Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam năm 1857 và được trồng ở Việt Nam từ năm 1888 (Nhạn và cộng sự, 1999). Người Pháp đã mang cây cà phê Arabica từ đảo Bourbon sang trồng ở phía Bắc Việt Nam sau đó mở rộng sang các vùng khác. Hầu hết cà phê được xuất khẩu sang Pháp dưới thương hiệu "Arabica du Tonkin". Đầu thế kỷ 20, cây cà phê được trồng ở một số đồn điền người Pháp tại Phủ Quỳ (Nghệ An) và một số nơi ở Tây Nguyên với diện tích không quá vài nghìn ha. Năm 1930, Việt Nam có khoảng 5900 ha cà phê (VICOFA, 2002). Trong thời kỳ những năm 1960-1970, cây cà phê được phát triển ở một số nông trường quốc doanh ở các tỉnh phía Bắc, khi cao nhất (1964-1966) đã đạt tới 13000 ha. Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, tổng diện tích cà phê Việt Nam có khoảng 20.000 ha. Nhờ vốn từ các Hiệp định hợp tác liên Chính phủ với các nước Liên Xô (cũ), CHDC Đức, Bungary, Tiệp Khắc và Ba Lan, cây cà phê bắt đầu được chú trọng đầu tư, đặc biệt ở các tỉnh Tây Nguyên. Năm 1980, Việt Nam xuất khẩu khoảng 6000 tấn cà phê với diện tích khoảng 23 nghìn ha. Bản kế hoạch ban đầu được xây dựng năm 1980 đặt mục tiêu cho ngành cà phê Việt Nam có khoảng 180 nghìn ha với sản lượng 200 nghìn tấn. Sau đó, bản kế hoạch này đã nhiều lần sửa đổi. Các con số cao nhất dừng lại ở mức 350 nghìn ha với sản lượng 450 nghìn tấn (VICOFA, 2002
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRUNG TÂM TƯ VẤN CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP
****************
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THỰC TIỄN SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO CHO SẢN XUẤT CÀ PHÊ
TỈNH ĐẮK LẮK
Nhóm nghiên cứu:
Trần Thị Quỳnh Chi1 Dave D’haeze2
Hà Nội, tháng 10/2005
1 Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
2 EDE Consulting for Coffee
Trang 2đã hỗ trợ kinh phí để triển khai nghiên cứu này.
Nhóm nghiên cứu xin cảm ơn TS Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Kinh tế Nông nghiệp đã gợi ý tưởng, đóng góp ý kiến nhận xét và hỗ trợ nhóm nghiên cứu hoàn tất báo cáo này Ngoài ra, cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp, Trung tâm Thông tin Chiến lược, Dự án MISPA và một số phòng ban khác trong Viện Kinh tế Nông nghiệp đã tạo điều kiện và đóng góp ý kiến cho nhóm nghiên cứu.
Báo cáo này cũng không thể hoàn thiện nếu thiếu sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của các chuyên gia thuộc văn phòng Công ty Tư vấn Châu Á, Thái Bình Dương - EDE; đặc biệt là TS Dave D’haeze.
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn Sở Nông nghiệp và PTNT Đắk Lắk, Trung tâm khuyến nông Tỉnh Đắk Lắk, Viện nghiên cứu khoa học nông nghiệp Tây Nguyên, Trạm Nghiên cứu đất Tây Nguyên, Phân viện Quy hoạch Nông nghiệp miền Trung, các Trung tâm khuyến nông huyện Krong Ana và CuMgar, lãnh đạo và nông dân hai huyện Krong Ana và CuMgar đã tham gia các cuộc họp chuyên gia, trả lời phỏng vấn của nhóm nghiên cứu.
Báo cáo này được hoàn thiện trong thời gian ngắn (6 tháng) và điều kiện kinh phí hạn hẹp, vì vậy không thể tránh được thiếu sót Nhóm nghiên cứu rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để tiếp tục hoàn thiện báo cáo này
Xin chân thành cảm ơn.
Trang 3ĐÁNH GIÁ VIỆC SỬ DỤNG NƯỚC, PHÂN BÓN VÀ THUỐC TRỪ SÂU TRONG SẢN XUẤT CÀ
PHÊ Ở TÌNH ĐẮC LẮC PHẦN I: GIỚI THIỆU
1 Lịch sử phát triển cây cà phê Robusta ở Việt Nam
Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam năm 1857 và được trồng ở Việt Nam từ năm
1888 (Nhạn và cộng sự, 1999) Người Pháp đã mang cây cà phê Arabica từ đảo Bourbon sang trồng ở phía Bắc Việt Nam sau đó mở rộng sang các vùng khác Hầu hết cà phê
được xuất khẩu sang Pháp dưới thương hiệu "Arabica du Tonkin" Đầu thế kỷ 20, cây cà
phê được trồng ở một số đồn điền người Pháp tại Phủ Quỳ (Nghệ An) và một số nơi ở Tây Nguyên với diện tích không quá vài nghìn ha Năm 1930, Việt Nam có khoảng 5900
ha cà phê (VICOFA, 2002) Trong thời kỳ những năm 1960-1970, cây cà phê được phát triển ở một số nông trường quốc doanh ở các tỉnh phía Bắc, khi cao nhất (1964-1966) đã đạt tới 13000 ha Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, tổng diện tích cà phê Việt Nam
có khoảng 20.000 ha Nhờ vốn từ các Hiệp định hợp tác liên Chính phủ với các nước Liên Xô (cũ), CHDC Đức, Bungary, Tiệp Khắc và Ba Lan, cây cà phê bắt đầu được chú trọng đầu tư, đặc biệt ở các tỉnh Tây Nguyên Năm 1980, Việt Nam xuất khẩu khoảng
6000 tấn cà phê với diện tích khoảng 23 nghìn ha Bản kế hoạch ban đầu được xây dựng năm 1980 đặt mục tiêu cho ngành cà phê Việt Nam có khoảng 180 nghìn ha với sản lượng 200 nghìn tấn Sau đó, bản kế hoạch này đã nhiều lần sửa đổi Các con số cao nhất dừng lại ở mức 350 nghìn ha với sản lượng 450 nghìn tấn (VICOFA, 2002)
Trong thời kỳ từ 1982 đến 1988, cà phê được trồng mới thêm khoảng vài chục nghìn ha Đến năm 1990, Việt Nam có khoảng 119300 ha Trong giai đoạn từ 1990 đến 1994, giá
cà phê thế giới ở mức rất thấp và diện tích cà phê Việt Nam không thay đổi nhiều, mỗi năm tăng khoảng 10 nghìn ha Năm 1994, tổng diện tích cà phê Việt Nam đạt 150.000 ha, vẫn chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn (1,32%) trong tổng diện tích các loại cây trồng của Việt Nam (ICARD & Oxfarm, 2002).
Năm 1994, khi sương muối ở Brazil phá huỷ phần lớn diện tích cà phê nước này đã làm cung thế giới giảm mạnh, giá thế giới tăng đột biến Giá tăng đã khuyến khích người trồng cà phê Việt Nam mở rộng diện tích trồng và tăng thâm canh cà phê Những người nghèo và đồng bào dân tộc ít người mở rộng diện tích cà phê bằng cách khai hoang, phá rừng
Diện tích trồng cà phê đã tăng lên nhanh hơn, bình quân 23,9%/năm, đưa tổng diện tích cây cà phê năm 2000 lên đến 516,7 nghìn ha, chiếm 4,14% tổng diện tích cây trồng của Việt Nam, đứng thứ ba chỉ sau hai loại cây lương thực chủ lực là lúa (chiếm 61,4%) và ngô (chiếm 5,7%) Trong thập kỷ 90 thế kỷ XX, sản lượng tăng lên trên 20%/năm (và các năm 1994, 1995, 1996 sản lượng tăng thậm chí còn cao hơn với tỷ lệ lần lượt là 48,5%, 45,8% và 33%) Năm 2000, Việt Nam có khoảng 520 nghìn ha cà phê, tổng sản lượng đạt
800 nghìn tấn Nếu so với năm 1980, diện tích cà phê của Việt Nam năm 2000 đã tăng gấp 23 lần và sản lượng tăng gấp 83 lần Mức sản lượng và diện tích vượt xa mọi kế hoạch trước đó và suy đoán của các chuyên gia trong nước và quốc tế Tăng trưởng cà
Trang 4phê Việt Nam trong quá khứ chủ yếu dựa trên tăng diện tích, đặc biệt là những năm đầu thập niên 90 Sau đó, tăng năng suất trở thành yếu tố chính đóng góp cho tăng trưởng sản lượng cà phê ở Việt Nam Tính chung cho cả giai đoạn 1994 - 2002, năng suất đóng góp khoảng 38% tốc độ tăng sản lượng và diện tích đóng góp khoảng 62%
Nghề trồng cà phê ở Việt Nam là một nguồn thu nhập cho một nhóm đông dân cư ở nông thôn, trung du và miền núi Cà phê đã tạo việc làm cho hơn 600 nghìn nông dân và số người có cuộc sống liên quan tới cà phê trên 1 triệu người Cà phê chiếm khoảng 8% giá trị sản lượng nông nghiệp khoảng 25% giá trị xuất khẩu nông nghiệp
Đắk Lắk là vùng trồng cà phê lớn nhất của Việt Nam, chủ yếu là cà phê vối với tổng diện tích năm 2004 đạt khoảng 160.000 ha Việc mở rộng diện tích trồng cà phê cũng chủ yếu diễn ra ở tỉnh này
Đăk Lăk là tỉnh lớn nhất Việt Nam nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên với tổng diện tích
tự nhiên khoảng 1,3 triệu ha bao gồm 422 nghìn ha đất nông nghiệp, chủ yếu là đất đỏ Bazan Khí hậu thời tiết vùng Tây Nguyên đã tạo cho Đăk Lăk điều kiện rất thích hợp để phát triển những loại cây công nghiệp có giá trị hàng hoá lớn như cà phê, cao su, hồ tiêu v.v Trong giai đoạn 1995 - 2000, cây cà phê là một cây công nghiệp đem lại nhiều lợi ích cho người dân nói riêng và cho cả tỉnh Đăk Lăk nói chung Do lợi nhuận trồng cà phê cao nên người dân đã giàu lên và có tới hàng chục vạn người từ 61 tỉnh thành Việt Nam đến Đăk Lăk để lập nghiệp, trong đó phần lớn là dân di cư tự do, mở rộng diện tích trồng cà phê (Sở NN&PTNT Đắk Lắk, 2002) Những người dân đi di cư tự do này đã gây ra biết bao khó khăn cho Đăk Lăk trong quản lý nhân hộ khẩu, an ninh trật tự và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Hàng ngàn vụ tranh chấp đất đai, hàng ngàn vụ vi phạm lâm luật đã xảy ra Nhiều trường học, cơ sở y tế quá tải.3
Do diện tích trồng cà phê tăng trưởng quá nhanh và nước tưới được xem là yếu tố sống còn cho cây cà phê nên các vườn trồng cà phê ở khu vực này đang phải đối mặt với những dấu hiệu đáng báo động của việc khan hiếm nước tưới cũng như mực nước ngầm (D’haeze, 1999; Ha, 2002) Trong mùa khô, khi cây cà phê đến giai đoạn trổ hoa và ra quả, mỗi ha cà phê cần tới 1500-3000 m³ nước (Luu, 2002; Bau, L.N., 1984)
Mặt khác, phân hoá học và thuốc trừ sâu dường như cũng đã được sử dụng quá mức quy định (D’haeze, 1999) Do đất bazal ở Đắk Lắk rất xốp nên các chất dinh dưỡng dễ thẩm thấu xuống nước ngầm, ảnh hưởng đến nước sinh hoạt và về lâu dài có thể ảnh hưởng đến việc nuôi trồng tôm ở vùng đồng bằng Ngoài ra, giá đầu vào (phân bón và nhiên liệu) cũng đang ngày càng tăng trong thời gian gần đây Việc sử dụng quá mức những yếu tố đầu vào này do đó không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn ảnh hưởng đến kinh tế của hộ gia đình
3 Mục tiêu của nghiên cứu
Mục tiêu tổng thể
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm phân tích thực trạng sử dụng các nguồn lực dành cho sản xuất cà phê hiện nay ở hai huyện trồng cà phê điển hình của tỉnh Đắk Lắk Từ đó, nghiên cứu sẽ xác định những tác động của việc sử dụng nguồn lực này đến môi trường
và kinh tế các hộ điều tra.
Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu nhằm đạt được một số mục tiêu cụ thể như sau:
3
Trang 51 Đánh giá và giải thích việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất cà phê hiện nay ở hai huyện Cu M’gar và Krong Ana thuộc tỉnh Đắk Lắk.
2 So sánh và giải thích việc sử dụng các yếu tố đầu vào này với các tiêu chuẩn địa phương do các viện nghiên cứu và trung tâm khuyến nông đưa ra.
3 Đánh giá tác động môi trường và kinh tế của việc sử dụng các nguồn lực nước, phân bón và thuốc trừ sâu hiện nay
4 Đưa ra các đề xuất và kiến nghị cho nông dân và hệ thống khuyến nông.
4 Kết cấu bài viết
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, trong phần giới thiệu chung bài viết trước hết
sẽ giới thiệu qua về lịch sử phát triển của cây cà phê Vối ở Việt Nam, giới thiệu tóm tắt
về các nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực này, trên cơ sở đó nêu ra những lý do phải tiến hành nghiên cứu này Phần này cũng nêu ra các mục tiêu nghiên cứu chung và cụ thể
và đặc biệt nhấn mạnh đến những phương pháp nghiên cứu thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp thông qua phỏng vấn thực địa và tổ chức hội thảo chuyên gia.
Trong phần thứ hai, tác giả sẽ mô tả kết quả điều tra để thấy rõ thực trạng sử dụng ba yếu
tố đầu vào chính (nước, phân bón và thuốc trừ sâu) cho sản xuất cà phê ở các vùng điều tra.
Trong phần thứ ba, bài viết sẽ phân tích các tác động của việc sử dụng những yếu tố này đến môi trường và kinh tế nông hộ.
Cuối cùng, bài viết sẽ đề xuất ra một số khuyến nghị về việc sử dụng tối ưu nguồn lực cho hai đối tượng chính: nông dân và hệ thống khuyến nông.
5 Hạn chế của nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một nghiên cứu nhỏ bị hạn chế về thời gian và nguồn lực, nhóm tác giả chỉ lựa chọn 80 hộ trong 2 huyện điển hình về sử dụng các nguồn lực cho sản xuất cà phê ở Đắk Lắk để thấy được hiện trạng sử dụng hiện nay Ngoài ra, nghiên cứu cũng không có tham vọng phân tích một cách rất cụ thể về mặt kỹ thuật các tác động của việc
sử dụng này đến môi trường Nhóm tác giả chỉ có thể dựa trên sự so sánh giữa thực trạng
sử dụng và các khuyến nghị về việc sử dụng các nguồn lực này của các cơ quan khuyến nông, các Viện nghiên cứu trong vùng và cả những nghiên cứu ngoài nước
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Biện pháp thu thập số liệu
a Thu thập các thông tin, số liệu thứ cấp: chủ yếu là các kết quả nghiên cứu trước đây về các biện pháp kỹ thuật mà các đơn vị nghiên cứu trong và ngoài nước triển khai về việc
sử dụng các nguồn đầu vào chính trong sản xuất cà phê Nguồn thông tin chủ yếu là qua internet, thu viện và các Viện, tổ chức nghiên cứu Ngoài ra, tác giả cũng thu thập những
tờ rơi giới thiệu kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cà phê của hệ thống khuyến nông tại tỉnh Đắk Lắk.
b Thu thập số liệu sơ cấp
Lựa chọn địa điểm nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 2 huyện điển hình của tỉnh đắk Lắk, tỉnh sản xuất cà phê vối lớn nhất của Việt nam Đó là 2 huyện Krong Ana và CưMgar Năm 2004, tổng diện tích trồng cà phê của tỉnh đạt khoảng 160.000 ha Trong đó, diện tích trồng cà phê của 2 huyện đạt 52339 ha, chiếm 54% tổng diện tích nông nghiệp của hai huyện.
Trang 6Hai huyện và 4 xã được lựa chọn điều tra bắt đầu trồng cà phê từ thập kỷ 60 của thế kỷ 20 từnhiều giống cà phê khác nhau do người Pháp đem vào Quy mô vườn trồng cà phê lúc đókhoảng 10-20 ha, do các nông trường quốc doanh quản lý Sau năm 1975, cà phê ở khu vực nàykhông được đầu tư phát triển.
Cho đến tận năm 1980, trong một số vùng thuộc huyện Krong Ana, đặc biệt là hai xã điều tra EaTieu and Ea Ktul, các công ty liên doanh Việt - Đức đã được thiết lập và năm 1991 được đổithành Tổng công ty cà phê Việt Nam, đầu tư phát triển mạnh cà phê ở vùng này Cà phê ởCuMgar phát triển chậm hơn Krong Ana
Cách lấy mẫu điều tra hộ
Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 80 hộ
nông dân thuộc 4 xã, 2 huyện, mỗi
xã 20 hộ Việc lựa chọn dựa trên
tình hình thu nhập của hộ (trong đó
phân ra nhóm hộ giàu, hộ nghèo và
hộ trung bình)
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng có
tính đến vấn đề dân tộc, cố gắng lựa
chọn một số hộ dân tộc thiểu số để
đưa vào nghiên cứu (số hộ dân tộc
thiểu số chiếm 6,25% tổng số mẫu
nghiên cứu) Khả năng tiếp cận với
các nguồn lực tự nhiên khác nhau cũng là một tiêu chí được sử dụng để lựa chọn hộ Chẳng hạn như, nhóm điều tra đã lựa chọn cả các nhóm hộ tiếp cận rất dễ với nguồn nước, do vậy không bị ảnh hưởng nhiều của tình trạng hạn hán và cả các nhóm hộ gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn nước và do vậy bị ảnh hưởng rất lớn của hạn hán năm 2004.
Nội dung bảng hỏi hộ nông dân
Nhóm nghiên cứu đã tập trung vào một số nội dung chính trong khi lập bảng hỏi điều tra
hộ như sau:
- Các đặc điểm của hộ: tâp trung vào các đặc điểm của chủ hộ như tên, giới tính, dân tộc, quê gốc, trình độ học vấn, nghề nghiệp trước đây Ngoài ra, bảng hỏi cũng lấy thêm các thông tin về tổng số thành viên trong gia đình, số lượng người trưởng thành và tổng số thành viên là nông dân Những thông tin này sẽ cho biết số lượng lao động trong gia đình được huy động vào các sản xuất nông nghiệp, có thể sử dụng để đối chứng với các thông tin được cung cấp trong các phần sau về ngày công lao động trong sản xuất cà phê Trong phần này, tình trạng hộ giàu, nghèo, trung bình cũng được đề cập đến theo đánh giá định tính của chính chủ hộ, của người đi điều tra và cán bộ địa phương Thông tin này sau đó
sẽ được so sánh với tổng thu nhập của hộ gia đình do nhóm nghiên cứu tính toán để thấy
rõ tình trạng của hộ Thông tin về tình trạng thu nhập của hộ là rất quan trọng để đánh giá mức độ sử dụng các nguồn lực của hộ trong những điều kiện kinh tế khác nhau.
- Tình hình sử dụng đất:
Bảng hỏi tập trung trước hết vào các thông tin chung về tổng diện tích đất nông nghiệp, đất trồng cà phê trong các mảnh khác nhau Ngoài thông tin về diện tích, phần này cũng
đề cập đến các loại đất, đá mẹ, độ dốc khác nhau trong từng mảnh ruộng Những thông
Biểu đồ 1: Phân loại hộ điều tra (%)
Trung bình
Nghèo Giàu
Trang 7tin về sản lượng cà phê trong 3 năm, thu nhập của hộ trong 3 năm và tổng ngày công lao động vụ 2003-04 theo từng công đoạn chăm sóc khác nhau (có so sánh với năm 2002-03) cũng được thu thập ở đây nhằm có một bức tranh chung về tình hình sản xuất cà phê Mặt khác những thông tin về thu nhập và chi phí lao động cũng giúp nhóm nghiên cứu phân tích được tác động của việc sử dụng các nguồn lực đến kinh tế hộ gia đình.
- Thông tin về thực trạng sử dụng nước (chỉ tập trung vào 1 mảnh ruộng chính):
Phần này đề cập đến các thông tin chung như phương pháp tưới, nguồn nước, số lượng tưới, chu kỳ tưới Các câu hỏi giành riêng cho phương pháp tưới phun mưa và phương pháp tưới gốc và các thông tin về nguồn nước cụ thể (thuỷ lợi, giếng ), các loại công cụ
sử dụng trong tưới nước cũng được nêu ra để tính lượng và chi phí về nước sử dụng thực
tế trong sản xuất cà phê của vụ Ngoài ra, phần này cũng nêu ra các câu hỏi định tính như
có đủ nước tưới không, việc thiếu nước tưới có ảnh hưởng như thế nào đến cây cà phê và khó khăn trong việc tưới nước.
- Thông tin về việc sử dụng phân bón: phần này tập trung vào các thông tin như số lượng bón trong mỗi lần bón, thời gian bón phân, giá phân bón cho các loại phân khác nhau Lượng phân bón của các loại cũng được so sánh với mức của năm 2002 Các thông tin về việc chuyên chở phân bón cũng được để cập đến để thấy được tổng chi phí bón phân của các hộ nông dân.
- Thông tin về việc sử dụng thuốc trừ sâu: loại thuốc, nhãn hiệu, số lượng phun, thời gian phun và giá thuốc là những thông tin định lượng chính trong bảng hỏi về thuốc trừ sâu Những thông tin về số lượng phun thuốc cũng được so sánh với năm 2002 Các thông tin
về biện pháp sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh tổng hợp, biện pháp chuyên chở và dự trữ thuốc trừ sâu cũng được đề cập đến nhằm có bức tranh tổng thể về các biện pháp phòng trừ sâu bệnh và tổng chi phí cho việc sử dụng thuốc trừ sâu.
- Thông tin về dịch vụ khuyến nông: các thông tin chung về dịch vụ khuyến nông tổng thể, dịch vụ khuyến nông cho từng loại đầu vào sản xuất cà phê đều được đề cập đến trong phần này với những nội dung chính tập trung vào số lần sử dụng trong năm và chi phí sử dụng cho từng nguồn thông tin khuyến nông khác nhau Phần này cũng nêu ra các câu hỏi định tính như mong đợi của hộ về dịch vụ khuyến nông, đường truyền thông tin khuyến nông ở địa phương
- Câu hỏi mở: một số câu hỏi mở được đề cập ở đây là việc xây dựng kế hoạch chi tiêu cho các đầu vào sản xuất cà phê, mức giá hoà vốn trong sản xuất cả phê vối, và việc sử dụng các nguồn đầu vào này có ảnh hưởng như thế nào đến môi trường xung quanh Những thông tin này được thu thập để biết được đánh giá của hộ nông dân đối với tác động của việc sử dụng đầu vào đến môi trường và kinh tế hộ Trên cơ sở đó có thể so sánh với các số liệu định lượng đã lấy được trong các phần trên và ý kiến của chuyên gia
về vấn đề này.
Nội dung họp chuyên gia
Ngoài các bảng hỏi phỏng vấn hộ, nhóm nghiên cứu cũng tổ chức các cuộc họp chuyên gia Các cuộc họp chuyên gia với các trung tâm khuyến nông tỉnh và 2 huyện phỏng vấn Nội dung của các cuộc họp này tập trung vào: (i) cơ cấu tổ chức, trình độ cán bộ của trung tâm; (ii) những thông tin chung về việc chuyển giao kỹ thuật trồng và chăm sóc cà phê: kênh nhận thông tin, kênh chuyển giao, đối tượng chuyển giao, hình thức chuyển giao, chi phí chuyển giao ; (iii) các thông tin cụ thể về kỹ thuật sử dụng phân bón (loại phân, thời gian bón cho từng loại đât, tuổi cây, năng suất khác nhau); kỹ thuật sử dụng
Trang 8thuốc trừ sâu (phương thức phun, thời gian phun cho các loại bệnh và năng suất khác nhau, kỹ thuật sử dụng phương pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp); kỹ thuật tưới nước Nhóm nghiên cứu cũng tổ chức họp chuyên gia với các Viện nghiên cứu như Viện Khoa học Kỹ thuật Tây nguyên, Trạm Nghiên cứu đất thuộc Viện Nông hoá Thổ nhưỡng Các câu hỏi tập trung vào những lĩnh vực sau: (i) cơ cấu tổ chức, trình độ cán bộ, mạng lưới chuyển giao công nghệ của đơn vị; (ii) các thông tin về chuyển giao công nghệ: phương thức chuyển giao, loại thông tin chuyển giao, tần suất chuyển giao, đối tượng chuyển giao, mối quan hệ với các trung tâm khuyến nông; (iii) các thông tin cụ thể kỹ thuật như
tỉ lệ lấy chất dinh dưỡng của cà phê Vối ở Tây nguyên, tỉ lệ chất dinh dưỡng thấm xuống đất ở các điều kiện đất, tuổi cây, năng suất khác nhau
d Thảo luận về các vật tư/tài liệu sử dụng lấy từ bên ngoài (số liệu tham khảo của WASI, NISF, AEC + nêu rõ độ chính xác của số liệu)
6.2 Các biện pháp phân tích số liệu
a Bản đồ sử dụng, nêu rõ tỷ lệ và hệ phóng + nguồn cung cấp bản đồ (tham khảo + ngày)
b Các biện pháp phân tích thống kê (kiểm trình giá trị “t”, biểu đồ định tính, phân tích tương quan, phân tích phương sai ANOVA một chiều).
- Biện pháp kiểm định giá trị “t”, bao gồm hai biện pháp sau:
+ Kiểm định giá trị “t” một đuôi: được sử dụng để so sánh xem có sự khác biệt giữa giá trị trung bình của mẫu so với giá trị trung bình đã biết của tổng thể Chẳng hạn như có thể kiểm định xem lượng nước sử dụng trung bình cho cà phê ở huyện Krong Ana có khác mức nước do Viện Khoa học Nông nghiệp Tây Nguyên (WASI) khuyến cáo hay không + Kiểm định giá trị “t” hai đuôi: phương pháp này được sử dụng để kiệm định sự khác biệt giữa hai giá trị trung bình của hai nhóm mẫu thu thập Chẳng hạn như có thể kiểm định lượng thuốc trừ sâu sử dụng cho huyện Krong Ana có khác huyện CưMgar hay không.
- Biện pháp phân tích phương sai ANOVA
Phương pháp được sử dụng để so sánh giá trị trung bình của 3 nhóm mẫu độc lập trở lên Chúng ta có thể kiểm định xem có sự khác biệt về thống kê của lượng nước sử dụng ở 4
xã Nếu sắc xuất p value lớn hơn 0,05 thì chúng ta chấp nhận giả thiết Ho, tức là không
có sự khác biệt về lượng nước sử dụng cho trồng cà phê ở 4 xã nghiên cứu
- Phân tích tương quan (Correlation analysis).
Phương pháp này dùng để phân tích mối quan hệ giữa hai biến Chẳng hạn như chúng ta
có thể xem xét mối quan hệ giữa tổng thu nhập của hộ và tổng chi phí cho các đầu vào sản xuất cà phê Mối quan hệ này có thể là dương hoặc âm tuỳ theo từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Ở đây chúng ta có thể sử dụng phương pháp kiểm định Pearson Giá trị Pearson sẽ chạy trong khoảng -1 đến +1 Nếu giá trị Pearson = -1, mối tương quan là nghịch hoàn toàn Nếu giá trị Pearson = +1, mối tương quan là thuận hoàn toàn
Trang 9PHẦN II: THỰC TIỄN SỬ DỤNG CÁC NGUỒN LỰC NƯỚC, PHÂN BÓN VÀ THUỐC TRỪ
SÂU CHO SẢN XUẤT CÀ PHÊ ĐẮK LẮK
1 Mô tả nông hộ
Tại hai huyện điều tra, phần lớn chủ hộ là nam giới, chiếm khoảng 84% tổng số hộ, chỉ có 16% là
nữ giới Trong đó, huyện Krong Ana chỉ có 77% chủ hộ là nam trong khi ở huyện CuMgar, con sốnày lên tới 90%
Độ tuổi trung bình của chủ hộ được phỏng vấn là khoảng 45 tuổi 96% nằm trong độ tuổi laođộng (nam từ 16 đến 60, nữ từ 16 đến 55) Điều này cho thấy hai huyện điều tra đều có tiềmnăng lao động cho sản xuất nông nghiệp
Độ tuổi phân bố khác biệt đôi chút theo huyện và theo giới Chủ hộ là nam giới có độ tuổi trungbình 45 trong khi nữ giới là 43 Độ tuổi trung bình chủ hộ ở hai huyện Krong Ana và CuMgar là
43,5 và 46 (xem hình 2 và 3) Tính theo nhóm thu nhập, độ tuổi trung bình của hộ thu nhập cao,trung bình và thấp lần lượt là 46,44 và 47
Trong số các hộ được phỏng vấn, có tới 91% nhập cư từ nơi khác đến, chủ yếu từ miền Trung(Nghệ An, 32%; Quảng Ngãi, 18%, Hà Tĩnh,
14%) Chỉ có huyện Krong Ana là có hộ dân
địa phương chính gốc, chiếm khoảng 18%
tổng số hộ trong huyện Trong khi đó, ở
CuMgar, tất cả các hộ điều tra đều là dân
nhập cư Tính trung bình, các hộ nhập cư
cách đây khoảng 25 năm, đủ dài để định cư
Số thành viên trung bình trong các hộ khu vực
điều tra là 5 người/hộ, với 3,4 là người trưởng thành Ở hai huyện Krông Ana và CuMgar, sốthành viên trung bình mỗi hộ lần lượt là 4,5 và
5,4 người, số người trưởng thành là 3 và 3,8
người và trẻ em dưới 16 tuổi là 1,5 và 1,6
người Điều này cho thấy lực lượng lao động
khá dồi dào ở vùng điều tra Tuy nhiên, nguồn
lao động trong khu vực còn phụ thuộc vào số
người trưởng thành còn lại trong gia đình
tham gia vào hoạt động nông nghiệp Mặc dù
100% số người được phỏng vấn cho biết
Biểu đồ 2: Độ tuổi trung bình chủ hộ phân
theo giới
Nam Nữ
Biểu đồ 3: Độ tuổi trung bình chủ hộ phân theo huyện
Krong Ana, 43
CuMgar, 46
Biểu đồ 4: Số thành viên trung bình của hộ
và số người trưởng thành phân theo huyện
0.0 1.0 2.0 3.0 4.0 5.0 6.0
Krong Ana CuMgar
Mean adults Mean members
Biểu đồ 5: Số lượng hộ phân theo nhóm
20 30 40 50
Poor Medium
Trang 10trước đây họ tham gia vào sản xuất nông nghiệp nhưng chỉ có 2,4 trong số 5 thành viên hiện nay
là nông dân Điều tra cũng cho thấy, rất nhiều người trưởng thành (đặc biệt là thanh niên) đã rathành phố lớn làm việc và học tập chứ không ở nhà làm nông nghiệp Chỉ có lúc thu hoạch khiquá hiếm lao động hoặc chi phí sản xuất quá cao, một số người có thể trở về giúp đỡ gia đình.Khi phân loại hộ theo nhóm, rất khó để có thể thống nhất các tiêu chí phân hộ giàu, nghèo vàtrung bình Nên ban đầu, nghiên cứu chỉ dựa vào quan sát của người điều tra, chính quyền địaphương và nong dân để xác định nhóm hộ Theo cách phân biệt này, hầu hết các hộ ở đây đềuthuộc nhóm hộ trung bình, chiếm 80% trong khi hộ giàu và hộ nghèo chỉ chiếm lần lượt 11 và9% Tất cả các hộ dân tộc thiểu số đều thuộc nhóm hộ trung bình Tuy nhiên, do tiêu chí phânloại không rõ ràng nên trong quá trình phân tích, nhóm nghiên cứu đã chia số hộ điều tra thành 3nhóm dựa vào thu nhập hàng năm của hộ lấy từ kết quả phỏng vấn, đó là nhóm thu nhập thấp,trung bình và cao Số lượng hộ trong mỗi nhóm và thu nhập trung bình của hộ được trình bàytrong bảng sau
Bảng 1: Thu nhập trung bình của 3 nhóm hộ (000 đ)
Biến số
Số quan
GT trung bình Độ lệch chuẩn Min Max
Trình độ giáo dục của các hộ điều tra khá thấp Có tới 55% số hộ mới tốt nghiệp cấp II và 30%tốt nghiệp cấp I Chỉ có 10% tốt nghiệp cấp III và 1% có bằng đại học Không có ai tốt nghiệp từcao học trở lên Trình độ giáo dục cũng khác biệt giữa các huyện Krong Ana có trình độ giao dụccao hơn CuMgar với 1 người tốt nghiệp đại học, 1 người có bằng cao đẳng và 7 người tốt nghiệpcâp III Trong khi đó, 62,5% số người điều tra ở CuMgar chỉ tốt nghiệp trường cấp II và 3,7% tốtnghiệp cấp I Người Kinh (với 59% tốt nghiệp cấp II và không có ai mù chữ) có xu hướng họccao hơn người dân tộc Edê (với 20% người mù chữ và chỉ có 40% tốt nghiệp cấp II) Phụ nữ cótrình độ giáo dục cao hơn nam giới chút ít với 55 và 58% nam giới và nữ giới có bằng cấp II và 9
và 15% tốt nghiệp trung học
2 Tình hình sử dụng đất
Diện tích đất trung bình trên 1 hộ ở hai huyện điều tra khoảng 1,45 ha, trong đó 1,15 ha dành chosản xuất cà phê, chiếm 79%
Trang 11Tình hình sử dụng đất có khác biệt rõ rệt ở hai huyện Ở Krong Ana, hầu hết đất được giành chosản xuất cà phê trong khi ở CuMar, chỉ có 68% tổng diện tích đất nông nghiệp giành cho sảnxuất cà phê, cho thấy xu hướng đa dạng hoá cao hơn ở huyện CuMgar Có tới 96% số hộ ở đâyđều đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tình hình sử đụng đất giữa các nhóm hộ cũng khác nhau Biểu đồ 8 cho thấy hộ có thu nhậpcàng cao thì càng có xu hướng dành ít đất hơn cho sản xuất cà phê Trong khi đó, nhóm hộ thunhập thấp nhất lại giành toàn bộ đất cho sản xuất cà phê, con số này của nhóm hộ trung bình và
hộ giàu là 79% và 74% Mức độ tương quan giữa đa dạng hoá và thu nhập của hộ sẽ đượcchứng minh bằng thống kê trong phần phân tích cụ thể về thu nhập sau) Diện tích đất của nhómngười Kinh (1,5 ha tổng diện tích đất NN/hộ và 1 ha cho cà phê) có xu hướng cao hơn nhóm dântộc (0,5 ha/hộ)
Tổng diện tích đất trung bình/hộ là 1,45 ha, chia thành 1,7 mảnh, tương đương với 0,85ha/mảnh Quy mô đất cà phê cao hơn chút ít 0,875 ha/mảnh
Đất nông nghiệp ở huyện Krong Ana manh mún hơn huyện CuMgar Như đã đề cập ở trên, hầuhết đất ở Krong Ana dành cho sản xuất cà phê, với diện tích trung bình 0,74 ha/mảnh ỞCuMgar, quy mô đất trồng cà phê là 1 ha/mảnh và quy mô đất nông nghiệp là 0,93 ha/mảnh.Diện tích đất của các nhóm thu nhập cũng khác nhau Nhóm thu nhập thấp có quy mô đất nhỏ,0,6ha/mảnh QUy mô đất nông nghiệp và đất trồng cà phê của hộ trung bình là 0,75 và 0,77ha/mảnh, so với quy mô rất cao của hộ thu nhập cao lần lượt là 1,37 và 1,5 ha/mảnh Điều nàyphản ánh xu hướng tập trung đất của nhóm thu nhập cao
Tính trung bình, cây cà phê được trồng khoảng 16 năm ở 2 huyện, với cây lâu năm nhất là 25năm và non nhất là 6 năm Tuổi cây cà phê ở huyện Krong Ana cao gấp 1,2 lần huyện CuMgar.Như vậy, cà phê ở các hộ điều tra đều đã trưởng thành và già, trồng chủ yếu trên đất đỏ bazal
Biểu đồ 7: Tổng diện tích đất tự nhiên và đất trồng cà phê phân theo (ha/mảnh)
0 2 4 6 8 10 12
KrongAna CuMgar
Đất NN Đất cà phê
Biểu đồ 6: Tổng diện tích đất nông nghiệp và đất
trồng cà phê phân theo loại hộ (ha/mảnh)
Trang 123 Thu nhập và chi phí Khác với xu thế tăng sản lượng cà phê liên tục từ giữa thậm kỷ 90 đến năm 2002, kể từ năm
2003 sản xuất cà phê có xu hướng
giảm Có một số nguyên nhân dẫn đến
tình trạng trên Trước hết, khi giá cà
phê liên tục giảm từ năm 1998 xuống
mức thấp kỷ lục năm 2002, đầu tư vào
sản xuất cà phê do đó cũng giảm liên
tục Thứ hai, chính sách của chính phủ
cũng khuyến khích giảm diện tích trồng
cà phê ở những khu vực không thuận
lợi xuống khoảng 450.000 ha trồng cà
phê cả nước, điều này cũng khiến sản
lượng cà phê giảm theo
Chính vì vậy sản lượng cà phê năm
2004 ở những vùng này đã giảm 14% so với năm 2003 Năm 2005 sản lượng cà phê ước tínhđạt bằng năm 2004 (2.8 tấn/hộ) Tuy thời tiết khô hanh trong năm 2005 có ảnh hưởng tới nhiềutrang trại trồng cà phê, song sản lượng ước tính năm 2005 của vùng điều tra có thể sẽ ngangbằng với năm 2004 do khu vực này có nhiều hộ sinh sống gần nguồn nước, hoặc có nguồn nướctưới ổn định từ hệ thống nước tưới tiêu công cộng
Nếu phân theo huyện, năng suất cà phê trung bình 3 năm của Krong Ana cao hơn CuMgar, đặcbiệt là năm 2003 năng suất cà phê của Krong Ana cao gấp 1,3 lần so với CuMgar Tuy nhiên, dodiện tích đất trồng cà phê trung bình năm 2004 của CuMgar (1,3ha/hộ) cao hơn Krong Ana (1ha/hộ) tổng sản lượng cà phê bình quân hộ của CuMgar vì thế cùng cao hơn so với Krong Ana(3,14 tấn so với 2,95 tấn)
Năng suất cà phê không có sự khác biệt nhiều giữa hộ giàu và hộ trung bình Tuy nhiên, do diệntích đất trồng cà phê năm 2004 của nhóm hộ giàu cao hơn rất nhiều so với nhóm hộ nghèo (gấp
4 lần) và nhóm hộ trung bình (gấp 2,3 lần) nên tổng sản lượng cà phê bình quân của hộ giàu caogấp 4,6 lần so với hộ nghèo và 2,1 lần so với hộ trung bình Năng suất cà phê của hộ nghèo rấtthấp, chỉ đạt 2 tấn/ha Nguyên nhân chính là do mức đầu tư vào cây cà phê của hộ nghèo giảmtrước tín hiệu giá cà phê sụt giảm vào cuối thập niên 90
Biểu đồ 9: Sản lượng cà phê (tấn/hộ)
2.5 2.6 2.7 2.8 2.9 3.0 3.1 3.2
SL 03 SL 04 SL 05
Biểu đồ 11: Năng suất cà phê phân theo huyện (tấn/ha)
0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5 4
KrongAna CuM gar
NS 03
NS 04
NS 05Biểu đồ 10: Năng suất cà phê phân theo loại hộ
Trang 13Thu nhập
Bảng 2: Tổng thu nhập năm 2003-2004 từ các nguồn khác nhau
Nhìn chung, tổng thu nhập bình quân hộ năm 2004 có cao hơn chút ít so với năm 2003 (chênhlệch khoảng 1,4 triệu VNĐ) Cơ cấu tổng thu nhập không khác nhau nhiều trong hai năm 2003 và
2004 Thu nhập từ sản xuất cà phê chiếm gần 80% tổng thu nhập trong cả hai năm Chăn nuôi
và trồng trọt cũng là những nguồn thu nhập quan trọng, chiếm khoảng 8% tổng thu
Bảng 3: Nguồn thu nhập phân theo huyện
trong 2 huyện Ở huyện CuMgar,
tổng thu nhập hộ trong năm 2004
cao gấp 1,12 lần so với năm 2003,
trong khi ở huyện Krong Ana con số
này có thấp hơn đôi chút so với
năm 2003 Sự khác biệt chủ yếu ở
thu nhập từ sản xuất cà phê Thu
nhập từ sản xuất cà phê của
CuMgar tăng hơn 2% trong năm
2003-2004 trong khi ở Krong Ana lại
bị giảm mất gần 2%
Năm 2003, tổng thu nhập hộ ở
huyện CuMgar cao gấp 1,24 lần so
với huyện Krong Ana, trong khi đó
Cà phê Cây LT Chăn nuôi Cây khác Phi NN
Krong Ana CuMgar
Trang 14con số này của năm 2004 là 1,52 lần Thông tin chi tiết về nguồn thu nhập năm 2004 sẽ đượcphân tích cụ thể ở phần dưới đây
Phân tích chuyên sâu về các nguồn thu nhập cho thấy cây cà phê vẫn là nguồn thu nhập chính
Tỷ trọng cà phê trong tổng thu nhập năm 2004 của Krong Ana cao hơn CuMgar 18% Điều nàycho thấy sự phụ thuộc rất nhiều của Krong Ana vào sản xuất cà phê, mặc dù sự phụ thuộc này
đã giảm dần từ 92,3% năm 2003 xuống còn 90,6% năm 2004
Tuy nhiên, giá trị tuyệt đối của cây cà phê trong tổng thu nhập huyện CuMgar lại cao gấp 1,22 lần
so với huyện Krong Ana Điều này cho thầy CuMgar có xu hướng đa dạng hóa thu nhập cao hơnKrong Ana Có thể thấy rõ xu hướng này trong Biểu đồ 11 Thu nhập từ chăn nuôi và trồng trọtcủa huyện CuMgar chiếm 22.2% năm 2003 và 24% năm 2004, trong khi đó thu nhập từ câylương thực và các loại cây màu khác ở huyện Krong Ana chỉ là con số không, còn thu nhập từchăn nuôi thì vẫn còn rất khiêm tốn (lần lượt là 3,4% và 4,6% trong năm 2003 và 2004) Đâycũng là một trong những nguyên nhân giải thích tại sao tổng thu nhập của CuMgar lớn hơnKrong Ana
Cà phê vẫn là nguồn thu nhập
chính trong các nhóm thu nhập
Đóng góp của cà phê trong tổng
thu nhập của nhóm hộ nghèo và
hộ trung bình cao hơn so với
giàu con số này khá cao, đạt
15% Thu nhập từ chăn nuôi của
hộ nghèo chiếm tới 10% tổng thu
nhập Điều này cho thấy nhóm hộ
giàu có xu hướng đa dạng hoá
thu nhập hơn hai nhóm còn lại
Điều này được giải thích rõ ràng
qua bảng phân tích tương quan giữa tổng thu nhập năm 2004 với tỷ trọng diện tích đất trồng càphê và tổng diện tích đất nông nghiệp của hộ Kết qủa cho thấy có sự tương quan nghịch giữahai biến này, với mức ý nghĩa 99% (kiểm định 2 đuôi) và hệ sô biến -0.52, nghĩa là hộ càng giàuthì mô hình sử dụng đất nông nghiệp của hộ càng được đa dạng hóa
Bảng 4: Tương quan giữa tỉ lệ đất cà phê/đất NN với thu nhập hộ
** Tương quan có ý nghĩa ở mức 0.01 (2 đuôi)
Biểu đồ 13: Phân loại thu nhập năm 2004 theo nhóm thu nhập
Cà phê
Trang 15Theo một cuộc điều tra do SDC_MISPA tiến hành vào năm 2003, chi phí sản xuất bình quân vàokhoảng 8.020 đ/kg, có cao hơn đôi chút so với năm 2004, mặc dù giá phân bón và xăng dầutrong năm 2004 cao hơn năm 2003 (Xem Bảng 6) Sở dĩ như vậy là do cuộc điều tra năm 2003không tính đến chi phí về đất đai, khấu hao đất đai, vay vốn, thuế sử dụng đất Do vậy khó có thể
so sánh nếu sử dụng các phương pháp tính toán khác nhau
Bảng 6: Đơn giá các loại phân bón năm 2004 Loại phân bón Đơn giá (d/kg)
Trang 16Loại khác 4433
Trong trường hợp sử dụng lao động gia đình, tổng chi phí lớn hơn rất nhiều Với biện pháp tướiphun, chi phí là 8.642 đ/kg trong khi với biện pháp tưới gốc chi phí là 8.026 đ/kg Sự khác biệtgiữa hai trường hợp này cho thấy lao động gia đình cũng là một nguồn quan trọng Lao động giađình sử dụng để làm cỏ, bảo dưỡng bồn tưới, tỉa thưa, thu hoạch và vận chuyển cũng chiếm tỷ lệđáng kể Chi phí lao động gia đình cao nhất là trong tỉa thưa, vận chuyển và thu hoạch, lần lượtchiếm 57%, 55% và 50% tổng chi phí nhân công Kế đến là chi phí về làm cỏ và bảo dưỡng bồntưới cây (lần lượt là 47% và 42%)
Bảng 7: Chi phí sản xuất cà phê (có sử dụng lao động gia đình)
Chi phí (000 đ/tấn)
Tưới phun (%) Tưới gốc (%)
sử dụng lao động gia đình, ở mức 136 đ/kg Qua so sánh ở trên có thể thấy rằng sự khác biệt vềchi phí nhân công giữa Krong Ana và CuMgar khi áp dụng biện pháp tưới phun cao hơn so vớikhi áp dụng biện pháp tưới gốc
Bảng 8: Chi phí sản xuất cà phê không sử dụng lao động gia đình phân theo
huyện (000 đ/tấn)
Không sử dụng lao động gia đình Có sử dụng lao động gia đình Krong Ana CuMgar Krong Ana CuMgar
Trang 171.1 Thực tiễn tưới nước của các hộ điều tra
Nông dân trồng cà phê Đắk Lắk thường sử dụng hai biện pháp tưới nước chính là tưới gốc
và tưới phun mưa
tưới phun mưa là biện pháp được áp dụng rộng rãi nhất ở các nước trồng cà phê do rất dễhoạt động ở những địa hình núi không bằng phẳng Biện pháp này cũng cho hiệu quả cao do
có khả năng tưới nước đều trên các ngọn cây Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất của biện phápnày là chi phí đầu tư thiết bị rất tốn kém (trị giá của một hệ thống hoàn thiện la fkhoảng 1200USD/ha cà phê), có nguy cơ bị mất nhiều nước, đặc biệt là trong điều kiện gió mạnh, tốnnhiên liệu do áp lực bơm phải rất khoẻ) (Bau& Hien, 2005)
Ngoài ra, người trồng cà phê cũng áp dụng biện pháp tưới gốc Biện pháp này có những ưuđiểm sau:
-Đầu tư ban đầu thấp
-Không hao hụt nhiều nước nếu tưới đúng cách
-Không tốn nhiều nhiên liệu do không cần áp lực bơm quá khoẻ
-Không bị nhiều hao hụt do bay hơi vì nước được tưới trực tiếp vào hệ thống rễ
Biện pháp này cũng có một số nhược điểm như sau:
-Đòi hỏi chi phí nhân cộng lớn để vận hành và chăm sóc bồn
-Hầu hết các nước sản xuất cà phê đều không muốn dùng biện pháp này bởi vì việc xây bồn xung quanh từng cây cà phê có thể gây hại đến hệ thống rễ (Bau& Hien, 2005)
Tuy nhiên, có tới 85 % số hộ điều tra áp dụng phương pháp tưới gốc, chỉ có 15% áp dụngphương pháp tưới phun Tất cả các hộ dân tộc đều áp dụng phương pháp tưới gốc, chỉ cóngười Kinh áp dụng phương pháp tưới phun
Số hộ áp dụng biện pháp tưới gốc ở hai huyện không khác nhau nhiều (82 % và 88 % số hộ
ở Krong Ana và CuMgar) Lý do khiến cho Krong Ana sử dụng phương pháp tưới phun nhiềuhơn là vì nhiều hộ nông dân ở đây ký hợp đồng sản xuất cà phê với các nông trường quốcdoanh nên được hỗ trợ chi phí đầu tư trang thiết bị và hướng dẫn phương pháp tưới nước Tuy nhiên, rất khó có thể rút ra kết luận do số lượng các hộ dùng biện pháp tưới phun mưarất ít Chỉ có thể đưa ra kết luận mang tính xu hướng Điều này có thể thấy rõ phân bổ số hộ
áp dụng các biện pháp tưới khác nhau theo các nhóm trong bảng sau
Bảng 9: Số hộ sử dụng các biện pháp tưới khác nhau trong năm 2004
Dân tộc
Trang 18E-đê 5Huyện
nhập trung bình áp dụng biện pháp tưới
phun nhiều hơn hai nhóm còn lại tới 22%
Mặc dù tỉ lệ hộ thu nhập cao áp dụng
phương pháp tưới phun ít hơn nhóm có
thu nhập thấp và trung bình nhưng đó
cũng chỉ là xu hướng như đã trình bày ở
trên, số hộ áp dụng biện pháp tưới phun
hạn chế
Các hộ điều tra sử dụng các nguồn nước
khác nhau: nguồn nước mặt (bồn chứa
nước, công trình thuỷ lợi), và nước ngầm
(giếng đào và giếng khoan) Có tới 88 % số
hộ dùng nước ngầm (65% giếng đào và
23% giếng khoan) Chỉ có 1,2% số hộ dùng
nước từ bồn chứa gần đó và 10% sử dụng
nước của các công trình thuỷ lợi Nguồn
nước cũng được chia thành nước công
cộng và tư nhân Hầu hết số hộ đều sử
dụng nguồn nước tư nhân (chiếm 85%) Chỉ
có 15% số họ sử dụng các công trình thuỷ
lợi hoặc nguồn nước công cộng do nhà
nước đầu tư
Biểu đồ 15: Tỷ lệ % số hộ áp dụng các biện pháp tưới khác nhau
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
Nghèo Trung bình Giàu
Tưới phun Tưới gốc
Biểu đồ 16: Tỷ lệ % số hộ sử dụng các nguồn nước khác nhau
0 10 20 30 40 50 60 70
Bồn chứaHT thuỷ lợi Giếng Giếng
khoan
Biểu đồ 17: % hộ gia đình áp dụng các lần tưới
20 30 40 50 60
70
2003 2004
Trang 19Các hộ gia đình điều tra tưới khá nhiều lần trong
Phân tích phân bổ lượng mưa theo tháng chothấy đối với sản xuất cà phê, năm 2004 là nămkhó khăn hơn nhiều do vào những tháng đầu năm
và cuối năm khi bắt đầu mùa sản xuất cà phê, ởĐắk Lắk hầu như không có mưa, gây hạn hán lớn,làm giảm khả năng nở hoa của cây cà phê
Theo chuyên gia cà phê, nhìn vào biểu đồ phân bổ lượng mưa của hai năm này, nông dânnên tưới khoảng 2-3 lần vào giữa tháng 1 để kích thích hoa nở khoảng 70-80% và lần thứ
hai vào tháng 2 để kích thích hoa nở nốt 20% cònlại Đến tháng 3 và tháng 4, ở Đắk Lắk đã bắt đầu
có mưa, đủ để quả phát triển Tuy nhiên, trên thực
tế hầu hết các hộ đều tưới từ 4 lần trở lên, gây lãngphí nước nghiêm trọng
Các nhóm thu nhập áp dụng số lần tưới khác nhau
Nhóm thu nhập cao chỉ tưới 3-4 lần trong năm 2004
Trong số những hộ tưới 3 lần trong năm 2004,nhóm thu nhập cao chiếm tơi 58% so với 23 và 19%
của nhóm thunhập thấp vàtrung bình Phântích độ tươngquan cũng chothấy tương quanchặt chẽ giữa thu nhập và số lần tưới, với độ tin cậy tới99% và (Pearson R = -0.317; p < 0.01) Nhóm thu nhậpthấp tưới nhiều hơn hai nhóm kia rất nhiều, thậm chí cótrường hợp tưới đến 7 lần trong năm 2004
Lượng nước
Tại hai huyện điều tra, hộ nông dân tưới trung bình 820 lít/
cây/lần đối với biện pháp tưới gốc và 630 lít/cây/lần đốivới biện pháp tưới phun Thực tế này có vẻ như trái ngược với bản chất của biện pháp tớiphun là tốn nhiều nước hơn biện pháp tưới gốc Nhưng trên thực tế, lượng nước tưới cònphụ thuộc vào nhận thức của hộ nông dân, lượng nước sẵn có và hỗ trợ của các dịch vụkhuyến nông Như đã đề cập ở trên, phần lớn các hộ sử dụng biện pháp tưới phun ở KrongAna được hỗ trợ kỹ thuật của các nông trường quốc doanh nên họ áp dụng hiệu quả hơnCuMgar
Bảng 11: Lượng nước trung bình áp dụng phương pháp tưới khác nhau
Bảng 10: Tương quan giữa số lần tưới trong năm
2004 và nhóm thu nhập
Quintiles Irri_times04 Income
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
2003 2004
Biểu đồ 19: % hộ gia đình áp dụng các lần tưới nước năm 2004
0 10 20 30 40 50 60 70 80
3 l?n 4 l?n 5 l?n 7 l?n
Nghèo TB Giàu
Biểu đô 18: Biều đồ phân bổ lượng mưa tại Đắk Lắk
Trang 20sát bình số
Lượng nước/cây-tưới gốc (m3) 68 0.82 0.31 0.48 1.45Lượng nước/năm-tưới gốc (lít/ha) 68 3195 797 2123 5324Lượng nước/năm - tưới phun
Lượng nước/cây-tưới phun (m3) 12 0.63 0.15 0.38 0.98
Khoảng cách giữa lượng nước tối thiểu và tối đa/cây của hai biện pháp này cũng khác nhau.Đối với các hộ dùng biện pháp tưới gốc, lượng tối thiểu là 480 lít/cây/lần tưới và lượng tối đa
là 1450 lít/cây/lần tưới Đối với hộ dùng biện pháp tưới phun mưa, số liệu này là từ 380 đến
980 lít/lần tưới/cây Như vậy qua số liệu mô tả có thể thấy biện pháp phun mưa dường nhưhiệu quả hơn với lượng nước sử dụng ít hơn và khoảng cách giữa các hộ không lớn như các
hộ dùng biện pháp tưới gốc
Lượng nước tưới hàng năm cho biện pháp tưới gốc là 3195.5 m3l/ha/year, lớn hơn nhiều sovới hộ dùng biện pháp tưới phun mưa (2812 m3/ha/year) Tuy nhiên, độ giao động về lượngnước sử dụng hàng năm của hộ dùng biện pháp phun mưa (1140 m3-6,480 m3) cao hơnbiện pháp tưới gốc (2122.5 m3-5324 m3)
Bảng sau cho thấy sự khác biệt lượng nước sử dụng giữa các biện pháp tưới và giữa haihuyện Đối với những hộ dùng biện pháp tưới gốc, lượng nước/cây tại Krong Ana thấp hơnrất nhiều so với CuMgar (654 và 959 lít/cây/lần tưới) Tình hình tương tự cũng diễn ra đối vớicác hộ dùng biện pháp phun mưa nhưng độ chênh lệch thấp hơn giữa hai huyện (610 và 654lít/cây) Lượng nước hàng năm mà các hộ áp dụng hai biện pháp này ở Krong Âna cũngthấp hơn CuMgar (Bảng 12)
** Tương quan có ỹ nghĩa ở mức 0.01 (2 đuôi)
Lượng nước hàng năm không cho thấy xu hướng như trên do mật độ cây của các nhóm thunhập khác nhau Trong khi lượng nước mà các hộ thu nhập thấp sử dụng hàng năm là 3,017
m3/ha thì nhóm thu nhập trung bình chỉ dùng 2,981 m3 và nhóm thu nhập cao dùng hết 3,553
m3 Tuy nhiên, do mật độ cây cà phê ở ba nhóm thu nhập thấp, trung bình vào cao lần lượt là
1116, 1110 và 1124 cây/ha, nên nhóm thu nhập cao có xu hướng dùng lượng nước hàng
Trang 21năm cho biện pháp tưới gốc nhiều hơn hai nhóm còn lại trong khi nhóm thu nhập thấp lạidùng nhiều nước hàng năm hơn nhóm thu nhập trung bình.
Đối với các hộ dùng biện pháp tưới phun mưa, bức tranh này có khác đôi chút Nhóm thunhập cao vẫn dùng lượng nước lớn nhất (795 lít/cây) trong khi nhóm thu nhập thấp (634lít/cây) dùng nhiều nước hơn nhóm thu nhập trung bình (569 lít/cây) Lượng nước hàng năm
mà các hộ sử dụng cho biện pháp này tăng theo thu nhập (1,836, 2,420, and 5,950 m3 /hacho 3 nhóm thu nhập thấp, trung bình và cao) Mối quan hệ này có ý nghĩa thông kê ở mức
độ tin cậy 95% trong phân tích tương quan giữa thu nhập và lượng nước mà hộ sử dụng(Pearson R=0.391, p<0.05)
Bảng 13: Tương quan giữa lượng nước theo phương pháp tưới phun và thu nhập hộ
totincome04
vol_sprinkler_tr ee
* Tương quan có ỹ nghĩa ở mức 0.05 (2 đuôi).
Các hộ sử dụng nguồn nước tư nhân dùng nhiều nước hơn các hộ sử dụng nguồn nướccông cộng (với chênh lệch cho hai biện pháp tưới gốc và phun mưa là 50 và 70 lít/cây) Điềunày là do nguồn nước công cộng chỉ cho phép người dân sử dụng một lượng nước nhấtđịnh Các nông trường quốc doanh hoặc đơn vị cung cấp nước công cộng chỉ mở nguồnnước vài lần một tháng nên nông dân không được sử dụng nhiều như họ muốn
Bảng 14: Lượng nước sử dụng theo các nhóm
Trang 22tư nhân gặp khó khăn nhiều hơn với 55% số hộ thừa nhận khó khăn này trong khi chỉ có16% số hộ sử dụng nguồn nước công cộng bị thiếu nước do nguồn nước công cộng lấy từ
hệ thống thuỷ lợi có xu hướng bền vững hơn nguồn nước tư nhân khai thác từ nguồn nướcngầm
Phân tích chi phí tưới nước
Như đã đề cập trong phần phân tích tổng chi phí sản xuất ở trên, chi phí tưới chiếm tỷ trọngrất lớn trong tổng chi phí (tính cả chi phí lao động gia đình) Về lý thuyết, biện pháp tưới phuntốn nhiều nước hơn, điều này giải thích phần nào về chi phí cao hơn Tuy nhiên, chi phí củamỗi biện pháp không chỉ phụ thuộc vào lượng nước mà còn phụ thuộc vào khoảng cách đếnnguồn nước gần nhất, nguồn nước, chi phí đầu tư ban đầu, điều kiện khí hậu của các vùngkhác nhau và các điều kiện ưu đãi của chính quyền địa phương (ví dụ như tài nguyên nướccông cộng, tư nhân) Việc phân tích chi phí nước tưới ở 80 hộ khác nhau trong nghiên cứunày đã cho thấy rõ thực tế nêu trên
Trong trường hợp sử dụng lao động gia đình, tổng chi phí nước tưới khi áp dụng biện pháptưới gốc (2.321 nghìn VND/tấn) thấp hơn 26% so với khi áp dụng biện pháp tưới phun (2.936nghìn VND/tấn) Hơn nữa, chi phí tưới gốc cũng dao động khá nhiều, từ chi phí tối thiểu là
712 nghìn VND/tấncho tới hơn 11 triệu VND/tấn Trong khi đó chi phí tưới phun chỉ dao động
từ 1,7 triệu VND/tấn đến 4,2 triệu VND/tấn Trong biện pháp tưới gốc tỷ lệ cao nhất là chi phí
cố định, chiếm gần 70% tổng chi phí Chi phí cố định được đầu tư khá cao trong biện pháptưới phun Điều này phần nào khiến nông dân không muốn áp dụng biện pháp tưới phun,mặc dù họ biết rằng biện pháp này là hiệu qủa hơn so với tưới gốc Chi phí hoạt động củabiện pháp tưới phun còn thấp hơn đôi chút so với tưới gốc (852 so với 928 nghìn đồng/tấnkhi sử dụng lao động gia đình) bởi vì tưới phun sử dụng nhân công ít hơn so với tưới gốc.Trong trường hợp không sử dụng lao động gia đình, chi phí khi áp dụng biện pháp tưới gốccũng thấp hơn so với khi áp dụng biện pháp tưới phun (lần lượt là 2.152 và 2.821 nghìn VND
t-1 ) với độ lệch tiêu chuẩn cũng khác nhau (1.414 và 738 nghìn VND t-1)
Qua phân tích ở trên có thể thấy chi phí tươi phun cao hơn so với chi phí tưới gốc Tuy nhiênhiện nay biện pháp tưới gốc sử dụng nhiều nước hơn so với biện pháp tưới phun, do vậytrong tương lai nếu người nông dân phải trả tiền nước tưới và tiếp tục áp dụng biện pháptưới như hiện nay thì chi phí tưới gốc sẽ rất cao Đây cũng là một yếu tố cần phải xem xét
Bảng 15: Chi phí tưới (000d/tấn quả)
Trang 23Tất cả các hạng mục chi phí của những hộ sử dụng nguồn nước công cộng đều cao hơn sovới các hộ sử dụng nguồn nước tư nhân Điều này là do trong biện pháp tưới gốc, chi phí lắpđặt ống dẫn nước và bơm nước từ nguồn công cộng đều cao gấp 4 và 1,1 lần so với khi sửdụng nguồn nước tư nhân Chỉ có chi phí đào giếng và nước tưới công cộng là thấp hơn sovới của tư nhân, mặc dù chệnh lệch không nhiều như vậy (chỉ hơn 0,12 và 50 lần) (song cầnlưu ý rằng chi phí tưới nước của nguồn nước công cộng và nguồn nước tư nhân chỉ vàokhoảng 100 nghìn đ/ha so với 2 nghìn đ/ha, do đó mức chênh lệch 50 lần như vậy khôngphải là qúa nhiều) Với biện pháp tưới phun, chi phí lắp đặt ống dẫn nước và đào giếng củachủ sở hữu tư nhân cao gấp 1,4 và 8 lần so với của công cộng Tuy nhiên, chi phí về máybơm, tưới nước và dụng cụ tưới phun của công cộng đều cao hơn rất nhiều so với của tưnhân Chi phí nhân công và nhiên liệu không khác nhau nhiều giữa hai nhóm này.
Bảng 16: Chi phí tưới theo nhóm (000 đ/tấn quả)
Các nhóm
Chi phí cố đình Chi phí hoạt động
Tưới gốc Tưới phun gia đình Có LĐ
Ko LĐ gia đình Huyện
Bón phân là hoạt động rất quan trọng trong sản xuất cà phê Có tới 99 % số hộ điều tra cho biết
có sử dụng phân bón Chỉ có 1 hộ ở huyện CuMgar không sử dụng phân bón
Nông dân sản xuất cà phê ở Dak Lak dùng 11 loại phân Trung bình, một hộ bón 1140 kg phâncho 1 tấn cà phê quả (tính tổng tất cả các loại phân) Loại phân bón chính được sử dụng là NPK
và phân xanh, chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng lượng phân 26.5 % và 33 % SA, urea, phosphate, KCl chiếm khoảng 8% trong tổng lượng
thermo-Bảng 17: Lượng phân bón theo loại Loại phân Lượng (kg/tấn) %