Chính vì vậy, thông qua đề tàinày, chúng tôi hy vọng sẽ lý giải được tầm quan trọng của việc học từ vựng tronggiảng dạy ngoại ngữ và xây dựng hệ thống bài tập giúp phát triển một số nhóm
Trang 1-CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA
LẦN THỨ 22 NĂM 2020
TÊN CÔNG TRÌNH:
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC VIÊN NƯỚC NGOÀI
(TRONG MỘT SỐ NHÓM TỪ CỤ THỂ)
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số công trình: ………
Trang 2TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, vị thế của tiếng Việt đang ngày càngđược cải thiện và nhu cầu học tiếng Việt cũng ngày càng tăng cao Điều đó đòi hỏicần phải có sự nghiên cứu nhằm biên soạn một cách kỹ lưỡng, chỉn chu, phù hợpvới mục đích của người nước ngoài khi học tiếng Việt Bên cạnh các điểm ngữ pháphay ngữ âm thường được nhắc đến trong quá trình nghiên cứu phương pháp dạy họctiếng Việt cho người nước ngoài, thì từ vựng tiếng Việt vẫn chưa nhận được sựquan tâm đúng mức, đặc biệt là các nhóm từ khó Chính vì vậy, thông qua đề tàinày, chúng tôi hy vọng sẽ lý giải được tầm quan trọng của việc học từ vựng tronggiảng dạy ngoại ngữ và xây dựng hệ thống bài tập giúp phát triển một số nhóm từkhó trong tiếng Việt cho học viên nước ngoài
Đầu tiên, ở chương 1: Cơ sở lý thuyết, chúng tôi đã khảo sát hệ thống tài liệutiếng Việt dành cho người nước ngoài hiện nay và nhận thấy rằng vẫn chưa có mộtcông trình nào tập trung về các nhóm từ khó trong tiếng Việt Chính vì vậy, chúngtôi mong muốn cung cấp một hệ thống bài tập nhằm tập trung phát triển khả năng
sử dụng vốn từ vựng cho học viên nước ngoài ở một số nhóm từ cụ thể Bên cạnh
đó, chúng tôi đã xác định được các cơ sở thiết yếu phục vụ cho việc xây dựng hệthống bài tập chuyên về phát triển từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoài trongcác nhóm từ
Đến các chương 2, 3, 4, chúng tôi đã tiến hành khảo sát học viên nước ngoàinhằm xác định một số lỗi sai mà họ thường gặp trong quá trình học ba nhóm Danh
từ đơn vị, Đại từ nhân xưng và Từ láy Lấy các cơ sở được xác định ở chương 1 làmnền tảng kết hợp với việc xác định các lỗi mà học viên nước ngoài thường mắc phảikhi học các nhóm từ, chúng tôi đã tiến hành xây dựng một hệ thống bài tập từ vựngtiếng Việt gồm 300 bài với đa dạng các kiểu bài khác nhau được thiết kế dựa trên
Khung năng lực tiếng Việt dành cho người nước ngoài và được phân chia theo các
mức độ tư duy theo thang đo nhận thức của Boleslaw
Như vậy, với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã xác định được những cơ sởquan trọng cho việc thiết kế một hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt cho người nướcngoài Bên cạnh đó, đóng góp quan trọng nhất của đề tài là hệ thống bài tập từ vựngtiếng Việt gồm 300 bài, thuộc nhóm danh từ đơn vị, đại từ nhân xưng và từ láy Đây
sẽ là một nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho các giáo viên dạy tiếng Việt chongười nước ngoài và các học viên nước ngoài học tiếng Việt
Trang 3MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 2
MỞ ĐẦU 6CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 131.1 Hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt trong các tài liệu dành cho học viên nướcngoài hiện nay 131.2 Cơ sở xây dựng hệ thống bài tập tiếng Việt cho người nước ngoài 161.3 Khái quát về các nhóm từ vựng khó đối với học viên nước ngoài 33CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP DANH TỪ ĐƠN VỊ CHO HỌC VIÊN NƯỚCNGOÀI 372.1 Một số lỗi học viên nước ngoài thường mắc phải khi học danh từ đơn vị 372.2 Mục tiêu của hệ thống bài tập danh từ đơn vị theo từng cấp độ năng lực 422.3 Danh sách các danh từ đơn vị sử dụng trong hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việttheo từng cấp độ năng lực 432.4 Các dạng bài tập danh từ đơn vị theo từng cấp độ năng lực và theo các mức độnhận thức trong thang đo Boleslaw Niemierko 45CHƯƠNG 3 HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG CHO HỌC VIÊNNƯỚC NGOÀI 603.1 Một số lỗi học viên nước ngoài thường mắc phải khi học đại từ nhân xưng 603.2 Mục tiêu của hệ thống bài tập đại từ nhân xưng theo từng cấp độ năng lực 643.3 Danh sách các đại từ nhân xưng sử dụng trong hệ thống bài tập từ vựng tiếngViệt theo từng cấp độ năng lực 653.4 Các dạng bài tập đại từ nhân xưng theo từng cấp độ năng lực và các mức độnhận thức trong thang Boleslaw Niemierko 67CHƯƠNG 4 HỆ THỐNG BÀI TẬP TỪ LÁY CHO HỌC VIÊN NƯỚC NGOÀI 794.1 Một số lỗi học viên nước ngoài thường mắc phải khi học nhóm từ láy 794.2 Vấn đề dạy từ láy cho học viên nước ngoài 824.3 Mục tiêu của hệ thống bài tập từ láy theo từng cấp độ năng lực 834.4 Danh sách các từ láy sử dụng trong hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt theotừng cấp độ năng lực 844.5 Các dạng bài tập từ láy theo từng cấp độ năng lực và các mức độ nhận thứctrong thang đo Boleslaw Niemierko 86
Trang 4KẾT LUẬN 100
KIẾN NGHỊ 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 107
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Đặc điểm đối tượng học viên nước ngoài được khảo sát 22
Bảng 2: Đặc điểm đối tượng học viên nước ngoài của các giảng viên được khảo sát .23
Bảng 3: Ý kiến của các giảng viên về trình độ thích hợp để dạy 3 nhóm từ khó 23
Bảng 4: Khung năng lực tiếng Việt so sánh với khung tham chiếu chung Châu Âu về ngôn ngữ 30
Bảng 5: Thang đo 4 bậc của Boleslaw Niemierko (1990) 32
Biểu đồ 1: Các nhóm từ khó đối với học viên nước ngoài 24
Biểu đồ 2: Các khó khăn của học viên khi học nhóm đại từ nhân xưng 24
Biểu đồ 3: Các khó khăn của học viên khi học nhóm từ láy 26
Biểu đồ 4: Các khó khăn của học viên khi học nhóm danh từ đơn vị 27
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Không thể phủ nhận, trong những năm gần đây, chính nhờ sự giao lưu, hợp tácphát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội mà vị thế của tiếng Việt ngày càng được nângcao tại các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Một số nước tại châu Á đã đưatiếng Việt vào giảng dạy ở những trường đại học nổi tiếng như Hàn Quốc, NhậtBản, Trung Quốc, Thái Lan… Ở Châu Âu, việc xuất hiện hệ thống GUAVA (mạnglưới hơn 10 trường đại học dạy tiếng Việt: Đại học Harvard, Đại học UCLA, Đạihọc Cornell, Đại học Yale…) hay một số nước ở châu Âu như Đức, Ba Lan có bantiếng Việt và ngành Việt Nam học trong trường đại học1 đã chứng minh nỗ lựckhông nhỏ của người Việt nói chung trong hành trình khẳng định giá trị của tiếngViệt trên trường quốc tế Chính vì thế, những đòi hỏi về một chương trình chuyênnghiệp, chỉn chu để dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nói chung và học viênnước ngoài nói riêng trở nên cấp thiết hơn, được chú ý hơn; không chỉ trong giáodục chính thống, mà trên cả các phương tiện truyền thông như phát thanh và truyềnhình
Nhu cầu học tiếng Việt ngày càng cao, đồng nghĩa với sự gia tăng về độ đadạng trong nhu cầu học tiếng Việt Nhiều người chọn tiếng Việt để học như mộtngoại ngữ không chỉ với mong muốn tìm hiểu về đất nước và con người Việt Nam
mà còn xem đó như một phương tiện để trao đổi và hợp tác kinh tế Tuy nhu cầucủa từng đối tượng là khác nhau, song mục đích cuối cùng của việc học tiếng Việtnhư một ngoại ngữ chính là sử dụng được ngôn ngữ này như một công cụ để tư duy
và giao tiếp
Bên cạnh các điểm ngữ pháp hay ngữ âm khó thường được nhắc đến trong quátrình nghiên cứu phương pháp dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài, theo chúngtôi, từ vựng tiếng Việt cũng cần có cái nhìn đúng mức, đặc biệt là các nhóm từ khó.Không chỉ riêng tiếng Việt, trong bất kỳ ngôn ngữ nào, từ là đơn vị cơ bản, là vậtliệu xây dựng nên những đơn vị của lời nói (ngữ, nhóm từ, câu, đoạn, văn bản) Nhàngôn ngữ học D A Wilkins khẳng định: “Without grammar, very little can beconveyed; without vocabulary, nothing can be conveyed.”2 (Tạm dịch: Không có ngữ pháp, rất ít thông tin có thể được truyền đạt; không có từ vựng, không một
1 Phát biểu của PGS.TS Nguyễn Thiện Nam trong bài phỏng vấn “Tiếng Việt – cầu nối Việt Nam với thế giới” với báo Thế giới và Việt Nam ngày 10/11/2018.
2
Wilkins, D A (1972) Linguistics in Language Teaching London: Edward Arnold, 111 – 112
Trang 8thông tin nào có thể được truyền đạt) Kiến thức từ vựng là trọng tâm của năng lực
giao tiếp và năng lực tiếp thu ngoại ngữ Thiếu kiến thức về từ vựng là một trở ngạicho việc học Vì vậy, học tiếng trước hết là học từ Tuy vậy, việc lựa chọn nghiên
cứu đề tài Xây dựng hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoài (trong một số nhóm từ cụ thể) không tập trung phát triển từ vựng một cách chung
chung, mà chú trọng vào các nhóm từ được xem là khó đối với các học viên đangtheo học tiếng Việt thông qua khảo sát và nghiên cứu Điều này sẽ giúp khắc phụcđược một số khó khăn khi của học viên khi thụ đắc tiếng Việt Đồng thời, việc tậptrung phát triển các nhóm từ vựng khó trong tiếng Việt sẽ giảm bớt gánh nặng chohọc viên khi học tiếng Việt, bởi nhiều học viên thường không có đủ khả năng để tạolập các đơn vị ngôn ngữ đạt hiệu quả dù đã nắm kiến thức về ngữ pháp do khôngbiết cách sử dụng một nhóm từ cụ thể Hơn nữa, chữa được lỗi dùng từ, học viên sẽ
có khả năng tự chữa các lỗi về tạo lập các đơn vị ngôn ngữ khác
Với tầm quan trọng của những vấn đề nêu trên, hiện nay chúng tôi vẫn chưa ghinhận một công trình nào tập trung nghiên cứu và xây dựng hệ thống bài tập giúpphát triển một số nhóm từ khó trong tiếng Việt dành cho học viên nước ngoài Đa sốcác giáo trình hiện hành tập trung vào việc xây dựng hệ thống bài tập theo các chủ
đề hoặc theo các mẫu câu giao tiếp thường gặp trong đời sống Chính vì vậy, chúngtôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này với mong muốn cung cấp một hệ thống bài tập
từ vựng nhằm tập trung phát triển khả năng sử dụng vốn từ vựng ở một số nhóm từtiếng Việt được xem là khó đối với các học viên nước ngoài Kết quả của đề tàinghiên cứu này có thể ứng dụng vào việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đồngthời cũng là một tài liệu tham khảo hữu ích cho học viên nước ngoài
2 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu và xây dựng hệ thống bài tập phát triển từ vựng tiếng Việt ởmột số nhóm từ cụ thể cho học viên nước ngoài hướng đến 2 mục đích lớn sau:
- Khảo sát và đưa ra được các cơ sở để xây dựng hệ thống bài tập chuyên về
phát triển từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoài (trong một số nhóm từ
cụ thể);
- Xây dựng hệ thống bài tập phát triển từ vựng ở 3 nhóm từ được xem là khó
mà học viên nước ngoài thường hay mắc lỗi: nhóm đại từ nhân xưng, nhóm danh từ đơn vị và nhóm từ láy
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 9Các công trình khoa học liên quan đến bài tập từ vựng tiếng Việt dành chongười nước ngoài đã đáp ứng được việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài theochủ đề và mục đích giao tiếp Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình tập trung vàoviệc xây dựng hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt Qua quá trình khảo sát và nghiêncứu, chúng tôi đã tiếp cận hai nhóm tài liệu chính gồm: các giáo trình, sách thamkhảo cho học viên nước ngoài có thiết kế bài tập từ vựng tiếng Việt và các côngtrình nghiên cứu khoa học (bài báo khoa học, luận văn, luận án ).
3.1 Các giáo trình, sách tham khảo
Trong nhóm tài liệu này, chúng tôi đã tham khảo một số giáo trình của Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh và Nhà xuất bản Giáo dục Đầu tiên là bộ Thực hành tiếng Việt – Sách dùng cho người nước ngoài của Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và
giao lưu văn hóa thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội được xuất bản năm 2001, do
Đoàn Thiện Thuật chủ biên Bộ giáo trình này được thiết kế theo chủ đề và cấu trúcngữ pháp tiếng Việt theo mẫu câu giao tiếp trong mỗi đơn vị bài học Bộ giáo trìnhcũng hướng đến việc rèn luyện kỹ năng đọc, viết, nói và nghe như một số giáo trìnhdạy tiếng Anh cho người Việt Bài tập từ vựng tiếng Việt trong giáo trình này đượctrình bày theo hệ thống bài tập theo chủ đề, tức là sau mỗi chủ đề bài học là nhữngdạng bài tập nhằm giúp người học cũng cố lại kiến thức đã học Những dạng bài tậpnày liên quan đến cấu trúc ngữ pháp trong bài và các từ vựng trong chủ đề đó
Tiếp đến là bộ Giáo trình tiếng Việt dành cho người nước ngoài (VSL) gồm 5
tập của Nhà xuất bản Giáo dục được xuất bản từ năm 2003 Đây là bộ giáo trình khá chất lượng so với bộ giáo trình trước đó của Đại học Quốc gia Hà Nội Bộ giáo
trình này cũng được biên soạn theo chủ đề giao tiếp, tuy nhiên ở tập 1 và tập 2 cóphụ lục danh sách nhóm từ cho học viên để họ nắm được một số từ vựng cần lưu ýtrong giáo trình
Một bộ giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài khác được biên soạn và
xuất bản vào năm 2012 (tập 1) và năm 2014 (tập 2) là bộ giáo trình Tiếng Việt cho người nước ngoài của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh do tác giả
Dư Ngọc Ngân chủ biên cũng có nội dung khá giống với bộ giáo trình dạy tiếng
Việt cho người nước ngoài trước đó của Nhà xuất bản Giáo dục, tuy nhiên đã có
một số cập nhật mới về bài viết theo chủ đề cũng như các điểm ngữ pháp mới hơnđối với các học viên Hàn Quốc và Nhật Bản Một bộ sách dạy tiếng Việt cho ngườinước ngoài khác được biên soạn khá công phu được xuất bản năm 2015 là bộ sách
Tiếng Việt vui của tác giả Nguyễn Minh Thuyết chủ biên Đây là bộ giáo trình biên
Trang 10soạn khá kỹ càng gồm 6 tập và có sự đầu tư khá lớn về hình ảnh và màu sắc vànhững yếu tố đó giúp cho việc học tiếng Việt của học viên nước ngoài trở nên thú vịhơn Các dạng bài tập ôn tập sau mỗi chủ để cũng được ưu tiên trình bày dưới dạngtrực quan hơn, bài tập không chỉ là những ngữ liệu mà còn có hình ảnh liên quanđến ngữ liệu đó Thêm nữa, có nhiều bài tập yêu cầu người học viết câu/đoạn văn từhình ảnh cho sẵn.
Đối với nhóm tài liệu sách, giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài,chúng tôi nhận thấy các giáo trình này được biên soạn theo hình thức dạy tiếng Việttheo các chủ đề giao tiếp hay các điểm ngữ pháp từ những chủ đề giao tiếp này Saumỗi chủ đề bài học, ở một số sách và giáo trình có hệ thống bài tập ôn tập sau mỗichủ đề đó Các kỹ năng rèn luyện cho học viên trong các sách, giáo trình này là đọcviết, nói và nghe Nhóm tài liệu này được biên soạn rất chú trọng đến hình ảnh minhhoạ giúp cho nội dung học trở nên sinh động và hấp dẫn hơn Tuy nhiên, việc chútrọng vào những bài tập về từ vựng tiếng Việt trong các sách và giáo trình này làchưa cao Bởi vì đây chỉ là những bài tập ôn tập theo mẫu câu giao tiếp, cấu trúcngữ pháp theo chủ đề chứ chưa hề có những dạng bài tập xoáy sâu vào một từ loại
cụ thể trong tiếng Việt
3.2 Các công trình nghiên cứu khoa học
Trong nhóm tài liệu này, chúng tôi chủ yếu khảo sát các luận văn, luận án vàbài báo khoa học liên quan đến việc thiết kế hoặc dạy bài tập tiếng Việt cho người
nước ngoài Bài báo khoa học Về việc dạy danh từ đơn vị tự nhiên tiếng Việt cho học viên, sinh viên nước ngoài của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Hai (2006) đã có
cách tiếp cận việc dạy tiếng Việt cho học viên nước ngoài đối với nhóm danh từ đơn
vị tự nhiên Đây là cách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài trong một nhóm từ cụthể và khá gần với cách tiếp cận của chúng tôi
Tiếp đến là bài báo khoa học Giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ đăng
trên Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, năm 2011 của nhà
nghiên cứu Dư Ngọc Ngân Bài viết đã đề ra những hướng tiếp cận phương phápdạy tiếng Việt cũng như nhu cầu học tiếng Việt cho người nước ngoài Bài báo khoa
học Cách sử dụng danh từ đơn vị tiếng Việt – dưới góc độ dạy tiếng của tác giả Lê
Thị Minh Hằng (2015) đã chỉ ra rõ những cách thức và những điểm cần lưu ý khilàm các dạng bài tập danh từ đơn vị cho học viên nước ngoài Bài báo này đã tiếnđến gần hơn việc tiếp cận việc xây dựng hệ thống bài tập tiếng Việt cho học viênnước ngoài trên cơ sở từng nhóm từ cụ thể
Trang 11Bài báo khoa học Khảo sát vốn từ vựng trong giáo trình tiếng Việt sơ cấp và việc xây dựng bảng từ ngữ thông dụng tiếng Việt của tác giả Đào Mục Đích và
Bae Yang Soo (2018) đã chỉ ra được một số đặc điểm của giáo trình tiếng Việt sơ
cấp chủ yếu về các từ vựng cũng như bài tập từ vựng tiếng Việt sơ cấp Một số vấn
đề về Tiếng Việt sơ cấp cho người nước ngoài – nhóm từ chỉ số lượng tuyệt đối
của tác giả Huỳnh Công Hiển (2017) cũng đã tiếp cận rất gần đến việc xây dựng cácdạng bài tập từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoài Bài viết này đã trình bàymột số cách thiết kế bài tập tiếng Việt đối với nhóm từ chỉ tổng thể
Luận án tiến sĩ Hệ thống bài tập phát triển năng lực sử dụng từ ngữ tiếng Việt cho học viên quân sự Lào của Nguyễn Thị Yến (2018) đã khai thác một cách
có hệ thống và có những số liệu khảo sát thực nghiệm khá cụ thể về việc xây dựng
hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoài đặc biệt là một nhómhọc viên nước ngoài là học viên Lào
Chúng tôi nhận thấy có một số công trình đã đề cập đến việc xây dựng bài tậptiếng Việt cho người nước ngoài Tuy nhiên, hầu như các công trình này chưa tậptrung xây dựng hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoài (trongmột số nhóm từ cụ thể) một cách có hệ thống
Nhìn chung, qua hai nhóm tài liệu đã khảo sát, chúng tôi nhận thấy kết quảnghiên cứu về một số dạng bài tập từ vựng tiếng Việt cơ bản dành cho người nướcngoài, một số chủ đề quan trọng trong việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài vàđặc biệt là hệ thống từ vựng tiếng Việt trong các bộ giáo trình/sách dạy tiếng Việt
đã đạt được những thành tựu nhất định Như trên đã đề cập, các nhóm tài liệu nàychưa tiếp cận hoặc tiếp cận một cách chưa có hệ thống việc xây dựng bài tập từvựng tiếng Việt trong một số nhóm từ khó đối với học viên nước ngoài Vì vậy,
chúng tôi thực hiện đề tài Xây dựng hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoài (trong một số nhóm từ cụ thể) với mong muốn góp một phần nhỏ
vào hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt ở những nhóm từ cụ thể, giúp học viên nướcngoài rèn luyện và khắc phục những lỗi cơ bản khi học các nhóm từ này
4 Phương pháp nghiên cứu
Đối với đề tài Xây dựng hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoài (trong một số nhóm từ cụ thể), chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như sau:
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ: phương pháp này được sử dụng để miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp của các nhóm từ được đề cập.
Trang 12- Phương pháp thống kê: phương pháp này được sử dụng để thống kê các loại
lỗi của người nước ngoài khi học các nhóm từ này
- Phương pháp điều tra: phương pháp này được sử dụng để lấy ý kiến người
học về các nhóm từ khó trong tiếng Việt cũng như khảo sát các lỗi mà người họcthường gặp phải khi học các nhóm từ, việc khảo sát này được thực hiện với đốitượng là học viên nước ngoài đang học tiếng Việt tại Việt Nam, đồng thời còn được
sử dụng để khảo sát các kiểu hệ thống bài tập trong hệ thống bài tập từ vựng tiếngViệt dành cho người nước ngoài hiện hành Thông qua việc khảo sát đó, chúng tôi
sẽ tổng hợp, phân tích, thống kê và rút ra những số liệu, thông tin thiết yếu như một
cơ sở để tiến hành xây dựng hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt cho học viên nướcngoài
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu
những vấn đề liên quan đến lý luận và cách thức xây dựng hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt dành cho người nước ngoài.
được xem là khó đối với người nước ngoài: nhóm danh từ đơn vị, nhóm
6 Cấu trúc đề tài
Ngoài các phần Mở đầu, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài có 4 chương
Chương 1: Những vấn đề chung được xem như là nền tảng của đề tài Trong
chương này, chúng tôi sẽ tập trung trình bày kết quả khảo sát hệ thống bài tập từvựng tiếng Việt hiện hành và những cơ sở của việc xây dựng hệ thống bài tập từvựng tiếng Việt dành cho học viên nước ngoài Đồng thời, chúng tôi cũng giới thiệu
sơ nét các vấn đề lý thuyết của các nhóm từ khó trong phạm vi thực hiện của đề tài
Bên cạnh đó, chúng tôi còn 3 chương chính khác, lần lượt là: Chương 2: Hệ thống bài tập Danh từ đơn vị cho học viên nước ngoài; Chương 3: Hệ thống bài tập Đại
từ nhân xưng cho học viên nước ngoài; Chương 4: Hệ thống bài tập Từ láy cho học viên nước ngoài Thông qua việc phân tích các lỗi mà học viên nước ngoài thường
gặp phải khi học 3 nhóm từ này, chúng tôi sẽ tiến hành xây dựng hệ thống bài tập từ
vựng dựa theo từng bậc năng lực theo Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài và theo từng mức độ tư duy theo thang đo 4 bậc của Boleslaw
Niemierko: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao sao cho đáp ứng những
mục tiêu đã được đặt ra
Trang 141.1 Hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt trong các tài liệu dành cho học viên nước ngoài hiện nay
Khi khảo sát hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt trong các tài liệu dành chongười nước ngoài hiện hành, chúng tôi nhận thấy có hai hệ thống bài tập sau: hệthống bài tập từ vựng tiếng Việt theo chủ đề và hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việttheo mẫu câu giao tiếp Hai hệ thống trên có những ưu điểm và nhược điểm riêng
Do vậy, chúng cần được nhìn nhận và sử dụng cho phù hợp
1.1.1 Hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt theo chủ đề
Việc giảng dạy ngôn ngữ theo hệ thống các chủ đề là một phương pháp dạy họckhá quen thuộc và được sử dụng rộng rãi Hình thức dạy học này có khả năng cungcấp cho người học một số lượng lớn những kiến thức có liên quan đến một vấn đề
cụ thể, giúp người học nắm vững và sâu ở từng nội dung Ở nội dung này, chúng tôi
đã khảo sát các tài liệu giảng dạy từ vựng tiếng Việt hiện hành và đã chọn lọc được
8 tài liệu xây dựng nội dung các bài học và bài tập có liên quan đến các chủ đềtrong giao tiếp Các tài liệu xây dựng hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt theo chủ
đề, các chủ đề, các dạng bài tập phát triển từ vựng theo chủ đề được sử dụng trongcác bộ giáo trình cũng như mục đích của việc phân chia hệ thống bài tập theo chủ
đề sẽ được chúng tôi liệt kê chi tiết ở phụ lục bài nghiên cứu
1.1.1.1 Ưu điểm
a Có khả năng mở rộng vốn từ cho học viên nước ngoài
Đối với hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt theo chủ đề, vì chỉ tập trung hướngđến một chủ đề nhất định nên hệ thống các bài tập cũng sẽ nhằm tập trung pháttriển, mở rộng từ vựng có liên quan đến chủ đề đó Việc mở rộng này sẽ được tăngdần về số lượng, đồng thời cũng tăng dần mức độ nâng cao, chuyên sâu qua từngcấp bậc Điều này sẽ giúp học viên có được vốn từ vựng đa dạng, phong phú, hỗ trợtrong việc vận dụng vào đời sống thực tiễn
b Tạo ra sự gắn kết giữa các từ vựng với các điểm ngữ pháp có liên quan
Mô hình xây dựng hệ thống bài tập từ vựng theo cấu trúc bắt đầu bằng chủ đề
mà các chủ đề này sẽ được thể hiện thông qua những bài hội thoại, những bài đọchiểu; do vậy, các hình thức ấy sẽ phải chứa đựng những khía cạnh như từ vựng, ngữpháp,… Chính vì vậy, trong hệ thống bài tập từ vựng phân chia theo chủ đề (cácchủ đề này được cân nhắc chọn lựa và chắt lọc sao cho gắn liền với thực tiễn),
Trang 15người học không chỉ được tiếp thu những trường từ vựng theo chủ đề mà còn hiểuđược cách áp dụng chúng thông qua việc học các cấu trúc ngữ pháp.
c Tạo sự nhất quán trong việc tiếp thu kiến thức của người học
Hệ thống các kiến thức trong một đơn vị bài học: các từ vựng, các điểm ngữpháp, đều được xây dựng theo một chủ đề nhất định, từ đó mà có sự liên kết vàthống nhất giữa các phần với nhau Việc phân chia này trước hết đảm bảo được tính
hệ thống, liền mạch trong một chỉnh thể, song đồng thời cũng tạo ra sự dễ dàng choviệc tiếp thu kiến thức của học viên nước ngoài
d Có khả năng cung cấp các tri thức bổ ích về đất nước mà học viên học tiếng
Thông qua những ngữ liệu được phân chia theo các chủ đề có trong hệ thốngbài tập từ vựng, người học ngoài việc có môi trường rèn luyện, luyện tập các kiếnthức đã được tiếp thu còn có thể tiếp nhận thêm nhiều tri thức mới về con người, xãhội, văn hoá,… tại đất nước mà họ theo học tiếng thông qua những bài tập đọc hiểu.Thêm vào đó, những dạng bài này còn giúp người học nâng cao vốn từ mà ở các bàihọc, học viên chưa được học
1.1.1.2 Nhược điểm
Nhược điểm lớn nhất đối với hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt theo chủ đềchính là ở chỗ mặc dù hệ thống bài tập này có khả năng cung cấp, mở rộng vốn từvựng (với mức độ và hàm lượng chuyên sâu tăng dần qua từng cấp bậc) theo từngchủ đề cụ thể nhưng lại không có khả năng mở rộng vốn từ trong cùng một nhóm
từ Vì vậy, các từ vựng được cung cấp ở hệ thống bài tập được phân chia theo chủ
đề chỉ là những từ vựng chung nhất, bao quát nhất cho một chủ đề nhất định, tức làcác từ ở những nhóm từ, loại từ khác nhau, còn về các từ đồng nghĩa, trái nghĩa,cùng nhóm từ, cùng từ loại với các từ đó thì không được chú trọng phát triển
1.1.2 Hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt theo mẫu câu giao tiếp
Hiện nay, việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cũng tập trung vào cácphương pháp dạy học theo giao tiếp Để bổ trợ cho phương pháp dạy học này,không thể thiếu những hệ thống bài tập tập trung vào các nhóm từ vựng thườngđược sử dụng trong giao tiếp, nhằm mục đích giúp người học có thể sử dụng chúngmột cách dễ dàng và thành thạo khi trao đổi các vấn đề bằng tiếng Việt Ở nội dungnày, chúng tôi cũng đã khảo sát các giáo trình tiếng Việt hiện hành và nhận thấy có
6 tài liệu có xây dựng hệ thống bài tập từ vựng theo các mẫu câu giao tiếp Các tàiliệu xây dựng hệ thống bài tập từ vựng theo mẫu câu giao tiếp được sử dụng trong
Trang 16các bộ giáo trình cũng như mục đích của việc phân chia hệ thống bài tập theo mẫucâu giao tiếp sẽ được chúng tôi liệt kê chi tiết ở phụ lục bài nghiên cứu
1.1.2.1 Ưu điểm
a Phát triển kỹ năng giao tiếp cho người học
Nhìn chung, có thể thấy, việc xây dựng một hệ thống bài tập từ vựng theo mẫucâu giao tiếp cũng được xem là một cách thức xây dựng đúng đắn và hợp lý, nhằmmục đích chính là phát triển kỹ năng giao tiếp cho người học Đó cũng chính là lý
do mà dạng bài tập này được sử dụng khá phổ biến trong các giáo trình, tài liệu dạy
và học tiếng Việt
b Tạo sự gần gũi trong quá trình học và thực hành ngoại ngữ
Các mẫu câu hội thoại đều được xây dựng xoay quanh những chủ đề quenthuộc, gần gũi, những tình huống phổ biến, thông thường và dễ bắt gặp trong cuộcsống hằng ngày Chính vì vậy, người học khi áp vào một tình huống thực tế phầnnhiều đều đã có sẵn một kiến thức nền nhất định về những vấn đề, mẫu câu có thểdùng được để trao đổi trong tình huống đó, do đó mà việc trao đổi cũng sẽ trở nên
dễ dàng hơn Bên cạnh đó, việc thực hành các đoạn hội thoại mẫu cũng có thể cungcấp cho người học một số lượng từ vựng và cấu trúc ngữ pháp nhất định, giúpngười học có thể nâng cao năng lực ngoại ngữ của mình cũng như tự tin hơn khigiao tiếp tiếng Việt
1.1.2.2 Nhược điểm
a Không thích hợp cho trình độ chuyên sâu về ngôn ngữ
Hệ thống bài tập từ vựng phân chia theo mẫu câu giao tiếp chỉ dừng lại ở việcchú trọng đến mục đích giao tiếp thường ngày nên hệ thống này không có đầy đủđiều kiện và môi trường để truyền tải các kiến thức liên quan một cách chuyên sâu
và mang tính học thuật cao hơn Bên cạnh đó, các từ vựng được cung cấp chỉ xoayquanh một vài chủ đề giao tiếp nhất định, không có sự tìm hiểu sâu về các đặcđiểm của từng nhóm từ cụ thể Điều này khiến cho người học tuy vẫn có thể mởrộng được vốn từ và biết cách sử dụng chúng trong một vài trường hợp, nhưng kiếnthức về các nhóm từ vựng sẽ không được tiếp nhận một cách sâu sắc, điều đó gâyảnh hưởng không nhỏ đến việc vận dụng các từ vựng vào những tình huống khácngoài phạm vi bài học
b Dễ khiến người học rơi vào tình trạng học vẹt
Nhiều người học các từ vựng theo mẫu câu giao tiếp như một cách học “vẹt”chứ không thực sự hiểu được cách dùng chúng, nên đôi khi học viên lại bộc lộ sự
Trang 17kém linh hoạt khi xử lý các tình huống ngoài đời sống Chính vì vậy, đây cũng cóthể xem là một nhược điểm mà các bài tập từ vựng được xây dựng theo mẫu câugiao tiếp mắc phải
Xuất phát từ những hạn chế đó, chúng tôi đề xuất và tiến hành xây dựng hệthống bài tập chuyên về phát triển từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoài Ýtưởng xây dựng hệ thống bài tập của chúng tôi nhận được sự đồng tình của 14/20giảng viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài (theo kết quả khảo sát) Việc xâydựng hệ thống bài tập tiếng Việt trước hết nhằm hoàn thiện, tăng tính đa dạng vềkiểu loại hệ thống bài tập tiếng Việt cho người nước ngoài Mặt khác, hệ thống bàitập chuyên về phát triển từ vựng tiếng Việt cũng góp phần tạo môi trường chongười học rèn luyện, nâng cao vốn từ vựng tiếng Việt của bản thân (trong một sốnhóm từ cụ thể)
1.2 Cơ sở xây dựng hệ thống bài tập tiếng Việt cho người nước ngoài
Để xây dựng hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoài,chúng tôi dựa vào 5 cơ sở lý thuyết Các cơ sở này được xem xét dựa trên mức độquan trọng đối với việc xây dựng hệ thống bài tập
Thông qua quá trình tìm hiểu một số nguyên tắc dạy tiếng Việt cho người nướcngoài được trình bày trong các tài liệu, giáo trình, kết hợp với kết quả khảo sát một
số giảng viên đang tham gia công tác giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoàihiện nay, chúng tôi đã ghi nhận được một số nguyên tắc dạy tiếng Việt cho ngườinước ngoài Đây là cơ sở tiên quyết để xây dựng hệ thống bài tập từ vựng tiếngViệt
Cơ sở thứ hai mà chúng tôi xét đến là một số nguyên tắc để xây dựng hệ thốngbài tập Xuất phát từ mục đích của đề tài, chúng tôi đồng thời nghiên cứu kỹ cơ sở
lý thuyết liên quan đến các nhóm từ khó đối với học viên nước ngoài Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài được Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam
ban hành vào năm 2015 cũng là một trong những định hướng cho việc chọn lựa ngữliệu của hệ thống bài tập Bên cạnh đó, các mức độ nhận thức theo thang đo 4 bậccủa Boleslaw Niemierko cũng là một nền tảng quan trọng mà chúng tôi đặc biệtquan tâm trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt cho học viênnước ngoài
Trang 181.2.1 Các nguyên tắc giảng dạy từ vựng tiếng Việt cho người nước ngoài
1.2.1.1 Nguyên tắc dạy từ vựng tiếng Việt cho người nước ngoài theo quan điểm giao tiếp
Hiện nay trong việc dạy tiếng nước ngoài cũng như dạy tiếng mẹ đẻ, thuật ngữ
“quan điểm giao tiếp” đã được sử dụng khá quen thuộc Chử Lương Đào3 đề xuấtquan điểm dạy học này được dựa trên một số cơ sở như sau:
Thứ nhất, ngôn ngữ là “phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và là phương tiện tư duy của con người” Thứ hai, cốt lõi của ngôn ngữ là âm thanh, và mục đích
cuối cùng của việc dạy tiếng là dùng ngôn ngữ để tư duy và giao tiếp Vậy chỉ có
lấy giao tiếp, hướng tới giao tiếp thì việc dạy học tiếng mới có kết quả Thứ ba, cả
ba hướng dạy học tiếng hiện nay (dạy ngôn ngữ, dạy lời nói và dạy hoạt động lờinói) đều hướng đến mục tiêu cuối cùng là hình thành kỹ năng, kỹ xảo sử dụng ngônngữ trong những tình huống khác nhau của việc giao tiếp Chính vì những cơ sởtrên, dạy học từ vựng tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp được xem là phù hợp vàhiệu quả hơn cả Với việc dạy học theo quan điểm này, người dạy cần chú ý đếnmột số vấn đề như sau:
Thứ nhất, tiếng Việt nên được sử dụng một cách tự nhiên, gần gũi Điều này sẽ
chi phối cách mà giảng viên xây dựng các nhiệm vụ trong quátrình truyền đạt kiếnthức, chẳng hạn: tích cực tạo tình huống học tập gần gũi với tình huống giao tiếpthật trong đời sống, giúp người học tiếp thu bài thoải mái và có thể sử dụng ngayvào thực tế Đảm bảo được nguyên tắc này cũng chính là đảm bảo nguyên tắc trựcquan ngôn ngữ trong dạy học tiếng nói chung
Thứ hai, kết hợp chặt chẽ giữa lĩnh hội kiến thức lý thuyết ngôn ngữ với việc
luyện tập thực hành giao tiếp Hệ thống kiến thức tiếng Việt phải được sắp xếp theocác đơn vị bậc thấp đến bậc cao, từ dễ đến khó Để đạt được mục đích giao tiếp, đôikhi giảng viên phải chủ động sắp xếp lại trình tự ngữ liệu cho phù hợp với giao tiếptrong thực tế Giảng viên cần lưu ý đến chức năng làm công cụ giao tiếp của ngônngữ để cân nhắc lược bỏ những đơn vị kiến thức chuyên môn của hệ thống ngônngữ
3
Chử Lương Đào (2015) Các nguyên tắc và phương pháp dạy học tiếng <http://cdspgialai.edu.vn/Article/ Detail/802 > Trích xuất vào lúc 23:44 ngày 15/03/2020.
Trang 191.2.1.2 Nguyên tắc dạy từ vựng tiếng Việt gắn với dạy văn hoá sử dụng từ vựng (dạy yếu tố bên ngoài từ vựng)
Như đã trình bày, bất kỳ phương pháp dạy học tiếng nào cũng hướng đến mụcđích cuối cùng là giúp người đạt hiệu quả trong giao tiếp Tuy vậy, việc nắm vữngcác kiến thức về từ vựng hay ngữ pháp không đảm bảo cho học viên có một cuộcđối thoại hiệu quả Bên cạnh những yếu tố nội tại ngôn ngữ, giảng viên cần chú ýđến việt truyền tải các yếu tố nằm bên ngoài ngôn ngữ, chẳng hạn như văn hoá sửdụng từ vựng Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc dạy và học ngôn ngữ cũng
đồng thời là dạy và học văn hoá Ngôn ngữ là một phần của văn hoá và “Cách thức chúng ta giao tiếp, hay giao tiếp nội dung gì cũng như cách tư duy của chúng ta chịu sự tác động của văn hoá, và ngược lại nội dung, cách thức giao tiếp cũng như
tư duy của chúng ta lại định hình, phát triển văn hoá và ngôn ngữ ” (Nguyễn Hoà,
2011, tr.86, 87); việc bỏ qua yếu tố này trong dạy từ vựng tiếng Việt cho ngườinước ngoài sẽ là một cản trở lớn đối với học viên khi giao tiếp bằng tiếng Việt Dovậy, hệ thống ngữ liệu dạy học từ vựng tiếng Việt cần đặt các kiến thức từ loại vàocác ngữ cảnh văn hoá (context of culture) bên cạnh các ngữ cảnh tình huống(context of situation)
1.2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống trong giảng dạy từ vựng tiếng Việt cho học viên
Từ vựng trong ngôn ngữ là một hệ thống Do vậy, các lý thuyết về từ vựng phảiđược trình bày một cách có hệ thống, theo một mối quan hệ liên tưởng nào đó Từđồng âm nên được liên hệ với từ nhiều nghĩa; từ trái nghĩa nên được liên hệ với từđồng nghĩa…Bên cạnh đó, tính hệ thống còn được thể hiện trong việc truyền tải cácnét nghĩa trong 1 từ nhiều nghĩa; hoặc các thành phần ngữ nghĩa của 1 từ vựng bấtkỳ
1.2.1.4 Nguyên tắc trực quan
Theo nhà nghiên cứu Lê A, tín hiệu từ là một chỉnh thể thống nhất giữa cái biểuđạt và cái được biểu đạt, bởi vậy việc sử dụng các phương tiện trực quan như tranhảnh, vật thật trong dạy học từ vựng nói chung và từ vựng tiếng Việt nói riêng là mộtđiều cần thiết để đảm bảo mối liên hệ giữa từ với hiện thực khách quan mà từ biểuđạt.4 Giảng viên có thể lựa chọn kết hợp các phương tiện trực quan cho phù hợp vớicác bậc năng lực; khi học viên đã có năng lực tư duy logic tương đối ổn định Từ
4
Lê A (Chủ biên) (2007) Phương pháp dạy học tiếng Việt Hà Nội: Giáo Dục, tr.102.
Trang 20đó, giảng viên cũng có thể kết hợp các phương tiện trực quan trên trong hệ thốngcác bài tập luyện tập để phát triển vốn từ vựng của học viên.
1.2.1.5 Nguyên tắc phát huy vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo của học viên
Để đảm bảo được hiệu quả của việc học tiếng, quá trình dạy học quyết khôngthể là quá trình thầy đọc – trò ghi theo một giáo án với những kết luận có sẵn mangtính áp đặt Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh phải trở thành ýthức tự giác sâu sắc và thường trực ở giảng viên
Tương tác xã hội được coi là một yếu tố cần thiết cho việc thành thạo ngônngữ, vì tương tác không những giúp tự động hoá nguồn tài nguyên sẵn có mà còngiúp tạo ra nguồn tài nguyên mới Thế nên, đảm bảo nguyên tắc phát huy vai tròchủ động, tích cực và sáng tạo của học viên cũng là đồng thời đảm bảo tạo nhiềutình huống tương tác xã hội cho học viên trong suốt quá trình thụ đắc ngôn ngữ.Giảng viên cần cân nhắc tạo nhiều ngữ cảnh dùng ngôn ngữ để học viên có lý do đểquan tâm và thực hành ngôn ngữ; giúp người học tham gia vào những nhiệm vụ liênquan tới ngôn ngữ vượt ra khỏi mức độ thông thạo hiện thời của họ
1.2.2 Các nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập
Từ sự khảo sát các tài liệu có liên quan, tiêu biểu là hai tài liệu: luận văn Xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho học sinh lớp 3 (Nguyễn Văn Bội, 2007), khoá luận tốt nghiệp Xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 1 mắc chứng khó đọc (Bùi Thị Thành, 2013) và Phương pháp dạy học tiếng Việt (Lê A, 2007, tr.56 – 61), chúng tôi nhận thấy có 8 nguyên tắc cơ
bản trong việc xây dựng hệ thống bài tập như sau:
1.2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính tích hợp
Tích hợp được hiểu là sự tổng hợp của nhiều yếu tố, hay nói một cách khác là
sự liên kết giữa các mảng kiến thức có liên quan đến nhau trong một đơn vị bài học.Đối với hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt, kiến thức về từ vựng không được phântách thành một đơn vị hay thành tố độc lập mà nó sẽ được gắn liền với kiến thức vềngữ pháp như một sự bổ trợ qua lại lẫn nhau, tức không chỉ hướng đến mặt tiếpnhận từ mà còn phải tạo lập được từ đó bằng những cấu trúc ngữ pháp nhất định.Đây là những yếu tố không thể tách rời nhau khi dạy học tiếng
1.2.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống
Hệ thống là sự tập hợp của các yếu tố có quan hệ, liên hệ chặt chẽ với nhau đểtạo nên tính chỉnh thể Chính vì vậy mà hệ thống bài tập phải được sắp xếp, tổ chức
Trang 21theo một trình tự hợp lý: các bài tập phải được phân thành các cấp bậc cụ thể vàtrong mỗi cấp, các bài tập phải được sắp xếp theo các mức độ, mặt khác, giữa cácbài tập cũng cần phải có mối liên hệ mật thiết với nhau.
1.2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp nội dung chương trình
Sự phù hợp được thể hiện ở chỗ hệ thống bài tập phải bám sát các yêu cầu cầnđạt trong từng cấp bậc, hay nói khác đi là đảm bảo được chuẩn đầu ra của cấp bậc
đó, cụ thể hơn là việc từ vựng hay cấu trúc ngữ pháp được đặt ra phải phù hợp, gắnliền với chương trình học của học viên ở cấp bậc đó
1.2.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của người học
Tính vừa sức (người học) ở đây được hiểu là hệ thống bài tập đưa ra phải phùhợp với trình độ của người học, điều này được quy định cụ thể trong yêu cầu cầnđạt của từng cấp bậc Nếu bài tập quá dễ sẽ làm hạn chế khả năng tư duy của ngườihọc cũng như không phát huy được khả năng sáng tạo Ngược lại, nếu bài tập quákhó thì người học sẽ không đủ kiến thức nền để giải quyết yêu cầu của bài tập
1.2.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
Tính kế thừa là sự tiếp thu, thừa hưởng những giá trị từ những gì đã có trước
đó, những giá trị đó trở thành tiền đề, điều kiện hay những giá trị tiên quyết cho sự
ra đời của những giá trị mới Tính kế thừa trong việc xây dựng hệ thống bài tập từ
vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoài được thể hiện ở hai phương diện Thứ nhất, những bài tập được xây dựng phải có sự tăng bậc, phát triển về mức độ, khả
năng tư duy, những kiến thức nền tảng được đặt ra trong những yêu cầu trước đó
phải trở thành bước đệm cho những yêu cầu với mức độ tư duy cao hơn sau đó Thứ hai, việc xây dựng hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoài là
một quá trình có tính kế thừa những thành tựu của những công trình có liên quantrước đó, đồng thời đảm bảo đóng góp những điểm mới cho những hệ thống bài tậptiếp theo
1.2.2.6 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
Tính khả thi là khả năng có thể thực hiện trong thực tế, nói cụ thể đó là khảnăng vận dụng được trong thực tế dạy – học, đồng thời phải mang lại được một hiệuquả như mong đợi Để thoả mãn được tính chất này cần đặt nó trong mối tươngquan với nguyên tắc đảm bảo nội dung chương trình (tức các yêu cầu cần đạt hoặcmục tiêu bài học), đồng thời cũng cần chú ý đến nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức
và phát huy tính sáng tạo của người học để đáp ứng tối đa nguyên tắc này
Trang 221.2.2.7 Nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư duy
Ngôn ngữ và tư duy vốn là hai mặt không thể tách rời Vì vậy mà cần phải luôntập trung rèn luyện song song cả về ngôn ngữ lẫn các thao tác tư duy Điều này càngtrở nên cần thiết và quan trọng trong dạy học tiếng nói chung và dạy học tiếng Việtnói riêng Và trong hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt, nguyên tắc này sẽ được thểhiện ở chỗ các bài tập sẽ được xây dựng theo thang đo tư duy 4 bậc của BoleslawNiemierko: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao Theo đó, các bài tập quatừng mức độ tư duy sẽ được tăng dần về độ khó, đòi hỏi ở người học các thao tác tưduy phức tạp hơn để có thể hoàn thành được bài tập
1.2.2.8 Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp
Mục đích cuối cùng trong việc dạy học tiếng vẫn là hướng đến khả năng giaotiếp, hay nói một cách khác là khả năng ứng dụng vào thực tiễn đời sống hệ thốngcác kiến thức đã được học Chính vì vậy mà trong việc xây dựng hệ thống bài tậpkhông thể thiếu đi nguyên tắc này Trong hệ thống bài tập, nguyên tắc này được thểhiện ở việc các bài tập sẽ đặt ra những tình huống quen thuộc, thường gặp phảitrong đời sống thực tiễn và yêu cầu người học giải quyết tình huống đó, điều nàytrước hết sẽ giảm đi phần nào sự ngỡ ngàng của người học khi đối diện với tìnhhuống tương tự trong cuộc sống, mặt khác nó còn giúp người học có được môitrường để vận dụng kiến thức đã được dạy
1.2.2.9 Nguyên tắc phân hoá người học
Bên cạnh những nguyên tắc đã trình bày, chúng tôi nhận thấy rằng nguyên tắcphân hoá người học cũng cần được quan tâm khi xây dựng hệ thống bài tập nóichung và hệ thống bài tập dạy học tiếng Việt nói riêng Nguyên tắc này được 3/20giảng viên giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tham gia khảo sát đề xuất.Phân hoá là sự phân chia bộ phận thành những đối tượng có đặc điểm khácnhau Đối với việc xây dựng hệ thống bài tập, phân hoá là khả năng phân chia ngườihọc thành các đối tượng cụ thể, có sự phân biệt với nhau, chẳng hạn như: người học
ở trình độ cơ bản với người học ở trình độ nâng cao, người học ở trình độ sơ cấp vớingười học ở trình độ trung cấp và cao cấp, Sự phân hoá này sẽ làm cho hệ thốngbài tập trở thành một công cụ để đánh giá Người học thông qua việc thực hiện cácbài tập sẽ xác định được năng lực hiện có của mình và người dạy bằng việc cho họcviên giải quyết các bài tập sẽ định lượng được năng lực của học viên Chính vì vậy,
có thể nói nguyên tắc phân hoá người học, bên cạnh những nguyên tắc khác, cũngđóng một vai trò quan trọng không kém Sự phân hoá này được chúng tôi thể hiệntrong hệ thống bài tập thông qua việc kết hợp xây dựng hệ thống bài tập từ vựng
Trang 23tiếng Việt trong một số nhóm từ cụ thể theo Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài (bậc sơ cấp, bậc trung cấp, bậc cao cấp) và thang đo 4 bậc của
Boleslaw Niemierko (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao) Cụ thể hơn làứng với từng cấp bậc, từng mức độ, các bài tập sẽ được thiết kế khác nhau, từ dễđến khó, từ đơn giản đến phức tạp (biểu hiện qua từ vựng, cấu trúc ngữ pháp được
sử dụng; dung lượng câu/đoạn văn, )
1.2.3 Các nhóm từ khó đối với học viên nước ngoài
Để có thể xác định được một cách khách quan nhất những nhóm từ phức tạp,gây khó khăn cho người nước ngoài khi tham gia học tập tiếng Việt, chúng tôi đãtiến hành khảo sát trong vòng 3 tháng dưới nhiều hình thức và thu được nhiều phảnhồi từ người học Sau khi lọc ra những đáp án nhiễu, chúng tôi thu được 50 phảnhồihợp yêu cầu, trong đó hầu hết các câu trả lời đều xoay quanh ba nhóm từ là đại
từ nhân xưng, danh từ đơn vị và từ láy Một số phương diện liên quan đến đối tượngkhảo sát được chúng tôi thống kê như sau:
Bảng 1: Đặc điểm đối tượng học viên nước ngoài được khảo sát
ĐƠN VỊ ĐÀO TẠO QUỐC TỊCH
Đại học Khoa học Xã hội và
Đối tượng khảo sát chiếm số lượng nhiều nhất là học viên sơ cấp và trung cấpcủa trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh , chiếm 40% trên tổng sốlượng đối tượng khảo sát Các đối tượng đa phần đến từ Hàn Quốc (chiếm 58% trêntổng số) Xét về trình độ đào tạo, số lượng học viên sơ cấp chiếm 58%, học viên
Trang 24trung cấp chiếm 38%, còn lại là học viên cao cấp chiếm 4% trên tổng số lượng họcviên tham gia khảo sát Như vậy, ta có thể thấy được trình độ khảo sát chủ yếu làhọc viên sơ cấp và trung cấp – là trình phù hợp để tiếp cận với hệ thống bài tập từvựng ở các nhóm từ khó mà chúng tôi khảo sát và xây dựng Dựa vào bảng thống
kê, số học viên là người Châu Á chiếm số lượng đáng kể – 98% trên tổng số lượngđối tượng khảo sát Trong các học viên tham gia khảo sát trên, học viên của trường
Sĩ quan Lục quân 2 không phải SV theo chuyên ngành Tiếng Việt và trường FreieUniversity Berlin (Đức) không có ngành Tiếng Việt vì vậy học viên được khảo sát
là học viên học tự do
Ngoài ra, chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát 20 giảng viên đang giảng dạytiếng Việt cho người nước ngoài Tất cả các giảng viên đều đồng tình với việc xácđịnh ba nhóm từ khó trong tiếng Việt là đại từ nhân xưng, danh từ đơn vị và từ láy.Bên cạnh đó, có 85% (17/20 phiếu khảo sát) đồng tình với việc đại từ nhân xưngnên được giảng dạy cho các học viên từ bậc sơ cấp, 70% (14/20 phiếu khảo sát)đồng tình với việc dạy nhóm danh từ đơn vị từ bậc sơ cấp và bắt đầu đẩy mạnh hơn
từ bậc trung cấp Trong khi đó, có tới 95% (19/20 phiếu khảo sát) đồng tình với việcdạy nhóm từ láy nên được giảng dạy ở bậc cao cấp Điều đó cũng đã phần nàokhẳng định được sự khó khăn của người học khi tiếp cận với nhóm từ này Cụ thểkết quả khảo sát như sau:
Bảng 2: Đặc điểm đối tượng học viên nước ngoài của các giảng viên được khảo sát
Trang 25Cao cấp Từ láy 19
Chúng tôi vừa trình bày một số kết quả về đối tượng khảo sát là học viên vàgiảng viên đang học và giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở một số trườngđại học để làm rõ hơn về đối tượng khảo sát Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày rõ hơnkết quả khảo sát về các nhóm từ khó thông qua các biểu đồ mà chúng tôi thống kê
Biểu đồ 1: Các nhóm từ khó đối với học viên nước ngoài
HỆ
TỪ
K Á
Thông qua kết quả khảo sát ở biểu đồ 1, đại từ nhân xưng được cho là nhóm từ
gây khó khăn nhất đối với những người nước ngoài khi học tiếng Việt, chiếm tỉ lệ86% (43/50 phiếu khảo sát) Trước hết, nếu ở các ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếngPháp, tiếng Hàn, tiếng Trung, các đại từ nhân xưng chỉ được thể hiện bằng một từduy nhất ứng với mỗi ngôi nói thì trong tiếng Việt, hệ thống đại từ nhân xưng chotừng ngôi là vô cùng đa dạng Để tìm hiểu một cách cụ thể những khó khăn màngười học gặp phải đối với nhóm đại từ nhân xưng, chúng tôi đã cung cấp chongười học một số dạng bài tập để luyện tập, từ đó nhận diện và đánh giá được cáclỗi mà họ thường mắc phải và hệ thống chúng thành biểu đồ như sau:
Trang 26Biểu đồ 2: Các khó khăn của học viên khi học nhóm đại từ nhân xưng
Sắc thái biểu cảm cao Từ vựng đa dạng Bài tập luyện tập ít
Khi chỉ ra những khó khăn của người học khi tiếp cận với hệ thống đại từ nhânxưng trong tiếng Việt, có 67.4% (29/43 phiếu khảo sát) người đồng tình với ý kiến
cho rằng đại từ nhân xưng trong tiếng Việt đa dạng, phức tạp Điều này, như đã
nói là hoàn toàn có cơ sở và hoàn toàn có thể xem là một rào cản khá lớn đối vớingười nước ngoài khi tiếp xúc với một ngôn ngữ mới Trong nhiều ngôn ngữ, cácđại từ nhân xưng thường được biểu đạt dưới hình thức đơn giản, ứng với mỗi ngôigiao tiếp thường chỉ có từ một đến hai đại từ có thể dùng để biểu đạt Trong khi đó,đối với tiếng Việt, hệ thống đại từ nhân xưng lại vô cùng phong phú và đa dạng,chưa kể còn có sự xuất hiện của các đại từ nhân xưng lâm thời cũng được sử dụngkhá rộng rãi trong giao tiếp Đây là một vấn đề thuộc về bản chất của tiếng Việt, do
đó không thể có một phương pháp nào hiệu quả hơn là tích cực luyện tập sử dụngcác đại từ nhân xưng cũng như các mẫu câu giao tiếp trong tiếng Việt Thườngxuyên sử dụng các đại từ nhân xưng khác nhau, thay vì chỉ dùng những đại từ
thông dụng như tôi, bạn, họ… cũng là một cách để rèn luyện khả năng sử dụng đại
từ nhân xưng chính xác và phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp hơn Theo kết quả thuđược từ 43 phiếu khảo sát có học viên chọn đại từ nhân xưng là nhóm từ khó đốivới họ, các bài tập có tỉ lệ lựa chọn đáp án đúng chưa cao Kết quả đúng cao nhất ởnhững câu hỏi này chỉ là 50%, còn lại là dưới 50%, tức là tỉ lệ lựa chọn đáp án saicòn rất cao, lớn hơn 50%
Một vấn đề khác cũng gây khó khăn cho người học khi tiếp xúc với nhóm đại
từ nhân xưng trong tiếng Việt chính là sắc thái biểu cảm của nhóm từ này, chiếm tỉ
lệ là 88.4% (38/43 phiếu khảo sát) Con số này cũng phần nào khẳng định được
Trang 27khó khăn của người học khi phải nhận diện và sử dụng các đại từ nhân xưng trongtiếng Việt phù hợp với ý nghĩa biểu cảm Khi học đại từ nhân xưng trong tiếngViệt, người nước ngoài thường có xu hướng chỉ sử dụng những đại từ nhân xưng
trung tính như tôi, bạn… mà bỏ qua những đại từ nhân xưng khác, còn khi phải
đứng trước những tình huống buộc phải sử dụng những đại từ nhân xưng khácphức tạp hơn, họ lại gặp khó khăn trong cách lựa chọn đại từ nhân xưng sao chophù hợp với hoàn cảnh giao tiếp Do đó, người học thường mắc rất nhiều lỗi khihọc nhóm từ này Kết quả thu được khi cho học viên làm bài tập về sắc thái biểucảm của đại từ nhân xưng cho thấy đây đúng là một vấn đề khó Chỉ có 1 học viênchỉ ra được sắc thái khác nhau giữa 2 từ mà chúng tôi đưa vào bài tập, tức chỉ có2.32% học viên làm đúng
Việc các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ít xây dựng các bàitập nhằm tập trung luyện tập sử dụng các đại từ nhân xưng dựa trên các lỗi mà họcviên mắc phải cũng là một nguyên do cản trở hiệu quả tiếp thu nhóm từ này chiếm
tỉ lệ 53.4% (23/44 phiếu khảo sát) Khác với những nguyên nhân trước, đây là mộtnguyên nhân không liên quan đến bản chất của ngôn ngữ tiếng Việt Vì vậy, cáchgiải quyết khó khăn này cũng ít nhiều khác biệt, đồng thời có thể thấy, đây cũng cóthể là nguyên nhân dẫn tới hai khó khăn vừa nêu trên Có thể thấy, hệ thống cácgiáo trình giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài hiện này đều được biên soạntheo từng chủ đề, ứng với mỗi chủ đề sẽ có kèm những bài tập về từ vựng, ngữpháp,… có liên quan đến chủ đề đó Vì vậy, những đặc trưng của nhóm từ khôngphải là vấn đề chủ yếu được quan tâm và do đó, người học cũng bị giảm dần đi cơ
hội được luyện tập Đặc biệt, ở nhóm Đại từ nhân xưng, đây là một nhóm từ khá
phức tạp nhưng lại chưa có bộ giáo trình nào biên soạn nội dung học độc lập và cụthể về nhóm từ này, mà những bài tập về đại từ nhân xưng chỉ được bố trí xen kẽvới những nội dung bài tập khác, từ đó mà kiến thức về nhóm từ này không đượcđào sâu Chính vì vậy, việc đẩy mạnh xây dựng hệ thống bài tập đại từ nhân xưngtiếng Việt dành cho người nước ngoài, giúp họ có cơ hội được luyện tập, đồng thờikhắc phục được những khó khăn trong quá trình học của họ là một điều rất cầnthiết
Dựa vào kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy nhóm từ láy là nhóm từ khó thứhai được học viên đánh giá, chiếm 76% (38/50 phiếu khảo sát) Thực tế đây lànhóm từ được đánh giá là khá phức tạp và được dạy cho học viên ở trình độ tiếngViệt trung cấp và cao cấp
Biểu đồ 3: Các khó khăn của học viên khi học nhóm từ láy
Trang 28Khó ghi nhớ nghĩa Khác biệt với NN bản xứ Ít bài tập luyện tập
Biểu đồ trên cho thấy những khó khăn của học viên khi học nhóm Từ láy Qua
việc phân tích kết khảo sát, chúng tôi nhận thấy học viên cho rằng nhóm từ này khó
là do khó ghi nhớ nghĩa của các từ láy và không hiểu tường tận nghĩa của nhóm từ
này, chiếm 71% (27/38 phiếu khảo sát) Đây có thể là nguyên nhân chủ yếu gây ra
sự khó khăn khi học nhóm từ này của học viên vì cơ bản từ láy trong tiếng Việt rấtphức tạp và đa dạng, cộng thêm sắc thái nghĩa cũng hết sức đa dạng Kết quả thuđược từ những bài tập trong phiếu khảo sát cho thấy đa số học viên còn khá lạ lẫmđối với nhóm từ, nhiều câu trả lời “không biết” được đưa ra, chỉ có một đáp án đưa
ra là hợp lý tuy nhiên vẫn chưa chính xác hoàn toàn, chiếm tỉ lệ 2.63%
Nguyên nhân tiếp theo là khác biệt với ngôn ngữ bản xứ, chiếm 61% (23/38 phiếu khảo sát) Một số học viên còn lại cho rằng ít có bài tập để rèn luyện khi học
từ láy, chiếm 42.1% (16/38 phiếu khảo sát) Nguyên nhân này cũng xuất phát từ sựphức tạp của nhóm từ khi thiết kế các dạng bài tập để học viên rèn luyện.5
Nhìn chung, nhóm Từ láy là một nhóm từ phức tạp đối với học viên nước
ngoài Vì thế, việc lưu ý một số lỗi cơ bản mà học viên mắc phải để xây dựng hệthống bài tập để luyện tập và khắc phục lỗi đó cho học viên là điều cần thiết
Nhóm từ Danh từ đơn vị là nhóm từ khó thứ ba, chiếm 70% (35/50 phiếu khảo
sát) Thực tế danh sách danh từ đơn vị trong tiếng Việt khá lớn và phức tạp cho nênkhi tiếp cận ngôn ngữ mới học viên nước ngoài phải kết hợp cả việc ghi nhớ từ, ngữ
5 Tỉ lệ học viên chọn từ láy đúng ngữ cảnh cao hơn tỉ lệ học viên chọn những từ láy sai ngữ cảnh Kết quả này được nhận định ở 2 khả năng: những học viên được khảo sát có thể ở trình độ trung cấp và cao cấp chiếm
tỉ lệ cao; hoặc các câu hỏi đa số thuộc dạng câu hỏi có hai đáp án (tỉ lệ chọn đúng là 50%) nên học viên có tỉ
lệ chọn đáp án đúng cao hơn
Trang 29cảnh xuất hiện và các cấu trúc để sử dụng chúng, cho nên việc này là khá khó khăn
và có thể gây ra sự nhầm lẫn khi sử dụng trong giao tiếp và viết Chúng tôi khảo sátđược những khó khăn của học viên nước ngoài khi học nhóm từ này như sau:
Biểu đồ 4: Các khó khăn của học viên khi học nhóm danh từ đơn vị
Theo khảo sát, có 88.5% (31/35 phiếu khảo sát) học viên cho rằng nhóm từ này
khó là do khó phân loại danh từ đơn vị Tuy nhiên trong quá trình xây dựng hệ
thống bài tập, chúng tôi nhận thấy rằng đây không phải là nguyên nhân chính ảnhhưởng đến việc chọn sai danh từ đơn vị trong các ngữ cảnh Vì phân loại chúng làcông việc chuyên sâu trong nghiên cứu về nhóm từ này của Ngữ pháp tiếng Việt,còn việc sử dụng đúng ngữ cảnh thì học viên cần lưu ý đến ngữ nghĩa và khả năngkết hợp của chúng thay vì ghi nhớ hệ thống phân loại khá phức tạp của nhóm từnày Có 77.1% (27/35 phiếu khảo sát) số học viên cho rằng nhóm danh từ đơn vị
khó là do không thể phân biệt thế nào là dùng thiếu hoặc thừa danh từ đơn vị.
Chính những đặc điểm khác biệt biệt về ngữ pháp của ngôn ngữ mẹ đẻ của ngườinước ngoài và tiếng Việt khiến việc nhận diện danh từ đơn vị và sử dụng chúng mộtcách chính xác là rất khó khăn đối với học viên nước ngoài Trong quá trình phân
tích kết quả bài tập trong phiếu khảo sát, chúng tôi nhận thấy việc học viên xác định
khi nào cần dùng/không cần danh từ tiếng Việt chính là một nguyên nhân kiến cho
họ cảm thấy đây là một nhóm từ khó Theo kết quả khảo sát, tỉ lệ học viên trả lờiđúng cao hơn hai nhóm từ còn lại, tỉ lệ câu trả lời đúng dao động từ 50% - 96%.Như vậy, tỉ lệ học viên trả lời sai vẫn còn cao, kết quả này cho thấy đây là vấn đềthen chốt mà học viên cảm thấy khó khi học nhóm từ này
Trang 30Có 57.1% (20/35 phiếu khảo sát) số học viên cho rằng danh từ đơn vị khó là do
có ít bài luyện tập Thực ra, bài tập về danh từ đơn vị tiếng Việt cũng không phải là
ít, học viên chọn nguyên nhân này có thể là do chưa tìm được nguồn bài tập để rènluyện Các học viên lựa chọn nguyên nhân này thường là các học viên tự do, tức là
họ tự học tiếng Việt hoặc học tiếng Việt không phải là chuyên ngành chính
Qua việc phân tích số liệu khảo sát, chúng tôi nhận thấy được nguyên nhân chủ
yếu gây ra sự khó khăn khi học danh từ đơn vị của học viên nước ngoài là không thể phân biệt thế nào là dùng thiếu hoặc thừa danh từ đơn vị và đây sẽ là cơ sở để
chúng tôi xây dựng những bài tập giúp học viên rèn luyện, khắc phục những lỗi khi
sử dụng nhóm từ này
Bên cạnh đó, để kết quả được phong phú và đáng tin cậy hơn, chúng tôi cũng
đã tiến hành khảo sát các giảng viên đang giảng dạy tiếng Việt cho người nướcngoài và thu được một số ý kiến về các nhóm từ khó trong tiếng Việt Trước hết,một số nguyên nhân gây ra lỗi cho học viên khi học các nhóm từ được các giảng
viên chỉ ra là do thói quen sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ (chiếm 90% tương ứng với 18/20 phiếu khảo sát) Bên cạnh đó, việc thiếu hệ thống bài tập được xây dựng
chuyên biệt cho từng nhóm từ, khiến người học không có nhiều cơ hội được luyện
tập (chiếm 60% tương ứng với 12/20 phiếu khảo sát) và ngữ liệu giảng dạy không hiệu quả (chiếm 50% tương ứng với 10/20 phiếu khảo sát) cũng là các nguyên nhân chủ yếu Cuối cùng là nguyên nhân phương pháp dạy học không hiệu quả (40%
tương ứng với 8/20 phiếu khảo sát) và một số nguyên nhân khác do chủ quan củangười học (chiếm 25% tương ứng với 5/17 phiếu khảo sát) Như vậy có thể thấy,việc thiếu những hệ thống bài tập được xây dựng cụ thể, phù hợp với từng nhóm từ
đã gây ra không ít khó khăn cho người học khi tiếp xúc với tiếng Việt Chính vìvậy, việc xây dựng hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt, đặc biệt đối với các nhóm từkhó là đại từ nhân xưng, danh từ đơn vị và từ láy là điều cần thiết và cần được triểnkhai thực hiện
Qua quá trình khảo sát những khó khăn mà các học viên nước ngoài thườngmắc phải khi tiếp cận các nhóm từ cụ thể, chúng tôi rút ra được một số nhận xét nhưsau:
Về khó khăn của học viên nước ngoài, chúng tôi nhận thấy rằng có sự khác biệtgiữa học viên chính quy và học viên tự do Theo chúng tôi, nguyên nhân chủ yếuxuất phát từ việc nhóm học viên chính quy được tiếp cận với phương pháp dạy tiếngViệt của các giảng viên từ lúc mới bắt đầu học tiếng Việt cho nên những khó khănthường gặp chủ yếu xoay quanh những vấn đề mấu chốt gây khó khăn của các
Trang 31nhóm từ này, cụ thể, như sắc thái biểu cảm của đại từ nhân xưng, vấn đề nghĩa của
từ láy, dùng thiếu/thừa danh từ đơn vị,… Còn ở nhóm học viên tự do, nhìn chung
họ cũng gặp phải những khó khăn như nhóm học viên chính quy, tức là các khókhăn cũng xoay quanh vấn đề khác biệt của tiếng Việt với tiếng mẹ đẻ nhưng họcòn gặp khó khăn về việc thiếu bài tập để rèn luyện và những phương pháp họctiếng Việt hiệu quả
Về lỗi sai khi thực hiện bài tập khảo sát của học viên nước ngoài, các lỗi sai thuđược từ bài tập khảo sát giữa nhóm học viên chính quy và học viên tự do là giốngnhau, bởi vì đây là những lỗi mà người nước ngoài thường mắc phải do thói quen sửdụng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ Các bài tập trong phiếu khảo sát được thiết kế dựatrên những vấn đề cơ bản dựa trên những đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa cơ bản nhấtcủa các nhóm từ mà chúng tôi xây dựng, cho nên kết quả kết quả bài tập giúp chúngtôi xác định trong mỗi nhóm từ, đối tượng khảo sát đang mắc phải lỗi sai nào nhiềunhất
Về sự chênh lệch trình độ của các đối tượng khảo sát, các học viên ở trình độ
Sơ cấp thường đưa ra những câu trả lời như “Không biết”, “Tôi chưa nghe qua” hay
là bỏ qua phần khảo sát đó Còn ở trình độ Trung cấp và Cao cấp, câu trả lời cóphần cụ thể và chi tiết hơn nhưng vẫn còn mắc phải những lỗi sai cơ bản ở phần bàitập Nguyên nhân của sự khác nhau này là do học viên sơ cấp còn chưa được rènluyện nhiều về các dạng bài tập về các nhóm từ này Thêm nữa, nhóm học viên nàychưa tiếp cận với nhóm từ khá phức tạp như từ láy cho nên họ thường không chọnhay làm những bài tập liên quan đến dạng bài tập từ láy Đối với học viên Trung cấp
và Cao cấp, nhóm học viên này đã thành thạo với những dạng bài tập danh từ đơn vị
và đại từ nhân xưng nhưng ở nhóm từ láy , nhóm học viên này vẫn còn chưa thànhthạo
1.2.4 Khung năng lực tiếng Việt dành cho người nước ngoài
Ngày 01/09/2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam (BGD & ĐT) đã ban hành
thông tư về Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài (KNLTV) Và ngày 21/06/2016, BGD & ĐT tiếp tục ban hành thông tư về Định dạng đề thi đánh giá năng lực tiếng Việt theo KNLTV Nhìn chung, KNLTV đưa ra những khung
chuẩn chung về vốn từ vựng, chủ đề, ngữ pháp, kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, đốivới người học ở mỗi bậc và cấp học Và theo những thông tư này, KNLTV sẽ được
dùng “để làm căn cứ thống nhất đánh giá năng lực tiếng Việt của người nước ngoài; làm căn cứ xây dựng chương trình, kế hoạch giảng dạy, biên soạn hoặc lựa
Trang 32chọn học liệu, xây dựng tiêu chí kiểm tra, đánh giá ở từng cấp học và trình độ đào tạo” (BGD & ĐT, 2015, tr.2).
KNLTV được chia làm 3 cấp (Sơ cấp, Trung cấp, Cao cấp) và mỗi cấp lại đượcchia thành 2 bậc Tổng cộng có tất cả 6 bậc (từ Bậc 1 đến Bậc 6), tương thích vớicác bậc từ A1 đến C2 trong Khung tham chiếu chung Châu Âu Xem bảng sau:
Bảng 4: Khung năng lực tiếng Việt so sánh với khung tham chiếu chung Châu Âu về ngôn ngữ
Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài
KNLTV được mô tả tổng quát ở từng các bậc trong 3 cấp (Sơ cấp, Trung cấp,
Cao cấp) Chúng tôi sẽ dựa vào những yêu cầu chung nhất của phần “Mô tả tổng quát” và kết hợp với phần yêu cầu của kỹ năng “Nói có tương tác” (BGD & ĐT,
2015, tr.9-13), “Kỹ năng đọc” (BGD & ĐT, 2015, tr.13-15) và “Kỹ năng viết”
(BGD & ĐT, 2015, tr.15) để làm căn cứ để xây dựng danh sách từ vựng theo từngcấp độ Sơ cấp, Trung cấp, Cao cấp cho từng nhóm từ khó đối với học viên nước
ngoài mà chúng tôi đã đề cập ở phần 1.1 (nhóm Đại từ nhân xưng, Danh từ đơn vị
và Từ láy).
Ngoài ra, chúng tôi còn dựa vào các yêu cầu trong KNLTV về “Vốn từ vựng” (BGD & ĐT, 2015, tr.20), “Kiểm soát từ vựng” (BGD & ĐT, 2015, tr.20), “Độ chính xác ngữ pháp” (BGD & ĐT, 2015, tr.20-21), “Độ chính xác về chính tả” (BGD & ĐT, 2015, tr.21), đặc biệt là bảng “Phụ lục 2: Danh sách 1000 từ vựng thông dụng” (Đào Mục Đích, Bae Yang Soo, 2017) để làm cơ sở xây dựng và đánh
giá hệ thống bài tập từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoài
1.2.5 Các mức độ nhận thức theo thang đo 4 bậc của Boleslaw Niemierko
Thang độ tư duy là một công cụ thiết yếu trong lĩnh vực giáo dục nói chungcũng như trong việc xây dựng hệ thống bài tập nói riêng Việc sử dụng thang độ tưduy như một nền tảng để xây dựng bài tập nhằm giúp đảm bảo được hai yếu tố: đáp
Trang 33ứng được sự phù hợp về mặt hình thức lẫn nội dung cho từng mức độ nhận thức vàđáp ứng đúng độ khó ở mỗi mức độ.
Song, theo Trần Trọng Nghĩa “Về mặt lý thuyết, cần xây dựng một thang đo sao cho càng chi tiết các tiêu chí cần đo lường, kiểm định càng tốt Tuy nhiên trong thực tế, do đặc thù của một số chuyên ngành, trong đó có thiết kế bài tập tiếng, người ta không thể lượng hóa chính xác tất cả các mục tiêu đặt ra, hệ quả là một thang đo quá chi tiết rất khó áp dụng, hoặc là cho một kết quả không được như mong đợi Trong lĩnh vực này, thang đo 04 bậc của Boleslaw Niemierko tỏ ra phù hợp hơn.”6 Trong bài viết “Educational diagnostics for contemporary schoolsystems – Measuring and assessing growth of student human capital, Part I: Mainconcepts and the scope” (Niemierko B., 2012)7, tác giả cũng đã trình bày sự lược bỏmột số bậc trong thang đo của Bloom để thuận tiện hơn khi sử dụng Ở đây, chúngtôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của tác giả khi thang đo Bloom tỏ ra quá chitiết Tuy nhiên, điều này là có thể hiểu được bởi lẽ thang đo Bloom là sự khái quátchung nhất các thao tác tư duy thông thường của con người Thế nhưng chúng tacũng cần phải có sự nhìn nhận lại sự phù hợp của nó, cụ thể là trong việc xây dựng
hệ thống bài tập dạy học tiếng nói chung và dạy học tiếng Việt nói riêng Việc vậndụng thang đo Bloom vào việc xây dựng hệ thống bài tập trước tiên sẽ làm cho hệthống bài tập trở nên rườm rà, phức tạp, đồng thời làm cho hệ thống bài tập trở nêntách rời với Khung năng lực tiếng Việt dành cho người nước ngoài mà chúng tôivừa đề cập ở trên Một minh chứng có thể dẫn ra chính là việc không thể yêu cầumột học viên nước ngoài ở bậc Sơ cấp khả năng phân tích, tổng hợp và đánh giá,tuy nhiên đây là điều mà chúng tôi muốn hướng đến ở những bài tập ở bậc Cao cấp.Chính vì vậy mà chúng tôi cần đến một thang đó có khả năng bao quát các mức độtheo Khung năng lực tiếng Việt dành cho người nước ngoài, hay nói một cách khác
là cần một thang đó có khả năng sử dụng kết hợp với Khung năng lực tiếng Việt Từnhững lẽ đó mà chúng tôi thống nhất đi đến quyết định lựa chọn thang đo 4 bậc của
6
Trần Trọng Nghĩa (2018) Độ khó trong bài tập tiếng Việt cho người nước ngoài, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế
Việt Nam học lần thứ 4: Những vấn đề giảng dạy tiếng Việt và nghiên cứu Việt Nam trong thế giới hiện nay,
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 389 – 399.
7 Cụ thể, tác giả viết: “In cognitive domain six-level Bloom’s taxonomy was condensed by combining three
highest levels (“analysis”, “synthesis”, and “evaluation”) into one problem solving category of thinking processes Besides, the definition of a skill as knowledge applied to situations was introduced.” (Tạm dịch:
Trong lĩnh vực nhận thức, thang đo 6 bậc của Bloom được cô đọng lại bằng việc tích hợp 3 mức nhận thức cao nhất (phân tích, tổng hợp và đánh giá) vào nhóm kỹ năng giải quyết vấn đề của quá trình tư duy Bên cạnh đó, khái niệm “vận dụng” được bổ sung vào các mức độ nhận thức của thang đo.)
Trang 34Boleslaw Niemierko như một nguyên tắc để xây dựng hệ thống bài tập từ vựngtiếng Việt bởi những khả năng mà nó đáp ứng được cho đề tài.
Chính vì vậy, chúng tôi sẽ tiến hành xác định các mức độ nhận thức theo thang
đo 4 bậc của Boleslaw Niemierko Điều này đã được ông khái quát trong bảng sau:8
Bảng 5: Thang đo 4 bậc của Boleslaw Niemierko (1990)
Cấp độ tư
Nhận biết Người học nhớ các khái niệm cơ bản, có thể nêu lên
hoặc nhận ra chúng khi được yêu cầu
Thông hiểu
Người học hiểu các khái niệm cơ bản và có thể vậndụng chúng khi chúng được thể hiện theo các cáchtương tự như cách giáo viên đã giảng hoặc như các ví
dụ tiêu biểu về chúng trên lớp học
Vận dụng
Người học có thể hiểu được khái niệm ở một cấp
độ cao hơn “thông hiểu”, tạo ra được sự liên kết logicgiữa các khái niệm cơ bản và có thể vận dụng chúng
để tổ chức lại các thông tin đã được trình bày giốngvới bài giảng của giáo viên hoặc trong sách giáo khoa
Vận dụng
cao
Người học có thể sử dụng các khái niệm về mônhọc - chủ đề để giải quyết các vấn đề mới, khônggiống với những điều đã được học hoặc trình bày trongsách giáo khoa nhưng phù hợp khi được giải quyết với
kỹ năng và kiến thức được giảng dạy ở mức độ nhậnthức này Đây là những vấn đề giống với các tìnhhuống người học sẽ gặp phải ngoài xã hội
1.3 Khái quát về các nhóm từ vựng khó đối với học viên nước ngoài
1.3.1 Nhóm danh từ đơn vị
“Danh từ đơn vị là loại danh từ biểu thị hình thức tồn tại của thực thể hoặc biểu thị những sự vật được ngôn ngữ đối xử như những thực thể phân lập, có kích thước xác định, có thể phân lượng hoá, dùng để chỉ đơn vị của thực thể, chuyên đảm đương chức năng thành tố chính trong cấu trúc danh ngữ.” 9 Danh từ đơn vị là
8 Tư liệu trong bản dịch của Trần Trọng Nghĩa.
9Nguyễn Thị Ly Kha (2001) Danh từ khối trong tiếng Việt hiện đại Luận án Tiến sĩ Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn.
Trang 35một nhóm từ quan trọng và phổ biến trong tiếng Việt Danh từ đơn vị là một thànhphần không thể thiếu trong việc thể hiện nghĩa của một danh từ trong một ngữ đoạndanh từ nhất định Việc phân loại danh từ đơn vị đến nay chưa được thống nhất, chonên dựa vào vị trí, chức năng và ý nghĩa mà mỗi tác giả lại có những góc nhìn khácnhau: dựa vào đặc điểm ý nghĩa của từng đơn vị cụ thể; dựa vào mối quan hệ ýnghĩa giữa các loại từ; dựa vào khả năng kết hợp giữa danh từ đơn vị với danh từkhối;…
1.3.1.1 Đặc điểm ngữ nghĩa
Về đặc điểm ngữ nghĩa, các danh từ đơn vị mang “vật tính” (theo Cao Xuân
Hạo), hay nói cách khác là chỉ “vật” Ý nghĩa từ vựng của nó có quan hệ mật thiếtvới các danh từ khối đứng sau làm định ngữ cho nó Danh từ khối đứng sau hạnđịnh vai trò chỉ “vật” của nó Nhờ thế nó có tác dụng phân định sự vật mà danh từkhối đứng sau biểu thị thành những vật rời, có hình thức, có kích cỡ Trên cơ sở đó,
nó có thể có tính chất gợi hình và trong điều kiện cho phép nó cũng có thể có tínhchất gợi cảm
1.3.1.2 Đặc điểm ngữ pháp
Về đặc điểm ngữ pháp, danh từ đơn vị sẽ được khái quát thông qua một số ví
dụ trong các trường hợp cụ thể dưới đây Thứ nhất, danh từ đơn vị buộc phải có mặt
trước danh từ khối trong các trường hợp sau đây: (1) Danh từ đơn vị buộc phải xuấthiện trong một danh ngữ có danh từ khối đi kèm với lượng từ; (2) Danh từ đơn vịbuộc phải xuất hiện trong một danh ngữ (có chứa danh từ khối) để biểu thịmột/những thực thể đã được xác định; (3) Danh từ đơn vị được sử dụng khi có mặtnhững từ phiếm định; (4) Danh từ đơn vị thường xuất hiện khi sử dụng các biểu
thức “đồng nhất”: DTĐV + DTK + nào cũng ; không + DTĐV + DTK + nào ; bất kỳ/cứ + DTĐV + DTK + nào cũng ; bất kỳ/cứ + DTĐV + DTK + nào…; (5)
Danh từ đơn vị phải có mặt trong danh ngữ xuất hiện sau một phó từ chỉ hướng,
theo công thức: V + từ chỉ hướng + DTĐV Trong đó, V là vị từ hành động
chuyển vị, vị từ biểu thị quá trình xuất hiện, vị từ biểu thị kết quả (Cao Xuân Hạo,
2006, 81 – 82) Thứ hai, danh từ đơn vị được sử dụng riêng lẻ (không có danh từ
khối theo sau) trong các trường hợp sau đây: (1) Danh từ đơn vị sẽ không cần đếndanh từ khối khi chủng loại sự vật đã được người nói và người nghe nhận biết chínhxác; (2) Danh từ đơn vị được sử dụng riêng lẻ (không cần danh từ khối) khi nó làtrung tâm của một ngữ đoạn đóng vai trò thuyết minh, giải thích cho đối tượng đãđược đặt làm đề/chủ ngữ; (3) Danh từ đơn vị cũng có thể sử dụng riêng lẻ, nhưng
Trang 36khác với những trường hợp khác ở chỗ nó hoàn toàn không chấp nhận sự có mặtcủa danh từ khối, và có thể cũng không cần bất kỳ định ngữ nào khác
1.3.2 Nhóm đại từ nhân xưng
Đại từ nhân xưng là những từ dùng để xưng – gọi trong giao tiếp xã hội, có thể dùng để chỉ các đối tượng như người, sự vật, đồ vật, động vật, được dùng để thay thế cho các danh từ hoặc chủ ngữ trong câu khi muốn biểu đạt một ý nghĩ lặp lại và cuối cùng, đại từ nhân xưng biểu lộ những sắc thái tình cảm giữa nhiều người tham gia giao tiếp Ví dụ: tôi, chúng tôi, bạn, mày, tao, cô, dì, chú, bác,…
1.3.2.2 Đặc điểm ngữ pháp
Về đặc điểm ngữ pháp, đại từ nhân xưng có khả năng kết hợp vào mình các
thành tố phụ đặc trưng của từ loại đó để tạo nên ngữ đoạn Tương tự, khi thay thế ởcấp độ lớn hơn (kết hợp từ, câu,…), thì đại từ nhân xưng cũng sẽ có khả năng làmthành tố chính trong kết hợp từ, câu,… đó Với tư cách là một đại từ, đại từ nhânxưng sở hữu đầy đủ các chức năng cú pháp của một đại từ, vì vậy mà nó có thể đảmnhiệm chức năng của các thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ Không chỉđảm nhiệm chức năng trong thành phần câu, đại từ nhân xưng còn đóng vai trò quantrọng trong các cấu trúc ngữ Nó có thể giữ chức năng làm định ngữ cho danh từ vàlàm bổ ngữ, đứng sau động từ và tính từ Hơn nữa, đóng vai trò là một loại từ cóchức năng thay thế, đại từ nhân xưng bên cạnh những chức năng khu biệt của chínhmình, nó đồng thời mang toàn bộ chức năng cú pháp của các loại từ được nó thaythế Do đó, chức năng của đại từ nhân xưng trong một cú pháp câu là vô cùng đadạng
1.3.3 Nhóm từ láy
1.3.3.1 Vấn đề nhận diện từ láy trong tiếng Việt
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề xác định từ láy trongtiếng Việt, nhưng tựu trung có hai quan điểm chính: coi láy cũng là ghép và coi láy
Trang 37là một phương thức cấu tạo từ riêng Trên bình diện từ, còn tồn tại một số tranh cãigiữa việc thừa nhận hoặc không thừa nhận từ láy trong tiếng Việt Một số nhànghiên cứu khác lại đứng giữa khi chưa mạnh dạn xếp một số trường hợp từ vàonhóm từ ghép khi đã chứng minh chúng được cấu tạo theo phương thức ghép songsong đẳng lập của 2 âm tiết… Tuy vậy, để đơn giản hoá và tạo sự thống nhất trong
hệ thống kiến thức truyền tải cho học viên nước ngoài, chúng tôi gọi các trường hợp
đủ chuẩn là từ láy thay cho các khái niệm tương tự
Việc truyền tải tất cả các nhóm từ láy cho học viên nước ngoài là điều khôngkhả thi Có 4 nhóm từ láy chúng tôi cân nhắc đưa vào giảng dạy cho học viên nướcngoài:
(1) Nhóm từ láy biểu thị sự giảm nhẹ mức độ
(2) Nhóm từ láy biểu thị sự tăng cường mức độ
(3) Nhóm từ láy mô phỏng âm thanh (tượng thanh)
(4) Nhóm từ láy mô phỏng hình dáng, trạng thái (tượng hình)
1.3.3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các nhóm từ láy
a Đặc điểm ngữ nghĩa
Nhóm từ láy tăng mức độ và giảm mức độ
Nhóm từ láy này có đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp khá đơn giản Về đặc điểm ngữ nghĩa, các từ láy thuộc nhóm tăng hoặc giảm mức độ có nghĩa tăng hoặc
giảm mức độ so với yếu tố gốc dựa vào những đặc điểm cấu tạo của chúng Nói mộtcách khác, nghĩa của các từ láy này được hình thành dựa trên nghĩa của hình vị gốc
và có xu hướng mở rộng hoặc thu hẹp, tăng cường hoặc giảm nhẹ nghĩa Điều nàylàm cho nghĩa của hình vị cơ sở cụ thể, rõ nét hơn, gợi tả hơn Do đó, có thể nói từláy tăng mức độ và giảm mức độ có giá trị biểu hiện và biểu cảm cao hơn so với
hình vị cơ sở (chầm chậm chậm chậm chạp; âm ấm ấm ấm áp…)
Nhóm từ láy tượng hình và tượng thanh
Về đặc điểm ngữ nghĩa, từ tượng thanh, từ tượng hình được gọi chung là lớp từ
mô phỏng Hoàng Thiên Thanh (2015, tr.19) trong luận văn Đối chiếu từ tượng thanh, tượng hình trong tiếng Hàn và tiếng Việt đã cho rằng: Trong tiếng Việt, từ
tượng thanh, từ tượng hình là một lớp từ “có vỏ ngữ âm mô phỏng theo lối trực tiếp (từ tượng thanh) hoặc mô phỏng theo lối gián tiếp (từ tượng hình)” Trong trường
hợp mô phỏng trực tiếp, mối liên hệ giữa đối tượng mô phỏng với vỏ âm thanh của
từ “tương đối rõ ràng”, “đồng nhất về chất liệu âm thanh” Trường hợp mô phỏng gián tiếp, đối tượng mô phỏng chỉ là “phương tiện” trợ giúp đắc lực trong việc “gợi
Trang 38liên tưởng về hình ảnh đối tượng phản ánh trong nhận thức và tư duy” Do đó, nhìn chung, “từ mô phỏng có cơ chế láy âm về mặt cấu tạo, nhưng mang tính biểu trưng
về mặt ngữ nghĩa Mối quan hệ âm – nghĩa trong lớp từ mô phỏng có mục đích và
có lý do.” Trong một số trường hợp, các từ láy mô phỏng âm thanh có thể dùng làm
từ định danh cho sự vật mà nó biểu âm (bìm bịp con bìm bịp; tu hú con tu hú…) Một số từ láy tư còn biểu đạt ý nhấn mạnh hay kéo dài nhiều lần (rì rầm
rì rà rì rầm; xào xạc xào xà xào xạc;…).
Đối với nhóm từ láy tượng thanh, đây là nhóm từ mang tính xã hội và phản ánhtâm lý, tư duy của cộng đồng người nói ngôn ngữ đó Do vậy, âm thanh của một đốitượng có thể khác nhau ở các ngôn ngữ khác nhau; tuy nhiên, từ tượng thanh vẫn cóthể hiểu được dễ dàng nhờ sự liên tưởng với âm thanh của người và vật trong thực
tế Còn đối với nhóm từ láy tượng hình, người thụ đắc có thể gặp khó khăn do nhómnày chịu sự chi phối của lối tư duy khác nhau của mỗi ngôn ngữ, do đó phải cần đếnvốn kiến thức nhất định về lối tư duy và từ vựng của ngôn ngữ bản địa để tiếp thu
b Đặc điểm ngữ pháp
Về đặc điểm ngữ pháp, đại đa số các từ láy giảm mức độ, tăng mức độ, mô
phỏng âm thanh hay hình dáng, trạng thái đều là các tính từ, nên chúng mang đầy
đủ những đặc điểm của một tính từ
(1) Về khả năng kết hợp: không dùng kèm các từ như hãy, đừng, chớ hoặc với một
số từ thường đi kèm với tính từ như rất, quá, lắm
(2) Về chức năng cú pháp: làm bổ ngữ cho danh từ hoặc động từ và làm vị ngữ trongcâu Tuy nhiên, một số từ tượng hình, tượng thanh là động từ đảm nhiệm nhiềuchức năng cú pháp; bên cạnh đó, chúng còn có khả năng làm vị ngữ, chủ ngữ,định ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ trong câu (Diệp Quang Ban, 2006, tr.105)
Trang 39CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP DANH TỪ ĐƠN VỊ
CHO HỌC VIÊN NƯỚC NGOÀI2.1 Một số lỗi học viên nước ngoài thường mắc phải khi học danh từ đơn vị
Sau khi xác định được danh từ đơn vị là nhóm từ gây khó khăn cho người họckhi học tiếng Việt, chúng tôi đã tiến hành xây dựng một số bài tập mẫu và yêu cầungười học thực hiện Thông qua việc phân tích số liệu khảo sát của 35/50 học viênlựa chọn danh từ đơn vị là nhóm từ khó, chúng tôi đã xác định được các lỗi sai mà
họ thường gặp phải khi học danh từ đơn vị như sau
2.1.1 Lỗi dùng thiếu danh từ đơn vị
Theo kết quả khảo sát, tỉ lệ học viên mắc lỗi dùng thiếu danh từ đơn vị chiếm60% (tương ứng với 21 người/35 người) Về lỗi sai này, chúng tôi đã cụ thể hóathành hai trường hợp
Trường hợp 1: Thiếu danh từ đơn vị sau nhóm từ chỉ lượng.
Thiếu danh từ đơn vị sau định từ
Học viên nước ngoài thường sử dụng các câu như sau:
1 Lịch sử Việt Nam là lịch sử về những chiến tranh.
2 Những dê này chạy nhảy và ăn lá.
3 Mỗi đường mang một tên gọi.
Ở ba ví dụ trên, nếu ta thêm các danh từ đơn vị như: “cuộc” (1); “con/đàn” (2);
“con” (4); vào ngay sau “những”, “mỗi” thì ba câu đó trở thành ba câu đúng Danh
từ ở các ví dụ trên khi đứng sau định từ: “những”, “các”, “mỗi”,… bắt buộc phải có
danh từ đơn vị; mặc dù có hiện tượng “nước đôi”, tức là có một số danh từ có thểkết hợp trực tiếp với định từ Như vậy, có thể thấy khi người học không dùng danh
từ đơn vị như trên thì quy tắc này bị vi phạm Vì sao lại như vậy? Theo chúng tôi,
có hai nguyên nhân đồng thời xuất hiện Nguyên nhân thứ nhất là người học sửdụng chiến lược giao tiếp, tức là không biết sử dụng danh từ đơn vị thì tốt nhất làkhông nên dùng danh từ đơn vị (điều này không ảnh hưởng đến thông tin giao tiếp).Nguyên nhân thứ hai là hiện tượng vượt tuyến, tức người học đã sử dụng tri thức vềnhững trường hợp danh từ không dùng danh từ đơn vị (không biệt loại, không cá thể
hoá) áp dụng sai phạm vi sử dụng, bởi nếu đã dùng “những”/“mỗi” trước những danh từ trên (chiến tranh, dê, đường) thì phải dùng danh từ đơn vị Như đã biết,
Trang 40trong khi học ngoại ngữ, nhiều khi có những trường hợp người học mắc lỗi “đanguyên nhân” rất khó phân biệt rạch ròi như Little Wood10 đã từng chỉ ra Trường
hợp thiếu danh từ đơn vị sau “những”/“mỗi” như vừa nêu trên đây là một ví dụ.
Có số từ nhưng thiếu danh từ đơn vị
Ở lỗi này, học viên nước ngoài thường sử dụng những câu như sau:
1 Tôi mua một sách.
2 Anh cần mấy sách?
3 Trước nhà của họ có một giếng.
Ở ba ví dụ trên, nếu ta thêm các danh từ đơn vị như: “quyển”/“cuốn” (1);
“quyển”/“cuốn” (2); “cái” (3) vào ngay sau các số từ thì ba câu trên sẽ trở thành
thành ba câu đúng
Nguyên nhân ở đây cũng có thể lý giải như ở trường hợp 1, tức là người học đã
sử dụng chiến lược giao tiếp và vượt tuyến để tạo ra những câu như trên
Trường hợp 2: Không biết dùng hoặc không dùng danh từ đơn vị.
Xét một ví dụ sau:
Khi mèo đó bị đánh, mèo đó không ăn cá nữa.
Câu đúng:
Khi con mèo đó bị đánh, con mèo đó không ăn cá nữa.
Người học đã không sử dụng danh từ đơn vị “con” trong khi muốn nói về một
con mèo cụ thể Như vậy, học viên này đã không phân biệt được ý nghĩa “cụ thể” và
“nói chung” theo cách gọi của những giáo viên dạy tiếng Việt cho người nướcngoài, “biệt loại” và “phi biệt loại” (theo cách gọi của Nguyễn Tài Cẩn11), “phânlập” và “không phân lập trong không gian” (theo cách gọi của Cao Xuân Hạo12) khikhông dùng loại từ này Chúng ta biết rằng khi không dùng danh từ đơn vị thì danh
từ “động vật” đó được dùng chỉ “loài chung” Ở trường hợp này, ta có thể loại trừ
hiện tượng học viên chưa học, chưa nhớ loại từ “con” Bởi vì một học viên nước
ngoài nào cũng có thể biết cái quy tắc khá cụ thể của những bài học tiếng Việt đầutiên là “con + danh từ động vật”, “cái + danh từ đồ vật” Tuy nhiên, cái khó lại là sự
10 Littlewood, W T (1989) Foreign and Second Language Learning: Language Acquisition Research and
Its Implication for the Classroom Cambridge & New York: Cambridge University Press.
11 Nguyễn Tài Cẩn (1977) Ngữ pháp tiếng Việt - Tiếng, Từ ghép, Đoản ngữ Hà Nội: NXB ĐH&THCN, 90.
12 Cao Xuân Hạo (1998) Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa Hà Nội: NXB Giáo dục,
277.