1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN kết THÚC học PHẦN môn NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG về LUẬT dân sự, tài sản và THỪA kế

24 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 34,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì nhận thấy được tầm quan trọng của việc áp dụng án lệ trong pháp luật dân sự ViệtNam và muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này nên em đã quyết định chọn đề tài “Áp dụng án lệ trong

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

TP HỔ CHÍ MÌNH

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

MÔN:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ.

ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:

ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

Người thực hiện: GIANG THỊ THU THẢO MSSV: 2053801012240

Lớp: DS45.3

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ÁN LỆ 2

1.1 Khái quát về án lệ 2

1.1.1 Khái niệm án lệ 2

1.1.2 Đặc điểm của án lệ 3

1.1.3 Ưu và nhược điểm của án lệ 3

1.2 Án lệ trong lịch sử pháp luật Việt Nam 4

CHƯƠNG 2: ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 6

2.1 Sự cần thiết áp dụng án lệ trong giải quyết các vụ án dân sự ở Việt Nam 6 2.2 Thực trạng áp dụng án lệ trong giải quyết các vụ án dân sự ở Việt Nam

7 2.2.1 Khái quát thực trạng 7

2.2.2 Các quy định của pháp luật về án lệ 7

2.2.3 Tiến trình hình thành án lệ 8

2.2.4 Thực tiễn áp dụng án lệ trong giảiquyết các vụ án dân sự ở Việt Nam

10 CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁCH THỨC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ÁN LỆ VÀ ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN S Ự Ở VIỆT N AM 13

3.1 Hoàn thiện việc xây dựng, tuyểnchọn án lệ 13

3.2 Hoàn thiện việc công bố án lệ 13

3.3 Hoàn thiện việc áp dụng án lệ 13

3.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán 13

KẾT LUẬN 14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

TAND: Tòa án nhân dân

TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 4

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Một đất nước phát triển bền vững phải là một đất nước có sự tăng trưởng liên tục và vững chắc

về kinh tế, có sự ổn định về an sinh xã hội, cùng nền văn hóa năng động Và quan trọng hơn hết, quyđịnh về thực hiện pháp luật chặt chẽ và nghiêm túc chính là một yếu tố quyết định trong việc pháttriển và xây dựng đất nước Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý Nhà nước mà còn tạo môitrường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hoá đời sống xã hội Trongcông

cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếukhách quan

Việc áp dụng pháp luật ở nước ta hiện nay đang được Nhà nước thực hiện rất nghiêm chỉnh vàhướng đến sự công bằng, tức những vụ án giống nhau phải được xử một cách giống nhau Khi cuộcsống của loài người không ngừng tiến bộ, các sản phẩm về giá trị cuộc sống, giá trị tinh thần cũngnâng cao và theo đó sự phát triển không ngừng của kinh tế - xã hội đã làm phát sinh, thay đổi cácquan

hệ xã hội, đòi hỏi các quy phạm pháp luật phải thay đổi để điều chỉnh cho phù hợp Nhiều vụ án vớinhững tình tiết phức tạp, đa dạng xuất hiện mà trong các văn bản quy phạm pháp luật không quyđịnh

rõ đã tạo nên lỗ hổng trong hệ thống pháp luật Lúc này, án lệ chính là lựa chọn đầu tiên để “trám” lỗhổng ấy và điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh mà pháp luật chưa thể điều chỉnh hay nhữngmâu thuẫn, thiếu sót của hệ thống pháp luật

Ngày nay, án lệ đang đang ngày càng thể hiện được tầm quan trọng của mình đối với hệ thốngpháp luật của mỗi quốc gia Việc áp dụng án lệ trong quá trình xét xử tạo ra được sự công bằng vàbình đẳng trước pháp luật; giảm thiểu được oan sai trong hoạt động xét xử; giúp các chủ thể làm luậtphần nào biết trước kết quả của vụ án, vụ việc mà mình đang theo đuổi; thêm vào đó còn giúp giảmbớt chi phí về công sức, thời gian và tiền bạc trong quá trình xét xử

Việc áp dụng án lệ trong pháp luật dân sự càng cần phải được chú trọng hơn bởi vì các quan hệpháp luật dân sự rất phong phú, đa dạng về chủ thể, khách thể, nội dung, cách thức phát sinh màcác

văn bản quy phạm pháp luật không thể quy định đầy đủ và trọn vẹn

Chính vì nhận thấy được tầm quan trọng của việc áp dụng án lệ trong pháp luật dân sự ViệtNam

và muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này nên em đã quyết định chọn đề tài “Áp dụng án lệ trong phápluật dân sự Việt Nam” làm đề tài cho tiểu luận của mình

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ÁN LỆ 1.1 Khái quát về án lệ

1.1.1 Khái niệm án lệ

Trong tiếng Anh, án lệ là "precedent”, thuật ngữ này phát sinh từ hệ thống thông luật(common

law) với hệ thống quan điểm lý luận pháp lý khác biệt hẳn với hệ thống dân luật (civil law) Vì vậy,

án lệ sẽ không dễ dàng để được tiếp nhận đối với các luật gia, nhà nghiên cứu ở các nước thuộc hệthống dân luật

Án lệ được hiểu bao gồm toàn bộ các quyết định, bản án được tuyên bố bởi Tòa án và có giátrị là nguồn của luật, là nền tảng áp dụng cho các vụ việc xảy ra sau này

Có nhiều quan điểm nêu lên khái niệm của án lệ:

Theo từ điển Black’s Law thì án lệ được hiểu như sau: “An lệ là việc làm luật của tòa án khi

công nhận và áp dụng các quy tắc mới trong quá trình xét xử; vụ việc đã được giải quyết làm cơ sở

để đưa ra phán quyết cho những trường hợp có tình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này’” 1

Từ điển Luật học của Anh đưa ra một định nghĩa về án lệ đó là: “Bản án hoặc quyết định

được

nêu ra để chứng minh cho một quyết định trong một vụ việc gần tương tự sau đó’” 2

Tại Mỹ, án lệ cũng được định nghĩa là: “một quyết định xét xử mà ở đó tạo ra một quy tắc với

vai trò là điểm quy chiếu để quyết định những vụ án sau này có cùng tình tiết hoặc vấn đề pháp lý”” 3

Ở Việt Nam, khái niệm án lệ cũng được đề cập ở nhiều nguồn khác nhau

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì án lệ được hiểu là: “Quyết định hoặc bản án của tòa

cấp trên có giá trị bắt buộc đối với tòa cấp dưới; tòa phá án cũng phải tôn trọng quyết định trước đó của bản thân mình””! 4 Theo Từ điển Luật học, án lệ lại được định nghĩa: “Bản án đã tuyên hoặc một

sự giải thích, áp dụng pháp luật được coi như một tiền lệ làm cơ sở để các Thẩm phán sau đó có thể

áp dụng trong các trường hợp tương tự” 5

Và ở Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP về áp dụng án lệ đã chính thức ghi nhận: “Án lệ là

những

lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán TANDTC lựa chọn và được Chánh án TANDTC công bố là án lệ để

1Black’s Law Dictionary, 5th Edition, tr 1059, 1979.

2Dictionary of law, 4th Edition, printed and published in England, 1993.

3 Bryan A - Garner, Black’s Law Dictionary, 9th Edition, tr.1295, 2004.

4Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2001.

5Viện Khoa học pháp lý, Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2006.

Trang 6

các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử” 6

6Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao, Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/06/2019 Nghị quyết về quy trình lựa

chọn, công bố và áp dụng án lệ, Hà Nội, 2015.

Trang 7

1.1.2 Đặc điểm của án lệ

Một số đặc điểm cơ bản của án lệ:

Thứ nhất, án lệ là sản phẩm do tòa án tạo ra trong qua trình xét xử nên nguồn luật án lệ còn

được gọi là luật được hình thành từ vụ việc ("case law”) hay luật do Thẩm phán ban hành ("judgemake law”) Điều này phù hợp với xu hướng tạo lập án lệ trên thế giới

Thứ hai, phải được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua và Chánh án TANDTC công

bố Đây cũng là đặc điểm rất đặc trưng của án lệ ở Việt Nam; điều này nhằm đảm bảo sự chặt chẽ,thống nhất trong ban hành và áp dụng án lệ Việc thông qua án lệ được tổ chức bởi phiên họp toàn thểHội đồng Thẩm phán TANDTC.7

Thứ ba, án lệ được hình thành phải mang tính mới Tức đây là quy tắc chưa từng có trước đó Thứ tư, án lệ phải chứa đựng cách thức chung và quan điểm chung khi giải quyết các vụ việc,

tức kỹ thuật xây dựng và vận hành phải dựa vào yếu tố tương tự, lặp đi lặp lại Bản án và các quyếtđịnh được công nhận là án lệ được các Thẩm phán sau này khi giải quyết một vụ việc cần phải xácđịnh và đánh giá lý lẽ tương tự, nếu vụ việc này tương tự thì sẽ áp dụng lý lẽ trong bản án trước đểgiải quyết vụ việc hiện tại, nếu không tuơng tự thì không áp dụng

1.1.3 Ưu và nhược điểm của án lệ

a) Về mặt ưu điểm:

Thứ nhất, án lệ mang tính thực tiễn cao Nghĩa là dựa vào thực tiễn, tập trung vào việc giải

quyết những vấn đề cụ thể của đời sống thực tế chứ không phải giải quyết vấn đề bằng các lý thuyếtchung chung trừu tượng Tính thực tiễn của án lệ biểu hiện ở hai điểm: các lý lẽ tạo ra án lệ mangtính

nhân tạo chứ không mang tính tự nhiên, và các luật gia cố gắng giải thích tinh thần của pháp luật hơn

là hình thức từ ngữ của pháp luật.7 8 Thay vì xuất phát từ những lý thuyết suông, thì án lệ gần gũi vàthực tế hơn đồng thời mang tính mềm dẻo, linh hoạt hơn so với các nguồn luật thành văn

Thứ hai, án lệ góp phần bổ sung cho những thiếu sót, những lỗ hổng của pháp luật thành

văn một cách nhanh chóng và kịp thời Bởi lẽ, đời sống xã hội luôn vận động, phát triển dẫn đến phátsinh nhiều vấn đề khó giải quyết; còn các quy phạm trong các văn bản pháp luật mang tính ổn định,dẫn đến hệ quả là luật pháp có thể lạc hậu và thiếu hụt để giải quyết các vấn đề của cuộc sống

Thứ ba, án lệ thể hiện tính khách quan, công bằng và chống oan sai Những lập luận, phán

quyết có tính chuẩn mực của Toàn án trong một vụ việc cụ thể được vận dụng để giải quyết một vụviệc cụ thể khác, bảo đảm rằng những vụ việc như nhau được giải quyết giống nhau, đảm bảo ápdụng

thống nhất pháp luật trong xét xử đồng thời phòng chống tham nhũng trong ngành tư pháp

7 Châu Hoàng Thân, “Cấu trúc và áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay” Tạp chí Kiểm sát số 23, tr 22, 2016.

8Đỗ Thanh Trung, “Án lệ: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Tạp chí Khoa học pháp lý số 4, tr 20-26, 2012.

Trang 8

Thứ tư, án lệ góp phần nâng cao trình độ chuyên môn cũng như kích thích khả năng sáng tạo

và lập luận của các Thẩm phán Các án lệ cũng đóng góp quan trọng trong việc thiết lập các biệnpháp

bảo đảm các quyền của công dân trong quan hệ tố tụng

b) về mặt nhược điểm:

Mặc dù, nguồn luật án lệ có những ưu điểm đáng kể như đã phân tích ở trên, nhưng học thuyết

án lệ vẫn tồn tại những hạn chế nhất định:

Thứ nhất, án lệ không mang tính thống nhất và hệ thống cao như nguồn văn bản Điều này đã

gây ra trở ngại trong nhận thức và áp dụng pháp luật thống nhất Điều khó khăn nhất là xác định cácquy tắc, suy luận và tìm kiếm chúng trong lời lẽ của các thẩm phán được ghi lại trong bản án khi giảiquyết một vụ việc cụ thể với nhiều tình tiết phức tạp Trong một số trường hợp khó có thể phân biệtđược giữa phần nào là quy tắc, lý lẽ bắt buộc và phần nào là lý lẽ tham khảo trong án lệ để mang ra

Thứ ba, hệ thống án lệ không ổn định Mặc dù án lệ được áp dụng linh hoạt, thực tế song trong

một vài trường hợp các thẩm phán, luật sư lại né tránh áp dụng tiền lệ bằng cách đưa ra các tình tiếtkhác biệt, do đó dẫn đến sự bất ổn định của hệ thống án lệ Bên cạnh đó, nếu sử dụng nguồn luật án

lệ sẽ dẫn đến tình trạng hồi tố

Thứ tư, án lệ khá cứng nhắc vì trong quá trình xét xử các vụ án không hoàn toàn giống nhau

mà có những tình tiết khác biệt nhưng Thẩm phán buộc phải tuyên theo tiền lệ trước đó Điều đókhiến

cho các Thẩm phán mất đi khả năng sáng tạo mà dần bị lệ thuộc, vô cảm và áp dụng một cách máymóc các quy định trong án lệ vào các vụ việc cụ thể

1.2 Án lệ trong lịch sử pháp luật Việt Nam

Trong thời kỳ phong kiến của Việt Nam, đã có những bộ luật ra đời như Luật Gia Long vàLuật

Hồng Đức Tuy nhiên, thời điểm đó khái niệm “án lệ” vẫn chưa hình thành

Trong thời kỳ Pháp thuộc, cụ thể là những năm từ 1858 đến 1945, án lệ chủ yếu được sử dụngtrong đào tạo, giảng dạy luật tại Miền nam Việt Nam Lúc bấy giờ, các quan hệ xã hội đa dạng vàphức tạp, các văn bản pháp luật thành văn là không đủ để điều chỉnh, giải quyết tất cả các vấn đề phátsinh, vì vậy khi xét xử các Thẩm phán cũng cần đến các án lệ

Từ sau năm 1945, từ “án lệ” đã được sử dụng trong các văn bản pháp luật phổ biến hơn Một

số văn bản luật đề cập đến “án lệ” như:

Tại thông tư của Chính phủ số 442/TTg, ngày 19-1-1955 về trừng trị một số loại tội phạm, đã

nêu: “Tới nay, các tòa án căn cứ vào những văn bản nói trên và chính sách trừng trị của Chính phủ

Trang 9

mà xét xử đem lại kết quả tốt cho việc bảo vệ trật tự, an ninh Kinh nghiệm xét

phạm đã được trở thành án lệ Tuy nhiên, án lệ ấy còn khác nhau giữa các địa phương,

lối xét xử không được thống nhất Cần phải thống nhất những án lệ ấy trong qui định

để hướng dẫn các Tòa án trừng trị một số tội phạm thông thường ”

Tại Thông tư số 19-VHS ngày 30-6-1955 của Bộ Tư pháp về việc áp dụng luật lệ, có nêu:

cũ của đế quốc, phong kiến, đã nêu: “Để xét xử các cụ án hình sự và dân sự, cần áp dụng luật pháp

của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ban hành từ trước đến giờ, đường lối, chính sách của Đảng

và Chính phủ, án lệ của các Tòa án, của Tòa án Tối cao””.

Có thể thấy thời điểm từ sau năm 1945 đến trước năm 1960, từ án lệ đã tồn tại và được sửdụng trong các văn bản pháp lý chính thức, công khai trên các tạp chí chuyên ngành Tuy nhiên từsau

năm 1960, khái niệm án lệ không được sử dụng nữa mà thay vào đó là thuật ngữ “luật lệ”

Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa vì vậy

hệ thống lý luận pháp lý tiếp nhận từ hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Trong đó văn bản pháp luậtthành văn luôn được coi là nguồn luật chủ yếu Nhưng cũng công nhận án lệ là một nguồn để ápdụng,

gần đây nhất là Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/06/2019 Nghị quyết về quy trình lựachọn,

công bố và áp dụng án lệ Việc Quốc hội nước ta ban hành một Nghị quyết quy định riêng về án lệcho thấy được tầm quan trọng của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay

Trang 10

CHƯƠNG 2: ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG PHÁP LUẬT DÂN Sự VIỆT NAM

2.1 Sự cần thiết áp dụng án lệ trong giải quyết các vụ án dân sự ở Việt Nam

Các loại nguồn để giải quyết tranh chấp dân sự ở Việt Nam hiện nay về cơ bản tương tự cácloại nguồn của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung Theo đó, hoạt động giải quyết tranh chấp dân

sự trong thời gian qua đang dựa trên những loại nguồn cơ bản đó là: luật thành văn và tập quán pháp.Đây là những loại nguồn truyền thống, không chỉ Việt Nam mà các nước trên thế giới đều đang ápdụng rộng rãi và phổ biến

Đối với nước ta hiện nay, luật thành văn giữ vai trò là nguồn chính yếu và chủ đạo trong hệthống các các loại nguồn nhằm giải quyết tranh chấp dân sự Một số nguồn là nguồn thành văn đangđược áp dụng giải quyết là: Hiến pháp; BLDS; BLTTDS; Luật Tổ chức TAND; cùng một số đạo luậttiêu biểu hỗ trợ cho LDS và TTDS đó là: Luật hôn nhân và gia đình, Luật doanh nghiệp, Luật đấtđai, Bên cạnh đó còn áp dụng một số văn bản dưới luật là các Pháp lệnh, Nghị quyết, Nghị định,Thông tư, Đối với nguồn Tập quán pháp, tuy không giữ vai trò chủ đạo như nguồn thành vănnhưng

Tập quán pháp có giá trị tương đối hiệu quả trong công tác giải quyết các vụ án dân sự Việc xemTập

quán pháp là nguồn đề giải quyết tranh chấp là phương pháp hữu hiệu làm mềm mỏng hóa các nguồnthành văn khô khan, cứng nhắc

Tuy đã có hệ thống nguồn luật để áp dụng giải quyết các vụ án dân sự tương đối đầy đủ vàmang tính hệ thống cao, xong dù được xây dựng cẩn thận và kỹ lưỡng đến đâu cũng không thể dựđoán được những tình huống sẽ xảy ra trong tương lai và chắc chắn pháp luật dù cố gắng đến mấyvẫn

luôn tồn tại những khoảng trống và lỗ hổng Bởi lẽ, LDS chính là đạo luật gần nhất với đời sống conngười trong xã hội Trong khi đó, tranh chấp dân sự với bản chất là những mâu thuẫn, bất đồng vềquyền, lợi ích và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa các chủ thể, lànhững

mâu thuẫn bất biến trong xã hội, luôn phát sinh muôn hình vạn trạng Một khi tranh chấp dân sự nảysinh, đòi hỏi phải có giải quyết tranh chấp dân sự để bình ổn xã hội Tuy nhiên, để đáp ứng được nhucầu giải quyết tranh chấp, các giải pháp từ luật thành văn là chưa đủ, nhà làm luật cần khai thác loạinguồn linh hoạt hơn, dễ thích nghi và dễ bắt kịp với nhịp độ phát triển xã hội Nếu muốn giải quyếttranh chấp trên thì đòi hỏi các đạo luật cần đợi việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật

- điều mà không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách nhanh chóng và dễ dàng Chính vì vậy,

án lệ là nguồn luật phù hợp nhất để bổ trợ cho sự thiếu xót của luật thành văn Với sự tồn tại của án

lệ, các Thẩm phán không thể từ chối giải quyết với lý do: “chưa có điều luật để áp dụng” bảo đảm sựcông bằng, và không phải chịu bất lợi của công dân

Án lệ tồn tại giúp cho hệ thống pháp luật nước ta trở nên hoàn thiện và đầy đủ hơn Giúp giảiquyết kịp thời được các vụ án dân sự phát sinh ngày càng nhiều trong đời sống Bên cạnh đó, trong

xu hướng hội nhập quốc tế, các nước trên thể giới đều đang phát triển án lệ đó cũng là những kinh

Trang 11

nghiệm cho Việt Nam để tiếp nối và học hỏi trong phát triển án lệ nước nhà Có thể nói rằng, việc ápdụng án lệ trong pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật dân sự Việt Nam nói riêng hiện nay làhết sức cần thiết, thậm chí là cấp thiết.

Trang 12

2.2 Thực trạng áp dụng án lệ trong giải quyết các vụ án dân sự ở Việt Nam

2.2.1 Khái quát thực trạng

Án lệ đã và đang từng bước đi vào đời sống pháp lý của nước ta, phát huy hiệu quả và đượcđón nhận tích cực Các án lệ được công bố đã phần nào đáp ứng mong đợi của người dân đặc biệt lànhững người làm công tác pháp luật Các án lệ đã góp phần khắc phục được các khiếm khuyết củapháp luật, tạo tính ổn định, minh bạch trong các phán quyết của Tòa án

Kể từ khi ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về quy trình lựa chọn,công bố và áp dụng án lệ đến nay, TANDTC đã công bố được 43 án lệ, trong đó có 07 án lệ về hình

sự, 23 án lệ về dân sự, 08 án lệ về kinh doanh, thương mại, 01 án lệ về lao động, 02 án lệ về tố tụngdân sự, 02 án lệ về tố tụng hành chính Ngay sau khi án lệ được công bố, các Tòa án đã chủ độngnghiên cứu để viện dẫn, áp dụng án lệ khi giải quyết các vụ việc tương tự; phân tích, viện dẫn án lệtrong các bản án, quyết định; bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phảiđược giải quyết như nhau; qua đó bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử tại các Tòa án.Theo số liệu thống kê đến ngày 30/9/2021, đã có gần 1200 bản án, quyết định của các Tòa án đã việndẫn, áp dụng án lệ Đây là minh chứng cho thấy sau 5 năm triển khai thực hiện, án lệ đã thực sự đivào đời sống pháp lý của đất nước, phát huy hiệu quả và được đón nhận tích cực; góp phần tạo bướcngoặt quan trọng trong cải cách tư pháp, trong thực hiện vai trò bảo vệ công lý, thực hiện quyền tưpháp của TAND và trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật

2.2.2 Các quy định của pháp luật về án lệ

Luật tổ chức TANDTC năm 2014 quy định về án lệ như sau: Hội đồng Thẩm phám TANDTC

có thẩm quyền “lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, bản án,

triển án lệ, công bố án lệ.” (Khoản 5 Điều 27).

BLDS năm 2015 quy định về án lệ như sau: theo đó, bộ luật đã quy định về áp dụng tương tựpháp luật Trong trường hợp phát sinh những quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của luật dân sự màcác bên không có thỏa thuận cũng như không có điều luật cụ thể nào quy định thì được phép áp dụngcác nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, áp dụng án lệ, lẽ công bằng

BLTTDS năm 2015 quy định về án lệ như sau: bộ luật quy định yêu cầu Tòa án phải tiếp nhậntất cả các yêu cầu của đương sự Cụ thể hơn, còn yêu cầu Tòa án không được từ chối giải quyết vụviệc khi không có luật áp dụng Với trường hợp chưa có điều luật áp dụng, thì nguyên tắc giải quyết

vụ việc được quy định: “Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công

bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật ” (Khoản 3

Điều 45) Bộ luật còn quy định thêm về vị trí, vai trò của án lệ trong Hoạt động nghị án của Hội đồng

Ngày đăng: 09/01/2022, 11:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w