hệ thống văn bản pháp luật về các chính sách xã hội ngày càng hoànthiện, đầy đủ

Nhà nước ta đã xây dựng hành lang pháp lý, các cơ chế, pháp luật vềchính sách xã hội ngày càng được đầy đủ, hoàn thiện, từ Hiến pháp đến các luật,văn bản luật… tạo điều kiện để thực thi ngày càng hiệu quả vai trò, chức năngcủa các chính sách xã hội Hiến pháp năm 1992 có nhiều quy định về chính sách

xã hội Điều 56 của Hiến pháp quy định: “Nhà nước quy định thời gian laođộng, chế độ, tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối vớiviên chức nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triểncác hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động” Điều 39 nêu nhữngquy định về thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện để mọi người dân được chămsóc sức khỏe…

Các chính sách xã hội được thể hiện rõ trong các luật, bộ luật như: Bộ luậtLao động được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002

và 2006, 2012) có các chương quy định về bảo hiểm xã hội đối với người laođộng; Luật Việc làm năm 2013, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật Bảohiểm xã hội năm 2014, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015… Quốc hộixây dựng Luật Quan hệ lao động và nhiều văn bản pháp luật khác về các vấn đề

xã hội Bên cạnh đó, các văn bản dưới luật như pháp lệnh, nghị định của Chínhphủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ cũng được ban hành làm cho chínhsách xã hội càng hoàn thiện và đạt nhiều kết quả như: Pháp lệnh về danh hiệuvinh dự Nhà nước (Bà mẹ Việt Nam anh hùng), Pháp lệnh ưu đãi người cócông…

Như vậy, sau hơn 30 năm đổi mới, cùng với những thành tựu về tăng trưởngkinh tế, vấn đề công bằng xã hội càng được đặt ra bức xúc đối với đảng cầmquyền Điều đó được thể hiện ở chính sách xă hội, mà trước hết là đổi mới phươngthức cung ứng các dịch vụ công phù hợp với cơ chế thị trường, đồng thời phải thựchiện nhiều giải pháp đồng bộ chăm lo cho con người

Trang 26

1.5 CHỦ TRƯƠNG CỦA HUYỆN TRẤN YÊN – TỈNH YÊN BÁI VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

Trong thực hiện chính sách xã hội, Đảng bộ huyện Trấn Yên chỉ đạo: “Pháthuy truyền thống tương thân tương ái và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” Bên cạnh

đó, Đảng bộ, Mặt trận Tổ quốc huyện, các đoàn thể nhân dân, các sở, ban ngànhthực hiện tốt công tác chính sách xã hội Phong trào làm việc thiện, chăm sóc cácgia đình thương binh liệt sỹ, phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, xoá đóigiảm nghèo đã trở thành một nét đẹp trong lối sống mọi người Bên cạnh đó,

Đảng bộ và nhân dân huyện Trấn Yên đã kiên trì đấu tranh để hạn chế các tệ nạn

xã hội, các hoạt động phản văn hoá, phi văn hóa gắn với mặt trái của cơ chế thị trường

Trong giai đoạn 2015 – 2020 thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện

lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015 – 2020 về kinh tế, trên địa bàn huyện Trấn Yên luôngiữ được nhịp độ tăng trưởng khá Kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển ổn định, cơcấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xâydựng nông thôn mới đạt kết quả nổi bật, là điểm sáng trong phong trào xây dựngnông thôn mới của tỉnh và khu vực Tây Bắc; môi trường đầu tư kinh doanh đượccải thiện rõ rệt; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư pháttriển; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư đồng bộ, nhất là hạ tầng giaothông, nhiều công trình quan trọng trên địa bàn huyện được đầu tư xây dựng, tạođộng lực cho sự phát triển; các chương trình kinh tế trọng điểm phát huy hiệu quả.Văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, các chính sách an sinh xã hội được triển khai kịpthời, hiệu quả; quy mô mạng lưới trường, lớp được sắp xếp lại hợp lý, xây dựngtrường chuẩn đạt kết quả vượt bậc; bản sắc văn hóa tốt đẹp của đồng bào dân tộcthiểu số được giữ gìn và phát huy; đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên rõrệt; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh và bền vững Quốc phòng, an ninh được giữ vững,trật tự an toàn xã hội được đảm bảo

Trong 05 năm, huyện Trấn Yên thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng,Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộhuyện lần thứ XXI trong điều kiện có nhiều thuận lợi và cũng gặp không ít khókhăn, thách thức, nhất là ảnh hưởng của tình hình kinh tế - chính trị trên thế giới,chiến tranh thương mại, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển đảo; thời tiết, dịchbệnh diễn biến phức tạp, khó lường; nguồn lực dành cho đầu tư phát triển còn hạnchế đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất của Nhân dân và sự phát triểncủa Huyện

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXI, Đảng bộ huyện TrấnYên xây dựng và triển khai chương trình phát triển kinh tế trên địa bàn, với mụctiêu: tạo thế ổn định và phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ các thành phần kinh

tế.Đảng bộ chỉ đạo thực hiện khai thác tối đa các tiềm năng, đẩy mạnh huy động

Trang 27

vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư trong và ngoài Huyện để mởrộng sản xuất, năng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, tạo môi trường pháp lý, môitrường xã hội thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển Sự chuyển dịch cơcấu kinh tế trên địa bàn Huyện tác động mạnh đến cơ cấu lao động Tuy nhiên doquá trình đô thị hoá nhanh, người lao động không có việc làm ngày càng gia tăngĐảng bộ chỉ đạo giải quyết việc làm là trách nhiệm của các cấp uỷ, chính quyền,phải có sự vào cuộc của các đoàn thể và sự tham gia mạnh mẽ của các thành phầnkinh tế Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết việclàm và giải quyết các vấn đề xã hội Các dự án phát triển gắn với giải quyết việclàm, lao động tại chỗ, đồng thời phát triển mạng lưới chợ, cơ sở gia công chế biến,dịch vụ văn hoá, giao thông, xây dựng để tạo việc làm.

Huyện Trấn Yên xác định nhiệm vụ cơ bản trong giai đoạn 2015 - 2020 phải

“Chăm lo đảm bảo thực hiện tốt chính sách xã hội, đặc biệt chính sách đối vớingười có công gia đình thương binh liệt sĩ Giải quyết ngăn chặn có hiệu quả tệ nạn

xã hội ở những địa bản đang hoặc có nguy cơ phát sinh phức tạp Quan tâm chỉ đạo

có biện pháp tích cực trong giải quyết việc làm" Công tác giải quyết việc làm làmột trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của huyện Để giải quyết được vấn đềviệc làm, vấn đề tiên quyết là phải phát triển kinh tế - xã hội, trong đó đẩy mạnhsản xuất kinh doanh Làm cho thị trường lao động trở nên sôi động, linh hoạt Chỉtrong điều kiện đó, sức lao động mới được giải phóng triệt để, người lao động mới

có cơ hội tự tạo việc làm cho mình và thu hút thêm lao động xã hội

Trong công tác giải quyết việc làm, đẩy mạnh công tác giáo dục, dạy nghềnhằm nâng cao trình độ dân trí, phục vụ yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và giảiquyết việc làm" Nghiên cứu, xây dựng chương trình “Phát triển đào tạo, dạy nghềtrên địa bàn” làm cơ sở cho việc phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làmchuyển đổi nghề cho lao động nông nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệpđầu tư vào công tác đào tạo dạy nghề Phối hợp với các Trường Đại học, Cao đẳng,Viện nghiên cứu, Trường trung học chuyên nghiệp phát triển các hình thức, loạihình dịch vụ xúc tiến việc làm, đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ, tạo điều kiệnquản lý phục vụ tốt hơn nhu cầu sinh hoạt, học tập của sinh viên Bên cạnh đó,Huyện Trấn Yên còn coi trọng và khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh

tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa Đó là những chủ thể, những hình thức vàlĩnh vực đang có khả năng thu hút được nhiều lao động nhất hiện nay

Thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ chỉ đạo các ban ngành liên quan

có chế độ, chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo có việc làm phát triểnsản xuất, tăng thu nhập như chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo Đó là ưutiên hộ nghèo có nhu cầu được vay vốn hỗ trợ việc làm, phát triển sản xuất thôngqua tín chấp của các hội, đoàn thể Nguồn vốn cho vay ưu đãi gồm vốn giảmnghèo, vốn thông qua quỹ phụ nữ tiết kiệm Chi nhánh ngân hàng chính sách xã

Trang 28

hội huyện, Quỹ hội Liên hiệp phụ nữ Bên cạnh đó, tập huấn, hướng dẫn ngườinghèo sản xuất, kinh doanh Tổ chức tập huấn, hướng dẫn người nghèo cách chănnuôi, trồng trọt, kinh doanh, dịch vụ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và phươngpháp lập kế hoạch phát triển kinh tế gia đình Tổ chức tham quan, học tập kinhnghiệm sử dụng nguồn vốn vay có hiệu quả Xây dựng và thực hiện kế hoạch dạynghề gắn với giải quyết việc làm phù hợp với người nghèo Xây dựng cơ chế hỗtrợ và tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông nghiệp bị thu hẹpđất canh tác, xúc tiến lao động thuộc hộ nghèo theo Quyết định 81/2005/QGG -TTg của Thủ tướng Chính phủ Vận động các doanh nghiệp, cơ quan đơn vị đóngtrên địa bản để tiếp nhận lao động thuộc hộ nghèo vào làm việc Tổng kết rút kinhnghiệm các mô hình giảm nghèo đã triển khai từ năm 2015 - 2020 Duy trì và mởrộng các mô hình có hiệu quả bằng nguồn lực của huyện, các doanh nghiệp và củachính các hộ Có cơ chế, chính sách hỗ trợ nghèo về y tế, giáo dục, nhà ở, kế hoạchhoá gia đình Huyện đã thực hiện tốt chương trình quốc gia giảm nghèo, triển khaicác biện pháp trực tiếp cho các hộ đói nghèo như:

+ Cho vay vốn với lãi suất ưu đãi để hộ đói nghèo sản xuất, kinh doanh,dịch vụ có hiệu quả

+ Hướng dẫn cách làm ăn kết hợp với chuyển giao công nghệ

+ Hỗ trợ các hộ nghèo khi gặp hoạn nạn, khó khăn

+ Ngành giáo dục cũng đã có một số chính sách miễn giảm học phi cho cơn

em các hộ đổi nghèo, các hộ thuộc chính sách để từng bước nâng cao dân trí, giúp

họ có điều kiện tiếp cận với cách làm ăn mới

Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng quỹ “vì người nghèo" và các hoạt động

xã hội hoá công tác giảm nghèo: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền thực hiện cuộcvận động "Ngày vì người nghèo", các hoạt động xã hội hoá công tác giảm nghèo,tập trung thực hiện tháng cao điểm từ đầu tháng 10 đến 18/11 hàng năm, tăngcường các biện pháp vận động quỹ “vì người nghèo" để bộ sung nguồn lực hỗ trợ

hộ nghèo Đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức y tế, Hội chữ thập đó các cấp, hoạtđộng của các tổ chức Hội (Hội cứu trợ trẻ em tàn tật, Hội cứu trợ người tần tật vàtrẻ mồ côi Hội nạn nhân chất độc da cam, Hội người khuyết tật ) Tổ chức cáchoạt động khám chữa bệnh nhân đạo, từ thiện, cấp thuốc miễn phí cho ngườinghèo

Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh, Đảng bộ huyện xác định công tác phòngchống tệ nạn ma túy, mại dâm cần tập trung chỉ đạo thực hiện Kế hoạch số 39/KH-UBND ngày 21/02/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về Thực hiện Dự án

“Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống ma tùy tại xã, phường, thị trấn” trên địabàn tỉnh Yên Bái, Ủy ban nhân dân huyện Trần Yên đã xây dựng kế hoạch số54/KH-UBND-CA ngày 05/4/2019 để triển khai thực hiện trên địa bàn huyện TrấnYên Đồng thời, tiếp tục thực hiện nghiêm túc Chương trình hành động số 13-

Trang 29

CTr/HU ngày 15/01/2019 của Ban thường vụ Huyện ủy Trấn Yên thực trên chỉ thịcủa Tỉnh ủy về việc "Tăng cường chỉ đạo lãnh đạo thực hiện ANTT năm 2019”, Kếhoạch số 99/KH-UBND ngày 29/10/2015 của Ủy ban nhân dân huyện Trấn Yên vềviệc thực hiện Chương trình phòng, chống ma túy đến năm 2030 Từ đó, Huyện đề

ra chương trình phòng chống tệ nạn xã hội, phòng Lao động Thương binh - Xã hội

đã tiến hành xây dựng nội dung, chương trình cụ thể hoá các hoạt động phòngchống các tệ nạn xã hội theo nhiệm vụ của ngành trên các phương tiện: Chỉ đạo,đôn đốc, giám sát, tuyên truyền như: triển khai kế hoạch phòng chống mại dâm,triển khai Kế hoạch liên tịch số 546 về đánh giá phân loại xã phường không có tệnạn mại dâm, tổ chức tập huấn Nghị định 135 và Thông từ số 22 liên ngành vềhướng dẫn thủ tục, hồ sơ cai nghiện bắt buộc cho các đồng chí cán bộ trực tiếp làmcông tác phòng chống tệ nạn xã hội Đảng bộ Huyện chỉ đạo: “Chủ động có cácbiện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả chống lại các loại tội phạm hình sự,

ma tuý và các loại tội phạm xã hội Đẩy mạnh công tác chữa trị, cắt cơn, quản lýđối tượng sau cai nghiện Tập trung các lực lượng đấu tranh triệt phá kịp thời các ổnhóm tội phạm hình sự, tụ điểm tệ nạn ma túy phát sinh Trên cơ sở Uỷ banthường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh phòng chống mại dâm, Đảng bộ, Hộiđồng nhân dẫn, Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo triển khai, quản triệt Pháp lệnhphòng chống mại đâm đến các cơ quan, phòng, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chínhtrị xã hội, chính quyền cơ sở và Nhân dân trên địa bàn Hàng năm, Ủy ban nhândân huyện đều xây dựng kế hoạch phòng chống mại dâm trên địa bàn với nhữngmục tiêu, giải pháp và phân công nhiệm vụ cho các cấp, các ngành, giao chỉ tiêu cụthể cho các xã và phòng, ban, ngành, đoàn thể: tổ chức hội nghị triển khai, tiếnhành kiểm tra việc thực hiện Ban chỉ đạo phòng, chống AIDS và phòng chống tệnạn ma túy, mại dâm của Huyện tổ chức giao ban với các đơn vị cơ sở để nắm tìnhhình kết quả thực hiện, những khó khăn, vướng mắc để chỉ đạo kịp thời Ngoài cácviệc cụ thể trên, phòng Lao động Thương binh - Xã hội còn phối hợp với phỏngvăn hóa thể thao, Hội Liên hiệp phụ nữ và các đoàn thể tổ chức các hoạt độngtuyên truyền như hội thảo, toạ đàm sinh hoạt các Câu lạc bộ về phòng chống matuý, phòng chống mại dâm đạt kết quả cao tạo được sự chuyển biến trong ý thức,phương pháp, công tác phòng chống tệ nạn xã hội của Nhân dân và hội viên tronghuyện

Đối với chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Đảng bộ, Ủy bannhân dân, Hội đồng nhân dân huyện luôn quan tâm chỉ đạo Các ngành, các cấpthực hiện tốt hai pháp lệnh "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và pháp lệnh "Ưu đãingười có công với cách mạng" Đảng bộ đã thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện pháplệnh ưu đãi người có công và xây dựng kể hoạch triển khai thực hiện hai pháp lệnhhằng năm Việc đưa ra và thực hiện tốt chính sách ưu đãi đối với người có công vớinước nhằm đạt mục đích cao nhất là làm cho mọi đối tượng chính sách “yên ổn về

Trang 30

vật chất, vui vẻ về tinh thần”, tham gia các hoạt động có ích cho xã hội Với tưtưởng đó, huyện Trấn Yên đã tổ chức thực hiện tốt chính sách người có công vớicách mạng và đạt kết quả tốt trong nhiều năm.

Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Trấn Yên lần thứ XXI (2015 2020) nêu rõ: "Giải quyết tốt những vấn đề xã hội, cải thiện đời sống nhân dân”,

-“thực hiện tốt chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công với cáchmạng, gia đình liệt sỹ, thương bệnh binh và các đối tượng xã hội khác Chú trọngphong trào nhân đạo từ thiện, hoạt động cứu trợ xã hội, giảm nghèo Phát hiện vàgiải quyết tối mâu thuẫn trong nội bộ Nhân dân Ngăn chặn, đẩy lùi những tệ nạn

xã hội, chú trọng thực hiện xã hội hoá công tác phòng chống tệ nạn xã hội Xâydựng nhiều địa bàn dân cư, cơ quan, trường học, doanh nghiệp không có ma tuý”Đại hội Đảng bộ Huyện nhấn mạnh: “Phối hợp với các ngành, cơ sở dạy nghề,hướng nghiệp của tỉnh, các doanh nghiệp để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghềcho người lao động Huy động các nguồn vốn, quỹ quốc gia, nguồn tài trợ và sựtương thân tương ái trong cộng đồng để phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việclàm và thu nhập ổn định cho những người lao động khó khăn về vốn." Những chủtrương về một số vấn đề xã hội đó góp phần đưa huyện Trấn Yên phát triển, ổnđịnh đời sống chính trị - xã hội

Trang 31

Chương 2

THỰC TRẠNG SỰ LÃNH ĐẠO MỘT SỐ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN TRẤN YÊN TỈNH YÊN BÁI GIAI ĐOẠN 2015 – 2020 2.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA HUYỆN TRẤN YÊN

2.1.1 Khái quát tình hình, đặc điểm huyện Trấn Yên

Huyện lỵ là thị trấn Cổ Phúc nằm trên tỉnh lộ 151, cách thành phố YênBái 15 km về hướng Tây Bắc, cách Hà Nội gần 200 km Có hệ thống giao thôngđường bộ, đường sắt, đường thuỷ rất thuận lợi cho việc đi lại và trao đổi hàng hoágiữa các địa phương trong và ngoài huyện Các ga Văn Phú, Cổ Phúc và Ngòi Hópcủa tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai - Côn Minh nằm tại huyện này

Trấn Yên là địa bàn chuyển tiếp về địa hình từ trung du lên miền núi, phíaĐông Bắc là đường sông núi của dãy Púng Luông, thung lũng sông Hồng chạygiữa cắt Huyện thành hai phần không đều nhau, hơi lệch về phía núi Con Voi

Độ cao trung bình toàn huyện là 100 m, nơi thấp nhất có độ cao là 20 m Địahình cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc Các xã phía Nam phần lớn có địa hình đồibát úp, đỉnh bằng, sườn thoải Các xã nằm dưới chân núi Con Voi là Púng Luông

có địa hình phức tạp, độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh

Hệ thống sông ngòi Trấn Yên nằm trong hệ thống sông Hồng Sông Hồngđoạn chảy trên địa bàn Trấn Yên dài 50 km, chảy theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam Đây là tuyến giao thông đường thuỷ quan trọng nhất của huyện Trấn Yên,song về mùa lũ các diện tích canh tác của các xã ven sông thường hay bị ngập lụt.Trên địa bàn Trấn Yên có 32 ngòi suối đổ vào sông Hồng, phân bố tương đối đềutrên địa bàn Các ngòi suối đều ngắn và dốc, vào mùa mưa thường xảy ra lũ ống và

lũ quét gây thiệt hại cho đời sống dân sinh và sản xuất nông nghiệp

Huyện Trấn Yên có một số khoáng sản có giá trị kinh tế như: quặng sắt phân

bổ ở Việt Hồng, Lương Thịnh, Hưng Thịnh, Hưng Khánh, Hồng Ca, Kiên Thành

Trang 32

với tổng trữ lượng trên 91 triệu tấn, riêng mỏ quặng sắt ở Kiên Thành có hàmlượng trên 60%, hiện đang được khai thác; đá thạch anh phân bố tại xã Hoà Cuông,Việt Hồng, Lương Thịnh, Kiên Thành, Y Can trữ lượng trên 52 nghìn tấn, chấtlượng đạt yêu cầu cho sản xuất kính và sứ; quặng Graphit phân bố tại xã Báo Đáp,Đào Thịnh, Nga Quán Ngoài ra, trên địa bàn Huyện còn có các mỏ cao lanh tạiCường Thịnh trữ lượng 150.000 tấn; mỏ sét ở Bảo Hưng, Y Can, Đào Thịnh…

Vật liệu xây dựng như: đá xây dựng, cát sỏi, vật liệu sản xuất gạch có trữlượng lớn được phân bố rộng trên địa bàn huyện; đá xây dựng tại Hang Dơi MinhQuán, Việt Cường, Việt Hồng, Kiên Thành

Trấn Yên có một hệ thống giao thông khá thuận lợi, trong đó hệ thống giaothông đường bộ đã đóng góp tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xâydựng nông thôn mới với lợi thế nằm dọc theo hai bên bờ sông Hồng, đã tạo điềukiện thuận lợi cho các xã ven sông hình thành các cánh đồng rộng và màu mỡ hệthống thủy lợi đã và đang được kiên cố hóa, đây là tiền đề cơ bản để Trấn Yên pháttriển ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Nhìn chung, với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên đã làm cho huyện Trấn Yên

có rất nhiều tiềm năng và lợi thế trong việc phát triển nông nghiệp nông thôn.Trước những yêu cầu hiện nay là phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướnghiện đại, tạo ra những sản phẩm nông sản chất lượng cao thì việc phát huy nhữnglợi thế từ đặc điểm tự nhiên đó chính là tạo ta cơ hội để xây dựng khối liên minhcông- nông - trí thức bền vững ở Trấn Yên trong thời gian tới

2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Huyện Trấn Yên có một hệ thống giao thông khá thuận lợi Từ Trấn Yên cóthể đi tới các huyện Văn Yên, Lục Yên, Văn Chấn, Nghĩa Lộ, Thành phố Yên Bái

và các tỉnh bạn như: Phú Thọ, Hà Nội Hệ thống giao thông đường bộ đã đóng góptích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xây dựng nông thôn mới

Huyện Trấn Yên đã ưu tiên cho việc cứng hóa các tuyến đường giao thông.Đến nay, 100% các tuyến đường giao thông đến trung tâm các xã được cứng hóa;phần lớn các tuyến đường liên xã, liên thôn từ vùng thấp đến vùng cao được mởrộng nền đường, trong đó trên 30% đường liên thôn bản được cứng hóa mặt đường,nhiều cầu cống, ngầm tràn qua đường được xây dựng vĩnh cửu Điển hình trongphong trào này là các xã Tân Đồng, Báo Đáp, Việt Thành, Việt Cường, HưngKhánh…

Những năm gần đây, huyện Trấn Yên đã tích cực đẩy mạnh sản xuất lúahàng hoá với diện tích lúa chất lượng cao là 1.700 ha Việc sản xuất vụ 3 trên đất 2lúa và đất màu soi bãi đã góp phần nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn.Cùng với cây lúa, nghề trồng dâu nuôi tằm đã phát triển ở các xã dọc hai bờ sông

Trang 33

Hồng Đến nay, diện tích dâu của huyện là trên 200ha, sản lượng kén tằm đạt trên

200 tấn/năm, đạt giá trị trên 20 tỷ đồng/năm

Là một trong những địa phương có diện tích chè lớn của tỉnh, với gần 2.180

ha chè kinh doanh trong đó có tới trên 1.000 ha chè chất lượng cao như: Bát Tiên,Phúc Vân Tiên, mỗi năm tổng sản lượng chè búp tươi của huyện đạt 16.000 tấn.Huyện đang hướng cho các địa phương xây dựng thương hiệu chè theo tiêu chuẩnVietGAP

Trong những năm qua, kinh tế - xã hội của huyện Trấn Yên có bước pháttriển ổn định và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Phát triển, mở rộng quy mô vùngsản xuất hàng hoá tập trung chuyên canh với những cây trồng, vật nuôi là thế mạnhcủa Huyện, có liên kết chặt chẽ trong sản xuất, gắn chế biến với tiêu thụ sản phẩmtheo hướng bền vững, như: vùng tre Bát Độ đạt gần 3.500 ha, sản lượng măng trên

50 nghìn tấn/năm, giá trị trên 100 tỷ đồng; vùng trồng dâu, nuôi tằm 700 ha, sảnlượng kén 700 tấn, giá trị trên 70 tỷ đồng; vùng quế đạt trên 16 nghìn ha, trong đó6.000 ha vùng quế hữu cơ đạt tiêu chuẩn, 1.570 ha đạt tiêu chuẩn quốc tế; vùngtrồng cây ăn quả có múi 750 ha; toàn huyện có 592 cơ sở chăn nuôi hàng hóa

Xác định rõ định hướng và mục tiêu, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân cácdân tộc huyện Trấn Yên đã nỗ lực không ngừng, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, phâncông cụ thể cho các cấp ủy, ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn huyện, đề ra nhiệm

vụ, giải pháp trọng tâm trong từng giai đoạn, tích cực tuyên truyền, vận động Nhândân hiến đất, giải phóng mặt bằng, góp công sức, kinh phí cải tạo nâng cấp đườnggiao thông, nhà văn hóa thôn, xây dựng thôn bản sáng, xanh, sạch đẹp, văn minh,phát triển kinh tế, giảm nghèo, phát động phong trào thi đua xây dựng nông thônmới giữa các thôn, bản qua đó triển khai thực hiện và hoàn thiện 19 tiêu chí xã,huyện nông thôn mới theo 5 nhóm gồm: tiêu chí về quy hoạch; về hạ tầng kinh tế -

xã hội; về kinh tế và tổ chức sản xuất; về văn hóa - xã hội - môi trường và về hệthống chính trị

Cơ cấu kinh tế vùng có những chuyển biến tích cực Từ việc phát huy lợi thếcủa từng vùng, đã và đang hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, động lực, vùngsản xuất tập trung, các khu, cụm công nghiệp, làng nghề phát triển; những chínhsách, chương trình đầu tư xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hộimiền núi, vùng khó khăn đã phát huy tác dụng, bước đầu khai thác được tiềm năng,lợi thế của từng vùng Đây cũng chính là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vựcnông thôn hợp lý hơn đồng thời là môi trường gắn kết công- nông- trí thức đượcchặt chẽ hơn

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển, môi trường đầu tư được cải thiện

Hệ thống giao thông được đầu tư nâng cấp và mở thêm các tuyến mới, nhất là giaothông nông thôn Thông tin liên lạc thông suốt, phục vụ có hiệu quả cho sản xuất,sinh hoạt của nhân dân, sự chỉ đạo, quản lý điều hành của nhà nước và bảo đảm

Trang 34

phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh Các công trình phúc lợi công cộng như hệthống trường học, bệnh viện, các công trình văn hoá, thể thao… cũng được đầu tư,đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế và đời sống Nhân dân.

2.1.1.3 Đặc điểm về dân tộc, tôn giáo

Huyện có 6 dân tộc sinh sống, trong đó: dân tộc Kinh chiếm 66,5%, dân tộcTày chiếm 20,5%, dân tộc Dao chiếm 7,2%; dân tộc Mường chiếm 2,3%, dân tộcCao Lan chiếm 1,2%, dân tộc H’Mông chiếm 1,9%, các dân tộc khác chiếm 0,4%

Người Kinh: Chiếm 66,5% dân số, sinh sống chủ yếu ở các xã vùng ngoài

và các xã phía Nam của huyện Vùng 2 bên bờ sông Thao đã được người Kinh khaikhẩn từ lâu đời, lập nên làng xóm đông đúc trù phú như vùng trung du Bắc Bộ.Người Kinh ở Trấn Yên sinh cơ lập nghiệp vào các thời kỳ: Thời kỳ đầu di thực từPhú Thọ, Việt Trì theo sông Thao đến khai phá những vùng đất phù sa ven sông vàcửa các con ngòi lớn, sau đó thành người bản địa đã sinh sống nhiều đời trên mảnhđất này Tiếp đó là các đợt di thực vào thời kỳ thuộc Pháp, họ gồm phu kíp xâydựng đường sắt Yên Bái – Lào Cai, nông dân được mộ lên làm trong các đồn điền,một số bị thực dân mộ đi khai thác hầm mỏ, làm các công trình quân sự, một sốkhác đi khai thác lâm thổ sản… chủ yếu là người ở các tỉnh đồng bằng như NamĐịnh, Thái Bình, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây Người Nam Định, Thái Bình, HàNam đến sinh sống tại các vùng Bách Lẫm, Yên Lương, Bình Trà, Bình Phượng,Phú Thọ, Dao Viễn, Lan Đình, Đại An, Yên Thái, Kiên Lao, Phú Nhuận, Trái Hút

và dọc đường sắt Yên Bái – Lào Cai Năm 1932 người Kinh ở Trấn Yên có9.541/20.071 người – dân số toàn huyện

Những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước có chủ trương điềuchỉnh dân cư ở những vùng đồng bằng đông dân đến miền núi dân thưa thớt lậpnghiệp trong cuộc vận động đi xây dựng kinh tế văn hoá miền núi Năm 1962,Huyện đón nhận Nhân dân của các tỉnh Hưng Yên, tỉnh Hà Nam và Hà Nội lên lậpnghiệp Các năm 1973, 1974 lại tiếp nhận thêm 10.000 dân từ tỉnh Hà Nam Ninhlên xây dựng vùng kinh tế mới Họ được định cư ở các xã Hưng Khánh, HưngThịnh, Hồng Ca, Lương Thịnh, Việt Thành, Đào Thịnh, Hoà Cuông, Quy Mông,Bảo Hưng, Văn Tiến, Tân Thịnh Buổi đầu định cư đồng bào đi xây dựng vùngkinh tế mới thành lập hợp tác xã, huyện và các xã giao đất, giao rừng để họ canhtác với việc thâm canh lúa là chủ yếu Có hợp tác xã chuyên canh cây chè đạt hiệuquả kinh tế cao Người Kinh từ miền xuôi lên định cư ở Trấn Yên mang theonhững đặc điểm về văn hoá làng xã, dòng họ như ở các tỉnh miền xuôi, có nơimang theo cả nghề truyền thống và xây dựng những làng nghề tại quê hương mớinhư: làm miến đao ở Giới Phiên, đan cót ở Minh Tiến…

Cuộc vận động chuyển dân vùng hồ để xây dựng Nhà máy thuỷ điện Thác

Bà cũng chuyển một lượng đáng kể người Kinh từ thung lũng sông Chảy sang định

Trang 35

cư ở Quy Mông, Tân Đồng, Vân Hội Đây là những gia đình đã di thực từ miềnxuôi lên định cư tại huyện Yên Bình nay được chuyển đến định cư tại Trấn Yên.

Người Tày: chiếm 20,5% dân số, sống chủ yếu ở các xã vùng sâu có bồn địa

và ven suối lớn Họ sống tập trung thành bản, ở nhà sàn, thâm canh lúa nước, chănnuôi gia súc, gia cầm Đây là bộ phận đã định cư lâu đời ở các xã Hồng Ca, HưngKhánh, Lương Thịnh, Việt Hồng, Vân Hội, Việt Cường, Kiên Thành, Đào Thịnh,Báo Đáp, Tân Đồng Nhà sàn của người Tày rất rộng thường thì ba đến bốn thế hệcùng sinh sống trong một ngôi nhà Người Tày đoàn kết, thân ái với người Kinh vàcác sắc tộc khác, tính tình dịu dàng, đôn hậu, yêu nước thiết tha Trong quá trìnhsinh sống luôn luôn chú ý giữ gìn môi trường sinh thái Người Tày ở Hưng Khánh,Hồng Ca, Lương Thịnh là chủ nhân của các làn điệu Sli- lượn với cây đàn tính rộnràng trong các ngày lễ tết

Người Dao: người Dao trong huyện định cư sau người Tày, họ có tập quánsống ở các sườn núi cao từ 300 – 400m so với mặt biển Trước những năm 1970người Dao sống chủ yếu trên vùng núi, ở các ngọn suối, canh tác cơ bản là phátnương trồng rẫy Trong cuộc vận động xây dựng hợp tác xã, Huyện đã kiên trì vậnđộng và tổ chức các điều kiện hạ sơn để người Dao xuống núi và ruộng nước.Những khu khai hoang vận động hạ sơn điển hình là khu Bát Lụa (Lương Thịnh),Vực Tròn (Lương Thịnh), Minh An (Y Can) Đến giữa những năm 1970 người Dao

đã hạ sơn, định canh định cư xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở các xãViệt Cường, Lương Thịnh, Y Can, Kiên Thành, Tân Đồng Riêng nhánh Sán Chay(Cao Lan) thì định canh định cư tại 2 xã Hoà Cuông và Minh Quán

Người Mường: chiếm 2,3% dân số Người Mường có nguồn gốc từ huyệnThanh Sơn (Phú Thọ) đã di thực theo sông Thao lên cư trú tại xã Quy Mông cáchđây khoảng 150 năm Họ sống thành cộng đồng trong làng Mường Sản xuất chủyếu là trồng cấy lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm Về trình độ canh tác và tậpquán trong sinh hoạt cộng đồng có nét tương đồng với người Kinh Người Mường

ở Quy Mông ăn tết Nguyên Đán Hiện nay vẫn còn giữ được một số nét đặc biệt vềvăn hoá truyền thống như dựng cây đu đầu xuân, trồng cây nêu vào ngày tết Điệumúa “Mỡi” Mường ở Quy Mông rộn ràng, sôi động thường sử dụng vào các ngày

lễ hội cầu mùa

Người H’mông: trong những năm đầu miền Bắc mới được giải phóng,huyện Trấn Yên cơ bản không có người H’mông Theo điều tra năm 1932, của thựcdân Pháp, toàn huyện chỉ có 77 người H’mông sống rải rác ở các vùng núi caomiền thượng huyện

Từ các năm 80, người H’mông du cư từ Trạm Tấu, Văn Chấn ở các xã ranhgiới của huyện Họ ở tập trung thành bản H’mông ở Hồng Lâu (Hồng Ca), ĐồngRuộng (Kiên Thành) với tổng số người là 1.270 chiếm 1,9% dân số toàn huyện.Người H’mông có tập quán phát nương làm rẫy, sau nhiều lần trồng rẫy độ phì của

Trang 36

đất tàn kiệt, rừng trơ trụi xác xơ, người H’mông lại chuyển đến nơi khác Trước khiđến nơi ở mới người H’mông cử một số người khoẻ mạnh đi tìm đất, nếu đất vàrừng phù hợp với yêu cầu sinh sống thì họ ở lại phát rừng làm rẫy và làm lán cư trútạm thời Sau một số năm nơi ở mới có đủ điều kiện nuôi dưỡng cả bản, ngườiH’mông bỏ bản cũ đến ở nơi mới.

Huyện Trấn Yên hiện nay có 2 tôn giáo là Đạo phật và Đạo công giáo với6.685 tín đồ Trong những năm qua, huyện Trấn Yên luôn chú trọng, tăng cườngcông tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương đường lối của Đảng, chính sách phápluật của Nhà nước về tín ngưỡng tôn giáo

Có thể nói, từ sự nhận thức đúng đắn, sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủyĐảng, chính quyền huyện Trấn Yên đối với công tác tôn giáo, đời sống vật chất vàtinh thần của đồng bào có đạo đã có nhiều chuyển biến tích cực, thời gian từ năm

2015 đến nay huyện Trấn Yên không xuất hiện những điểm nóng về dân tộc, tôngiáo Tuy nhiên, các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn luôn lợi dụng yếu tốdân tộc, tôn giáo để chống phá Đảng, chống phá cách mạng, đây là nội dung trựctiếp, quan trọng mà công tác tư tưởng của Đảng bộ huyện phải chú trọng

2.1.2.4 Đặc điểm về văn hóa, con người

Truyền thống yêu nước, kiên cường được thể hiện qua các cuộc kháng chiếncứu nước, xây dựng và phát triển đất nước là đặc điểm văn hóa nổi bật của ngườiTrấn Yên và cũng là yếu tố tích cực, góp phần giúp huyện Trấn yên thực hiện hiệuquả công tác tư tưởng tại địa phương Theo suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữnước của dân tộc Việt Nam, Nhân dân Trấn Yên luôn phát huy những truyền thốngtốt đẹp: cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, anh dũng, kiên cường trong đấutranh cách mạng Ngay từ buổi đầu dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, Nhân dân

đã đoàn kết và anh dũng chiến đấu chống thực dân Pháp dưới ngọn cờ Cần Vươngcủa thủ lĩnh Nguyễn Quang Bích, tiếp theo là cuộc đấu tranh trong phong trào GiápDần nổi tiếng năm 1914, khởi nghĩa Yên Bái của Quốc dân Đảng và các phongtrào khởi nghĩa yêu nước khác Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnhđạo, truyền thống đó càng được khơi dậy và phát huy mạnh mẽ, góp phần viết nênnhững trang sử đầy tự hào của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong huyện

Huyện Trấn Yên cũng là địa phương có địa bàn rộng, nhiều xã vùng sâu,vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Toàn Huyện có 21 xã, thị trấn với 6 dântộc anh em chung sống, trong đó có 5 dân tộc thiểu số với trên 32.000 người,chiếm gần 40% dân số Bên cạnh những nét chung về văn hóa cộng đồng, mỗi dântộc đều có một nét văn hóa đặc trưng riêng biệt tạo nên nền văn hóa truyền thốngphong phú, đậm đà bản sắc dân tộc

Những năm qua, công tác bảo tồn, phát huy và giữ gìn bản sắc văn hóatruyền thống trên địa bàn đã góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng nông thôn

Trang 37

mới, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, giảm nghèo và thúc đẩy kinh tế - xã hộiphát triển Cùng với đó, huyện Trấn Yên cũng đã tập trung khôi phục và duy trì các

lễ hội đặc sắc của các dân tộc thiểu số như: lễ hội đình làng Dọc của dân tộc Tày(xã Việt Hồng), lễ hội đền Hóa Cuông (xã Hòa Cuông), lễ hội Lồng Tồng (xã KiênThành), lễ hội đình Kỳ Can (xã Y Can), lễ hội đình và đền xã Quy Mông ; nhiềuloại hình nghệ thuật truyền thống của các dân tộc được khai thác, khôi phục như:đàn môi, kèn lá, múa trống, sáo của dân tộc Mông, múa chạy rùa, lễ cấp sắc, trốngtang sành của dân tộc Dao, múa chim gâu xúc tép của dân tộc Cao Lan Đảng bộ,chính quyền, các cơ quan, đơn vị, khối đoàn thể và các xã, thị trấn cũng đã triểnkhai nhiều giải pháp bảo tồn toàn diện từ tiếng nói, chữ viết, trang phục, nhà cửacũng như những giá trị, tri thức tốt đẹp của đồng bào các dân tộc; quan tâm thu hútcác chương trình, dự án đầu tư phát triển du lịch, trong đó chú ý tới bảo tồn, pháthuy giá trị văn hóa ở các bản, làng

Hiện nay, một số nét văn hóa truyền thống như: tiếng nói, chữ viết, dân ca,dân vũ, nhạc cụ dân tộc, nghề thủ công truyền thống của các dân tộc thiểu số trênđịa bàn Huyện đang dần bị mai một Vì vậy, để thực hiện tốt công tác giữ gìn, bảotồn, phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống trong đồng bào cácdân tộc thiểu số, Huyện sẽ tiếp tục củng cố, duy trì và nâng cao chất lượng hoạtđộng của các câu lạc bộ, nhóm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và hơn 200 tổ, độivăn nghệ cơ sở; đồng thời, khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhânnghiên cứu, truyền dạy và giới thiệu phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống dântộc đến công chúng

Đặc trưng văn hóa truyền thống của các dân tộc huyện Trấn Yên được bảotồn, đã tạo nên sự thống nhất trong đa dạng về văn hóa làm nền tảng xây dựng xãhội, con người trong thời kỳ mới Giai đoạn tới, huyện Trấn Yên sẽ tiếp tục kết hợpbảo tồn nét đẹp văn hóa truyền thống và loại bỏ các hủ tục, xây dựng môi trườngvăn hóa lành mạnh, tiên tiến nhưng vẫn đậm bản sắc; qua đó, vừa giữ được truyềnthống dân tộc vừa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là lĩnh vực du lịch

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo,Đảng bộ huyện Trấn Yên đã và đang quán triệt sâu sắc đường lối cách mạng củaĐảng để lãnh đạo và động viên Nhân dân tiếp tục phát huy cao nhất truyền thốngvăn hóa, truyền thống cách mạng của mình vào sự nghiệp: đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa, phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh”

2.2 THỰC TRẠNG SỰ LÃNH ĐẠO MỘT SỐ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN TRẤN YÊN TỈNH YÊN BÁI GIAI ĐOẠN 2015 – 2020

2.2.1 Những thuận lợi, khó khăn trọng lãnh đạo thực hiện một số chính sách

xã hội của Đảng bộ huyện Trấn Yên

Trang 38

2.2.1.1 Thuận lợi

Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể huyện Trấn Yên đã tậptrung lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, quyết liệt, đồng bộ, sáng tạo, có trọng tâm,trọng điểm các giải pháp thực hiện chính sách xã hội Bằng những quyết sách đúngđắn, cách làm phù hợp với thực tiễn của địa phương Huyện đã tập trung phát huysức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, đặcbiệt là phát huy vai trò của chi bộ đảng, thôn, bản; vai trò của người đứng đầu các

tổ chức, cơ quan, đơn vị; vai trò chủ thể của người dân và sức mạnh của cộngđồng; sự hưởng ứng, đồng thuận, đoàn kết chung sức, chung lòng, tích cực thamgia thực hiện hiệu quả các chính sách xã hội trên địa bàn toàn huyện

Giai đoạn 2015 – 2020, trong bối cảnh còn gặp nhiều khó khăn, thách thức,song Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc trong Huyện đoàn kết, sángtạo, nỗ lực, chủ động nắm bắt thời cơ vượt qua mọi khó khăn, thách thức đạt đượcnhững kết quả toàn diện trên các lĩnh vực Huyện đã hoàn thành 20/21 chỉ tiêu đạihội Đảng bộ Huyện lần thứ XXI đề ra (chỉ tiêu sản lượng lương thực có hạt khôngđạt do huyện chủ động chuyển đổi trên 500 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sangtrồng dâu, nuôi tằm), tạo ra diện mạo mới, vị thế mới và tâm thế mới của huyệnTrấn Yên trong sự phát triển của Đảng bộ tỉnh Yên Bái

Huyện có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, kết cấu hạtầng tương đối hoàn chỉnh là cơ sở, động lực tạo điều kiện thuận lợi cho việc giaolưu, liên kết kinh tế - xã hội với các huyện trong và ngoài tỉnh

Nằm trong vùng trung du miền núi, đất đai phì nhiêu, khí hậu thuận lợi vànguồn lao động dồi dào có điều kiện để phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hoá từng bước xây dựng và tạo được sản phẩm chủ lực của Huyện như: măng Bát độ,các sản phẩm quế, kén tằm, chè Bát Tiên là điều kiện để phát triển sản xuất, đẩymạnh xúc tiến thương mại và thị trường

Nhân dân cần cù lao động, sáng tạo; đội ngũ cán bộ có nhiều kinh nghiệmtrong công tác quản lý kinh tế - xã hội Hệ thống giáo dục, y tế phát triển tốt vàđồng đều Tỉnh có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp và hạtầng nông thôn, tạo điều kiện xây dựng cơ sở hạ tầng và thúc đẩy phát triển các môhình kinh tế hiệu quả Công tác an ninh trật tự trên địa bàn huyện luôn được ổnđịnh Các cấp ủy Đảng, chính quyền nắm chắc tình hình, giải quyết tốt những vấn

đề về an ninh chính trị, đặc biệt là an ninh tôn giáo, an ninh nội bộ: chủ độngphòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, không để xảy ra bịđộng, bất ngờ

Kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúnghướng; tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới đạt kết quảnổi bật, là điểm sáng trong phong trào xây dựng nông thôn mới của tỉnh và khu

Trang 39

vực Tây Bắc; môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện rõ rệt; huy động và sửdụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển; kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội được đầu tư đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông, nhiều công trình quan trọngtrên địa bàn huyện được đầu tư xây dựng, tạo động lực cho sự phát triển; cácchương trình kinh tế trọng điểm phát huy hiệu quả, góp phần quan trọng hoànthành mục tiêu Nghị quyết Đại hội XXI nhiệm kỳ 2015 - 2020.

Văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, các chính sách an sinh xã hội được triểnkhai kịp thời, hiệu quả; quy mô mạng lưới trường, lớp được sắp xếp lại hợp lý, xâydựng trường chuẩn đạt kết quả vượt bậc; bản sắc văn hóa tốt đẹp của đồng bào dântộc thiểu số được giữ gìn và phát huy; đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên

rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh và bền vững Quốc phòng, an ninh được giữvững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo

Công tác xây dựng Đảng đạt nhiều kết quả quan trọng; phương thức lãnhđạo của các cấp ủy không ngừng được đổi mới, ngày càng hiệu quả; vai trò, tráchnhiệm của người đứng đầu được phát huy Hệ thống chính trị được sắp xếp tinhgọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tạo được sự đồng thuận cao của cán bộ, đảngviên và Nhân dân; công tác đào tạo, bỗi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán

bộ, nhất là cán bộ cấp cơ sở được chú trọng; phát huy tốt vai trò của khối đại đoànkết toàn dân tộc trong thực hiện nhiệm chính trị và xây dựng nông thôn mới, niềmtin của Nhân dân với Đảng ngày càng được củng cố

Năm 2019, huyện Trấn Yên đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận làhuyện đầu tiên của tỉnh Yên Bái và khu vực Tây Bắc đạt chuẩn nông thôn mới.Trong đó có 6/21 xã và 46/190 thôn, bản thuộc diện đặc biệt khó khăn đã nỗ lựcvượt bậc đạt chuẩn nông thôn mới bền vững; bộ mặt nông thôn và cuộc sống củangười dân đã có sự thay đổi rõ rệt, cảnh quan môi trường nông thôn thay đổi tíchcực từ vùng thấp đến vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hệ thống cơ sở hạtầng được hoàn thiện đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địaphương

2.2.1.2 Khó khăn

Trấn Yên là huyện miền núi của tỉnh Yên Bái, có diện tích tự nhiên 62.914,3

ha, có 21 đơn vị hành chính gồm 20 xã và 01 thị trấn; dân số toàn huyện 84.675người; có 6 dân tộc anh em sinh sống, gồm: Kinh, Tày, Dao, Mường, Cao Lan,Mông… Với địa bàn rộng và chia cắt, cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, trình độ pháttriển ở các xã không đồng đều Đặc biệt trên địa bàn Huyện còn 6 xã và 46 thôn,bản đặc biệt khó khăn, có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống Trong đó có 05 thôn,bản có 100% đồng bào là dân tộc Mông; thu nhập của người dân ở mức thấp,phong tục, tập quán và trình độ sản xuất còn lạc hậu…

Trang 40

Huyện Trấn Yên về kinh tế phát triển chưa thật sự tương xứng với tiềmnăng, thế mạnh Ngành nông nghiệp có bước phát triển nhưng còn tiềm ẩn yếu tốrủi ro, chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp; tínhcạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp chủ lực trên thị trường chưa cao; một số

xã về đích nông thôn mới có tư tưởng chủ quan trong việc duy trì và nâng cao chấtlượng các tiêu chí Sản xuất công nghiệp chủ yếu là sản phẩm thô và bán thànhphẩm; công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực quy hoạch, xây dựng, đất đai có mặtcòn hạn chế Chưa khai thác và phát huy được hết tiềm năng để phát triển dịch vụ,thu hút các nhà đầu tư vào phát triển du lịch Đào tạo nghề, đặc biệt là đào tạo nghềcho lao động nông thôn chưa thực sự hiệu quả Công tác chăm sóc sức khỏe choNhân dân có chuyển biến song chất lượng khám chữa bệnh còn hạn chế, thiếutrang thiết bị hiện đại, bác sỹ có tay nghề cao

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững nhưng vẫntiềm ẩn những nguy cơ làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị củaHuyện Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu;một số vụ việc khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết kịp thời, triệt để

Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số cấp ủy chưa đáp ứng đượcyêu cầu đổi mới Vai trò tiên phong, gương mẫu của một số cán bộ, đảng viên,trong đó có cả người đứng đầu chưa được phát huy đầy đủ trong công việc và cuộcsống Nội dung, phương thức thực hiện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tuyêntruyền có lúc chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn, có mặt hiệu quả thấp Việc khắcphục khuyết điểm, hạn chế sau kiểm điểm hằng năm theo yêu cầu Nghị quyếtTrung ương 4 khóa XII gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị ở một số cấp

uỷ, cơ quan, đơn vị chưa thực sự được quan tâm Việc nhận xét, đánh giá cán bộvẫn còn biểu hiện nể nang, né tránh, ngại va chạm Việc nâng cao chất lượng sinhhoạt chi bộ có mặt chưa đạt được yêu cầu, còn hình thức Một số cấp ủy chưa chủđộng trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát Nhận thức của một số cán bộ,đảng viên, Nhân dân về công tác dân vận chưa thực sự đầy đủ; công tác dân vậnchính quyền có mặt còn hạn chế

Chính quyền địa phương một số nơi còn chưa sâu sát cơ sở, việc nắm bắttình hình chưa kịp thời, thiếu chủ động, quyết liệt trong chỉ đạo điều hành, giảiquyết các vấn đề phát sinh còn chậm Tính chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổquốc và các đoàn thể trong công tác tham mưu, đề xuất với cấp ủy về công táctuyên truyền, vận động có lúc, có nơi, có việc còn lúng túng; công tác giám sát,phản biện xã hội còn hạn chế

2.2 SỰ LÃNH ĐẠO MỘT SỐ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CỦA ĐẢNG BỘ

HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI GIAI ĐOẠN 2015 – 2020

2.2.1 Chính sách lao động và việc làm

Ngày đăng: 10/01/2022, 09:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Chí Bảo (1993), Một số vấn đề về chính sách xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chính sách xã hội ở nước tahiện nay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1993
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2001), Chương trình quốc gia giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 – 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình quốc giagiảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 – 2005
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2001
3. Bộ Nội vụ (1991), Chỉ thị 135-BNY (VII) ngày 22-5 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc Canh sát nhân dân tham gia phối hợp phòng, chống tệ nạn xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Nội vụ (1991)
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 1991
4. Bùi Đình Thanh (1999), Chính sách xã hội, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Viện Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách xã hội, một số vấn đề lý luận vàthực tiễn
Tác giả: Bùi Đình Thanh
Nhà XB: Nxb. Viện Khoa học Xã hội
Năm: 1999
5. Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo (5-2002), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo (5-2002)
11. Chính phủ (2020) Quyết định số 1596/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “ Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nghề cho lao động nông thônđến năm 2020
12. Chính sách xã hội trong sự nghiệp đổi mới (Cuốn có một Việt Nam như thể) (1995), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách xã hội trong sự nghiệp đổi mới (Cuốn có một Việt Namnhư thể)
Tác giả: Chính sách xã hội trong sự nghiệp đổi mới (Cuốn có một Việt Nam như thể)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1987
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật. Hà Nội
Năm: 1991
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược ổn định và phát triểnkinh tế - xã hội đến năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung trong (khoả VII), Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Banchấp hành Trung trong (khoả VII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1993
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toànquốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Sự thật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật. Hà Nội
Năm: 1996
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ sản (lần 2) Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sản (lần2) Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1999
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung trong (khóa VIII), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Banchấp hành Trung trong (khóa VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1999
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Sự thật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật. Hà Nội
Năm: 2001
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương (khoả IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Banchấp hành Trung ương (khoả IX)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Sự thật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật. Hà Nội
Năm: 2006
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Sự thật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật. Hà Nội
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w