MỞ ĐẦUĐối tượng nghiên cứu của phép biện chứng duy vật là trạng thái tồn tại cótính quy luật phổ biển nhất của sự vật, hiện tượng trong thế giới, vấn đề này thểhiện trong các câu hỏi: sự
Trang 1BÀI TÂP HOC KỲ
Vũ Vân Anh 451112
Hà Nội, 2020
BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1
I Khái quát nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 1 1 1 Khái niệm 1 1.2 Vai trò 2
II Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 3 2.1 Nội dung phương pháp luận 3 2.2 Ý nghĩa phương pháp luận 5 III Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về
mối liên hệ phổ biến để lý giải về sự ra đời của nhà nước và pháp luật 7 3.1 Sự ra đời của nhà nước theo nội dung và ý nghĩa nghĩa phương
pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 7 3.2 Sự ra đời của pháp luật theo nội dung và ý nghĩa nghĩa phương
pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 9 KẾT LUẬN 11 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3MỞ ĐẦU
Đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng duy vật là trạng thái tồn tại cótính quy luật phổ biển nhất của sự vật, hiện tượng trong thế giới, vấn đề này thểhiện trong các câu hỏi: sự vật, hiện tượng quanh ta và cả bản thân ta tồn tại trongtrạng thái liên hệ qua lại, quy định, chuyển hóa lẫn nhau và luôn vận động, pháttriển haỵ trong trạng thái tách rời, cô lập nhau và đứng im, không vận động, pháttriển? Để trả lời câu hỏi trên, phép biện chứng duy vật đã đưa ra nội dung gồmhai nguyên lý, sáu cặp phạm trù và ba quy luật cơ bản Những nguyên lý và quyluật cơ bản của phép biện chứng duy vật, của chủ nghĩa duy vật lịch sử nói riêng
và của triết học Mác - Lenin nói chung là sự phản ánh những mặt, những thuộctính, những mối liên hệ phổ biến nhất của hiện thực khách quan Vì vậy, chúngcó
giá trị định hướng quan trọng cho con người trong nhận thức và hoạt động thựctiễn của mình Để nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn về sự ra đời của nhà nước vàpháp luật theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê Nin, em xin chọn đề số 02 làmđề
tài bài tiểu luận của mình “Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của
nguyên lý về mối liên hệ phổ biến để lý giải về sự ra đời của nhà nước và pháp luật”.
NỘIDUNG
I Khái quát nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
1.1 Khái niệm
Khái niệm liên hệ Trong khi cùng tồn tại, các đối tượng luôn tương tác với
nhau, qua đó thể hiện các thuộc tính và bộc lộ bản chất bên trong, khẳng địnhmình
là những đối tượng thực tồn Sự thay đổi các tương tác tất yếu làm đối tượng, cácthuộc tính của nó thay đổi, và trong điều kiện có thể còn làm nó biến mất, chuyểnhóa thành đối tượng khác Sự tồn tại của đối tượng, sự hiện hữu các thuộc tínhcủa
nó phụ thuộc vào các tương tác giữa nó với các đối tượng khác, chứng tỏ rằng,
Trang 4tượng có liên hệ với các đối tượng khác Nhưng thế nào là mối liên hệ?
“Mối liên hệ ” là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc
tương hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa cảc yếu tố, bộ phận trong một đối
Trang 5tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau Liên hệ là quan hệ giữa hai
sự thay đối của một trong số chúng nhất định làm đối tượng kia thay đổi Ngược
lại, cô lập (tách rời) là trạng thái của các đối tượng, khi sự thay đổi của đối tượng
này không ảnh hưởng gì đến các đối tượng khác, không làm chúng thay đổi Khi
nói mối liên hệ chúng ta chủ yếu mới chỉ chú ý đến sự ràng buộc, tác động lẫn
nhau giữa các đối tượng vật chất - hữu hình, trong khi còn thế giới tinh thần
Khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên
hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mốiliên
hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó những mối liên hệ phổbiến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nóthuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng Đó là các mối liên hệ giữa cácmặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng, bảnchất và hiện tượng, v.v Như vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừatồn
tại những mối liên hệ đặc thù, vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến ở nhữngphạm vi nhất định Đồng thời, cũng tồn tại những mối liên hệ phổ biến nhất,trong
đó những mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trongnhững điều kiện nhất định Toàn bộ những mối liên hệ đặc thù và phổ biến đó tạonên tính thống nhất trong tính đa dạng và ngược lại, tính đa dạng trong tính thốngnhất của các mối liên hệ trong giới tự hiên, xã hội và tư duy
Trong chủ nghĩa duy vật biện chứng, “mối liên hệ phổ biến ” là khái niệm
1Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trinh triết học Mác Lê Nin năm 2019, tr.103-104
Trang 6chỉ sự quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng
hoặc giữa các mặt của một sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.
1.2 Vai trò
Trang 7Phép biện chứng duy vật đã kế thừa và phát triển phép biện chứng từ tựphát
đến tự giác, tạo ra chức năng phương pháp luận chung nhất, giúp định hướng việc
đề ra các nguyên tắc tương ứng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn và là mộthình thức tư duy hiệu quả quan trọng nhất đối với khoa học, bởi chỉ có nó mới cóthể đem lại phương pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ra trong thếgiới, giải thích những mối quan hệ chung, những bước quá độ từ lĩnh vực nghiêncứu này sang lĩnh vực khác.2 3
Nguyên lý về mối liên hệ phổ phản ánh tính thống nhất của vật chất và thếgiới Các sinh vật, hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, có khác nhau như thếnào chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duynhất đó là thế giới vật chất Xét dưới góc độ nhận thức lí luận, nó là cơ sơ lí luậncủa quan điểm toàn diện Đồng thời, mọi sự vật hiện tượng đều tồntại trong không gian thời gian nhất định và mang dấu ấn của không gian thờigian đó Do đó chúng ta cần có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét và giảiquyết mọi vấn đề thực tiễn đặt ra.3
II Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
2.1 Nội dung phương pháp luận
Khi nói mối liên hệ chúng ta chủ yếu mới chỉ chú ý đến sự ràng buộc, tácđộng lẫn nhau giữa các đối tượng vật chất - hữu hình, trong khi còn thế giới tinhthần ở đó các đối tượng không là những sự vật hữu hình mà lại vô hình như cáchình thức của tư duy (khái niệm, phán đoán, suy lý) hay các phạm trù khoa học -hình thức của nhận thức cũng liên hệ chặt chẽ với nhau và liên hệ với các vật thật
- nguyên mẫu hiện thực khách quan, mà các hình thức này chỉ là sự phản ánh, táitạo lại chúng Khi quan niệm về sự liên hệ được mở rộng sang cho cả giữa cácđối
tượng tinh thần và giữa chúng vốn thuộc chủ thể với các đối tượng khách quan thì
2Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trinh triết học Mác Lê Nin năm 2019, tr.103
3 Tiểu luận phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến, tại địa chỉ:
https://text.xemtailieu.com/tai-lieu/tieu-luan- ve-moi-truong-sinh-thai-o-viet-nam-398711 html , truy cập ngày 01/02/2021
Trang 8phep-bien-chung-ve-moi-lien-he-pho-bien-va-van-dung-phan-tich-moi-lien-he-giua-tang-truong-kinh-te-voi-bao-sẽ có quan niệm về mối hệ phổ biến Nguyên lý về mối liên hệ phổ
-mối liên hệ đa dạng, chúng giữ những vai trò, vị trí khác nhau trong sự vận động,chuyển hóa của các sự vật, hiện tượng Mối liên hệ qua lại, quy định, chuyển hóalẫn nhau không những diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư duy,
mà còn diễn ra giữa các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng
Tính phổ biến của mối liên hệ Theo quan điểm biện chứng thì không có
bất
cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật,hiện tượng hay quá trình khác Đồng thời, cũng không có bất cứ sự vật, hiệntượng
nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành vớinhững mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệthống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tươngtác và làm biến đổi lẫn nhau
Mối liên hệ phổ biến có tính đa dạng, phong phú Có mối liên hệ về mặt
không gian và cũng có mối liên hệ về mặt thời gian giữa các sự vật, hiện tượng
Có mối liên hệ chung tác động lên toàn bộ hay trong những lĩnh vực rộng lớn củathế giới Có mối liên hệ riêng chỉ tác động trong từng lĩnh vực, từng sự vật vàhiện
tượng cụ thể Có mối liên hệ trực tiếp giữa nhiều sự vật, hiện tượng, nhưng cũng
có những mối liên hệ gián tiếp Có mối liên hệ tất nhiên, cũng có mối liên hệ
Trang 9nhiên Có mối liên hệ bản chất cũng có mối liên hệ không bản chất chỉ đóng vaitrò phụ thuộc Có mối liên hệ chủ yếu và có mối liên hệ thứ yếu chúng giữnhững
vai trò khác nhau quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
Trang 10Để phân loại các mối liên hệ như trên, phải tuỳ thuộc vào tính chất và vaitrò của từng mối liên hệ Tuy vậy, việc phân loại này cũng chỉ mang tính tươngđối, bởi vì các mối liên hệ của các đối tượng là rất phức tạp, không thể táchchúng
khỏi tất cả các mối liên hệ khác Mọi liên hệ còn cần được nghiên cứu cụ thểtrong
sự biến đổi và phát triển cụ thể của chúng.4
Như vậy, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát toàn cảnh thế giớitrong những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng của nó Tính vôhạn của thế giới, cũng như tính vô lượng các sự vật, hiện tượng đó chỉ có thể giảithích được trong mối liên hệ phổ biến, được quy định bằng các mối liên hệ cóhình
thức, vai trò khác nhau
2.2 Ý nghĩa phương pháp luận
Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong nhiều mối liên hệ, tác động qua lại vớinhau; do vậy, khi nghiên cứu đối tượng cụ thể cần tuân thủ nguyên tắc toàn diện
Từ nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, phép biện chứng khái quátthành nguyên tắc toàn diện với những yêu cầu đối với chủ thể hoạt động nhậnthức
và thực tiễn như sau
Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh
thể thống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mối
liên hệ của chỉnh thể đó; “cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt,
tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp ” của sự vật đó ”, tức trong chỉnh
thể
thống nhất của “mối tổng hoà những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với các sự
vật khác”.
Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếu của đối
tượng đó và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại, bởi chỉ có nhưvậy, nhận thức mới có thể phản ánh được đầy đủ sự tồn tại khách quan với nhiều
4Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình triết học Mác Lê Nin năm 2019, tr.104-106
Trang 11thuộc tính, nhiều mối liên hệ, quan hệ và tác động qua lại của đối tượng.
Trang 12Thứ ba, cần xem xét đổi tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác và
với môi trường xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, giántiếp; trong không gian, thời gian nhất định, tức cần nghiên cứu cả những mối liên
hệ của đối tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán cả tương lai của nó
Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, một chiều,
chỉ thấy mặt này mà không thấy mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lạixem xét dàn trải, không thấy mặt bản chất của đối tượng nên dễ rơi vào thuậtnguy
biện (đánh tráo các mối liên hệ cơ bản thành không cơ bản hoặc ngược lại) và chủnghĩa chiết trung (lắp ghép vô nguyên tắc các mối liên hệ trái ngược nhau vàomột
mối liên hệ phổ biến)
Như vậy, trong thực tiễn hay trong nhận thức ta cần phải có quan điểmtoàn
diện Quan điểm này yêu cầu khi nghiên cứu, xem xét sự vật phải xem xét tất cảcác mối liên hệ của nó, nhưng không được đặt các mối liên hệ có vai trò ngangnhau, mà cần phải xác định xem đâu là sự liên hệ bản chất tất yếu bên trong sựvật, đâu là những liên hệ gián tiếp bên ngoài để từ đó có được kết luận chínhxác về sự vật
V.I.Lênin cho rằng: '"Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao
quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và "quan hệ gián tiếp" của sự vật đó" Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy
trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, khi thực hiện quan điểm toàn diện thìđồng
thời cũng cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể Nói cách khác, vì cácmối liên hệ có tính da dạng, phong phú - sự vật, hiện tượng khác nhau, khônggian, thời gian khác nhau các mối liên hệ biểu hiện khác nhau nên trong hoạtđộng
nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử - cụthể
Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình
Trang 13huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đốitượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn Phảixác
định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tìnhhuống
Trang 14cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Như vậy, trong nhận thức và thực tiễn không những
tránh và khắc phục quan điểm phiến diện, siêu hình mà còn phải tránh và khắc
phục quan điểm chiết trung, ngụy biện.
Quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tácđộng vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụthể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển Thực tế cho thấy rằng, một luậnđiểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này, nhưng sẽ không là luậnđiểm khoa học trong điều kiện khác
Đứng trên quan điểm lịch sử cụ thể, mọi vật trong thế giới vật chất tồn tạivân động và phát triển bao giờ cũng diễn ra trong những hoàn cảnh cụ thể, trongkhông gian và thời gian xác định Điều này ảnh hưởng tới đặc điểm, tính chất của
sự vật Khi nghiên cứu các sự vật phải đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể, trong khônggian và thời gian xác định mà sự vật tồn tại, vận động và phát triển Đồng thời,phải phân tích, vạch ra ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh đối với sự tồn tại của
sự vật với tính chất cũng như xu hướng vận động và phát triển của sự vật.5
III Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến để lý giải về sự ra đời của nhà nước và pháp luật.
3.1 Sự ra đời của nhà nước theo nội dung và ý nghĩa nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Nhà nước là một hiện tượng xã hội đa dạng và phức tạp Việc nghiên cứunguồn gốc nhà nước giữ một vị trí quan trọng bởi đây là vấn đề cốt lõi làm cơ sở
để đánh giá và nghiên cứu các vấn đề khác Việc nhận định đúng đắn nguồn gốc
ra đời của nhà nước giúp chúng ta hiểu rõ các thuộc tính cơ bản về nhà nước, bảnchất nhà nước và sự tồn tại của nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể Trên cơ sởquan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Mác-Lê Nin cho rằng nhà nướckhông phải là hiện tượng xã hội vĩnh cửu, bất biến mà nhà nước phải là một hiệntượng lịch sử, là sản phẩm của sự phát triển nội tại xã hội Từ thời kỳ cổ đại,trung
5Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, tại địa chỉ: https://vndoc.com/nguyen-ly-ve-moi-lien-he-pho-bien-150726
truy cập ngày 01/02/2021
Trang 15đại và cận đại đã có rất nhiều quan điểm khác nhau bàn về nguồn gốc ra đời của nhà nước Có thể thấy rằng, sự ra đời của Nhà nước mang tính khách quan, nguyên
nhân trực tiếp là do mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Nhà nước
đời, tồn tại trong một giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội và sẽ mất
những cơ sở tồn tại của nó không còn nữa.
Ph.Ăng-ghen đã mô tả sự ra đời của nhà nước trên cơ sở sự tan rã của chế
độ thị tộc Theo đó xã hội loài người qua quá trình phát triển đã dẫn đến sự pháttriển không ngừng của lực lượng sản xuất Vào thời cổ đại đã diễn ra ba lầnphân công lao động xã hội Qua ba lần phân công lao động này cho thấy lựclượng
sản xuất phát triển dẫn đến năng suất lao động tăng, của cải làm ra ngày càngnhiều, và dẫn đến có của cải dư thừa kèm theo đó là sự tích trữ, đồng thời xuấthiện một bộ phận chiến đoạt của cải dư thừa đó (do nắm quyền quản lý, cai quản)hoặc giàu lên nhờ tích trữ, đầu cơ từ đây đã có sự phân hóa giàu nghèo, giữangười
có của và người không có của, sự phân hóa giàu nghèo này dẫn đến hiệntượng phân tầng xã hội, phân chia thành các tầng lớp khác nhau từ đó dẫn đếnphân
chia giai cấp đồng thời và kéo theo xuất hiện mâu thuẫn giai cấp và điều khôngtránh khỏi là đấu tranh giai cấp, lúc này nhà nước đã có tiền đề rõ ràng cho sự rađời của mình Lực lượng sản xuất phát triển đã dẫn đến sự ra đời chế độ tư hữuvà
từ đó xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng và cuộc đấu tranh giaicấp không thể điều hoà được xuất hiện Điều đó dẫn đến nguy cơ các giai cấpchẳng những tiêu diệt lẫn nhau mà còn tiêu diệt luôn cả xã hội, tạo ra một tìnhtrạng loạn lạc hỗn độn Xã hội lúc này đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sứcdập
tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấy, hoặc cùng lắm là để làm chocuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi làhợp pháp và để thảm hoạ đó không diễn ra, một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra