1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LỊCH SỬ TÂM LÝ HỌC ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM CỦA TRƯỜNG PHÁI TÂM LÝ HỌC NHẬN THỨC. VẬN DỤNG THỰC TIỄN QUAN ĐIỂM CỦA TÂM LÝ HỌC NHẬN THỨC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ CỦA TRẺ EM HIỆN NAY

19 314 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 364,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA TRƯỜNG PHÁI TÂM LÝ HỌC NHẬN THỨC 4 1.1.Khái niệm và lịch sử hình thành tâm lý học nhận thức 4 1.1.1.Khái niệm nhận thức 4 1.1.2.Vai trò của nhận thức 4 1.1.3. Sự hình thành và phát triển của tâm lý học nhận thức 5 1.1.4.Khái niệm tâm lý học nhận thức 6 1.2.Vị trí của Tâm lý học nhận thức 6 1.3. Những giả định cơ bản trong Tâm lý học nhận thức 7 1.4.Phương pháp tiếp cận nhận thức 7 1.5.Các lĩnh vực của nghiên cứu tâm lý học nhận thức 9 1.6.Ưu điểm và hạn chế của Tâm lý học nhận thức 12 1.6.1.Ưu điểm 12 1.6.2.Hạn chế 12 1.7.Đánh giá về trường phái tâm lý học nhận thức 13 CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG ÁP DỤNG THUYẾT PHÁT SINH NHẬN THỨC CỦA PIAGET TRONG GIÁO DỤC 14 2.1. Những vấn đề tâm lý trẻ em thường gặp phải ảnh hưởng đến phát triển trí tuệ 14 2.2. Áp dụng biện pháp tâm lý trong hỗ trợ giáo dục trí tuệ trẻ em 14 2.2.1. Giai đoạn cảm giác vận động (0 – 2 tuổi) 15 2.2.2. Giai đoạn tiền thao tác tư duy (2 – 7 tuổi) 15 2.2.3.Giai đoạn thao tác cụ thể (7 – 11 tuổi) 16 2.2.4.Giai đoạn thao tác chính thức (12 tuổi trở lên) 16 KẾT LUẬN 18

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI

KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

- -TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LỊCH SỬ TÂM LÝ HỌC

ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM CỦA TRƯỜNG PHÁI TÂM LÝ HỌC NHẬN THỨC VẬN DỤNG THỰC TIỄN QUAN ĐIỂM CỦA TÂM LÝ HỌC NHẬN THỨC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ CỦA TRẺ EM

HIỆN NAY

GV hướng dẫn: TS NGUYỄN THỊ HIỀN

Họ và tên: VŨ ĐÌNH NAM

Lớp niên chế : D15TL01

Mã SV :1115070045

Lớp học phần : D15TL_01

Trang 2

Hà Nội, tháng 7 năm 2021

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA TRƯỜNG PHÁI TÂM LÝ HỌC NHẬN THỨC 4

1.1.Khái niệm và lịch sử hình thành tâm lý học nhận thức 4

1.1.1.Khái niệm nhận thức 4

1.1.2.Vai trò của nhận thức 4

1.1.3 Sự hình thành và phát triển của tâm lý học nhận thức 5

1.1.4.Khái niệm tâm lý học nhận thức 6

1.2.Vị trí của Tâm lý học nhận thức 6

1.3 Những giả định cơ bản trong Tâm lý học nhận thức 7

1.4.Phương pháp tiếp cận nhận thức 7

1.5.Các lĩnh vực của nghiên cứu tâm lý học nhận thức 9

1.6.Ưu điểm và hạn chế của Tâm lý học nhận thức 12

1.6.1.Ưu điểm 12

1.6.2.Hạn chế 12

1.7.Đánh giá về trường phái tâm lý học nhận thức 13

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG ÁP DỤNG THUYẾT PHÁT SINH NHẬN THỨC CỦA PIAGET TRONG GIÁO DỤC 14

2.1 Những vấn đề tâm lý trẻ em thường gặp phải ảnh hưởng đến phát triển trí tuệ 14

2.2 Áp dụng biện pháp tâm lý trong hỗ trợ giáo dục trí tuệ trẻ em 14

2.2.1 Giai đoạn cảm giác vận động (0 – 2 tuổi) 15

2.2.2 Giai đoạn tiền thao tác tư duy (2 – 7 tuổi) 15

2.2.3.Giai đoạn thao tác cụ thể (7 – 11 tuổi) 16

2.2.4.Giai đoạn thao tác chính thức (12 tuổi trở lên) 16

KẾT LUẬN 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

MỞ ĐẦU

Con người là thực thể sống tồn tại, hoạt động trong thế giới khách quan, con người phải nhận thức, tỏ thái độ và hành động với thế giới ấy Nhận thức, tình cảm và hành động là ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người Trong quá trình hoạt động, con người phải nhận thức, thông qua hoạt động nhận thức, hiện thực xung quanh và hiện thực của bản thân được phản ánh, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động Tâm lý học nhận thức là một phân ngành của tâm lý học quan tâm đến những nghiên cứu khoa học về nhận thức Những vấn đề mà ngành khoa học này quan tâm: tri giác, chú ý, trí nhớ, giải quyết vấn đề, lập luận và ra quyết định, ngôn ngữ, trí thông minh, trí thông minh nhân tạo… Từ đó vận dụng những quy luật của hoạt động nhận thức vào quá trình nghiên cứu con người Thông qua quá trình tìm hiểu về tâm lý học nói chung và tâm lý học nhận thức nói riêng sinh viên cũng có khả năng nghiên cứu tiếp các lĩnh vực khác của các ngành khoa học có liên quan

Tâm lý học nhận thức ngoài là một trong những phân ngành tâm lý hiện đại, nó còn được áp dụng rất nhiều trong giáo dục trí tuệ, đặc biệt giáo dục với đối tượng là trẻ em( giai đoạn non nớt quyết định chủ chốt trong việc hình thành nền móng nhận thức của mỗi người) Với nhiều bậc phụ huynh, việc khuyến khích sự phát triển trí tuệ của trẻ là vấn đề được quan tâm hàng đầu Thật may, trẻ luôn háo hức học hỏi, ngay từ những thời khắc đầu tiên Do đó áp dụng khéo léo các biện pháp tâm lý vào mỗi tác động giáo dục với trẻ nhỏ sẽ tạo được hiệu quả giáo dục cao nhất và để trẻ em tiếp thu kiến thức tự nhiên và dễ dàng nhất, đặc biệt với những trẻ em có chướng ngại tâm lý

Chính vì những lý do ấy, em xin lựa chọn đề tài:” Quan điểm của trường phái tâm lý học nhận thức Vận dụng thực tiễn quan điểm của tâm lý học nhận thức trong sự phát triển trí tuệ của trẻ em hiện nay” làm chủ đề của bài tiểu luận này

Trang 4

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA TRƯỜNG PHÁI TÂM LÝ HỌC NHẬN THỨC

1.1.Khái niệm và lịch sử hình thành tâm lý học nhận thức

1.1.1.Khái niệm nhận thức

Theo từ điển triết học: Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắn liền cũng như không thể tách rời khỏi thực tiễn, nó phải là mục đích của thực tiễn, phải hướng tới chân lý khách quan[ CITATION MRo60 \l 1033 ]

Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người” Như vậy, nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (Nhận biết

là mức độ thấp, hiểu biết là mức độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất)[ CITATION Ngu01 \l 1033 ]

1.1.2.Vai trò của nhận thức

Con người hơn con vật là trước khi làm việc đã có nhận thức, đã xác định được mục đích hoạt động Như vậy, Nhận thức có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống và hoạt động của con người, Nhận thức là thành phần không thể thiếu trong sự phát triển của con người

Nhận thức là cơ sở để con người nhận biết thế giới và hiểu biết thế giới đó,

từ đó con người có thể tác động vào thế giới đó một cách phù hợp nhất, để đem lại hiệu quả cao nhất cho con người Xem xét quá trình phát triển một cá thể của con người, thì một đứa trẻ khi được sinh ra, nếu nó không nhận biết được thế giới khách quan, thì đứa trẻ đó sẽ không có hiểu biết và không có nhận thức Nhận biết đi từ đơn giản, nhận biết đi từ từng thuộc tính đơn lẻ bề ngoài của sự vật hiện tượng đến những cái phức tạp, những thuộc tính bản chất bên trong Khi đã quen thuộc con người tiếp tục nhận biết thêm về sự vật hiện tượng qua mỗi lần tiếp xúc Càng tiếp xúc với nhiều sự vật hiện tượng thì càng nhận biết được nhiều các thuộc tính khác nhau Sau đó, con người biết hợp nhất các thuộc tính đơn lẻ lại với nhau, thành một tổng thuộc tính chung của sự vật hiện tượng, xếp chúng vào thành một nhóm, tìm ra cái chung bản chất của một nhóm

sự vật hiện tượng Khi đó, Nhận thức của con người được mở rộng hơn, tiến lên một bước cao hơn và đã tạo ra những cấu tạo tâm lý mới Cũng khi đó, Nhận thức của con người đã đi đến tư duy trừu tượng, tư duy khái quát Như vậy, có thể khẳng định tâm lý người có bản chất xã hội – lịch sử Tóm lại, Nhận thức là

Trang 5

cơ sở, là nền tảng cho mọi sự hiểu biết của con người, nếu không có Nhận thức thì con người sẽ mãi mãi ở trạng thái của một đứa trẻ sơ sinh Nhờ có Nhận thức

mà con người mới có thể cải tạo được thế giới xung quanh và cao hơn nữa là con người có thể cải tại được chính bản thân mình, phục vụ được nhu cầu của chính mình[ CITATION Ngu10 \l 1033 ]

1.1.3 Sự hình thành và phát triển của tâm lý học nhận thức

Ngay từ thời xa xưa, vấn đề nhận thức, vấn đề học tập đã được quan tâm,

nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người Đến thế kỷ 17, lý luận về nhận thức mới dần dần được hình thành, một số tác giả như Đ Các, Căng…đã thấy được tầm quan trọng của nhận thức, từ đó từng bước hình thành nên lý luận Nhận thức

Đến thế kỷ 19 (1879), khi Wunt thành lập Phòng thực nghiệm Tâm lý đầu tiên trên thế giới, Ông đã có nghiên cứu, đo đạc trí nhớ, tư duy của con người, vì thế mà công trình nghiên cứu của ông là những công trình nghiên cứu đầu tiên

về Tâm lý học nhận thức

George A Miller, một trong những người sáng lập ra tâm lý học nhận thức,

là người tiên phong công nhận rằng tâm trí con người có thể được hiểu bằng cách sử dụng một mô hình xử lý thông tin

Những hiểu biết sâu sắc của ông đã giúp đưa nghiên cứu tâm lý học vượt ra ngoài các phương pháp hành vi đã thống trị lĩnh vực này trong suốt những năm

1950 Năm 1991, ông được trao tặng Huân chương Khoa học Quốc gia vì những đóng góp quan trọng của ông trong việc hiểu biết về tâm trí con người

Miller đã qua đời vào ngày 22 tháng 7 năm 2012, ông cũng là người đi đầu trong nghiên cứu về trí nhớ ngắn hạn và ngôn ngữ học Trong Bài phát biểu chính mà ông phát biểu tại Hội nghị thường niên APS đầu tiên năm 1989, Miller nói rằng ngôn ngữ phải là yếu tố then chốt của bất kỳ lý thuyết tâm lý học nào bởi vì nó là phương tiện làm cho các hiện tượng tâm lý riêng tư hoặc nội tâm có thể quan sát, đo lường được và công khai[ CITATION TôP211 \l 1033 ]

Việc định danh phân ngành này được diễn ra cùng với sự xuất hiện cuốn sách “Tâm lý học nhận thức” đầu tiên của U Neisser (1967), Tạp chí tâm lý học nhận thức cũng ra đời vào năm 1970 Đến những năm 60 của thế kỷ XX, khái niệm Nhận thức được sử dụng như một khái niệm chung để chỉ hầu hết các quá trình tâm lý học bao gồm; tri giác, tư duy, động cơ,… Tâm lý học nhận thức chỉ

là một phân ngành mới để nghiên cứu sâu hơn bản chất của hoạt động nhận thức với tư cách là chức năng tâm lý của con người Từ đó, có các tác giả cho ra đời

Trang 6

các tác phẩm như “Luật nhận thức” của Gestar và xây dựng nên các lý thuyết nhận thức Cho đến nay, chuyên ngành Tâm lý học nhận thức đã được giảng dạy trong các trường Đại học như một chuyên ngành độc lập[ CITATION Ngu10 \l

1033 ]

1.1.4.Khái niệm tâm lý học nhận thức

Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về tâm lý học nhận thức:

-Tâm lý học nhận thức khác với Tâm lý học đại cương là nó phân chia các hiện tượng tâm lý thành tư duy, tình cảm, mong muốn, là một phân ngành nghiên cứu quá trình nhận ra và hiểu biết (Vd: tri giác, tư duy, trí thông minh)

→ Đây là quan niệm hẹp, thu hẹp phạm vi của Tâm lý học nhận thức, mục đích

là để chống lại chủ nghĩa hành vi cũ và mới cho rằng có nhận thức trung gian bị chi phối bởi các kỳ vọng chứ không phải bởi sự củng cố trực tiếp Hiện nay, Tâm lý học nhận thức đang cố gắng giải thích quá trình xử lý thông tin và điều chỉnh hoạt động của con người dưới cơ sở của sự đánh giá và hiểu biết

-Tâm lý học nhận thức nghiên cứu các lĩnh vực giao thoa của tri giác, học tập và tư duy, nghiên cứu việc con người thu thập, biến đổi, tích luỹ và tái hiện tri thức, đồng thời đưa ra khái niệm về tâm lý học nhận thức, xác định đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học nhận thức

-Tâm lý học nhận thứclà khoa học nghiên cứu trí thông minh của con người

và quan hệ của nó với:

(1) Việc chú ý và thu thập thông tin về thế giới như thế nào?

(2) Việc thông tin đó được lưu giữ trong trí nhớ bởi não bộ ra sao?

(3) Việc sử dụng các hiểu biết đó như thế nào? để giải quyết vấn đề tư duy

và diễn đạt ngôn ngữ, chỉ rõ đối tượng nghiên cứu là trí thông minh, quan hệ giữa trí thông minh với việc tư duy và diễn đạt ngôn ngữ, tất cả đã góp phần chỉ

ra bản chất của hoạt động nhận thức

-Tâm lý học nhận thứcbao gồm một loạt những lĩnh vực của các quá trình tâm lý, từ cảm giác đến tri giác, thần kinh học, nhận biết các hình mẫu, chú ý, ý thức, học tập, cảm xúc và các quá trình phát triển[ CITATION Ngu10 \l 1033 ]

1.2.Vị trí của Tâm lý học nhận thức

Tâm lý học nhận thức là một bộ phận của khoa học nhận thức (Khoa học nhận thức là một xu hướng nghiên cứu được phát triển từ nhiều phân ngành khác nhau trong đó có Tâm lý học nhận thức) Nó có quan hệ chặt chẽ với Khoa học Thần kinh và Khoa học Máy tính

Trang 7

Con người nhận thức được là nhờ hoạt động thần kinh, hệ thần kinh lại được cấu tạo từ các Nơ ron (Nơ ron bao gồm thân và các tua, tua ngắn, tua dài, làm nhiệm vụ dẫn truyền các xung động thần kinh, đưa về trung ương thần kinh) Việc chế tạo máy tính dựa trên cơ sở nghiên cứu các nơ ron thần kinh Tóm lại, Tâm lý học nhận thức là một phân ngành của tâm lý học[ CITATION Ngu10 \l 1033 ]

1.3 Những giả định cơ bản trong Tâm lý học nhận thức

- Các quá trình trung gian xảy ra giữa kích thích và phản ứng:

Các nhà hành vi học bác bỏ ý tưởng nghiên cứu tâm trí vì các quá trình tinh thần bên trong không thể được quan sát và đo lường một cách khách quan

Tuy nhiên, các nhà tâm lý học nhận thức coi việc xem xét các quá trình tinh thần của một sinh vật là điều cần thiết và những tác động này ảnh hưởng đến hành vi như thế nào Thay vì các liên kết kích thích-phản ứng đơn giản như Behaviorism đề xuất, các quá trình trung gian của sinh vật rất quan trọng cần phải hiểu Nếu không có sự hiểu biết này, các nhà tâm lý học không thể có sự hiểu biết đầy đủ về hành vi

-Tâm lý học nên được xem như một môn khoa học: Các nhà tâm lý học nhận thức noi gương các nhà hành vi trong việc ưa thích các phương pháp khách quan, có kiểm soát, khoa học để điều tra hành vi Họ sử dụng kết quả điều tra làm cơ sở để đưa ra suy luận về các quá trình tâm thần

-Con người chính là một bộ xử lý thông tin cao cấp, đặc biệt: Quá trình xử

lý thông tin ở người tương tự như trong máy tính, và dựa trên việc chuyển đổi thông tin, lưu trữ thông tin và lấy thông tin từ bộ nhớ Các mô hình xử lý thông tin của các quá trình nhận thức (như trí nhớ và sự chú ý ) cho rằng các quá trình tinh thần tuân theo một trình tự rõ ràng[ CITATION TôP211 \l 1033 ]

Ví dụ:

+Quá trình đầu vào liên quan đến việc phân tích các kích thích

+Quá trình lưu trữ bao gồm tất cả mọi thứ xảy ra với các kích thích bên trong não và có thể bao gồm mã hóa + thao tác các kích thích

+Các quá trình đầu ra ó trách nhiệm chuẩn bị một phản ứng thích hợp với một tác nhân kích thích

Trang 8

1.4.Phương pháp tiếp cận nhận thức

Rất giống vật lý, các thí nghiệm và mô phỏng/mô hình hóa là những công

cụ nghiên cứu chính trong tâm lý học nhận thức Thông thường, các dự đoán của các mô hình được so sánh trực tiếp với hành vi của con người

Với sự dễ dàng tiếp cận và sử dụng rộng rãi các kỹ thuật hình ảnh não, tâm

lý học nhận thức đã chứng kiến ảnh hưởng ngày càng tăng của khoa học thần kinh nhận thức trong thập kỷ qua Hiện nay có ba cách tiếp cận chính trong tâm

lý học nhận thức là: Thực nghiệm, tính toán và thần kinh

-Tâm lý học nhận thức thực nghiệm coi tâm lý học nhận thức là một trong những khoa học tự nhiên và áp dụng các phương pháp thực nghiệm để khảo sát nhận thức của con người Các phản ứng tâm sinh lý, thời gian phản hồi và theo dõi mắt thường được đo lường trong tâm lý học nhận thức thực nghiệm

-Tâm lý học nhận thức tính toán phát triển các mô hình toán học và tính toán về nhận thức của con người dựa trên các biểu diễn ký hiệu và ký hiệu con,

và các hệ thống động lực học

-Tâm lý học nhận thức thần kinh sử dụng hình ảnh não (ví dụ: EEG, MEG, fMRI, PET, SPECT, Hình ảnh quang học) và các phương pháp sinh học thần kinh (ví dụ, bệnh nhân tổn thương) để hiểu cơ sở thần kinh của nhận thức con người

Cụ thể như sau:

-Giả định cơ bản

+Tâm lý học nhận thức là một môn khoa học thuần túy, chủ yếu dựa trên các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm

+Hành vi có thể được giải thích phần lớn theo cách thức hoạt động của tâm trí, tức là cách tiếp cận xử lý thông tin

+Tâm trí hoạt động theo cách tương tự như máy tính: nhập, lưu trữ và truy xuất dữ liệu

+Quá trình trung gian xảy ra giữa kích thích và phản ứng

-Các tính năng chính:

+Các quy trình hòa giải

+Xử lý thông tin

+Tương tự máy tính

Trang 9

+Nội tâm (Wundt)

+Nomothetic (nghiên cứu nhóm)

-Phương pháp luận/Nghiên cứu:

+Nghiên cứu điển hình (HM, KF)

+Thử nghiệm phòng thí nghiệm

+Quan sát (Piaget)

+Mô hình hóa máy tính

+Phỏng vấn (Kohlberg, Piaget)

1.5.Các lĩnh vực của nghiên cứu tâm lý học nhận thức

Theo truyền thống, tâm lý học nhận thức bao gồm nhận thức của con người, sự chú ý, học tập, trí nhớ, hình thành khái niệm, lý luận, phán đoán, ra quyết định, giải quyết vấn đề và xử lý ngôn ngữ Đối với một số người, các yếu

tố xã hội và văn hóa, cảm xúc, ý thức, nhận thức của động vật, các phương pháp tiếp cận tiến hóa cũng đã trở thành một phần của tâm lý học nhận thức

-Nhận thức

Những người nghiên cứu tri giác tìm cách hiểu cách chúng ta xây dựng các diễn giải chủ quan về thông tin gần từ môi trường Hệ thống tri giác bao gồm các giác quan riêng biệt (ví dụ: thị giác, thính giác, thính giác) và các môđun xử

lý (ví dụ: hình thức, chuyển động; Livingston & Hubel, 1988; Ungerleider & Mishkin, 1982; Julesz, 1971) và các mô-đun phụ (ví dụ: Lu & Sperling, 1995) đại diện cho các khía cạnh khác nhau của thông tin kích thích

Các nhà tâm lý học nhận thức đã nghiên cứu những đặc tính này theo kinh nghiệm bằng các phương pháp tâm sinh lý và hình ảnh não bộ Các mô hình tính toán, dựa trên các nguyên tắc sinh lý học, đã được phát triển cho nhiều hệ thống tri giác

-Chú ý

Sự chú ý giải quyết vấn đề quá tải thông tin trong các hệ thống xử lý nhận thức bằng cách chọn một số thông tin để xử lý thêm, hoặc bằng cách quản lý các tài nguyên được áp dụng cho một số nguồn thông tin đồng thời (Broadbent, 1957; Posner, 1980; Treisman, 1969)

- Học tập

Trang 10

Nghiên cứu về học tập bắt đầu bằng việc phân tích các hiện tượng học tập ở động vật (ví dụ: môi trường sống, điều hòavà học theo công cụ, dự phòng và kết hợp) và mở rộng sang việc học thông tin nhận thức hoặc khái niệm của con người (Kandel, 1976; Estes, 1969; Thompson, 1986)

Các nghiên cứu nhận thức về học tập ngầm nhấn mạnh ảnh hưởng chủ yếu

tự động của kinh nghiệm trước đó đối với hiệu suất và bản chất của kiến thức thủ tục (Roediger, 1990) Các nghiên cứu về học khái niệm nhấn mạnh bản chất của việc xử lý thông tin đến, vai trò của việc xây dựng và bản chất của biểu diễn được mã hóa (Craik, 2002)

Những người sử dụng nghiên cứu hình ảnh và tổn thương điều tra vai trò của bộ não cụ thể hệ thống (ví dụ: hệ thống thùy thái dương) cho một số lớp học theo từng giai đoạn nhất định và vai trò của hệ thống tri giác trong học tập ngầm (Tulving, Gordon Hayman, & MacDonald, 1991; Gabrieli, Fleischman, Keane, Reminger, & Morell, 1995; Grafton, Hazeltine, & Ivry, 1995)

-Trí nhớ

Nghiên cứu khả năng và sự mong manh của trí nhớ con người là một trong những khía cạnh phát triển nhất của tâm lý học nhận thức Nghiên cứu trí nhớ tập trung vào cách ký ức được thu nhận, lưu trữ và truy xuất Các miền bộ nhớ

đã được phân chia theo chức năng thành bộ nhớ cho các dữ kiện, cho các thủ tục hoặc kỹ năng, và khả năng làm việc + bộ nhớ ngắn hạn

Các phương pháp tiếp cận thử nghiệm đã xác định các loại bộ nhớ có thể phân ly (ví dụ: theo thủ tục và theo tập; Squire & Zola, 1996) hoặc các hệ thống

xử lý giới hạn dung lượng như bộ nhớ ngắn hạn hoặc bộ nhớ làm việc (Cowan, 1995; Dosher, 1999)

Các cách tiếp cận tính toán mô tả bộ nhớ như các mạng mệnh đề, hoặc như các biểu diễn ba chiều hoặc tổng hợp và các quá trình truy xuất (Anderson,

1996, Shiffrin & Steyvers, 1997) Các nghiên cứu hình ảnh não và tổn thương xác định các vùng não có thể tách rời hoạt động trong quá trình lưu trữ hoặc truy xuất từ các hệ thống xử lý riêng biệt (Gabrieli, 1998)

-Hình thành

Sự hình thành khái niệm đề cập đến khả năng tổ chức nhận thức và phân loại kinh nghiệm bằng cách xây dựng các phạm trù phù hợp về mặt chức năng Phản ứng đối với một kích thích cụ thể Khả năng học các khái niệm đã được chứng minh là phụ thuộc vào độ phức tạp của phạm trù trong không gian và bởi

Ngày đăng: 09/01/2022, 22:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w