1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Vận dụng phương pháp tự học môn Ngữ văn lớp 10 THPT

51 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nh ững tính mới, đóng góp mới của đề tài Hiện nay, xây dựng và tổ chức các hình thức dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực trong môn ngữ văn đã được thực hiện, tuy n

Trang 1

S Ở GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

NG Ữ VĂN LỚP 10 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LĨNH VỰC : PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

THUỘC MÔN: NGỮ VĂN

Trang 2

S Ở GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

NG Ữ VĂN LỚP 10 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LĨNH VỰC : PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

THUỘC MÔN: NGỮ VĂN TÁC GIẢ: NGUYỄN TRỌNG HÒA ĐƠN VỊ: TRƯỜNG THPT TÂN KỲ ĐIỆN THOẠI: 0942066567

NGHỆ AN - 2021

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC Trang

Phần I Đặt vấn đề 1

Phần II Nội dung nghiên cứu 3

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng kĩ năng tự học phương pháp hướng dẫn học sinh tự học ở môn Ngữ Văn lớp 10 – THPT 3

1.1 Cơ sở lí luận ……… … 3

1.2 Hiện trạng hướng dẫn học sinh phương pháp tự học ở môn Ngữ văn chương trình THPT lớp 10 5

Chương II: Biện pháp hướng dẫn học sinh vận dụng phương pháp tự học ở môn Ngữ văn lớp 10 - THPT ……… … 10

2.1 Yêu cầu của việc vận dụng phương pháp tự học ở môn Ngữ văn lớp 10 THPT 10

2.2 Hình thành và vận dụng phương pháp tự học Ngữ văn cho học sinh trong quá trình dạy học ở trường phổ thông trung học.………… 14

2.3 Các biện pháp hướng dẫn học vận dụng phương pháp tự học ở môn Ngữ văn THPT……… 16

2.4 Ý nghĩa của việc hình thành và phát triển phương pháp tự học Ngữ văn cho học sinh trong quá trình dạy học ở trường phổ thông.……… 25

2.5 Vận dụng thiết kế một giáo án về sử dụng phương pháp tự học trong môn Ngữ văn - Lớp 10 THPT.……… 26

Chương III: Thực nghiệm sư phạm 36

3.1 Mục đích của thực nghiệm 36

3.2 Phương pháp thực nghiệm.……… 36

3.3 Nội dung thực nghiệm.……… 36

3.4 Tổ chức thực nghiệm 36

3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 37

3.6 Kết quả thực nghiệm 37

Kết luận và kiến nghị 39

Trang 5

mới có được sự tự tin trong học tập, cuộc sống, công việc.

Vấn đề tự học tự đào tạo của người học đã được Đảng, Nhà nước quan tâm quán triệt sâu sắc từ nhiều năm qua Nghị quyết Trung ương V khóa 8 từng nêu rõ:

“ Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạo của học sinh, Bảo đảm mọi điều kiện và thời gian tự học cho học sinh, phát

toàn dân”

Trên tinh thần ấy, rõ ràng Đảng ta đã coi tự học, tự đào tạo là vấn đề mấu

chốt có vị trí cực kì quan trọng trong chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo của đất nước Đối với môn Ngữ Văn ở nhà trường phổ thông thì mục tiêu không chỉ

là cung cấp tri thức một cách có hệ thống mà quan trọng hơn là hình thành cho người học những năng lực cần thiết để vận dụng vào giải quyết các vấn đề thực

tiễn cuộc sống Mục tiêu của môn Ngữ Văn – THPT là trang bị cho học sinh

những kiến thức phổ thông, cơ bản, cần thiết Ngoài ra còn góp phần bồi dưỡng cho học sinh ý thức kĩ năng giải quyết các tình huống có thực trong thực tiễn, nâng cao chất lượng cuộc sống nên việc đổi mới phương pháp dạy học là thực sự cần thiết

Trong những năm gần đây dạy học Ngữ Văn ở nhà trường phổ thông đã có nhiều đổi mới cả về nội dung và phương pháp dạy học Tuy nhiên chất lượng dạy và học

vẫn còn chưa cao Nguyên nhân chủ yếu là do GV vẫn chưa biết cách vận dụng hiệu

quả các PPDH tích cực vào trong quá trình dạy học, hoặc nếu có vẫn mang tính hình

thức Để nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ Văn lớp 10 – THPT, mỗi GV cần vận

dụng linh hoạt các PPDH tích cực

Đồng thời trong chương trình GDPT theo định hướng phát triển năng lực và phẩm

áp dụng sau năm 2020 hướng tới 5 phẩm chất: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung

thực, trách nhiệm và hình thành phát triển những năng lực cốt lõi: Năng lực tự chủ và

tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Xuất phát từ yêu cầu đổi mới dạy học, đạt mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông

áp dụng sau năm 2020 và từ thực trạng của bộ môn Ngữ Văn bậc THPT tôi đã

ạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu "Vận dụng phương pháp tự học môn Ngữ văn

Trang 6

2 Nh ững tính mới, đóng góp mới của đề tài

Hiện nay, xây dựng và tổ chức các hình thức dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực trong môn ngữ văn đã được thực hiện, tuy nhiên đa số giáo viên còn lúng túng, mang tính thời điểm, thiếu kinh nghiệm trong việc áp

dụng và thực hiện Trong đó qua khảo sát thực tế nhiều giáo viên và học sinh vẫn còn mang tính hình thức khi vận dụng phương pháp tự học trong quá trình dạy và học bộ môn Ngữ văn ở bậc THPT

Đề tài đã nghiên cứu về thực trạng vận dụng phương pháp tự học trong bộ môn Ngữ Văn hiện nay ở trường THPT trên địa bàn huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An

Từ đó, đưa ra các giải pháp vận dụng phương pháp tự học trong dạy học , thiết kế các hình thức dạy học bằng phương pháp tự học trong dạy học bộ môn Ngữ Văn

lớp 10 bậc THPT theo định hướng hình thành và phát triển năng lực học sinh một cách cụ thể Mặt khác, thông qua tổ chức dạy học theo định hướng mới thông qua phương pháp tự học làm cho học sinh yêu thích học bộ môn Ngữ Văn hơn

Thông qua thiết kế và soạn giảng bài Cảnh ngày hè - Ngữ Văn 10 bậc

THPT theo định hướng mới, để hướng tới các mục tiêu: chiếm lĩnh nội dung kiến

thức khoa học, hiểu biết tiến trình khoa học và rèn luyện các kĩ năng tiến trình khoa học như: quan sát, thu thập thông tin, dữ liệu; xử lý (so sánh, sắp xếp, phân loại, liên hệ…thông tin); suy luận, áp dụng thực tiễn nhằm hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh thông qua rèn luyện kĩ năng phương pháp tự học cho học sinh.Việc vận dụng phương pháp tự học vào dạy học Ngữ Văn có thể xem một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh

Đề tài cũng đáp ứng được yêu cầu đổi mới toàn diện và đồng bộ trong phương pháp dạy học và định hướng phát triển phẩm chất năng lực của học sinh, xác định

rõ những yêu cầu cơ bản của phương pháp tự học như: nội dung phương pháp tự

học gồm mấy vấn đề, để tiếp cận nó phải tuân thủ theo qui trình nào, điều kiện để

áp dụng có hiệu quả các yêu cầu ra sao… từ đó xây dựng những biện pháp dạy tự

học tích cực tương ứng

Mặt khác, đề tài sáng kiến đáp ứng được một trong những mục tiêu của đổi mới căn bản, toàn diện về GD&ĐT hiện đại mà trong Nghị quyết số 29 của Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ ra Qua đề tài nghiên cứu nhằm giúp người dạy và người học tiếp cận với xu thế dạy học trong chương trình giáo dục THPT mới áp dụng sau năm 2020, đó là phát triển con người mới có năng lực và phẩm chất đáp ứng sự phát triển của xã hội

Trang 7

PH ẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP HƯỠNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC Ở MÔN NGỮ VĂN

L ỚP 10 – THPT

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 M ột số khái niệm tự học và phương pháp tự học

Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho HS,SV trong các nhà trường

động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ,

phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó

chính bản thân người học”

Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998 cũng bàn về khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức

vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn

đề, thử nghiệm các giải pháp… Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”

Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “ Học bao giờ và

lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế

cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”

Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của

mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các

hoạt động tự thân ấy Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi học sinh phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các kĩ năng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc

Một phương pháp dạy học có hiệu quả trong việc hình thành năng lực của

học sinh là chú ý đến rèn luyện năng lực tự học

Hoạt động tự học của học sinh thường diễn qua hai giai đoạn chủ yếu: Giai

đoạn học sinh tự lĩnh hội kiến thức ở trên lớp dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo

nhớ máy móc mà cần thiết phải huy động học sinh khám phá tri thức Học sinh

Trang 8

tích cực phát biểu xây dựng bài bằng phương pháp tích cực như: Tranh luận, nêu

vấn đề, đóng vai, sử dụng các câu hỏi công não, động não, làm việc nhóm…(chú ý đến cả lớp, tránh tập trung một số học sinh), hướng dẫn học sinh ghi chép một cách khoa học, ghi ý chính theo sơ đồ tư duy, theo cách sáng tạo của riêng mình;

Giai đoạn học sinh tự củng cố kiến thức và thực hành bài tập ở nhà không có sự kiểm soát trực tiếp của giáo viên Gắn liền với nhiệm vụ cơ bản: học bài, củng cố

kiến thức kết hợp làm bài tập và chuẩn bị tiếp thu bài học mới sắp học Giáo viên

cần chú ý giao nhiệm vụ, bài tập về nhà cụ thể vận dụng các bài tập trong dạy học nêu vấn đề kết nối giữa các bài học với nhau, có kiểm tra thường xuyên, liên tục để

có sự điều chỉnh kịp thời

Ngoài ra giáo viên cũng cần chú ý vận dụng hướng dẫn tự học phù với với

kiểu học của học sinh, phù hợp với tình hình thực tế từng lớp học Giáo viên cần

tìm hiểu và ứng dụng lý thuyết về các kiểu học của học sinh để có sự lựa chọn phương pháp dạy và hướng dẫn học sinh cách học, cách ôn tập kiến thức phù hợp

với kiểu học …

1.1.2 V ị trí vai trò của phương pháp tự học

T ự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học

Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học Trong quá trình hoạt động dạy học GV không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức có sẵn, chỉ cần yêu cầu HS ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng,

tổ chức cho HS tự mình khám phá ra những qui luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoa học Giúp HS không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đến

những tri thức ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng học lên cao thì tự học càng cần được coi trọng, nói tới phương pháp dạy

học thì cốt lõi chính là dạy tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thì

phải có khả năng phát hiện và tự giải quyết những vấn đề mà cuộc sống, khoa học đặt ra Đây cũng là một yêu cầu quan trong trong CTGDPT mới 2018

mẽ cho quá trình học tập

Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh Và một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học Bởi từ đó nền giáo dục mới mong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực (hình thành từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách

thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự

gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thú người học mới có được sự tự giác say mê tìm tòi

Trang 9

nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú với tự giác Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập

định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với

mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi cá nhân

sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với

những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức

to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ

tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao

Về phương pháp, hai mẫu phiếu điều tra đã được xây dựng (dành cho giáo viên

và học sinh) rồi gửi về một số trường phổ thông, kết quả thu được 158 phiếu giáo viên và 980 phiếu học sinh Ngoài ra việc phỏng vấn trực tiếp giáo viên, học sinh

về các vấn đề liên quan đến tự học và dự giờ, thăm lớp cũng được tiến hành Đồng

thời tập hợp các nguồn tin tức thời sự qua báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng để có sự đánh giá chính xác hơn về thực trạng dạy học và phát triển kĩ năng

tự học cho học sinh Bản chất của tự học là vấn đề quan trọng, tuy nhiên nhận thức

về nội dung này nhiều HS và ngay cả giáo viên vẫn còn mơ hồ, hiểu một cách phiến diện Sau đây là biểu đồ khảo sát thực tế

Trang 10

Khi được hỏi về bản chất của tự học của học sinh, khảo sát ý kiến của giáo viên,

cụ thể: Số phiếu phát ra là 158 phiếu đã thu được kết quả như sau:

- 68,9% giáo viên tham gia cuộc điều tra cho rằng: Tự học của học sinh là quá trình học sinh tích cực, chủ động, độc lập nhận thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên

- 24% giáo viên tham gia cuộc điều tra cho rằng: Tự học của học sinh là quá trình học sinh tự học tập ở nhà để bổ sung cho kiến thức trên lớp

- 6,9% giáo viên tham gia cuộc điều tra cho rằng: Tự học của học sinh là tự mình tìm ra kiến thức mà không cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của giáo viên

T? mình tìm ra ki?n th? c

BI ỂU ĐỒ BẢN CHẤT TỰ HỌC CỦA HỌC SINH

Quá trình h ọc tích cực chủ động

Quá trình t ự học tại nhà

Tự mình tìm ra kiến thức ự

%

Q d Q T

Trang 11

Tự học giáo dục đạo đức, nhân cách tốt cho học sinh và rèn luyện thói quen tốt trong học tập.

Tự học góp phần nâng cao chất lượng đào tạo bộ môn ở trường phổ thông

V ề phương pháp:

- 33,27% giáo viên nhất trí phát triển kĩ năng tư duy môn ngữ văn cho học sinh

- 40.92% giáo viên đồng ý với kĩ năng học sinh tự làm việc với SGK và tài liệu tham khảo

- 25.81% giáo viên nhấn mạnh kĩ năng phát hiện kiến thức qua đồ dùng trực quan

Tự học giáo dục đạo đức, nhân cách tốt cho học sinh và rèn luyện thói quen tốt trong học tập.

Tự học góp phần nâng cao chất lượng đào tạo bộ môn ở trường phổ thông

Như vậy, ở mức độ và lựa chọn khác nhau của giáo viên đã phản ánh tính phong phú của hệ thống kĩ năng tự học trong quá trình dạy học Ngữ văn 10 – THPT

Trang 12

Mặc dù nhận thức của giáo viên về vấn đề tự học và kĩ năng phát triển kĩ năng

tự học đúng đắn, nhưng khi được hỏi về phương pháp hình thành và phát triển một

số kĩ năng tự học cơ bản cho học sinh trong dạy học bộ môn Ngữ Văn ở trường

phổ thông, còn nhiều bất cập: chủ yếu giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh đọc SGK trên lớp và gạch chân những nội dung quan trọng, ít quan tâm đến việc rèn luyện

học sinh kết hợp SGK với nghe giảng và ghi chép chủ động Các kĩ năng cơ bản khác như: kĩ năng tư duy, khai thác đồ dùng trực quan, tài liệu tham khảo, làm việc nhóm, chưa được chú trọng rèn luyện

Đối với học sinh, khi nhận thức về vấn đề tự học: giáo viên làm cuộc khảo sát nhanh với số phiếu phát ra là 980 phiếu, thu được kết quả như sau:

- 52,04% học sinh cho rằng: Tự học là tự mình tích cực, chủ động chiếm lĩnh

kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên

- 39.79% học sinh cho rằng: Tự học là tự mình đọc SGK, tài liệu tham khảo ở nhà để soạn bài mới

- 8,17% học sinh khẳng định: Tự học là học ngoài giờ lên lớp

Tự học là tự mình đọc SGK, tài liệu tham khảo ở nhà để chuẩn bị bài mới.

học sinh khẳng định:Tự học là học ngoài giờ lên lớp

Như vậy các em đã hiểu được ở mức độ nhất định các hình thức tự học khác nhau, nhưng về bản chất tự học các em còn mơ hồ

Thông qua kết quả điều tra cho thấy, việc tự học và phát triển kĩ năng tự học

Ngữ văn cho học sinh còn nhiều hạn chế

1.2.2 Nguyên nhân c ủa thực trạng hưỡng dẫn học sinh kĩ năng tự học ở môn Ng ữ Văn ở nhà chương trình THPT Lớp 10

Một số giáo viên chưa nhận thức đúng bản chất, vai trò của tự học, chưa xác định được hệ thống kĩ năng tự học cơ bản và các biện pháp thích hợp để rèn luyện

và phát triển kĩ năng tự học cho học sinh Một số giáo viên còn dạy học theo lối

Trang 13

đọc – chép, chỉ tập trung vào việc dạy kiến thức, ít dạy học sinh cách học và khuyến khích học sinh tự học

Về phía học sinh, tình trạng học tập thụ động đã hạn chế rất nhiều khĩ năng và

hứng thú tự học của học sinh Ngoài ra nhiều học sinh không còn yêu mến khiến cho việc tự học môn Ngữ văn càng yếu hơn (cả về hình thức, thời gian, mức độ

học chỉ để thi tốt nghiệp

Chương trình đào tạo ở nhiều trường cao đẳng và đại học sư phạm còn nặng về

kiến thức hàn lâm, chưa đầu tư đúng mức cho công tác rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ cho sinh viên Việc tự học của sinh viên sư phạm còn hạn chế Điều này ảnh hưởng đến việc hướng dẫn học sinh tự học ở trường phổ thông khi họ trở thành giáo viên

thực sự đứng trên bục giảng Nên thực tế không ít giáo viên bộ môn Ngữ Văn còn non yếu cả về chuyên môn và năng lực sư phạm

Từ đó có thể khẳng định, việc đề xuất các biện pháp phát triển hệ thống kĩ năng

tự học cơ bản cho học sinh là một yêu cầu cấp thiết Để giải quyết được những hạn

chế trên cần có biện pháp đồng bộ từ các cấp quản lí giáo dục, đến giáo viên và

học sinh, có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình, xã hội

Trang 14

CHƯƠNG II : BIỆN PHÁP HƯỠNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC Ở MÔN NGỮ VĂN LỚP 10 THPT

2.1 Yêu c ầu của việc Vận dụng phương pháp tự học ở môn Ngữ Văn lớp

10 - THPT

2.1.1 Đối với giáo viên

Thứ nhất, muốn học sinh có ý thức tự học thì trước hết học sinh phải yêu thích môn học đó Vì vậy GV cần tạo cho HS niềm say mê môn học GV có thể

dùng tiết dạy để giới thiệu về môn học, về những giá trị của môn học trong thực tiễn bằng những ví dụ minh họa cụ thể nhằm kích thích động cơ học tập ở các em

Thứ hai, GV cần hướng dẫn cho HS cách xây dựng kế hoạch học tập từ ban đầu Ngay từ tiết học đầu tiên của môn học, GV không cần phải dạy ngay mà

cần giới thiệu sơ lược về chương trình, nội dung và phương pháp học một cách khái quát nhất để HS hiểu và từ đó, tự xây dựng cho mình kế hoạch học tập phù hợp GV phải làm cho HS hiểu rõ: mọi kế hoạch phải được xây dựng dựa trên mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể và HS hoàn toàn có thể phấn đấu thực hiện được từng mục tiêu nếu có kế hoạch thời gian được xây dựng chi tiết Chẳng hạn, trong quá trình giảng dạy mỗi bài, GV sẽ cung cấp nội dung và thời gian học và kiểm tra

để HS nắm rõ Đồng thời, GV có thể cho HS đánh dấu vào trong sách bài nào học ngày nào, đến tiết nào sẽ kiểm tra Muốn HS tự xây dựng kế hoạch học tập thì GV phải là người cung cấp đầy đủ kế hoạch dạy và học của bộ môn Giáo viên phải cung cấp phân phối chương trình nôn học để HS dựa vào đó xây dựng kế hoạch học tập theo tuần

Thứ ba, GV hướng dẫn cho HS cách tìm và đọc sách hoặc tài liệu liên quan đến môn học, hưỡng dẫn cách học online, học trực tuyến trên trang web GV

cần nhấn mạnh cho HS thấy rằng, kiến thức môn học không chỉ gói gọn trong nội dung SGK, trong bài giảng của GV mà đến từ nhiều nguồn khác nhau Do đó, GV cần giới thiệu cho HS những cuốn sách hay, những tài liệu bổ ích liên quan đến môn học và khuyến khích các em tự tìm kiếm, tự phân tích và tổng hợp kiến thức

GV cũng có thể giới thiệu địa chỉ một số trang web chuyên ngành, hoặc các trang diễn đàn trao đổi kinh nghiệm học tập để HS tham khảo thêm

Thứ tư, GV nên dạy cho HS cách ghi chép và nghe giảng vì đây là những

kỹ năng học tập vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập của

HS Trình độ nghe và ghi chép của người học ở mỗi môn học khác nhau là khác nhau, tùy thuộc vào đặc thù của từng môn học và phương pháp giảng dạy của từng giáo viên HS thường mang lối học thụ động, quen tách việc nghe và ghi chép ra khỏi nhau, thậm chí nhiều HS chỉ chờ GV đọc mới có thể ghi chép được nội dung bài học, nếu ngược lại thì bỏ trống vở Điều này khiến HS có tâm lí ức chế, ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận kiến thức Để khắc phục vấn đề này này, GV nên xây dựng bộ giáo án mẫu, bên cạnh nội dung của bài học có chừa khoảng trắng cho

HS ghi chép những vấn đề mà GV mở rộng Đối với các vấn đề mà HS còn chưa

Trang 15

rõ, có thể đánh dấu để hỏi lại GV hoặc tìm hiểu thêm GV phải rèn luyện cho HS cách ghi chép nhanh bằng các hình thức gạch chân từ khóa, tóm lược bằng sơ đồ những ý chính Đối với các vấn đề quan trọng, GV cần nhấn mạnh, lặp lại nhiều lần để HS tiếp thu dễ dàng hơn

Thứ năm, GV hướng dẫn cách học bài GV nên giới thiệu và hướng dẫn cho

HS tự học theo mô hình các nấc thang nhận thức của Benjamin S.Bloom Theo cách phân chia trong thang nhận thức của Bloom, HS có thể học cách phân tích, tổng hợp, vận dụng tri thức vào từng tình huống thực tiễn, học cách nhận xét, đánh giá, so sánh đối chiếu các kiến thức khác… Cách tự học theo mô hình các nấc thang nhận thức của Bloom sẽ giúp cho HS có thể học được cách rèn luyện được

năng lực tư duy logic, tư duy trừu tượng và phát triển tư duy sáng tạo trong việc tìm ra những hướng tiếp cận mới đối với các vấn đề khoa học

Thứ sáu, GV cần giao nhiệm vụ cụ thể cho HS ở tiết học tiếp theo Để phát

huy tối đa năng lực tự học và thúc đẩy HS tận dụng hết thời gian tự học, GV cần giao nhiệm vụ cụ thể cho HS Có như thế, các em mới định hướng được cụ thể các nhiệm vụ mình cần làm tiếp theo Sau khi đã tiếp nhận được kiến thức cũ, các em

có thể tìm hiểu kiến thức mới Khi có sự chuẩn bị trước ở nhà, việc học trên lớp sẽ trở nên có hiệu quả hơn rất nhiều

2.1.2 Đối với học sinh các kĩ năng các em cần phải có

Kỹ năng định hướng

Trước tiên, để quá trình tự học diễn ra thành công người học cần thiết lập cơ

sở định hướng của hành động Đó là hệ thống định hướng và chỉ dẫn mà chủ thể có thể sử dụng nó để thực hiện một hành động xác định nào đó Nó có chức năng nhận thức đối tượng, vạch kế hoạch, kiểm tra và điều chỉnh hành động theo kế hoạch Để có được cơ sở định hướng, người học phải trả lời được các câu hỏi:

- Học nhằm mục đích gì? Học vì yêu thích môn học, vì trách nhiệm với gia đình và xã hội, hay vì để được khen, được đánh giá cao…

- Thái độ học tập ra sao? Học với tinh thần, thái độ nghiêm túc hay hời hợt qua loa

- Học như thế nào? Người học nên chọn phương pháp nào là phù hợp với bản thân

Kỹ năng lập kế hoạch học tập

Mọi việc sẽ dễ dàng hơn nếu người học xác định được mục tiêu, nội dung và phương pháp học Muốn vậy, người học phải xây dựng được kế hoạch học tập Trên cơ sở bộ khung đã được thiết lập đó, người học có thể tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức một cách dễ dàng Trong quá trình lập kế hoạch người học phải chú ý một

số điểm sau:

Trang 16

- Thứ nhất, người học phải xác định tính hướng đích của kế hoạch Đó có thể

là kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, thậm chí kế hoạch cho từng môn, từng phần Kế hoạch phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm, từng giai đoạn

cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình

- Thứ hai, khi lập kế hoạch, người học phải chọn đúng trọng tâm, cần xác định được cái gì là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó

Kỹ năng thực hiện kế hoạch

Muốn thực hiện thành công kế hoạch mình đã tạo lập, người học cần có một

số kỹ năng sau:

- Tiếp cận thông tin: lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet… Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt

- Xử lí thông tin: việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được Quá trình này có thể được tiến hành thông qua các kỹ năng ghi chép, phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh…

- Vận dụng tri thức, thông tin: thể hiện qua việc vận dụng thông tin tri thức khoa học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí

các tình huống, viết bài …

- Trao đổi, phổ biến thông tin: việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri thức thông qua các hình thức: thảo luận, thuyết trình, tranh luận…

Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm

Trang 17

Khi người học tự đánh giá được kết quả học tập của mình, người học sẽ tự đánh giá được năng lực học tập của bản thân, hiểu được cái gì mình làm được, cái

gì mình chưa làm được để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục Để có kỹ năng

tự kiểm tra, đánh giá, học sinh cần:

- Tự trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa bằng cách xác định yêu cầu của câu hỏi, dự kiến câu trả lời, tái hiện các kiến thức liên quan, tập trình bày câu trả lời trước nhóm hoặc trước lớp để tìm ra chỗ sai từ đó khắc phục

- Tự đặt câu hỏi để tự mình giải quyết hoặc thảo luận cùng bạn bè

- Làm các bài tập của thầy cô giao cho, hoặc các bài tập bản thân tự tìm kiếm sau đó tự mình kiểm tra đáp án để rút kinh nghiệm…

Chúng tôi xin dẫn nguồn từ kết quả khảo sát về hoạt động tự học của HS THPT tại trường THPT Tân Kỳ để nêu lên thực trạng về hoạt động tự học của HS.Chúng tôi tiến hành phát phiếu khảo sát 100 em học sinh

Theo kết quả khảo sát, có 72,0% HS chọn hình thức học một mình, 21,0% HS chọn nhóm bạn để cùng học tập và chỉ có 7,0% HS chọn hình thức học với người thân

Kết quả khảo sát cũng cho thấy, về kỹ năng tự học: Mức độ sử dụng không thành thạo các kỹ năng tự học của HS còn quá thấp chiếm 32,0%, có 60,0% HS còn lúng túng khi sử dụng các kỹ năng tự học, chỉ có 8,0% sử dụng thành thạo các khả năng tự học

0 20 40 60 80 100

1st Qtr 2nd Qtr 3rd Qtr 4th Qtr

East West North

BIỂU ĐỒ KHẢO SÁT KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH

32,00%

60,00%

8,00%

Mức độ sử dụng không thành thạo các kỹ năng tự học của HS

HS còn lúng túng khi sử dụng các

kỹ năng tự học

HS sử dụng thành thạo các khả năng tự học

Về ý kiến của GV đối với thời gian tự học của HS chúng tôi tiến hành khảo sát

100 GV, có 68% ý kiến GVcho rằng HS chỉ tự học một ngày từ 1 giờ đến 2 giờ và

có 32% ý kiến GV cho rằng HS tự học 3 giờ và trên 3 giờ mỗi ngày

Trang 18

Ý kiến của các HS về thời gian tự học cũng tương đối tương tự với các ý kiến của các GV về vấn đề này khi có 65% cho rằng các em chỉ tự học từ 1 giờ đến 2 giờ trong một ngày và có 35% HS cho biết đã tự học 3 giờ và trên 3 giờ mỗi ngày Qua kết quả khảo sát, có thể thấy rằng hoạt động tự học của HS vẫn chưa đạt hiệu quả cao Theo kết quả trên, tỉ lệ HS tự học từ 1 đến 2 giờ chiếm khá cao Bên cạnh đó, nhiều HS vẫn còn lúng túng khi sử dụng các kỹ năng tự học Nguyên nhân một phần là do các em chưa có ý thức tự giác trong quá trình học tập, một phần khác là do các em chưa được định hướng một cách cụ thể trong hoạt động tự học của bản thân Do vậy, vai trò của người GV trong việc phát triển kỹ năng tự học của HS nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở trường phổ thông là hết sức quan trọng

2.2 Hình thành và v ận dụng phương pháp tự học Ngữ văn cho học sinh trong quá trình d ạy học ở trường phổ thông trung học

2.2.1 Hình thành Kĩ năng tự học

Theo Từ điển tiếng Việt: “Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu

thập được được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn”

Ý kiến khác cho rằng kĩ năng đồng nhất với những kĩ thuật của hành động thao tác khi làm một việc gì đó Theo đó, người có kĩ năng là người có hành động đúng đắn Hoặc kĩ năng là phương thức vận dụng tri thức vào hoạt động thực hành đã được củng cố Kĩ xảo và những hành động đã trở nên tự động hóa nhờ luyện tập

Xuất phát từ những hiểu biết khác nhau và từ tính khả thi của các biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học môn học, chúng tôi cho rằng, kĩ năng là sự thực hiện có kết

quả một công việc nào đó ( lao động chân tay hay nhận thức) bằng cách vận dụng

những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp hoàn và điều kiện cho phép Ở một góc độ nào đó, kĩ năng gần với phương pháp đúng đắn Điều ấy

có nghĩa là kĩ năng bao gồm những hiểu biết về đối tượng cần tác động, đặc biệt là

những quy luật vận động của đối tượng Người có kĩ năng là người trước tiên phải

nhận thức đúng, hiểu rõ công việc mà mình phải làm, phải có những hành động phù hợp với quy luật vận động của đối tượng để đạt được kết quả như mục tiêu đã

đề ra, có thể hành động đạt được kết quả cao với những công việc, tình huông tương tự Như vậy kĩ năng không chỉ đòi hỏi con người phải hiểu biết đúng đắn về đối tượng tác động và các kinh nghiệm cần thiết mà còn phải biết vận dụng vốn tri

thức kinh nghiệm để hành động đúng đắn, đạt kết quả cao Bản thân con người sinh ra chưa có kĩ năng hoạt động thực tiễn, nhất là những kĩ năng công việc Đa số

những kĩ năng có được xuất phát từ hoạt động thực tiễn, từ đào tạo Khi xem xét kĩ năng cần phải lưu ý những điểm sau:

- Kĩ năng trước phải được hiểu là mặt kĩ thuật của hành động, kĩ năng bao

giờ cũng gắn với hành động cụ thể

- Tính đúng đắn, sự thành thạo, linh hoạt, mềm dẻo là tiêu chuẩn quan trọng

để xác định sự hình thành và phát triển kĩ năng Một hành động chưa được gọi

Trang 19

là có kĩ năng nếu còn mắc nhiều lỗi vụng về, các thao tác diễn ra theo khuôn

khổ cứng nhắc

- Kĩ năng không phải sinh ra đã có Đó là sản phẩm của hoạt động thực tiễn,

là quá trình con người vận dụng tri thức và hoạt động kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn để đạt được mục đích đề ra

- Kĩ năng là một biểu hiện, một điều kiện cần thiết, một yếu tố quan trọng trong tổ hợp nhiều yếu tố tạo nên năng lực (yếu tố cần nhưng chưa đủ)

2.2.2 Hình thành và phát tri ển phương pháp tự học Ngữ văn cho học sinh trong quá trình d ạy học ở trường phổ thông trung học

Kĩ năng tự học nói chung , kĩ năng tự học môn Ngữ văn ở trường phổ thông trung học nói riêng là khả năng tự mình chiếm lĩnh kiến thức ngữ văn một cách có

hiệu quả Chương trình quy định cụ thể về những kĩ năng cần đạt cho học sinh ở trường phổ thông với bộ môn Ngữ văn là:

- Kĩ năng xác định thông tin trong bối cảnh không gian, thời gian của một sự

kiện văn học

- Kĩ năng trình bày (tóm tắt, miêu tả nhân vật, thuyết minh );

- Kĩ năng khai thác ngữ liệu, tư liệu

- Kĩ năng bộ môn (vận dụng các kiến thức đã học để trả lời các câu hỏi, làm bài tập môn ngữ văn, có kĩ năng tính toán, vẽ hình, dựng biểu đồ )

- Hình thành kĩ năng tự học Ngữ văn cho học sinh là một quá trình, không

thể tiến hành một cách tùy tiện, mày mò theo chủ nghĩa kinh nghiệm, mà phải

tiến hành khoa học, tuân thủ một quy trình nhất định K.K.Platonop đưa ra 5 giai đoạn hình thành kĩ năng như sau:

- Giai đoạn 1: Có kĩ năng sơ đẳng: ý thức được mục đích hành động và tìm

kiếm cách thực hiện hành động dựa trên vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống Hành động được thực hiện bằng cách “thử” và “sai”

- Giai đoạn 2: Biết cách làm nhưng không đầy đủ: có hiểu biết về phương

thức thực hiện hành động; vận dụng các kĩ năng đã có, nhưng không phải

những kĩ năng chuyên biệt dành cho hành động này

- Giai đoạn 3: Có kĩ năng chung nhưng mang tính riêng lẻ

- Giai đoạn 4: có kĩ năng phát triển cao, sử dụng sáng tạo vốn hiểu biết và kĩ năng đã có, ý thức được không chỉ mục đích hành động, mà còn cả động cơ lựa

chọn cách thức đạt mục đích

- Giai đoạn 5: Sử dụng sáng tạo các kĩ năng trong những điều kiện khác nhau Trong thực tế, hình thành quá trình kĩ năng thường diễn ra trong thành 3 giai đoạn:

Trước hết là sự nhận thức về mục đích, cách thức và điều kiện hành động

Đây là giai đoạn quan trọng vì mục đích chính là kết quả hành động mà người

ự kiến trước khi bắt tay vào hành động Nếu không xác định được mục đích sẽ

Trang 20

được kết quả mong muốn Đồng thời với việc nhận thức mục đích cần phải nắm

vững cách tiến hành các thao tác thực hiện hành động Việc lĩnh hội này có thể do con người tự học, cũng có thể do người khác hướng dẫn

Tiếp theo là giai đoạn quan sát mẫu và làm thử theo mẫu

Công việc này sẽ giúp người ta thấy được khả năng vận dụng tri thức vào hoạt động, xem hành động có những ưu nhược điểm nào cần phát huy, cần sữa chữa và

có tác dụng củng cố vốn kiến thức đã nắm Người năng lực yếu thì phải làm thử nhiều, người có năng lực thực sự thì việc làm thử không cần nhiều Thông thường khi làm thử, các tình huống chưa phức tạp bằng điều kiện thực tế Song giai đoạn này cũng tạo điều kiện để người hướng dẫn kiểm tra và uốn nắn kịp thời

Cuối cùng là tiến hành luyện tập

Ở giai đoạn này, các thao tác, các bước thực hiện hành động dần dần được chính xác hơn Đồng thời, các tri thức và cách thức hành động được ôn luyện làm cho người đọc nắm chắc hành động hơn Có thể nói, kĩ năng thực sự ổn định khi trong điều kiện khác nhau, con người vẫn hành động có kết quả cao Như vậy, để hình thành một kĩ năng đòi hỏi cả một quá trình Thời gian dài hay ngắn, kết quả được cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, sự nỗ lực của người học

giữ vai trò quyết định

2.3 Các bi ện pháp hưỡng dẫn học vận dụng phương pháp tự học ở môn

Ng ữ văn THPT

2.3.1 Hình thành và phát tri ển phương pháp tự học với sách giáo khoa

Mục đích: Giúp HS có ý thức tìm hiểu và nắm được khái quát nội dung bài học trước khi đến lớp, rút ngắn thời gian đọc tài liệu tại lớp cũng như thời gian GV thuyết giảng, HS được củng cố kiến thức nhiều lần

Phương pháp đọc sách này không chỉ có tác dụng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức của HS, mà còn góp phần rèn luyện cho họ kĩ năng tổng thuật các tài liệu khoa học trên cơ sở có phân tích, đánh giá Đây là một trong những kĩ năng cần phải có, cần phải trang bị cho HS để các em

có thể làm chủ trong quá trình lĩnh hội kiến thức

bản trong SGK

Đó là việc học sinh tự đọc sách giáo khoa ở nhà, tìm được các ý quan trọng, cốt lõi nhất của bài viết, để chiếm lĩnh kiến thức cơ bản và trả lời câu hỏi của giáo viên Để hình thành và phát triển kĩ năng này, giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh thường xuyên thực hiện các công việc:

Bước 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc lướt rồi đọc kỹ nội dung bài viết trong sách giáo khoa để tìm ý chính (đặc biệt là phần tiểu dẫn và phần văn bản)

Trang 21

Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định các mục, phân đoạn trong các

mục, tự tìm tư tưởng chính qua văn bản Chú ý trả lời câu hỏi trong phần hướng

dẫn học bài

Bước 3: Giáo viên hướng dẫn sắp xếp các ý thành một nội dung hoàn chỉnh Bước 4: Nêu rõ ý nghĩa của việc hình thành và phát triển kĩ năng tự học Ngữ văn cho học sinh trong quá trình dạy học ở trường phổ thông

Bài: Tổng quan văn học Việt Nam

+ Bước 1: GV nêu nhiệm vụ, nêu yêu cầu của việc đọc, xác định kiến thức

trọng tâm, nêu câu hỏi cụ thể về kiến thức như: tiến trình của văn học Việt Nam; Các thể loại của văn học Việt Nam; Con người qua văn học Việt Nam

+ Bước 2: HS đọc SGK theo yêu cầu, trả lời các câu hỏi

+ Bước 3: Tại lớp, HS trình bày kết quả tự học, các HS khác bổ sung, GV tổng

kết, đánh giá

Ý nghĩa: Trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, tự học là một hình thức tổ

chức dạy học Hình thành và phát triễn kĩ năng tự học cho học sinh có vị trí quan

trọng trong việc thực hiện mục tiêu bộ môn và góp phần đào tạo thế hệ trẻ có tri

thức sâu, rộng, có năng lực tự chủ, sáng tạo

Sản phẩm của quá trình học chính là con người phát triển toàn diện về các mặt tri thức, phẩm chất đạo đức, kĩ năng, kĩ xảo “ Đó cũng là quá trình hướng tới sự phát triển của chủ thể hoạt động học, thông qua các hành động khám phá lại và dần

dần lĩnh hội được kho tàng tri thức của nhân loại, biến thành tri thức của bản thân mình Trên cơ sở đó tự bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức rèn luyện các kĩ năng, kĩ

xảo” Trong quá trình học, hoạt động tự học giữ một vai trò quan trọng

Việc hình thành, phát triển kĩ năng và tự phát hiện kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa không chỉ giúp cho học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức cơ bản của bài học, mà còn tạo hứng thú học tập và kích thích tư duy học sinh phát triển Điều quan trọng là, trong từng tiết dạy học trên lớp và cả quá trình dạy học, giáo viên

phải thường xuyên hướng dẫn, rèn luyện, đôn đốc

- Thứ hai, hình thành và phát triển kĩ năng tự lập dàn ý trong SGK

Đây là là kĩ năng rất quan trọng khi học sinh tự học với SGK bởi dàn ý là sự thể

hiện cô đọng, khái quát, hệ thống nội dung, kiến thức cốt lõi của từng mục và toàn bài

Ví d ụ minh họa: Giáo viên hưỡng dẫn học sinh lập dàn ý khi dạy Bài: Khái

quát văn học dân gian Việt Nam

1 Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian

Trang 22

- Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ

- Văn học dân gian tồn tại và lưu hành theo hình thức truyền miệng

b) Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tạo tập thể

- Là sản phẩm của quá trình sáng tạo tập thể, không rõ danh tính tác giả, thường

có dị bản

- Nguyên nhân là do phương thức lưu truyền bằng miệng

2 Hệ thống thể loại của văn học dân gian Việt Nam

- Hệ thống truyện dân gian: Thần thoại; Truyền thuyết; truyện cổ tích

- Thơ ca hò vè.: ca dao, dân ca; vè

- Tục ngữ, câu đố

3 Những giá trị cơ bản của văn học dân gian Việt Nam

a, Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc

- Kiến thức nhiều mặt về tự nhiên, xã hội

- Về phong tục tập quán, kinh nghiệm sản xuất, quan điểm suy nghĩ của ông cha

b, Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người

- Văn học dân gian giáo dục tinh thần yêu nước

- Văn học dân gian giáo dục tinh thần nhân đạo

- Văn học dân gian giáo dục tinh thần lạc quan

- Văn học dân gian góp phần hình thành những phẩm chất tốt đẹp

c, Văn học dân gian có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo nên bản

sắc riêng cho nền văn học dân tộc

- Cái đẹp hài hòa thanh cao, trong sáng

- Chiều sâu của cái đẹp là ở cốt lõi, phẩm chất bên trong

Ý nghĩa của việc giáo viên hướng dẫn học sinh lập dàn ý khi dạy sẽ giúp học sinh khái quát được nội dung bài trước khi lĩnh hội kiến thức mới đồng thời giúp các em chủ động nắm bắt kiến thức, dễ dàng tiếp cận bài trong quá trình hình thành

kiến thức mới

- Th ứ ba, hình thành và phát triển kĩ năng phương pháp tự học qua khai

Đây là nguồn kiến thức bổ sung, minh họa cho nội dung bài học, góp phần tạo

biểu tượng sinh động, tăng tính hình ảnh, gây hứng thú học tập cho học sinh

- Th ứ tư, hình thành và phát triển kĩ năng tự ghi chép kết hợp SGK với nghe giảng

Trang 23

Việc ghi chép bài có nhiều cách khác nhau, ghi chép bằng sơ đồ, lập dàn ý hay xây dựng bảng biểu Từ đó học sinh sẽ dần hoàn thiện kĩ năng vừa nghe giảng

vừa theo dõi SGK và tự ghi chép hiệu quả, qua đó thực hiện mục tiêu học tập

b Hình thành và phát tri ển kĩ năng tự học với sách giáo khoa khi học tập

ở nhà

- Thứ nhất, hình thành và phát triển kĩ năng đối chiếu sách giáo khoa với vở ghi để hoàn thiện kiến thức

Vở ghi ở trên lớp và SGK là phương tiện chứa đựng những kiến thức chủ yếu

để học sinh tự học ở nhà Trên cơ sở đối chiếu sách giáo khoa với vở ghi, học sinh tái hiện lại bài giảng ở trên lớp của giáo viên và ghi nhớ những kiến thức cơ bản Đồng thời sử dụng SGK kết hợp với vở ghi để ôn tập, hệ thống hóa lại kiến thức

bằng sơ đồ, niên biểu, dàn ý

liệu ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức

Dựa vào nội dung SGK, vở ghi và tài liệu tham khảo, học sinh suy nghĩ để trả

lời câu hỏi và làm bài tập ở nhà Qua đó khắc sâu kiến thức đã học, tạo cơ sở cho

việc tiếp thu kiến thức mới

- Thứ ba, hình thành và phát triển kĩ năng soạn bài mới trước khi lên lớp

Học sinh cần đọc kĩ nội dung bài học trong SGK nhất là phần đọc hiểu văn

bản, nắm được những ý cơ bản của văn bản và những đơn vị kiến thức đơn giản, dễ

hiểu Đánh dấu những đơn vị kiến thức khó, khái niệm phức tạp để bổ sung, trao đổi trong quá trình giáo viên lên lớp; soạn trước các câu hỏi, bài tập trong SGK phàn hướng dẫn học bài Những công việc này phải được học sinh tiến hành thường xuyên và có sự kiểm tra, động viên của giáo viên, theo đó từng bước của kĩ năng tự học mới hoàn chỉnh và phát huy tác dụng

Ví dụ: Bài Hiền tài là nguyên khí quốc gia

Việc khắc bia Tiến sĩ có tác dụng gì?

- Ghi danh có trí thức tài giỏi đỗ đạt trong các kì thi

- Cổ vũ, khuyến khích hoạt động học tập, thi cử

- Răn kẻ xấu

Hình thành và phát triển kĩ năng đọc trước sách giáo khoa ở nhà để chuẩn bị tốt cho bài học mới trên lớp có vị trí quan trong trong việc rèn luyện kĩ năng và hình thành kiến thức mới ở trên lớp

2.3.2 Hình thành và phát tri ển phương pháp tự học với đồ dùng trực quan

Trang 24

Để học sinh có kĩ năng tự học với hình vẽ, tranh ảnh khi học trên lớp, giáo viên hướng dẫn các em thực hiện thường xuyên một số công việc sau: Quan sát để

biết chủ đề hình vẽ, tranh ảnh, và chủ động phát hiện kiến thức qua hình vẽ, tranh ảnh (Chân dung nhà văn, chân dung nhân vật ) tích cực suy nghĩ, tái hiện kiến

thức cũ, huy động kiến thức mới để trả lời câu hỏi gợi mở của giáo viên dựa trên hình vẽ, tranh ảnh, chủ động trình bày ý kiến của mình (nội dung, nhận xét, đánh giá) và lắng nghe ý kiến nhận xét, bổ sung của giáo viên, các bạn trong lớp để hoàn thiện kiến thức

để củng cố kiến thức tự học ở nhà

Ý nghĩa, hình thành và phát triển kĩ năng tái tạo, sử dụng hình vẽ, tranh ảnh

để củng cố kiến thức tự học ở nhà sẽ giúp học sinh tự chủ ,chủ động trong việc vận dụng kiến thức học ở trên lớp giải quyết các vấn đề nảy sinh trong học tập

2.3.3 Hình thành và phát tri ển kĩ năng vận dụng phương pháp tự học để làm bài t ập

Qúa trình tự học đã giúp học sinh hiểu những nội dung, kiến thức cơ bản liên quan đến bài học Cộng thêm sự hướng dẫn tận tình của giáo viên học sinh có đủ

kiến thức để hoàn thành những bài tập sau khi hết tiết học trên lớp

Ví d ụ 1: Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh tại địa phương

Học sinh vận dụng kiến thức cơ bản được tiếp thu ở phần hình thành kiến thức

mới kết hợp sách giáo khoa các bài học về văn bản thuyết minh: Các hình thức kết cấu

của văn bản thuyết minh; Tính chuẩn xác của văn bản thuyết minh; phương pháp thuyết minh

Học sinh sẽ vận dụng những kiến thức đã học, những kiến thức tự tìm hiểu

do thực hiện nhiệm vụ của giáo viên giao trong quá trình học tập để hoàn thành bài tập Sản phẩm của các em tạo ra, chính là sản phẩm của quá trình vận dụng các phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh

Hình thành và phát triển kĩ năng tự học thông qua trả lời các bài tập trong SGK là biện pháp quan trọng giúp học sinh củng cố, hoàn thiện kiến thức mới mà

học sinh đã lĩnh hội ở trên lớp để vận dụng một cách hiệu quả khả năng tái hiện

kiến thức khả năng làm các bài tập trong các tình huống không thay đổi hoặc vận

dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi giải quyết vấn đề dưới dạng bài tập đòi hỏi sự sáng tạo của người học, bài tập gắn bối cảnh thực tiễn thông qua đó phát huy tính tự chủ và chủ động của các em

c ầu viết bài tập về nhà

bước đầu tiên quyết định sự thành công hay thất bại của một bản kế hoạch Việc

Trang 25

lên danh sách các công việc cần làm sẽ giúp bạn có được cái nhìn tổng quát về số lượng cũng như trình tự thời gian thực hiện các công việc

- Bước 2: Đưa ra các mục tiêu tương ứng

Việc làm tiếp theo là thiết lập các mục tiêu phù hợp với công việc Mục tiêu này có thể là thời gian hay kết quả mong muốn đạt được Tuy nhiên, các bạn cần lưu ý bám sát mong muốn và khả năng của bản thân để đưa ra mục tiêu thích hợp

- Bước 3: Ưu tiên sắp xếp thứ tự các công việc

Việc sắp xếp các công việc một cách hợp lý theo thứ tự cấp bách, quan trọng hoặc theo trình tự thời gian, đối tượng tiến hành,… cũng là một yếu tố quan trọng trong kỹ năng lập kế hoạch Việc làm này sẽ giúp bạn loại bỏ những công việc không phù hợp, tiết kiệm thời gian và nguồn lực

- Bước 4: Tập trung thực hiện kế hoạch

Để nâng cao kỹ năng lập kế hoạch, sự tập trung cũng là rất cần thiết nhằm giúp bạn làm việc có hiệu quả và tiết kiệm thời gian hơn Nói như vậy không có nghĩa là khi làm việc, bạn chỉ biết mỗi một việc đang làm, nếu có thể hãy kết hợp làm nhiều việc trong cùng một thời gian

- Bước 5: Linh hoạt trong việc thực hiện kế hoạch

Thực tế luôn khác hẳn với lý thuyết và kế hoạch cũng vậy, sẽ luôn có những điểm không trùng với quá trình thực hiện và bạn cũng không thể nào biết trước được những việc phát sinh Vì vậy, hãy luôn dành một khoảng thời gian hợp lý cho những sự cố phát sinh Khi lên kế hoạch các công việc, hãy cố gắng dự trù và liệt

kê 1 số khó khăn và thách thức có thể gặp phải, từ đó đưa ra các phương án dự phòng

- Bước 6: Kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch

Để biết bản thân đã làm được đến đâu và liệu có hoàn thành được mục tiêu của mình đúng hạn không, bạn cần phải liên tục theo dõi, kiểm tra và chiếu giữa mục tiêu và thành quả đạt được

Ví dụ: Khi giáo viên yêu cầu làm bài tập về nhà bài Cảnh ngày hè chúng ta

cần thực hiện theo các bước:

- Lên thời gian biểu ngày học, ngày nghỉ trong tuần để chọn ngày làm bài tập

- Mục tiêu là hoàn thiện bài tập trong thời gian 1 buổi, hoàn thành tốt nội dung cũng như hình thức của bài tập

- Sắp xếp công việc theo trình tự, đầu tiên phải đọc lại SGK, vở ghi và các tài

liệu tham khảo khác để nắm chắc lại kiến thức của bài Cảnh ngày hè tiếp theo mới

bắt tay vào làm bài tập

Ngày đăng: 08/01/2022, 20:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phan Trọng Luận (Chủ biên), (2010), Dạy học theo chuẩn kiến, thức kỹ năng môn Ngữ văn 10 , Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo chuẩn kiến, thức kỹ năng môn Ngữ văn 10
Tác giả: Phan Trọng Luận (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2010
3. Nhiều tác giả (2010), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức - kỹ năng môn Ngữ văn lớp 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức - kỹ năng môn Ngữ văn lớp 10
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
4. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học , Nxb Giáo dục, Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Ngữ văn 10 tập1, tập 2 , NXB Giáo dục, Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10 tập1, tập 2
Nhà XB: NXB Giáo dục
1. Bộ Giáo dục & Đào tạo, Tài li ệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp trung học phổ thông Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Kết quả xếp lọai bài kiểm tra sau bài thực nghiệm  (%) - SKKN Vận dụng phương pháp tự học môn Ngữ văn lớp 10  THPT
Bảng 3.2. Kết quả xếp lọai bài kiểm tra sau bài thực nghiệm (%) (Trang 42)
1  Hình thức học một mình - SKKN Vận dụng phương pháp tự học môn Ngữ văn lớp 10  THPT
1 Hình thức học một mình (Trang 49)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w