MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA TRƯỜNG PHÁI TÂM LÝ HỌC HÀNH VI 2 1.1.Khái quát về tâm lý học hành vi 2 1.1.1.Tâm lý học hành vi là gì? 2 1.1.2.Lịch sử hình thành tâm lý học hành vi. 2 1.2.Sự phân hóa của Tâm lý học hành vi 3 1.3.Tâm lý học hành vi cổ điển 4 1.3.1. Những cương lĩnh đầu tiên của thuyết hành vi. 4 1.3.2. Hành vi và con người. 5 1.4. Chủ nghĩa hành vi mới 7 1.4.1. Lịch sử xuất hiện. 7 1.4.2. Lý thuyết của Tolman. 8 1.4.3. Hệ thống Hull. 9 1.4.4. Thuyết TOTE. 10 1.5.Thuyết hành vi xã hội và Tâm lý học hành vi tạo tác của Skinner 11 1.5.1. Tạo tác. 11 1.5.2. Các luận điểm chính của Skinner. 12 CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG TÂM LÝ HỌC HÀNH VI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 14 2.1. Đóng góp của tâm lý học hành vi 14 2.2.Ứng dụng trong giáo dục 14 2.3.Áp dụng tâm lý học hành vi trong kinh doanh 15
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
- -TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LỊCH SỬ TÂM LÝ HỌC
ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM CỦA TRƯỜNG PHÁI TÂM LÝ HỌC HÀNH VI VẬN DỤNG TÂM LÝ HỌC HÀNH VI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Giáo viên hướng dẫn: TS NGUYỄN THỊ HIỀN
Họ và tên sinh viên: CHU BÍCH LIÊN
Lớp niên chế: D15TL01
Mã SV: 1115070050
Lớp học phần: D15TL_01
Trang 2Hà Nội, tháng 7 năm 2021
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA TRƯỜNG PHÁI TÂM LÝ HỌC HÀNH VI 2
1.1.Khái quát về tâm lý học hành vi 2
1.1.1.Tâm lý học hành vi là gì? 2
1.1.2.Lịch sử hình thành tâm lý học hành vi 2
1.2.Sự phân hóa của Tâm lý học hành vi 3
1.3.Tâm lý học hành vi cổ điển 4
1.3.1 Những cương lĩnh đầu tiên của thuyết hành vi 4
1.3.2 Hành vi và con người 5
1.4 Chủ nghĩa hành vi mới 7
1.4.1 Lịch sử xuất hiện 7
1.4.2 Lý thuyết của Tolman 8
1.4.3 Hệ thống Hull 9
1.4.4 Thuyết TOTE 10
1.5.Thuyết hành vi xã hội và Tâm lý học hành vi tạo tác của Skinner 11
1.5.1 Tạo tác 11
1.5.2 Các luận điểm chính của Skinner 12
CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG TÂM LÝ HỌC HÀNH VI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 14
2.1 Đóng góp của tâm lý học hành vi 14
2.2.Ứng dụng trong giáo dục 14
2.3.Áp dụng tâm lý học hành vi trong kinh doanh 15
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3MỞ ĐẦU
Nghiên cứu lịch sử tâm lý học cho phép sinh viên đặt tâm lý học hiện đại trong viễn tượng lịch sử, hiểu về tâm lý học hiện đại đầy đủ hơn, nhận ra rằng những
gì thịnh hành trong tâm lý học thì thường được quyết định bởi các yếu tố xã hội
và tâm lý, thấy được các sai lầm của quá khứ để không lặp lại chúng một lần nữa, khám phá ra các ý tưởng có ích lợi tiềm tàng, thỏa mãn sự tò mò về một điều được coi là quan trọng.Tâm lý ngày càng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người hiện nay Những lý thuyết về tâm lý con người nói chung và ngành tâm lý học nói riêng trở nên thật bổ ích, bởi nó cung cấp cho chúng ta những nền tảng căn bản, cơ sở để hiểu được chính bản thân mình và hiểu được người khác một cách dễ dàng hơn Từ đó cuộc sống, các mối quan hệ xung quanh chúng ta trở nên thật dễ dàng, đơn giản mà không quá phức tạp như chúng ta vẫn nghĩ
Với trường phái tâm lý học hành vi, những nhà nghiên cứu sẽ tập trung tìm hiểu
và phân tích sự kích thích từ môi trường có tác động đến hành động/hành vi của con người như thế nào Các nhà tâm lý học hành vi tin rằng phản ứng của con người đối với kích thích từ môi trường chính là cái tạo nên hành vi, hành vi có thể được học tập một cách có hệ thống và được quan sát một cách rõ ràng từ bên ngoài, không đi sâu vào diễn biến tâm lý nội tâm Chính vì điều đó, hiện nay lý luận chuyên môn và các hiểu biết về tâm lý học hành vi được ứng dụng vào cuộc sống hiện đại trong rất nhiều lĩnh vực từ giáo dục đến phá án hay kinh doanh,…
Vì những lý do trên, em xin được lựa chọn đề tài:” Quan điểm của trường phái tâm lý học hành vi Vận dụng tâm lý học hành vi trong giai đoạn hiện nay” làm chủ đề của bài tiểu luận này
Trang 4CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA TRƯỜNG PHÁI TÂM LÝ HỌC HÀNH VI
1.1.Khái quát về tâm lý học hành vi
1.1.1.Tâm lý học hành vi là gì?
Tâm lý học hành vi (TLH hành vi) là bộ môn khoa học nghiên cứu sự tương tác giữa suy nghĩ, cảm xúc, nhận thức và hành vi con người Tâm lý học hành vi đôi khi được gọi là chủ nghĩa hành vi Các nhà hành vi học cổ điển còn định nghĩa nó là việc nghiên cứu về ảnh hưởng của não bộ lên hành vi Đây là lĩnh vực có cả nghiên cứu và ứng dụng lâm sàng
Về nghiên cứu, nó nghiên cứu về cách mà suy nghĩ, cảm xúc và niềm tin ảnh hưởng đến hành vi chúng ta Bên cạnh đó, chúng cũng có nghiên cứu cách hành
vi tác động đến nhận thức Về ứng dụng, nó cố gắng đề ra các giải pháp để sửa đổi hành vi có vấn đề và tìm đến những cách hành xử tích cực, lành mạnh hơn
1.1.2.Lịch sử hình thành tâm lý học hành vi.
Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hình thành hai xu hướng duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan đã tạo nên sự khủng hoảng trong tâm lý học thời
kỳ ấy Trước đòi hỏi của cuộc sống và sự vận động của bản thân khoa học, càng ngày ý đồ tiếp tục phát triển tâm lý học trong khuân khổ của tâm lý học duy tâm càng tỏ rõ sự thất bại
Chính vì thế, cần thiết tìm ra một con đường mới về nguyên tắc để xây dựng khoa học tâm lý Dựa trên quan điểm triết học thực chứng của Comte (1798 - 1857), chủ trương mọi lập luận phải được xây dựng trên cơ sở những chứng cứ khách quan, quan sát được, những thành tựu của các nhà sinh lý học thần kinh
và tâm lý học động vật J Watson (1878 – 1958) - một nhà tâm lý học người
Mỹ đã hình thành trường phái tâm lý học hành vi - một khoa học về hành vi John B Watson thường được coi là người sáng lập ra chủ nghĩa hành vi với việc ông xuất bản bài báo kinh điển “Tâm lý học với tư cách là quan điểm của người theo chủ nghĩa hành vi” vào năm 1913
Từ khoảng năm 1920 đến giữa những năm 1950, chủ nghĩa hành vi đã phát triển trở thành trường phái tư tưởng thống trị trong tâm lý học Một số ý kiến cho rằng sự phổ biến của tâm lý học hành vi xuất phát từ mong muốn thiết lập tâm
lý học như một khoa học khách quan và có thể đo lường được
Các nhà nghiên cứu có xu hướng duy vật trong tâm lý học đã đi theo con đường này Và nhờ có cuộc đấu tranh tích cực của Watson và những nhà hành vi mà
Trang 5hành vi đã trở thành đối tượng chủ yếu và duy nhất của tâm lý học, góp phần xứng đáng xây dựng tâm lý học khách quan
Tâm lí học hành vi, với những đại biểu xuất sắc là các nhà tâm lí học kiệt xuất: J Watson (1878 – 1958), E.Tolmen (1886 – 1959), E.L.Toocdai (1874 – 1949), B.Ph.Skinnơ (1904 – 1990)… Các nhà tâm lí học theo hướng tiếp cận hành vi phủ nhận việc nghiên cứu ý thức con người
1.2.Sự phân hóa của Tâm lý học hành vi
Năm 1913, tập san tâm lý học Mỹ in bài báo của Watson “Tâm lý học dưới con mắt nhà hành vi”, là phần đầu bài giảng của ông tại trường Đại học Colombia năm 1912, sự kiện này được coi như mốc hình thành tâm lý học hành vi Sự phát triển tiếp theo của hướng tiếp cận hành vi sau J Watson đã dẫn đến phân hoá trường phái tâm lí học này thành 3 nhánh:
1 Tâm lí học hành vi bảo thủ, trung thành với các luận điểm ban đầu, có tính cơ giới về hành vi trí tuệ con người của J Watson[ CITATION JWa13 \l 1033 ] (thuyết kích thích – phản ứng: S – R), đại biểu là Skinnơ
2 Tâm lí học hành vi mới, có ý đồ nghiên cứu cả các yếu tố trung gian của chủ thể trong sơ đồ S – R, yếu đố đó chính là quá trình nhận thức (thuyết S – S), đại biểu là E.Tolmen
3 Tâm lí học hành vi chủ quan (thuyết “TOTE” – chữ đầu của các từ tiếng Anh T: Test, O: Operate; T: Test, E: Exit, tức là thuyết thử - thao tác - thử - thoát ra) Đại diện thuyết TOTE là O Mille, Galanter, Pribram
1033 ]:
- Thứ nhất: nhân tố phát động 1 hành vi Thuyết hành vi cổ điển cho rằng các phản ứng bên ngoài là nhân tố phát động hành vi của con người và con vật Theo TOTE, nhân tố phát động hành vi của con người và con vật là quá trình ở trung ương thần kinh, trí nhớ, tâm thế, sự mong đợi…
- Thứ hai: kết quả học tập Thuyết (S – R) quan niệm kết quả học tập là kỹ xảo (trật tự nào đó của các cử động) Còn theo thuyết (S – S), kết quả học tập là “các cấu trúc nhận thức” (hay là sự phản ánh một tình huống nào đó)
- Thứ ba: phương pháp ứng xử Thuyết (S – R) cho rằng phương thức thích ứng
là “thử và sai”, còn theo thuyết (S – S), tính chất và thành công của các hành vi phụ thuộc vào cấu trúc của tình huống khách quan quy định Vì vậy, tổ chức
Trang 6(cấu trúc) tình huống quy định sự hoạt hoá của cá thể, nó quy định sự nắm bắt các quan hệ bản chất của tình huống Ngược lại, thuyết TOTE, đề cao hình ảnh,
kế hoạch của các phản ứng Nói các khác, theo TOTE, những kinh nghiệm, tri thức đã có về hành vi, sự chỉ dẫn quá trình tiến hành hành vi đó sẽ quy định chất lượng của hành vi ứng xử
1.3.Tâm lý học hành vi cổ điển
1.3.1 Những cương lĩnh đầu tiên của thuyết hành vi.
Những cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa hành vi do Watson xây dựng lên, sau đây là nội dung cụ thể[ CITATION JWa13 \l 1033 ] của những cương lĩnh ấy:
-Tâm lý học hành vi tuyên bố không quan tâm đến việc mô tả, giảng giải các trạng thái tâm lý của ý thức mà chỉ quan tâm đến hành vi của tồn tại người, đối tượng của tâm lý học hành vi là hành vi con người Hành vi được xem là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài
-Theo Watson có 4 loại hành vi: hành vi bên ngoài, hành vi bên trong, hành vi
tự động minh nhiên và hành vi tự động mặc nhiên Theo ông, mọi việc con người làm kể cả suy nghĩ đều thuộc một trong bốn loại hành vi này Nghiên cứu dùng các phương pháp khoa học khách quan, sử dụng phương pháp ghi chép các sự kiện kiểm soát được về quá trình cơ thể, thích nghi với môi trường
-Trong tâm lý học hành vi cổ điển, hành vi của động vật và người bị giản đơn hóa thành những cử động cơ thể Nhờ những cử động đó với tính cách là “một
cơ quan biết phản ứng” hay “một hệ thống vật lý” thích nghi với môi trường để đảm bảo sự sống còn Quan sát cũng như giảng giải hành vi đều phải tuân theo công thức S - R Trong đó S là kích thích, R là phản ứng Kích thích có thể là một tình huống tổng quát của môi trường hay một điều kiện bên trong nào đó của sinh vật, phản ứng là bất cứ cái gì mà sinh vật làm và nó bao gồm rất nhiều thứ
-Với công thức S - R, Watson [ CITATION JWa13 \l 1033 ]đã đặt cho thuyết hành vi mục đích cao cả là điều khiển hành vi động vật và con người Lấy nguyên tắc
"thử - sai" làm nguyên tắc khởi thuỷ điều khiển hành vi Hành vi chỉ là mối liên
hệ trực tiếp “cơ thể - môi trường”; theo đó, tâm lý, ý thức chẳng qua chỉ là những hiện tượng thừa Tâm lý học với tư cách là khoa học về khoa học về hành
vi có trách nhiệm vứt bỏ toàn bộ các thuật ngữ của tâm lý học cấu trúc và tâm lý học chức năng như ý thức, trạng thái và quá trình ý thức, lý trí và hình ảnh…
Trang 7Do lấy hành vi làm đối tượng nghiên cứu và dùng phương pháp khoa học tự nhiên, tâm lý học lần đầu tiên có dáng dấp tâm lý học khách quan
1.3.2 Hành vi và con người.
Nghiên cứu hành vi của con người, điều ấy có nghĩa là đưa cuộc sống của con người trở thành đối tượng của tâm lý học Chẳng cần phải nói, ai cũng có thể thấy hành vi là cái gì và nó tồn tại trong hiện thực một cách khách quan Nếu như trong tâm lý học truyền thống chỉ tìm hiểu nội quan thì tâm lý học hành vi lại là một bước tiến đáng kể, nghiên cứu nguồn gốc sinh ra “tâm hồn”, “hồn”,
“tâm lý” Khái niệm hành vi được xây dựng trên nền móng của sự chứng thực
có thể quan sát từ phía ngoài
Tâm lý (của cả người và con vật ) chỉ là các dạng hành vi khác nhau Hành vi là tập hợp các phản ứng ® của cơ thể đáp lại các kích thích từ môi trường bên ngoài (S) Nhiệm vụ của nhà tâm lí học là mô tả và lượng hoá các hành vi đó, đúng như nó diễn ra trong tình huống xác định Phương pháp của nhà tâm lí học
là quan sát khách quan và thực nghiệm các phản ứng của cơ thể khi có tác nhân kích thích, nhằm mục đích xác định tương quan giữa kích thích và phản ứng Chính sự quan sát đó chính là lập trường hiện thực của tâm lý học hành vi và toàn bộ cuộc sống của con người được xem như lịch sử của tính tích cực, từ đó hình thành khái niệm “dòng tính tích cực” Trong tâm lý học hành vi khái niệm này được ngầm hiểu là “dòng hành vi”, đó là toàn bộ hành vi do các trả lời đơn thuần đối lới các kích thích hợp lại
Hầu hết các thực nghiệm của trường phái hành vi được thực hiện trên động vật (chuột, chim bồ câu…), sau đó, các kết quả này [CITATION Pha01 \l 1033 ] được ứng dụng trên con người Cơ sở sinh lí thần kinh được quan tâm trong các thực nghiệm là phản xạ có điều kiện Cơ chế hình thành các hành vi là sự mò mẫm của chủ thể, theo nguyên tắc “thử và sai” qua nhiều lần, cho tới khi xác lập được các phản ứng phù hợp, luyện tập và củng có nó
Theo Watson, mọi phản ứng, hành vi được phân loại theo hai tiêu chí: đó là phải ứng tiếp thu hay di truyền; phản ứng bên trong hay phản ứng bên ngoài Kết quả
là trong hành vi được chia ra thành các phản ứng:
- Bên ngoài hay tiếp thu nhìn thấy được (chơi quần vợt, mở cửa…)
- Bên trong và tiếp thu nhưng ở dạng dấu kín (tư duy - mà thuyết hành vi gọi là ngôn ngữ bên ngoài)
Trang 8- Bên ngoài nhìn thấy được và di truyền (vỗ tay, hắt hơi… cũng như các phản ứng yêu thương, cáu giận…)
- Bên trong dấu kín và di truyền, là phản ứng các tuyến nội tiết Ông còn phân biệt giữa phản ứng bản năng (đưa tay ra với bắt…) và phản ứng cảm xúc (các kích thích có đặc điểm nội tâm, liên quan đến cơ thể chủ thể)
Theo các nhà tâm lí học hành vi, hành vi trí tuệ (của cả người và động vật) là các phản ứng có hiệu quả mà cá thể (chủ thể) học được, nhằm đáp lại các kích thích của môi trường sống trong các công trình của J Watson, hành vi trí tuệ được đồng nhất với ngôn ngữ bên trong Từ đó, ông chia tư duy thành 3 dạng:
- Thứ nhất, là các thói quen, kỹ xảo ngôn ngữ đơn giản (đọc 1 đoạn thơ hay đoạn văn mà không làm thay đổi trật tự từ)
- Thứ hai: giải quyết các nhiệm vụ tuy không mới, nhưng ít gặp và phải có hành
vi ngôn ngữ kèm theo ( nhớ lại một đoạn thơ hay một sự kiện đã thoảng qua trong kí ức)
- Thứ ba: giải quyết các nhiệm vụ mới; buộc cơ thể lâm vào hoàn cảnh phức tạp, đòi hỏi phải giải quyết bằng ngôn ngữ trước khi thực hiện một hành động
cụ thể
Watson phân biệt hành vi người không giống với hành vi động vật:
- Một là: khác biệt hoàn toàn bẩm sinh ở trong lĩnh vực sinh vật của con người
- Hai là: ngoài thế giới vật thể mà động vật cũng có, con người còn có thế giới
từ ngữ, cái có thể thay thế cho thế giới đồ vật tạm thời Chính vì thế mà thế giới kích thích của con người rộng lớn hơn nhiều Với Watson, ý nghĩ chẳng qua chỉ
là hoạt động của bộ máy ngôn ngữ
- Thứ ba: đó là con người là “tồn tại xã hội”, vì chỉ trong môi trường xã hội con người mới kích thích lẫn nhau làm ngôn ngữ nảy sinh và phát triển
Với Watson, chỉ có hành vi của tồn tại con người mới là đối tượng của thuyết hành vi Đối với nhà hành vi, ý thức là cái gì đó vu vơ, vô ích và nhà hành vi không được công nhận ý thức, đây chính là hạn chết lịch sử lớn nhất của thuyết hành vi Bời thực chất hành vi là biểu hiện của hoạt động, và do đó nó không tách rời ý thức
Theo tâm lý học hành vi, tâm lý học lấy hành vi, tức là mọi ứng xử và từ ngữ của con người, cả những cái di truyền lẫn những cái tự tạo làm đối tượng nghiên cứu Đây chính là việc nghiên cứu con người từ khi bào thai cho đến khi chết
Trang 9Hành vi được coi là mối liên hệ trực tiếp giữa kích thích và phản ứng đáp lại kích thích ấy Kích thích thuộc về thế giới tác động, còn hành vi là do cơ thể làm ra Watson định nghĩa con người là “tồn tại xã hội”, đó là cơ thể làm việc
và nói năng phải thích nghi với môi trường xung quanh; từ đó tạo ra một tổ hợp phản ứng phức tạp, tổ hợp lại thành các tập hợp phản ứng, và với các nhà hành
vi cổ điển thì các tập hợp ấy được thực hiện chung bởi hệ thống chung của các
kỹ xảo Chính vì thế mà Watson coi con người như là “một cơ thể phản ứng” hay là “một cái máy sinh học nghiêm túc”, “một cái máy hữu cơ nghiêm túc, sẵn sàng hoạt động”, đó là những duy vật máy móc về con người
Các nhà hành vi chủ nghĩa coi nhẹ tính tích cực của chủ thể, đề cao vai trò của kích thích bên ngoài trong việc tạo ra các phản ứng Vì vậy, nghiên cứu và điều khiển việc hình thành hành vi trí tuệ (cho cả động vật và con người) được quy
về việc nghiên cưu tạo ra môi trường các kích thích, được sắp xếp theo logic cho phép hình thành các phản ứng mong muốn, tức là quá trình “điều kiện hoá hành vi”
Watson phát biểu: “hãy cho tôi một tá trẻ em khỏe mạnh và bình thường và một ngôi trường chuyên biệt mà ở đó tôi có thể giáo dục chúng, thì tôi bảo đảm bất
kỳ một em nào trong đó cũng có thể trở thành bác sĩ, một luật gia, một nghệ sĩ, một cửa hàng trưởng, thậm chí nếu các bạn muốn, một người cục cằn hoặc một tên kẻ cắp không cần kể đến tài năng, xu hướng, chí hướng, nguyện vọng và dòng giống ông cha” Ông muốn thực hiện một trong những nhiệm vụ hàng đầu của tâm lý học là điều khiển hành vi con người sao cho thỏa mãn nhu cầu của xã hội Với Watson, “con người được xây dựng nên, chứ không phải tự sinh ra”
“Nhân cách là sự sáng tạo của con người, chứ không phải là so trời phú cho” Ngôn ngữ và tư duy chỉ là các dạng kỹ năng, cơ sở của kỹ năng là những cở động giản đơn hay còn gọi là bẩm sinh Kỹ xảo được giữ gìn trong trí nhớ
1.4 Chủ nghĩa hành vi mới
1.4.1 Lịch sử xuất hiện.
Các đại biểu xây dựng lên thuyết hành vi mới là E.Tolman (1886-1959), K.Hull (1884-1952) Thuyết hành vi mới ở chỗ, trong công thức S-R truyền thống, những nhà hành vi mới đưa thêm vào các biến số trung gian làm khâu gián tiếp dẫn đến các kích thích và phản ứng[CITATION Pha01 \l 1033 ]
Theo chủ nghĩa hành vi mới, năm 1922, trong “Công thức mới của thuyết hành vi” đã cho rằng “tâm lý học hành vi S-R” thuần túy của Watson chỉ là sinh lý học về hành vi, vì thế đã đề ra “thuyết hành vi không sinh lý học” và gọi nó là
Trang 10“thuyết hành vi mới” Năm 1929, báo cáo “giải thích phản xạ có điều kiện theo chức năng” của Hull đưa ra đã tạo thêm điều kiện thúc đẩy thuyết hành vi mới phát triển
Theo chủ nghĩa hành vi mới, các biến số trung gian hiểu theo tinh thần thuyết tạo tác, cụ thể là các kiến tạo lý luận có khả năng xác lập các quy luật chủ yếu của hành vi Chính nhờ các “kiến tạo lý luận”, “các yếu tố trung gian”, “các biến số can thiệp” và dùng các thuật ngữ của tâm lý học chủ quan mà có thể phân tích một cách khoa học các sự kiện thu thập được và giải thích chúng một các chính xác, nhờ vậy, theo các nhà hành vi mới đã định, có thể đưa thuyết hành vi ra khỏi tình trạng khủng hoảng[ CITATION KHu43 \l 1033 ]
1.4.2 Lý thuyết của Tolman.
Theo Tolman, thuyết hành vi cùng lúc có mấy tên gọi: thuyết hành vi tổng thể, thuyết hành vi có ý định, thuyết hành vi tạo tác Lý thuyết của Tolman là sự hỗn hợp của thuyết hành vi, thuyết Ghestan, thuyết tạo tác, thuyết ý định
Theo ông, hành vi của cơ thể là tổng hòa chứ không phải là từng trả lời của cơ thể Các cử động hành vi có cả các sự kiện vật lý và sinh học, cũng như những thuộc tính cá nhân của bản thân Hành vi là một động tác trọn vẹn có một loạt các thuộc tính: tính định hướng tới mục đích, tính dễ hiểu, tính linh hoạt, tính so sánh Tolman hình thành học thuyết về “các biến số trung gian” với tư cách là khâu trung gian can thiệp vào sơ đồ S-R Trong học thuyết này bao gồm toàn bộ thực chất của tâm lý học khách quan và hành vi chủ nghĩa
Hành vi theo Tolman là các cử động hành vi chứ không phải là những trả lời trực tiếp đối với các kích thích Hành vi đáp lại bao giờ cũng nhằm tới các khách thể chuyên biệt có lợi cho cơ thể, các khách thể này là mục đích của cơ thể Tolman gọi khả năng tiếp thu là khả năng định tính chủ ý, ông cho rằng có thể có tính chủ ý mà không có khả năng tiếp thu đi theo Tính chủ ý là một hiện tượng trong hành vi và là hiện tượng cơ bản hơn khả năng tiếp thu, tính chủ ý dường như là vốn tự có trong bản thân cơ thể Tolman phủ nhận tiêu chuẩn chủ quan ý định, tính chất chủ quan thể hiện ở chỗ thấy trước cử động cuối cùng Trong hệ thống của ông, cái gọi là tính tích cực chỉ là tính kiên trì đạt tới mục đích, và tính tích cực này được xem xét trong mối quan hệ nhân quả với khách thể - mục đích
Ông đưa ra hai loại biến số để làm cái quy định hành vi:
1 Các biến cố xa hay biến số khởi thủy: bao gồm các kích thích từ ngoại giới vào các trạng thái sinh lý ban đầu: Chế độ sử dụng(M); hình loại và dạng thức