1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN văn hóa xã hội ĐÔNG NAM á NGHỀ dệt TRUYỀN THỐNG của tộc NGƯỜI KAREN tại CHIANG MAI, THÁI LAN

21 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 625,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Nghề dệt vải truyền thống nói chung có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống của các tộc người ở Thái Lan, trong đó có tộc người Karen tại Chiang Mai.. Trong đó, một nhóm các

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Khoa Đông Phương học

TIỂU LUẬN VĂN HÓA XÃ HỘI ĐÔNG NAM Á

NGHỀ DỆT TRUYỀN THỐNG CỦA TỘC NGƯỜI

KAREN TẠI CHIANG MAI, THÁI LAN

Tác giả: Nguyễn Ngọc Nhung

Thành phố Hồ Chí Minh, 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Khoa Đông Phương học

TIỂU LUẬN VĂN HÓA XÃ HỘI ĐÔNG NAM Á

NGHỀ DỆT TRUYỀN THỐNG CỦA TỘC NGƯỜI

KAREN TẠI CHIANG MAI, THÁI LAN

Tác giả: Nguyễn Ngọc Nhung

Thành phố Hồ Chí Minh, 2020

Trang 3

1

1 MỞ ĐẦU

Nghề dệt vải truyền thống nói chung có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống của các tộc người ở Thái Lan, trong đó có tộc người Karen tại Chiang Mai Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây, nó đã bị mai một đi nhiều Việc tìm hiểu nghề dệt cổ truyền trên cơ sở phân tích, nghiên cứu một cách khoa học sẽ cho thấy vai trò và vị trí của nó trong đời sống kinh tế và sự phát triển của bản sắc văn hóa dân tộc Karen Qua nghiên cứu sẽ biết được các tri thức dân gian về kỹ thuật cũng như các giá trị nhân văn tư duy thẩm mỹ của người dân trong lối dệt vải Trong tình hình hiện nay, không chỉ đối với Việt Nam mà còn với nhiều nước trên thế giới, việc nghiên cứu nghề dệt không chỉ dừng lại ở mục đích nhìn nhận lại những di sản trong quá khứ mà

nó còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị này, góp phần nâng cao đời sống kinh tế cho các tộc người bằng chính ngành nghề truyền thống mà ông bà tổ tiên để lại

Với suy nghĩ như trên, tác giả quyết định thực hiện đề tài “Nghề dệt truyền

thống của tộc người Karen tại Chiang Mai, Thái Lan” với hy vọng sẽ góp phần

vào sự hiểu biết kỹ lưỡng hơn về nghề dệt của các tộc người thiểu số khác tại quốc gia láng giềng Phản ánh nét riêng biệt trong lối suy nghĩ, kinh nghiệm dệt vải khác nhau giữa mỗi tộc người của mỗi quốc gia, đồng thời mong muốn có thể cung cấp thêm tư liệu để các nhà hoạch đính chính sách, các cấp chính quyền địa phương có thêm những đề án, đường lối để khôi phục, phát triển và bảo tồn ngành nghề này mãi

về sau

Trang 4

Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều luồng nhận định khác nhau về nơi sinh sống ban đầu của tộc người Karen Trong đó, một nhóm các nhà khoa học dựa vào các câu chuyện truyền miệng của người Karen, họ kể rằng hành trình di cư của tổ tiên đã phải vượt qua “những dòng cát”, ám chỉ một vùng đất rộng lớn chỉ có toàn cát Thêm vào

đó, họ còn nhắc tới vùng đất cũ nơi họ từng sinh sống có tên gọi là “Thibi – Kolbi”, khiến cho mọi người nghĩ vùng Tây Tạng (Tibet) và sa mạc Gobi chính là nơi ở sơ khai ban đầu của tộc Karen3

Nhóm còn lại thì cho rằng cội nguồn của người Karen nằm ở Mông Cổ, vì lánh nạn chiến tranh nên di cư tới vùng phía Đông Tây Tạng sinh sống, sau đó thì di chuyển vào lãnh thổ Trung Hoa và người Hoa gọi nhóm người này là “người Châu” Trong khi đó, các nhà khoa học phương Tây và nhà truyền giáo, những người nghiên cứu về tộc người Karen thì lại cho rằng nguồn cội của họ có lẽ ở khu vực phía Tây Trung Quốc sau đó di cư từ từ xuống vùng Myanmar, họ tin rằng thuở ban đầu người Karen sinh sống dọc con sông Trường Giang (phiên âm từ tiếng Trung là Yangtse)

Mà từ “Yang” lại chính là một tên gọi khác nữa mà người miền Bắc Thái Lan và người Shan ở Myanmar dùng để gọi người Karen4

Vì vậy, nhà nghiên cứu đến từ Trường Đại học Quốc gia Singapore, Raja Ananda đã tổng hợp, phân tích nguồn gốc nơi ở và hành trình di cư của tộc người Karen sao cho phù hợp với các quan điểm của những nhà khoa học đã đề cập ở trên như sau: Khoảng năm 2617 TCN, tộc người Karen thuở sơ khai sinh sống tại Mông

1 Charles F Keyes (1971) Introduction, Ethnic Adaption and Identity: the Karen

on the Thai Frontier with Burma Philadelphia: Institute for the Study of Human Issues

2 Renard, R.D (1980) Kariang: History of Karen-Tai Relations from the

Beginnings to 1923 (luận án tiến sĩ)

3 Paul Lewes & Elain Lewes (1985) Six Hill-Tribes (Sáu bộ lạc trên đồi) Chiang

Mai: Hill-Tribe Handicrafts, tr.70

4 Wichat Booranaprasertsook (2012) Stories from the Thai-Burmese Border:

Intellectual Sparks for Sustainable Development Bangkok: The Thailand Research Fund,

tr.2

Trang 5

3

Cổ, sau đó di cư tới phía Đông Turkestan5 vào khoảng năm 2013 TCN, tiếp theo từ Turkestan tới Tây Tạng vào khoảng năm 1864 TCN Khoảng năm 1385 TCN thì di

cư xuống vùng Vân Nam Trung Quốc, sau đó tiếp tục di cư xuống vùng Đông Nam

Á Nhóm di cư đầu tiên xuống tới vùng này vào khoảng năm 1125 TCN, nhóm thứ hai vào khoảng năm 759 TCN Vùng đất mà người Karen chọn làm nơi an cư lạc nghiệp là dải đất phía Đông Myanmar, phía Bắc và dọc biên giới phía Tây của Thái Lan ngày nay6 Như vậy có thể nói trước khi tộc người Thái tới vùng đất này thì người Karen đã có mặt từ rất sớm và hình thành một cộng đồng rộng lớn trải dọc từ Bắc chí Nam7

2.1.2 Quá trình hình thành và cư trú

Các nhà nghiên cứu cho rằng hầu hết người Karen đang sinh sống tại Thái Lan đều di cư từ Myanmar xuống Trong đó, nhóm sinh sống ở Thái lâu đời nhất là nhóm Pwo và Sgaw Các nghiên cứu cho rằng tộc người Karen ở Myanmar đã vượt qua sông Thanlwin8 tiến vào biên giới Thái Lan vào khoảng thế kỉ 18, tương đương triều đại Ayudhaya giai đoạn cuối và đầu triều đại Rattanakosin Thời gian này, Thái và Myanmar cứ binh chiến suốt nhiều năm, cho dù là bên nào tấn công trước cũng đều phải hành quân qua lãnh thổ của người Karen, vì thế nên một bộ phận người Karen

bị bắt làm tù binh khổ sai, cung cấp lương thực hoặc phải dẫn đường cho quân lính Khi họ bị đưa tới Thái Lan thì một số người đã quyết định ở lại đây an cư và mong

là “biên cương mới” Sau đó Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã quản lý khu vực này và hiện nay nó có tên gọi chính thức là Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương

6 Rajah Ananda (2008) Remaining Karen: A Study of Cultural Reproduction and

the Maintenance of Identity Canberra: ANUE Press

7 Theo các bằng chứng ngôn ngữ và lịch sử, cuộc di cư về phía tây nam của các dân tộc nói ngôn ngữ Tai diễn ra vào thế kỷ thứ VIII cho đến thế kỷ thứ X

8 Sông Thanlwin, dài 2815 km, còn được biết đến với tên Salween, là dòng sông lớn của châu Á chảy qua các nước Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan Sông bắt nguồn từ Tây Tạng, chảy qua phía Tây tỉnh Vân Nam sát biên giới với Myanmar, qua phía Đông Bắc Myanmar và trở thành đường biên giới tự nhiên giữa Myanma và Thái Lan, chảy sâu vào trong lãnh thổ Myanmar và đổ ra biển Andaman tại Mawlamyine Ở gần cửa sông, nó tạo nên đồng bằng nhỏ Thanlwin

9 Vương quốc Lanna là một vương quốc tồn tại từ cuối thế kỉ XIII đến gần cuối thế

kỉ XVIII, phạm vi bao gồm vùng miền núi phía bắc của Thái Lan, một phần nhỏ của Lào

Trang 6

4

Yonok10 thống trị Người Karen đã khuất phục đầu hàng trước vương quốc này, sau

đó họ được đưa tới vùng Mae Sa Riang và tỉnh Chiang Mai sinh sống mà trước đây khu vực này là nơi sinh sống của người Lawa1112

Truyền thuyết của người Karen còn nhắc tới việc họ được Quốc Vương Chiang Mai ban cấp đất đai, đổi lại họ phải trả tiền mua đất và hằng năm phải cống nạp lễ vật như vải dệt, mật ong rừng và nông sản cho Quốc Vương Không những vậy, giới nghiên cứu còn phát hiện bài thơ ca ngợi mối quan hệ tốt đẹp giữa tộc người Karen

và Vương quốc Chiang Mai như sau:

“ตราบใดแม่น ้าคง (สาละวิน) บ่แห้งหาย เขาควายบ่ซื่อ (ตรง) ถ้าหลวงยังบ่ยุบ เมืองนครเชียงใหม่กับเมืองยางแดง (กะเหรี่ยง) จะต้องเป็นไมตรี ไม่รุกรานกันตราบนั้น”13Tạm dịch:

“Khi nào nước sông Kong (Thanlwin) chưa cạn Sừng trâu chưa thẳng, hoàng gia chưa lụi tàn Vương quốc Chiang Mai và Yang Đỏ (Karen)

Sẽ luôn là bằng hữu, không gây chiến với nhau”

và một phần khác của Myanmar ngày nay Đây là một đất nước với Hoàng gia, hệ thống luật pháp và có một nền văn hóa riêng biệt Về sau, vì sự kìm kẹp của các quốc gia lớn hơn

ở ngay cạnh, Lanna thu hẹp dần Đến thế kỉ XVIII – XIX thì chỉ còn thành phố Chiang Mai

và 1000 km xung quanh Chiang Mai Tới năm 1892, Xiêm chính thức chiếm Lanna và xóa cái tên Lanna ra khỏi bản đồ

10 Một vương quốc của người Thai Yuan, hình thành trước thế kỉ VII

11 Lawa là tộc người đã sinh sống ở miền trung và bắc Thái Lan trước khi người Thái tới nơi này Ngôn ngữ Lawa thuộc nhánh Môn-Khmer của ngữ hệ Austro-Asiatic (nhánh phụ Palaung-Wah)

12 Paul Lewes & Elain Lewes (1985) Six Hill-Tribes (Sáu bộ lạc trên đồi) Chiang

Mai: Hill-Tribe Handicrafts, tr.70

13 Chutiman Sasong, Nipon Kampha & Sanya Sasong (2019) Integration of Social Capital Link the Border Trade Routes to Improve the Quality of Life of the Kaya Ethnic

Group, Ban Doi Sang, Mae Hong Son Province MJU Academic Review, 2

Trang 7

5

Vào năm 1875, một nhóm người Karen với số lượng rất đông từ Myanmar di

cư tiếp tới Thái Lan khi vua Alaungpaya 14 tiến hành đàn áp người Môn Những người Karen đã che chở cho người Môn và đi theo họ di cư tới Ayudhaya Trong đó một nhóm người Karen và người Môn xuống tới tận tỉnh Suphanburi, Ratchaburi và Uthai Thani15 Vì các nhà nghiên cứu phát hiện rằng nhóm người Karen hiện sinh sống tại các tỉnh kể trên vẫn lấy giáo lí đạo Phật kiểu Môn trong đời sống sinh hoạt thường ngày, cả bài tụng kinh hay bài giảng thuyết Pháp cũng đều được viết bằng chữ cái của người Môn16

Xưa kia, nơi sinh sống của người Karen là vùng đất phía Đông Myanmar giáp với vùng đất phía Tây Thái Lan chưa bao giờ bị chia cắt Nhưng khi bị các nước tư bản phương Tây xâm chiếm thì vùng đất này bị chia cắt thành 2 nơi để phục vụ cho việc phân chia bản đồ của họ Một phần thuộc về Myanmar, phần còn lại thuộc về Thái Lan nên dẫn tới việc tộc người Karen bị chia thành Karen Myanmar (Burmese Karen) và Karen Thái Lan (Thai Karen) Sau khi Thực dân Anh chiếm được Bắc Myanmar vào năm 1885 thì người Karen lại tiếp tục di cư xuống Thái Lan để lánh nạn vì thủ lĩnh bộ tộc không chịu quy hàng người Anh, nên người Anh đã tiến hành cho quân đàn áp Trong đó, một nhóm xuống định cư ở vùng Kanchanaburi, Prachuab Khiri Khan và Petchaburi (thuộc miền Tây Thái Lan), còn một nhóm thì tới dải đất phía Tây của tỉnh Mae Hong Sorn, trải dài tới phía Bắc các tỉnh Tak, Lamphun, Lampang, Chiang Mai và Chiang Rai (thuộc miền Bắc Thái Lan)17

Sau giai đoạn tìm kiếm thuộc địa của các nước tư bản phương Tây, những nhánh nhỏ trong tộc người Karen vẫn tiếp tục di cư xuống Thái Lan Một vài nhóm

di cư vì nội chiến Myanmar, còn một số nhóm thì di cư vì đói kém, khó khăn, nhóm khác nữa thì được đưa đến vì mục đích kinh doanh du lịch,…

Theo báo cáo “Dự án điều tra cộng đồng Karen” của Mạng lưới nông dân Khu vực phía Bắc, năm 2017 tại Thái Lan có khoảng 1930 ngôi làng Karen, tổng dân số vào khoảng 549.395 người, chiếm 46,8% trong tổng số dân tộc thiểu sổ của Thái Lan Phân bố rải rác trên khắp 16 tỉnh thành, trong đó 7 tỉnh miền Tây gồm: Kanchanaburi, Suphanburi, Prachuab Khiri Khan, Petchaburi, Nakhon Pathom,

14 Alaungpaya là vị vua đầu tiên của triều Konbaung trong lịch sử Myanma, trị vì

từ năm 1752 đến năm 1760 Ông đã xây dựng Đế quốc Miến Điện thứ 3 đầu thế kỷ 18 tồn tại cho đến khi bị quân Anh thôn tính vào ngày 01/01/1886 Ông đã qua đời vì bị thương trong quá trình thúc quân xâm chiếm vương quốc Ayudhaya

15 Pinkaew Lueng-aramsri (1996) Folk Wisdom on EcoSystem: A Case-Study of

the Karen Community in Thung Yai Naraesuan Forest Bangkok: Lokdulyaphap

16 Chantaboon Sutthi (1996) The Karen: Life, Culture and the Environment

Bangkok: The Institute for Hill-Tribe Research, tr.14

17 Wichat Booranaprasertsook (2012) Stories from the Thai-Burmese Border:

Intellectual Sparks for Sustainable Development Bangkok: The Thailand Research Fund,

tr.3

Trang 8

Hai, Karen Pwo hay còn gọi là “Karen trắng”, “Yang trắng” hoặc “Karen Nam”, gặp nhiều nhất ở các tỉnh Kanchanaburi, Ratchaburi và Prachuab Khiri Khan với số lượng khoảng 70.000 người

Ba, Karen Bwe hay còn gọi là “Kayah” hay “Bre” Người Thái thường gọi họ

là “Karen đỏ”, “Yang đỏ” vì các cô gái thuộc nhóm này thường chuộng áo váy màu

đỏ Nhóm này thường được bắt gặp ở các làng Huay Seua Thau, Huay Deua và Kun Huay Deua thuộc tỉnh Mae Hong Sorn với số lượng khoảng 1.500 người

Bốn, Karen Taungthu18 hoặc Karen Pa-o hay còn gọi là “Karen đen” vì phụ

nữ Taungthu thích vận trang phục màu đen Nhóm này có số lượng ít nhất, khoảng

600 người và phân phố ở vài ngôi làng lác đác trong tỉnh Mae Hong Sorn

Ngoài 4 nhóm chính kể trên thì vẫn còn nhiều nhánh nhỏ khác mới tới định cư

ở Thái Lan như nhánh Kayan hay còn gọi là “Karen cổ dài” Và lần di cư gần đây nhất thì nhánh Kayaw hay còn gọi là “Karen tai dài” cũng chuyển tới Thái Lan sinh sống

Mỗi nhánh của tộc người Karen sẽ có ngôn ngữ nói khác nhau, như Karen Sgaw gọi bản thân mình là Paganyaw, còn Karen Pwo thì gọi mình là Phlong, cả hai

từ này đều có nghĩa chung là “người” Thật chất tộc người Karen không thích bị gọi

là Karen vì họ cảm giác bị khinh thường Về nguồn gốc cái tên “Karen” thì các nhà khoa học suy đoán nó được hình thành là do gọi theo cách gọi của người Môn, theo

đó người Môn gọi tộc người này là Kareng19 Hoặc theo cách gọi của phương Tây, theo đó người Tây gọi nhóm người này là Karen, suy đoán sở dĩ người phương Tây gọi như vậy là do bắt chước theo người Myanmar vì người Myanmar gọi tộc người này là Kayin20

18 Taungthu có nghĩa là “người vùng cao”

19 Suriya Ratanakul & Somsonge Buruspat (1995) The Sgaw Karen Bangkok:

Mahidol University, tr.1

20 Wichat Booranaprasertsook (2012) Stories from the Thai-Burmese Border:

Intellectual Sparks for Sustainable Development Bangkok: The Thailand Research Fund,

tr.5

Trang 9

7

Tại Chiang Mai, nhánh Karen Sgaw và Karen Pwo phân bố đông nhất Họ thường xây nhà trên các gò đất cao hoặc đôi khi cũng dựng nhà trên đồng bằng bằng phẳng như các dân tộc khác Họ định cư lâu dài, hiếm khi di chuyển chỗ ở tới nơi khác Người Karen rất tôn sùng thiên nhiên nên luôn sống hòa hợp với môi trường

Họ làm rẫy, trồng lúa, rau đậu tùy theo mùa, theo địa hình hay các điều kiện tự nhiên khác Bên cạnh đó cũng chăn nuôi gia súc nhưng nhằm phục vụ làm nguồn thực phẩm cho gia đình hơn là mua bán đổi chác Nhìn chung, người Karen dựa vào nguồn nước, núi rừng để sống nên đời sống tâm linh rất xem trọng các hiện tượng tự nhiên

và thần linh hóa các hiện tượng này

Tóm lại, Karen là tộc người đã có mặt từ rất sớm trên đất Siam và theo các nhà nghiên cứu, hầu hết người Karen trên đất Thái đều di cư từ Myanmar xuống vì nhiều

lí do khác nhau Quá trình di cư diễn ra trong một thời gian dài từ trước thế kỉ 18 và hiện nay nó vẫn còn đang tiếp diễn do những mâu thuẫn nội bộ giữa tộc người Karen

và chính quyền Myanmar Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan cũng luôn tạo điều kiện đón nhận làn sóng di cư này Cùng với các dân tộc khác, tộc người Karen đã tạo ra những bản sắc văn hóa đặc trưng cho Thái Lan, đồng thời những kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác trong đời sống sinh hoạt và làm việc của người Karen

là những báu vật hết sức quý giá về mặt tinh thần đối với Thái Lan nói riêng và cả thế giới nói chung Trong đó không thể nhắc đến nghề dệt vải nổi tiếng và lâu đời tại Chiang Mai, nơi mà từng sợi vải, màu sắc cho tới họa tiết đều in dấu đậm nét bản sắc đặc trưng của tộc người Karen mà tác giả sẽ trình bày ở mục tiếp theo

Trang 10

8

2.2 Tộc người Karen với nghề dệt truyền thống

Phụ nữ Karen từ lâu đã được vang danh là có tay nghề dệt vải vào hàng bậc thầy trong số các phụ nữ dân tộc vùng cao khác Từ năm lên 10, các bé gái đã được truyền thụ tay nghề cũng như các bí quyết kinh nghiệm từ chính người mẹ của mình Phụ nữ Karen dệt vải chủ yếu dùng trong sinh hoạt đời sống hàng ngày cho chính bản thân và các thành viên khác trong gia đình, hoặc dùng trong các nghi thức quan trọng như cưới hỏi và các lễ hội truyền thống trong bộ tộc

2.2.1 Quy trình sản xuất

*Nguyên liệu

Nguyên liệu thô phổ biến nhất để người Karen dệt vải bao gồm tơ tằm, bông

và len Các học giả tin rằng tất cả các nguyên liệu này có nguồn gốc từ các vùng đất khác bên ngoài Thái Lan Như tơ tằm để làm lụa có nguồn gốc từ Trung Hoa và sau

đó lan sang Nhật Bản, Ấn Độ cũng như các khu vực khác nhau ở châu Á và châu Âu

Bông được cho là có nguồn gốc từ Ả Rập và được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ sau đó Về sau người Ấn truyền đến Thái Lan và các nước lân cận khu vực Đông Nam Á Dần dà cây bông đã trở thành loài cây bản địa ở cả khu vực và là một trong những nguồn cung sợi thiết yếu trong đời sống con người

Đối với len, đây là chất liệu phù hợp với thời tiết se lạnh Các nhà nghiên cứu tin rằng nó được sử dụng lần đầu tiên để làm vải ở Bắc Âu Sau đó lan sang các nước khác và người Karen cũng đã học hỏi tiếp thu

*Nhuộm sợi

Sau khi hoàn thành xong công đoạn lấy sợi từ cây bông, tơ tằm thì người Karen tiến hành nhuộm Người Karen có bí quyết truyền thống trong việc nhuộm vải bằng thân, rễ, vỏ, củ, quả của các loài cây tự nhiên và biết ước lượng số lượng sợi cần nhuộm là bao nhiêu trong mỗi lần dệt để tránh gây lãng phí Phương pháp nhuộm màu tự nhiên luôn có sự biến hóa thay đổi tùy thuộc vào nguyên liệu mà họ sử dụng

Ngày đăng: 09/01/2022, 09:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w