1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ

65 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua các công trình nghiên cứu cho thấy khi sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc thực vật có ít tác dụng phụ gây hại và đây chính là lí do quan trọng mà ngày nay các loại thuốc có nguồn gố

Trang 1

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện Đồ án môn học chuyên ngành, tôi đã nhận được sự hỗ trợ rất nhiều từ Quý Thầy cô, Gia đình và Bạn bè

Em xin cảm ơn Tiến Sĩ Huỳnh Ngọc Oanh, người trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành đồ án này một cách nhẫn nại và tận tình Trong quá trình thực hiện em có nhiều thiết sót, nhưng nhờ sự dẫn dắt của cô, em đã có thể thực hiện thành công

Em xin cảm ơn chị Kỹ sư Phạm Thị Thanh Trúc, người đã giúp đỡ em rất nhiều trong việc tìm kiếm và hỗ trợ tài liệu nghiên cứu

Và cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn Trần Khánh Hưng, bạn Tôn Nguyễn Thục Quyên Người đã hỗ trợ tôi về tài liệu nghiên cứu và giúp đỡ tôi rất nhiều về mặt tinh thần khi tôi mệt mỏi Nhờ các bạn, tôi mới có thể tiếp tục để hoàn thành được

đồ án chuyên ngành Xin cảm ơn các bạn rất nhiều

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH

I.1.1 Phân loại và dược tính 3

I.1.2 Tác dụng 5

I.1.3 Biến đổi trong quá trình sản xuất và hướng bảo vệ: 5

I.2 TÍNH NĂNG DƯỢC LÝ CỦA MỘT SỐ LOẠI RAU: 6 I.2.1 Rau diếp cá 6

I.2.2 Rau tía tô 7

I.2.3 Lá lốt 9

I.2.4 Rau răm 10

I.2.5 Rau mùi 11

I.2.6 Mùi tàu 12

I.2.7 Húng chanh 13

I.2.8 Húng lũi 14

I.2.9 Bạc hà 15

CHƯƠNG 2: RAU MÁ 17 2.1 ĐẶC ĐIỂM 17 II.1.1 Thân 18

II.1.2 Hoa và trái 18

II.2 THÀNH PHẦN HÓA HỌC 18 II.3 TÁC DỤNG DƯỢC LÝ-CÔNG DỤNG 19 II.4 MỘT SỐ SẢN PHẨM THƯƠNG MẠI SẢN XUẤT TỪ RAU MÁ 21 CHƯƠNG 3 SAPONIN VÀ DƯỢC TÍNH CỦA SAPONIN 23 3.1 SAPONIN 23 3.1.1 Định nghĩa 23

3.1.2 Cấu trúc hóa học 24

3.1.3 Tác dụng dược lý của saponin 36

CHƯƠNG 4 CHIẾT XUẤT VÀ TINH CHẾ SAPONIN 41 4.1 PHƯƠNG PHÁP CHIẾT XUẤT SAPONIN 41 4.1.1 Phương pháp ngâm chiết: 41

4.1.2 Phương pháp chiết bằng Soxhlet: 42

4.1.3 Phương pháp chiết ngấm kiệt: 43

4.1.4 Phương pháp chiết xuất ngược dòng gián đoạn (Multi – stage countercurrent extraction – MCE): 45

4.1.4 Phương pháp chiết xuất liên tục: 46

Trang 3

5.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ RAU MÁ TRONG NƯỚC 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 4

DANH MỤC BÀNG

Trang 5

Hình 3.3 Công thức hóa học chung của ursan và một số hợp chất thuộc nhóm ursan 26

Hình 3.4 Công thức hóa học của lupan và saponin trong rễ cây Acanthus iliciformis Linn

27 Hình 3.5 Công thức hóa học chung của nhóm hopan và hợp chất mollugocin A 28 Hình 3.6 Công thức hóa học chung của nhóm dammaran 29 Hình 3.7 Phản ứng thủy phân protopanaxadiol và protopanaxatriol 29 Hình 3.8 Công thức hóa học chung của nhóm lanostan và một số hợp chất thuộc nhóm

Hình 3.10 Công thức hóa học của sarsasapogenin, smilagenin và tigogenin 31

Hình 3.12: Công thức lập thể của sarsasapogenin, smilagenin và tigogenin 32 Hình 3.13 Công thức cấu tạo của diosgenin và hecogenin và digitonin 33

Hình 3.17 Công thức hóa học của solanin và tomatin 35 Hình 3.18 Công thức hóa học của solanin, polypodosaponin, oslandin và a-spinasterol 36

Hình 3.20 Một số sản phẩm Hàn quốc chứa ginsenoside Rh2 39

Hình 4.7 Thiết bị chiết loại nghiêng có hai vít tải 48

Trang 7

MỞ ĐẦU

Nước Việt Nam nằm ở bán đảo Đông Nam Á, có địa hình khá đặc biệt với hai đầu phình ra (Bắc bộ và Nam bộ), ở giữa thu hẹp và kéo dài Phía Đông và phía Nam nước ta giáp với biển đông, với đường bờ biển dài 3260 km, chiếm hơn 70% chiều dài đường biên giới Việt Nam có mạng lưới song ngòi dày đặc, cùng với trị trí nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ và độ ẩm cao, thích hợp cho nhiều lại hoa màu và rau trái phát triển Từ lâu, người dân Việt Nam không chỉ biết sử dụng các loại rau dân dã để chế biến thành những món ăn bổ dưỡng hàng ngày, mà còn biết sử dụng chúng như những vị thuốc chữa bệnh Tác dụng chữa bệnh của các loại rau dân dã này đều được ghi lại trong những cuốn sách xưa về vị thuốc Việt Nam hay sách Đông y

Ngày nay, việc dùng các loại thuốc có nguồn gốc thiên nhiên ngày càng được ưa chuộng và các công trình nghiên cứu về chúng cũng không ngừng phát triển Qua các công trình nghiên cứu cho thấy khi sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc thực vật có ít tác dụng phụ gây hại và đây chính là lí do quan trọng mà ngày nay các loại thuốc có nguồn gốc thiên nhiên ngày càng chiếm được lòng tin của người tiêu dùng

Trong khi đó, rau má (Centella Asiatica) là nguồn nguyên liệu dễ trồng, dễ kiếm, rẻ tiền mà lại có hiệu quả kinh tế cao Về mặt dược học, nhờ chứa các saponin triterpenoid như Asiaticoside, Madecassoide, rau má là một loại rau thông dụng có tác dụng sát trùng, giải độc, thanh nhiệt lương huyết Các saponin trong rau má được công nhận có tác dụng tái tạo mô liên kết,giúp lên da non vết thương nhanh chóng có thể ứng dụng rất rộng rãi trong dược phẩm và cả hóa mỹ phẩm Ngoài ra, rau má cũng là loại thảo dược có tính bổ dưỡng rất cao,

có nhiều sinh tố, khoáng chất, những chất chống oxy hóa, có thể dùng đểdưỡng âm, cải thiện trí nhớ, làm chậm sự lão hóa, cải thiện vi tuần hoàn và chữa nhiều chứng bệnh về da…

Ở nước ta, vùng trồng rau má phân bố rất rộng từ Bắc vào Nam với diện tích đáng kể, đặc biệt ở các tỉnh duyên hải miền Trung, nơi khí hậu có độ ẩm khá cao và thường có loại đất sét pha cát nên thích hợp cho loại cây này phát triển Tuy vậy tiềm năng của loại thảo dược quý này vẫn chưa được khai thác và tận dụng đúng mức, hầu như nó chỉ được sử dụng như một loại rau quen thuộc và gần gũi trong

Trang 8

đời sống hằng ngày Trên thế giới, y học hiện đại đã có những nghiên cứu lâm sàng

về tác dụng chữa bệnh của dịch chiết và các hợp chất trong rau má Chính vì những lợi ích mà rau má mang lại cùng với tiềm năng phát triển thực phẩm chức năng từ rau má trong tương lai mà em thực hiện đồ án “Tìm hiểu đặc tính sinh học của cây rau má” Em hy vọng thông qua đề tài đồ án chuyên ngành này, em s tìm hiểu r thêm về một lĩnh vực hay, được nhiều người quan tâm và điều quan trọng hơn là có thể giúp em định hướng cho chuyên môn của mình trong tương lai

Trang 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM

CÓ TÍNH NĂNG DƯỢC LÝ

I.1 TỔNG QUAN VỀ GIÁ TRỊ DƯỢC LÝ

I.1.1 Phân loại và dược tính

Giá trị dược lý được phân loại theo nhiều cách khác nhau như sau:

a) Dựa theo thành phần hóa học:

 Glycoside: Glycoside là dạng phổ biến của nhiều hợp chất tự nhiên, cấu trúc

của các hợp chất này gồm hai thành phần - phần đường và phần không đường [5] Phần đường của glycoside gọi là glycone, phần không đường gọi là aglycone hoặc genin Phần đường và phần không đường liên kết với nhau bằng dây nối acetal vì vậy phân tử glycoside dễ bị phân huỷ khi có nước dưới ảnh hưởng của các enzyme

có chứa trong cây Phần đường trong glycoside chủ yếu là monosaccharide hoặc oligosaccharide, thường là glucose, rhamnose, galactose Trong thành phần của một số glycoside có đường đặc biệt không có trong các glycoside khác (ví dụ trong glycoside tim) Phần aglycone của các glycoside có thể thuộc các nhóm chất hữu cơ khác nhau ví dụ cồn, aldehyde, acid, phenol, dẫn chất anthracen, v.v đôi khi có các aglycone có chứa nitơ, lưu huỳnh song thường chứa carbon, hydro, ôxy Do đặc tính dễ bị phân huỷ, khó thu được ở dạng tinh khiết nên việc nghiên cứu cấu trúc thường gặp nhiều khó khăn Tác dụng của các glycoside lên cơ thể phụ thuộc vào phần aglycone, phần đường làm tăng hoặc giảm tác dụng của chúng Trong rau quả, glycoside chủ yếu có ở vỏ và hạt, ít có ở mô nạc

Hệ thống phân loại glycoside thường dùng hiện nay là phân loại theo cấu trúc của phần không đường [6] Dựa vào cấu trúc của phần không đường người ta chia thành các nhóm chất: glycoside tim, iridoid, saponin, anthranoid, flavonoid, coumarin, tanin…

 Saponin trong nhân sâm, nấm linh chi, rau sam, khổ qua, rau mồng tơi, rau má, cam thảo… có tác dụng long đờm, chữa ho, thông tiểu, tăng sự thấm tế bào [7]

Trang 10

 Flavonoid trong rau diếp cá, atiso, riềng, các loài chanh… có tác dụng ngăn ngừa các nguy cơ như xơ vữa động mạch, tai biến mạch máu, lão hóa, tổn thương do bức xạ, thoái hóa gan [7]

 Coumarin thường có trong bạch chỉ, tiền hồ, cây sài đất, mù u… có tác dụng chống co thắt, làm giản nở động mạch vành, chống đông máu, kháng khuẩn [7]…

 Tanin: có trong trà xanh, sim, hoa hồng, nho, ổi, đậu… có tính kháng khuẩn, chữa ngộ độc đường tiêu hóa [7]…

 Glycoside cyanogenic: có trong mơ, đào, hạnh nhân…

 Anthranoid: có trong nha đam, thảo quyết minh, ô môi, hà thủ ô, quả nhàu… có tác dụng làm tăng nhu động ruột, giúp cho sự tiêu hóa được dễ dàng [7]

 Lipid: là sản phẩm tự nhiên có trong động vật và thực vật, có thành phần cấu

tạo khác nhau, thường là ester của acid béo với các alcol, có tính chất chung là không tan trong nước, tan trong các dung môi hữu cơ như benzen, eter, chloroform, v.v… không bay hơi ở nhiệt độ thường và có độ nhớt cao Lipid là chất dự trữ của động vật và thực vật Lipid thường có trong đậu phộng, mè, dừa, táo, đào… có tác dụng bảo vệ da và niêm mạc, hạn chế sự thoát hơi nước của da, làm mềm da, làm

chóng lên da non trong các vết thương, vết bỏng…

 Vitamin: có hầu hết trong rau quả, có tác dụng bảo vệ mô, tăng sức đề

kháng, kìm hãm quá trình lão hóa, ngăn ngừa ung thư…

 Các acid hữu cơ: acid citric trong quả thuộc chi Citrus, acid tartric trong

nho,… Tùy loại s có tác dụng như: sát khuẩn nhẹ, long đờm, an thần, nhuận tràng

 Alkaloid: là những hợp chất hữu cơ, có chứa nitơ, đa số có nhân dị vòng, có

phản ứng kiềm, thường gặp trong thực vật và đôi khi có trong động vật, thường có dược lực tính mạnh (đối với cơ thể người, nhất là hệ thần kinh) và cho những phản ứng hóa học với một số thuốc thử gọi là thuốc thử chung của alkaloid [5] Sau đây

là một số alkaloid thường gặp:

Trang 11

 Capsaicin: có nhiều trong quả ớt chin, giúp cho sự tiêu hóa, làm ăn ngon, chóng tiêu, kích thích não bộ sản xuất ra chất endorphin có tác dụng giảm đau, đặc biệt có ích cho người bị viêm khớp mãn tính và ung thư [7]

 Cafein: có tác dụng trợ tim và lợi tiểu nhẹ, kích thích thần kinh và cơ trong vài trường hợp suy nhược thần kinh, đau dây thần kinh [7]

 Isopelletierine trong lựu có tác dụng diệt sán

 Tinh dầu: có trong cam, chanh, quýt, bưởi, sả, gừng, bạc hà, ô liu, quế, kinh giới, hung chanh, húng quế… giúp thư giản, tăng tập trung

b) Theo nguyên liệu:

 Củ: nhân sâm, gừng…

 Trái: nhàu, khổ qua, cam quýt…

 Lá: mã đề, lẻ bạn, rau má, tía tô, rau ram,…

 Thân: vông nem, lạc tiên, nấm linh chi…

 Hoa: atiso, …

I.1.2 Tác dụng

Mỗi loại rau quả s có tác dụng dược lý riêng và được sử dụng các bộ phận khác nhau để ứng dụng vào sản xuất

I.1.3 Biến đổi trong quá trình sản xuất và hướng bảo vệ:

Các quá trình sản xuất có tác nhân nhiệt, cơ học, hóa học,… s làm tổn thất, biến đổi thành phần dược lý trong rau trái Vì vậy cần tìm ra các thông số kỹ thuật thích hợp để bảo vệ dược lý trong từng loại sản phẩm và từng quy trình

Hiện nay chưa có tài liệu nói r về sự biến đổi chung của tinh dầu trong quá trình chế biến, bởi mùi thơm của tinh dầu là do ester, phenol, aldehyde, ceton và các hợp chất hữu cơ khác quyết định nên khi có sự biến đổi các chất này thì mùi thơm

tự nhiên của sản phẩm rau quả cũng bị ảnh hưởng (mất đi hoặc chuyển thành mùi khác) Có thể tạm chia sự biến đổi của chất mùi tự nhiên thành ba nhóm:

Trang 12

 Bị oxy hóa bởi oxy không khí: Dưới tác dụng của oxy không khí, các hợp chất monoterpene dễ dàng bị oxy hóa chuyển thành sản phẩm dạng nhựa

 Bị oxy hóa do nhiệt độ: dưới tác dụng của nhiệt độ, một số chất mùi bị bay hơi làm giảm mùi thơm trong quá trình chế biến, riêng các hợp chất diterpene không bị bay hơi cùng với nước

 Bị chuyển hóa thành các chất khác trong quá trình chế biến

I.2 TÍNH NĂNG DƯỢC LÝ CỦA MỘT SỐ LOẠI RAU:

I.2.1 Rau diếp cá

I.2.1.1 Đặc điểm:

Cây diếp cá còn có tên là cây giấp cá, dấp cá Tên khoa học là Houttuynia

cordata Họ lá giấp Saururaceae [24]

Rau diếp cá có nguồn gốc ở Nhật Bản, miền nam Trung Quốc và Đông Nam

Á, là một loại cỏ nhỏ, mọc lâu năm, ưa chỗ ẩm ướt, có thân rễ mọc ngầm dưới đất

Rễ nhỏ mọc ở các đốt, thân mọc đứng cao 40 cm, có lông hoặc ít lông Lá mọc cách, hình tim, đầu lá hơi nhọn hay nhọn hẳn Hoa nhỏ, không có bao hoa, mọc thành bông, có 4 lá bắc màu trắng; trông toàn bộ bề ngoài của cụm hoa và lá bắc giống như một cây hoa đơn độc Toàn cây khi vò nát có mùi tanh như mùi cá

Hình 1.1 Rau diếp cá

Trang 13

I.2.1.2 Thành phần hóa học

Theo sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi-Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, 1977), trong cây có chừng 0,0049% tinh dầu và một ít chất alkaloid gọi là cocdalin Thành phần chủ yếu của tinh dầu là metylnonylxeton, chất myrcen,acid caprinic và laurinaldehyt Hoa và quả chứa chất isoquexitrin và

không chứa quexitrin

I.2.1.3 Tác dụng dược lý – Công dụng

Từ lâu rau diếp cá đã được y học cổ truyền dùng để chữa các bệnh về tiêu hóa, phát ban, tắc sữa… Gần đây y học hiện đại cũng phát hiện ra nhiều tác dụng quý của loại rau – cây thuốc này như: kháng khuẩn, tiêu diệt ký sinh trùng [7]

Rau diếp cá đã được ghi trong các sách thuốc từ cách đây hàng nghìn năm Với giá trị làm thuốc thanh nhiệt, giải độc do làm mát huyết trong cơ thể nên trong các trường hợp bị viêm nhiễm trong cơ thể như mụn nhọt, mẩn ngứa có thể dùng rau diếp cá làm mát máu Hoặc khi bị bệnh đường ruột, bị tiêu chảy cũng có thể dùng diếp cá

Rau diếp cá có thể dùng để hạ sốt cho trường hợp trẻ sốt mà không muốn dùng thuốc Tây, hoặc phụ nữ có thai Rau này còn có thể dùng để trị táo bón do đại tràng

bị nhiệt, hay dùng chữa mụn nhọt, lở ngứa

I.2.2 Rau tía tô

I.2.2.1 Đặc điểm:

Hình 1.2 Rau tía tô

Trang 14

Tía tô (danh pháp hai phần: Perilla frutescens, đồng nghĩa: Perilla

macrostachya, Perilla ocymoides, Perilla urticifolia, Ocimum frutescens) là một

trong số khoảng 8 loài cây tía tô thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae hay Labiatae) giống

như húng [24]

Tía tô thuộc cây thân thảo, cao 0,5- 1m Lá mọc đối, mép khía răng, mặt dưới tím tía, có khi hai mặt đều tía, nâu hay màu xanh lục có lông nhám Hoa nhỏ màu trắng mọc thành xim co ở đầu cành, màu trắng hay tím, mọc đối nhau, 4 tiểu nhị không thò ra ngoài hoa Quả bế, hình cầu Toàn cây có tinh dầu thơm và có

lông Loài tía tô mép lá quăn (Perilla ocymoides L var bicolorlaciniata) có giá trị

I.2.2.3 Tác dụng dược lý – Công dụng

Tía tô là vị thuốc được y dược học đông phương xếp vào loại giải biểu (làm cho

ra mồ hôi) thuốc nhóm phát tán phong hàn (nhóm do lạnh gây bệnh) cần chữa bằng cách cho ra mồ hôi, khỏi sốt Không chỉ là rau gia vị thơm ngon, tía tô còn là cây thuốc được dùng phổ biến trong y học cổ truyền Tía tô có hai loại: tía tô mép lá phẳng, màu tía nhạt, ít thơm và tía tô mép lá quăn, màu tía sẫm, mùi thơm nồng Tía tô có vị cay, tính ấm, có tác dụng trị cảm lạnh, đầy bụng, nôn mửa Cành tía

tô có vị cay ngọt, có tác dụng an thai, chống nôn mửa, giảm đau, hen suyễn Ngoài

ra, với giá trị dinh dưỡng cao, giàu vitamin A, C, giàu hàm lượng Ca, Fe, và P tía

tô có tác dụng đẹp da Lương y Đinh Công Bảy - Tổng thư ký Hội Dược liệu TP.HCM cho biết, tía tô tốt cho phế quản, phổi Theo Đông y, phổi tốt s giúp thần sắc tươi tắn, da hồng hào Chính vì thế, nhiều người đã dùng tía tô như một phương thuốc làm đẹp da ít tốn kém, nhưng hiệu quả

Trang 15

lá có bẹ Hoa hợp thành cụm ở nách lá Quả mọng, chứa một hạt

I.2.3.2 Thành phần hóa học

Lá và thân chứa các alkaloid và tinh dầu, có thành phần chủ yếu là caryophylen; rễ chứa tinh dầu có thành phần chính là benzylaxetat

beta-I.2.3.3 Tác dụng dược lý – Công dụng

Lá lốt có công dụng ấm trung tiêu, ấm dạ dày [7] Chữa nôn mửa do bị khí lạnh, bụng đầy đau Chữa nhức đầu, đau răng, mũi luôn luôn chảy nước, đại tiện lỏng ra nước, ra máu Trong nhân dân, lá lốt thường được dùng chữa các bệnh sau: Chữa đau nhức xương khớp, chữa bệnh phụ khoa (các viêm nhiễm ở vùng âm đạo, ngứa, ra khí hư, chữa đổ mồ hôi nhiều ở tay chân, chữa bệnh tổ đỉa ở bàn tay, chữa đau rang, chữa viêm xoang, chảy nước mũi đặc, giải say nắng, chữa đau bụng lạnh,

đi tiêu phân lỏng, buồn nôn, nấc cụt…

Trang 16

I.2.4 Rau răm

I.2.4.1 Đặc điểm:

Hình 1.4 Rau răm

Cây rau răm (danh pháp hai phần: Persicaria odorata, đồng

nghĩa: Polygonum odoratum, thuộc họ Polygonaceae - họ Thân đốt hay họ Rau

răm), là cây thân thảo, lá của chúng được sử dụng rộng rãi trong các món ăn của khu vực Đông Nam Á [24]

Rau răm là một loại cây lưu niên sinh trưởng tốt nhiệt đới và cận nhiệt đới trong điều kiện nóng ẩm nhưng không sống được nếu vĩ độ trên 32° hay quá nhiều nước Trong điều kiện thuận lợi, thân cây có thể dài từ 15 đến 30 cm Khi quá lạnh hoặc quá nóng, cây rau răm s lụi tàn

Mặt trên lá răm màu lục sẫm, điểm đốm màu nâu nhạt còn mặt dưới màu hung đỏ Thân răm có đốt

I.2.4.2 Thành phần hóa học

Trong tinh dầu của rau răm người ta tìm thấy các aldehyde chuỗi dài như decanal (28%), dodecanal (44%), ngoài ra là decanol(11%) Các sesquiterpene (α-humulene, β-caryophyllene) chiếm khoảng 15% trong tinh dầu

I.2.4.3 Tác dụng dược lý – Công dụng

Rau răm vị cay, tính ấm, không độc, dùng để chữa đau bụng lạnh, chữa rắn cắn, chàm ghẻ, mụn trĩ, kích thích tiêu hóa, kém ăn, làm dịu tình dục [7] Rau răm được trồng khắp nơi và thường được mọi người dùng làm rau sống và gia vị vào

Trang 17

canh để có thể sát trừ một số độc chất có trong hải sản (tôm, cá ) Thường khi làm thuốc, người ta dùng tươi, không qua chế biến.

I.2.5 Rau mùi

I.2.5.1 Đặc điểm:

Hình 1.5 Rau mùi (ngò, ngò rí,…)

Rau mùi hay còn gọi là ngò, ngò rí, hồ tuy, mùi tui, mùi ta, ngổ, ngổ thơm, nguyên tuy, hương tuy, là loài cây thân thảo sống hằng năm, có tên khoa học

là Coriandrum sativum L., thuộc họ Hoa tán – Apiaceae, có nguồn gốc bản địa từ

Tây Nam Á về phía tây đến tận châu Phi [24]

Rau mùi thuộc cây thân thảo nhỏ mọc hàng năm cao 20-60cm hay hơn, nhẵn Thân mảnh Lá bóng, màu lục tươi; các lá ở dưới chia thành phiến hình trái xoan, có răng; các lá ở trên chia thành tua rất nhiều Cụm hoa tán kép gồm 3-8 tia không có bao chung, còn các tán đơn mang 3 hay 5 lá bắc hình sợi Hoa màu trắng, ít khi màu hồng Đài có 5 răng không đều Cánh hoa bị l m và có kích thước rất khác ở những hoa phía ngoài Quả hình cầu màu vàng rơm hay nâu sáng tuỳ thứ

Trang 18

I.2.5.3 Tác dụng dược lý – Công dụng

Rau mùi có vị cay, tính ấm Dùng uống trong, nó có tác dụng gây trung tiện,

dễ tiêu hoá, kích thích Nó cũng là loại thuốc phát tán, làm cho sởi mọc và tiêu đờm trệ [7]

Công dụng: Thường dùng chữa nuối hơi, tiêu hoá khó khăn, đầy hơi (trướng bụng), co thắt (đối với bộ máy dạ dày ruột), lười ăn do thần kinh (trường vị suy yếu), mệt mỏi thần kinh Còn dùng làm thuốc tán nhiệt, hạ sốt (chống nóng từng cơn) Dùng ngoài trị đau nhức, đau thấp khớp

Toàn cây dùng chữa sởi mọc không đều, cảm cúm không đổ mồ hôi

I.2.6 Mùi tàu

I.2.6.1 Đặc điểm:

Hình 1.6 Rau mùi tàu

Mùi tàu hay mùi gai, ngò gai hoặc ngò tây (phương ngữ miền Nam), tên

khoa học là Eryngium foetidum, thuộc họ Hoa tán Cây này có nguồn gốc ở châu

Mỹ [24]

Ngò gai là cây cỏ thấp, có thân đơn độc, chia cành ở ngọn, hoa quả mọc ở cành Lá mọc ở gốc, xoè ra hình hoa thị Lá hình mác thuôn dài, bìa có răng cưa nhỏ Hoa tự, hình đầu, hình bầu dục, hoặc hình trụ Khi trưởng thành, hạt rụng và phát tán Lá ngò gai có mùi thơm dễ chịu

Trang 19

I.2.6.2 Thành phần hóa học

Cây chứa 0,02-0,04% tinh dầu bay hơi Rễ chứa saponin

I.2.6.3 Tác dụng dược lý – Công dụng

Mùi tàu có vị hơi đắng, cay, tính ấm, có mùi thơm; có tác dụng sơ phong thanh nhiệt, kiệm tỳ, hành khí tiêu thũng, giảm đau [7]

Công dụng: Mùi tàu là cây rau gia vị quen thuộc, giúp khai vị, ăn ngon cơm, tiêu thức ăn, giải độc chất tanh Có thể ăn sống hay nấu chín Toàn cây được dùng làm thuốc trị cảm mạo đau tức ngực; rối loạn tiêu hoá; viêm ruột ỉa chảy

I.2.7 Húng chanh

I.2.7.1 Đặc điểm:

Hình 1.7 Rau húng chanh

Húng chanh hay tần dày lá, rau thơm lùn, rau thơm lông, rau tần, dương tử

tô (danh pháp hai phần: Plectranthus amboinicus, đồng nghĩa: Coleus amboinicus)

là cây thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae) [24]

Cây thân thảo, sống lâu năm, cao 20–50 cm Phần thân sát gốc hoá gỗ Lá mọc đối, dày cứng, giòn, mọng nước, mép khía răng tròn Thân và lá dòn, mập, lá dày có lông mịn, thơm và cay Hai mặt lá màu xanh lục nhạt Hoa nhỏ,4 tiểu nhị, màu tím đỏ, mọc thành bông ở đầu cành Quả nhỏ, tròn, màu nâu Toàn cây có lông rất nhỏ và thơm như mùi chanh nên được gọi là húng chanh

Trang 20

I.2.7.2 Thành phần hóa học

Lá chứa ít tinh dầu (0,05-0,12%), trong tinh dầu có đến 65,2% các hợp chất phenolic trong đó có salicylat, thymol, carvacrol, eugenol và chavicol; còn có một chất màu đỏ là colein

I.2.7.3 Tác dụng dược lý – Công dụng

Húng chanh có vị the cay, hơi chua, mùi thơm, tính ấm, không độc, có tác dụng lợi phế, trừ đờm, giải cảm, làm ra mồ hôi, làm thông hơi, giải độc Colein trong lá có tác dụng kháng sinh mạnh đối với một số vi trùng, nhất là ở vùng họng, mũi, miệng và cả ở đường ruột [7]

Công dụng: Nhân dân ta thường thái nhỏ lá húng chanh để ướp thịt, cá, nó là loại gia vị đặc sắc Lá và ngọn non thường được dùng trị cảm cúm, ho hen, ho ra máu, sốt cao, sốt không ra mồ hôi, nôn ra máu, đổ máu cam, còn dùng chữa viêm họng, khản tiếng

Lá húng chanh còn dùng chữa bệnh về đường tiết niệu và rỉ nước âm đạo Nước ép lá trộn với đường là một loại thuốc gây trung tiện mạnh, cũng dùng trị ho

và chứng khó tiêu

I.2.8 Húng lũi

I.2.8.1 Đặc điểm:

Hình 1.8 Rau húng lũi

Húng lũi còn gọi là húng láng, húng lủi, có tên khoa học là Mentha

aquatica L., thuộc họ Hoa môi – Lamiaceae, mọc hoang tại châu Âu (ngoại trừ phía

cực Bắc) và tây bắc châu Phi, tây nam châu Á [24]

Trang 21

Húng lũi là loài cây thảo sống dai Thân rễ mọc bò, thân bò dưới đất có vảy, thân trên mặt đất mang lá, phân nhánh, có thể cao đến 1 m Lá có cuống, hình thuôn dài, mép khía răng cưa Hoa hợp thành vòng ở k lá Quả bế, có nốt sần sùi Toàn thân có mùi thơm, dùng làm gia vị ăn sống

Cây húng lũi lá nhỏ ít răng cưa, mọc lan thành khóm, không mọc thành bụi

to như húng giổi Mặt lá màu xanh thẫm, cuống và gân lá màu tím Thân cây đanh lẳn, tròn, màu tím sẫm, không có lông Lá có mùi thơm dịu hơn húng quế (húng chó hay húng giổi) Húng có hoa nhưng không có hạt

I.2.8.2 Thành phần hóa học

Cây chứa 0,8% tinh dầu gồm các este (như methyl aceat) 22.41% alcol tự do (như menthol) 28,53% và ceton (như methone) 0,77% Menthofuran là thành phần chính (40%), còn có piperitone, menthone và pulegone

I.2.8.3 Tác dụng dược lý – Công dụng

Rau húng lũi được dùng làm rau gia vị ăn với thịt nướng, ăn gỏi, ăn với các loại rau sống khác, là gia vị được ưa chuộng Dùng hãm uống làm thuốc lợi tiêu hoá Cũng dùng ngoài giã đắp làm thuốc sát trùng, chữa vết thương chữa sưng vú

Trang 22

hoặc hình ngọn giáo, dài 4-6cm, rộng 1,5-2,5cm, màu lục tới lục hồng, mép có răng Hoa nhỏ, màu trắng, hồng hoặc tím hồng, tập hợp thành một loại bông dày đặc thường bị gián đoạn Toàn thân có lông và có mùi thơm

I.2.9.2 Thành phần hóa học

Cây có chứa tinh dầu 0,5-1,5%, trong đó có L-menthol 65-85%, menthyl acetat, L-menthon, L-pinen, L-limonen và flavonoid

I.2.9.3 Tác dụng dược lý – Công dụng

Bạc hà có vị cay, tính mát, thơm, có tác dụng hạ sốt, làm ra mồ hôi, làm dịu họng, lợi tiêu hoá tiêu sưng, chống ngứa, tiêu viêm [7] Tinh dầu có tác dụng sát trùng, gây tê tại chỗ, có thể gây ức chế làm ngừng thở và tim ngừng đập hoàn toàn

Công dụng: thường dùng trị cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, sốt, đau họng, viêm hầu, ho, giai đoạn đầu của bệnh sởi, chứng khó tiêu, đầy bụng, đau bụng, ngứa da

Bạc hà cũng thường được dùng thuốc hãm để kích thích tiêu hoá, chữa trướng bụng, đau bụng Nước xông bạc hà (có thể phối hợp với các cây có tinh dầu khác) rất hiệu quả đối với cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, đau họng Cũng dùng làm thuốc sát trùng và xoa bóp nơi sưng đau Nước cất bạc hà (sau khi gạn tinh dầu) đã bão hoà tinh dầu nên rất thơm (hoặc 1-2ml tinh dầu trong 1 lít nước đã đun sôi để nguội) dùng để pha thuốc súc miệng, làm thuốc đánh răng cho thơm và sát trùng răng miệng, họng

Trang 23

Rau má hay tích tuyết thảo hoặc lôi công thảo (danh pháp hai phần: Centella

asiatica) là một loài cây một năm thân thảo trong phân họ Mackinlayoideae của họ

Hoa tán (Apiaceae), có nguồn gốc Australia, các đảo Thái Bình Dương, New

Guinea, Melanesia, Malaysia và châu Á Nó được sử dụng như một loại rau cũng như trong y học Ayurveda và y học cổ truyền Trung Hoa Tên khoa học đồng nghĩa

là Hydrocotyle asiatica L., Trisanthus cochinchinensis Lour [7]

Hình 2.1 Cây rau má

Trang 24

II.1.1 Thân

Thân cây rau má gầy và nhẵn, là loại thân bò lan, màu xanh lục hay lục ánh

đỏ, có rễ ở các mấu Nó có các lá hình thận, mọc ra từ gốc hoặc từ các mấu, màu xanh với cuống dài và phần đỉnh lá tròn, kết cấu trơn nhẵn với các gân lá dạng lưới hình chân vịt Các lá mọc ra từ cuống dài khoảng 5–20 cm Bộ rễ bao gồm các thân

rễ, mọc thẳng đứng Chúng có màu trắng kem và được che phủ bằng các lông tơ ở

rễ [7]

II.1.2 Hoa và trái

Hoa rau má có màu trắng hoặc phớt đỏ, mọc thành các tán nhỏ, tròn gần mặt đất Mỗi hoa được bao phủ một phần trong 2 lá bắc màu xanh Các hoa lưỡng tính này khá nhỏ (nhỏ hơn 3 mm), với 5-6 thùy tràng hoa Hoa có 5 nhị và 2 vòi nhụy Quả có hình mắt lưới dày dặc, đây là điểm phân biệt nó với các loài trong chi

Hydrocotyle có quả với bề mặt trơn, sọc hay giống như mụn cơm Quả của nó chín

sau 3 tháng và toàn bộ cây, bao gồm cả rễ, được thu hái thủ công

II.2 THÀNH PHẦN HÓA HỌC

Tuỳ theo khu vực trồng hoặc mùa thu hoạch tỷ lệ các các hoạt chất có thể sai biệt Thành phần của rau má bao gồm những chất sau: beta- caroten, sterols, saponins, alkaloids, flavonols, saccharids, nhiều loại khoáng chất như calcium, iron, magnesium, manganese, phosphorus, potassium, zinc, nhiều loại vitamin như B1, B2, B3, C, trong đó đáng kể là vitamin A Thành phần quan trọng của rau má là saponin triterpenoid kiểu nhân sâm như asiaticoide, thankuniside

Trong thành phần hóa học của cây rau má, nhóm saponin hay còn gọi là triterpene được xem là nhóm chất đặc biệt có ý nghĩa nhất, nó bao gồm triterpene acid và triterpene glycoside Triterpene acid chứa asiatic acid, brahmic acid, isobrahmic acid, madecassic acid và bentulinic acid Còn hợp chất triterpene glycoside có chứa asiaticoside, madecassoside, brahmoside, brahminoside và thankuniside Trong đó asiaticoside chiếm hàm lượng nhiều nhất Đây là nhóm những hoạt chất được nghiên cứu khá nhiều trong lĩnh vực y dược nhằm phục vụ việc chữa bệnh cho con người trong đó phải kể đến vai trò của asiaticoside và madecassoside

Trang 25

Bảng 2.1 Một số thành phần hóa học của rau má

II.3 TÁC DỤNG DƯỢC LÝ-CÔNG DỤNG

Rau má có vị hơi đắng, ngọt, tính hơi mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán ứ chỉ thống, lương huyết sinh tân, lợi niệu [7]

Nền y học cổ truyền Trung Quốc, Ấn Độ cũng như y học dân gian nước ta đều có truyền thống sử dụng rau má làm thuốc hoặc làm thức ăn từ lâu đời Ở Trung Quốc, rau má được dùng trị cảm mạo phong nhiệt, viêm phần trên đường hô hấp, viêm gan, lỵ, cúm, ăn phải vật có độc, viêm màng phổi, rắn cắn, gai đâm vào thịt, trúng độc nấm dại, ngộ độc sắn, trúng độc thuốc nông dược, ngộ độc thức ăn và đòn ngã tổn thương Trong Đông y rau má thường được phối hợp với đậu đen hoặc mè đen chế thành hoàn để làm thuốc bổ dưỡng cho trẻ em, người già hoặc người ốm mới dậy

Theo y học cổ truyền, rau má có vị đắng, hơi ngọt, tính bình, vào Can, Tỳ Vị

có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận gan, giải độc, lợi tiểu Rau má thường dùng để làm thuốc bổ dưỡng, sát trùng, chữa thổ huyết, tả lỵ, khí hư, bạch đới, mụn nhọt, rôm sẩy Từ những năm 1940, y học hiện đại bắt đầu nghiên cứu những tác dụng của rau má Rau má có những hoạt chất thuộc nhóm saponin (còn được gọi là tripernoids) bao gồm asiaticoside, madecassoside, madecassic acid và asiatic acid Hoạt chất asiaticoside đã được ứng dụng trong điều trị bệnh phong và bệnh lao Người ta cho rằng trong những bệnh nầy, vi khuẩn dược bao phủ bởi một màng ngoài giống như sáp khiến cho hệ kháng nhiểm của cơ thể không thể tiếp cận Chất asiaticoside trong dịch chiết rau má có thể làm tan lớp màng bao nầy để hệ thống miển dịch của cơ thể tiêu diệt chúng

Trang 26

Đối với da, nhiều công trình nghiên cứu và kết quả lâm sàng đều cho thấy dịch chiết rau má có khả năng kích hoạt các tiến trình sinh học trong việc phân chia

tế bào và tái tạo mô liên kết giúp vết thương chóng lành và mau lên da non Hiên nay rau má đã được sử dụng rất đa dạng dưới hình thức thuốc tiêm, thuốc bột, thuốc

mở để điều trị tất cả các chứng bệnh về da như vết bỏng, vết thương do chấn thương, do giải phẫu, cấy ghép da, những vết lở lâu lành , vết lở do ung thư, bệnh phong, vẩy nến…

Ở Ấn độ, rau má thường có trong khẩu phần ăn của những vị thiền sư, những nhà yogi, những nhà thông thái Trên thực tế, rau má tác dụng lên hoạt động của hệ thần kinh trung ương, làm giảm căng thẳng tâm lý, tăng cường khả năng tập trung

tư tưởng và giúp cải thiện trí nhớ của người già Người ta cho rằng dịch chiết rau

má có hiệu quả tốt với bệnh alzheimer nhờ vào những dẫn xuất của chất asiaticoside

có khả năng bảo vệ các tế bào thần kinh khỏi tác động của các độc tố beta-amyloid Rau má còn có tác dụng kích thích tổng hợp collagen và elastin giúp cho cơ, xương chắc khỏe, da mịn màng Tăng sinh tế bào hạt giúp mau liền sẹo các vết bỏng, vết thương Rau má còn có tác dụng chống lão hóa, giải độc gan, an thần, chống stress Theo các nhà khoa học thuộc đại học Kasurba (Ấn Độ) dùng rau má rất tốt cho khỏe chậm phát triển trí tuệ, rau má có tác dụng tăng khả năng nhớ, tiếp thu, chỉ số thông minh

Đối với tuần hoàn huyết, những hoạt chất của rau má có tác dụng cải thiện vi tuần hoàn ở các tĩnh mạch, mao mạch, bảo vệ lớp áo trong của thành mạch và làm gia tăng tính đàn hồi của mạch máu Do đó rau má cũng thường được dùng trong các chứng tăng áp lực tĩnh mạch ở các chi dưới

Dược lý học hiện đại nghiên cứu cho thấy: rau má có chứa glycoside như asiaticoside cenlelloside, các saponin như brahmic acid, madasiatic acid và một số chất khác như carotenoids, inositol Nghiên cứu thực nghiệm trên chuột bạch, chuột cống, các nhà khoa học nhận thấy rau má có tác dụng trấn tĩnh, an thần thông qua

cơ chế tác động trực tiếp lên hệ thống thần kinh trung ương Rau má có tác dụng điều trị các vết lở ở da và niêm mạc là do các saponin chứa trong dịch chiết có tác dụng kích thích quá trình sinh trưởng của tế bào da, làm tăng sinh mạng lưới huyết quản của tổ chức liên kết giúp cho các mô tái tạo nhanh chóng khiến vết thương mau lành Kết quả này thu được từ những nghiên cứu dùng dịch rau má tiêm (chích) bắp hoặc dưới da cho các động vật thí nghiệm như chuột, thỏ Mặt khác, rau má còn

Trang 27

có tác dụng kháng khuẩn r rệt, làm giảm trương lực cơ trơn ở ruột (chống co thắt), hưng phấn nhẹ hô hấp và hạ huyết áp Trên lâm sàng, các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy bột rau má khô uống với liều 3 lần trong một ngày, mỗi lần 5 – 7g có tác dụng giảm đau khá tốt.

II.4 MỘT SỐ SẢN PHẨM THƯƠNG MẠI SẢN XUẤT TỪ RAU MÁ

Sau đây là hình ảnh một số sản phẩm từ rau má trên thị trường Việt Nam

Hình 2.2 Một số loại trà rau má

Trang 28

Hình 2.3 Cao rau má

Hình 2.4 Một số loại viên nang chứa tinh rau má

Trang 29

CHƯƠNG 3 SAPONIN VÀ DƯỢC TÍNH CỦA SAPONIN

3.1 SAPONIN

3.1.1 Định nghĩa

Saponin còn gọi là saponosid do chữ latin sapo có nghĩa là xà phòng (vì tạo bọt như xà phòng) [5], là một nhóm glycosid lớn, gặp rộng rãi trong thực vật Người ta cũng phân lập được saponin trong một số động vật như hải sâm, cá sao

Saponin có một số tính chất đặc biệt:

- Làm giảm sức căng bề mặt, tạo bọt nhiều khi lắc với nước, có tác dụng nhũ hoá và tẩy sạch

- Làm vỡ hồng cầu ngay ở những nồng độ rất loãng

- Ðộc với cá vì saponin làm tăng tính thấm của biểu mô đường hô hấp nên làm mất các chất điện giải cần thiết, ngoài ra có tác dụng diệt các loài thân mềm như giun, sán, ốc sên

- Kích ứng niêm mạc gây hắt hơi, đỏ mắt, có tác dụng long đờm, lợi tiểu; liều cao gây nôn mửa, đi lỏng

- Có thể tạo phức với cholesterol hoặc với các chất 3-β-hydroxysteroid khác Tuy vậy một vài tính chất trên không thể hiện ở một vài saponin.Ví dụ: sarsaparillosid thì không có tính phá huyết cũng như tính tạo phức với cholesterol Saponin đa số có vị đắng trừ một số như glycyrrhizin có trong cam thảo bắc, abrusosid trong cam thảo dây, oslandin trong cây Polypodium vulgare có vị ngọt Saponin tan trong nước, alcol, rất ít tan trong aceton, ether, hexan do đó người

ta dùng các dung môi này để tủa saponin Saponin có thể bị tủa bởi chì acetat, bari hydroxyd, ammoni sulfat

Saponin khó bị thẩm tích, người ta dựa vào tính chất này để tinh chế saponin trong quá trình chiết xuất

Phần genin tức là sapogenin và dẫn chất acetyl sapogenin thường dễ kết tinh hơn saponin

Saponin triterpenoid thì có loại trung tính và loại acid, saponin steroid thì có loại trung tính và loại kiềm

Trang 30

Về mặt phân loại, dựa theo cấu trúc hoá học có thể chia ra: saponin triterpenoid

a) Saponin triterpenoid pentacyclic:

Loại này chia ra các nhóm: olean, ursan, lupan, hopan

Nhóm olean:

Hình 3.1 Công thức hóa học của olean

Phần lớn các saponin triterpenoid trong tự nhiên đều thuộc nhóm này Phần aglycon thường có 5 vòng và thường là dẫn chất của 3-β- hydroxy olean 12 - ene, tức là b-amyrin Một vài aglycon làm ví dụ (công thức sau):

Trang 31

Hình 3.2 Công thức hóa học của -Amyrin

- Acid oleanolic: R1 = R2 = R4 = R5 = -CH3, R3 = -COOH

- Hederagenin: R2 = R4 = R5 = -CH3 , R1 = -CH2OH , R3 = -COOH

- Gypsogenin: R2 = R4 = R5 = -CH3 , R1 = -CHO , R3 = -COOH

Mạch đường có thể nối vào C-3 theo dây nối acetal, có khi mạch đường nối vào C-28 theo dây nối ester Gần đây người ta phân lập được các saponin có đến 10-11 đơn vị đường nếu kể cả 2 mạch, riêng một mạch có thể đến 6 đơn vị đường

Nhóm ursan:

Cấu trúc của nhóm ursan cũng tương tự như nhóm olean chỉ khác là nhóm methyl ở C-30 không đính vào vị trí C-20 mà lại đính ở vị trí C-19 Các sapogenin nhóm ursan thường là những dẫn chất của 3-β-hydroxy ursan 12-ene, tức là α-amyrin

Những saponin của nhóm ursan ít gặp hơn nhóm olean Cinchona glycosid A, cinchona glycosid B có trong cây canh-ki-na, asiaticosid có trong rau má là những saponin của nhóm này

Trang 32

Hình 3.3 Công thức hóa học chung của ursan và một số hợp chất thuộc nhóm ursan

A Công thức hóa học chung của nhóm ursan

B Công thức hóa học của α-Amyrin

C Công thức hóa học của asiaticoside

D Công thức hóa học của Cinchona glycoside A và B

Ngày đăng: 08/01/2022, 09:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Vân Anh. Nghiên cứu điều kiện chiết tách Asiaticoside từ Rau má và ứng dụng sản xuất trà chức năng từ Rau má. Đại học Đà Nẵng. Luận văn Thạc sĩ Dƣợc học. 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu điều kiện chiết tách Asiaticoside từ Rau má và ứng dụng sản xuất trà chức năng từ Rau má
2. Bộ môn Dƣợc liệu. Giáo trình thực tập Dược liệu. Đại học Y dƣợc thành phố Hồ Chí Minh; 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thực tập Dược liệu
3. Bộ môn Dƣợc liệu. Giáo trình nhận thức Dược liệu. Đại học Y dƣợc thành phố Hồ Chí Minh; 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhận thức Dược liệu
4. Huỳnh Thị Thanh Tâm. Nghiên cứu tổng hợp một số dẫn xuất của Acid Asiatic phân lập từ cây Rau má [Centella asiatica (L.) Urban] và thăm dò hoạt tính sinh học của chúng. Đại học Đà Nẵng: Luận văn Thạc sĩ Khoa học; 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổng hợp một số dẫn xuất của Acid Asiatic phân lập từ cây Rau má [Centella asiatica (L.) Urban] và thăm dò hoạt tính sinh học của chúng
5. Ngô Văn Thu (2011). Bài giảng dược liệu, tập 1. Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng dược liệu
Tác giả: Ngô Văn Thu
Năm: 2011
6. Phạm Thanh Kỳ, 1998. Bài giảng dược liệu, tập 2. Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng dược liệu
7. Đỗ Tất Lợi, 1977. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật
8. Nguyễn Thƣợng Dong, 2008. Kỹ thuật chiết xuất dược liệu. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chiết xuất dược liệu
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
9. Ngô Văn Thu, 1998. Bài giảng dược liệu tập 1. Bộ môn dược liệu trường Đại học Y Dƣợc thành phố Hồ Chí Minh. Trung tâm thông tin thƣ viện Đại học Dƣợc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng dược liệu tập 1
11. Nguyễn Thị Hoài,Bế Thị Thuấn,Chu Đình Kính, 2004. Phân lập và xác định cấu trúc của Asiaticoside chiết xuất từ rau ma. Tạp chí Dược liệu, (số 9), tr.51- 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Dược liệu, (số 9)
12. Từ Minh Koóng, 2007. Kỹ thuật sản xuất dược phẩm, tập 1. Nhà xuất bản Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật sản xuất dược phẩm
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
14. Phạm Thanh Kỳ, 2004. Bài giảng dược liệu, Tập II, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng dược liệu
15. Vũ Bình Dương, Hoàng Văn Lương, 2009. Công nghệ chiết xuất các hợp chất tự nhiên bằng dung môi CO 2 siêu tới hạn. Tạp chí Thông tin Y dƣợc số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ chiết xuất các hợp chất tự nhiên bằng dung môi CO"2" siêu tới hạn
16. Nguyễn Thiện Luân, Nguyễn Doãn Điện, Phan Quốc Kinh, 1997. Thực phẩm, cây thuốc và thực phẩm chức năng ở Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực phẩm, cây thuốc và thực phẩm chức năng ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
17. Viện dƣợc liệu, 2004. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập 1. Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật
18. Viện dƣợc liệu, 2004. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập 2. Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật
19. Hiller K., Voigt Gabriele, Doehnert H., 1981. Structure of the main saponin from Hydrocotyle vulgarisL., Pharmazie 36(12), 844-846 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pharmazie
21. Wiesława Bylka, Paulina Znajdek-Awiżeń, Elżbieta Studzińska-Sroka, Małgorzata Brzezińska, 2013. Centella asiaticain cosmetology. Postep Derm Alergol 2013; XXX, 1: 46-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Centella asiaticain" cosmetology. "Postep Derm Alergol
22. Sanjay R. Biradar, Bhagyashri D. Rachetti, 2013. Extraction of some secondary metabolites & thin layer chromatography from different parts of Centella asiatica L. (URB). American Journal of Life Sciences 2013; 1(6): 243-247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Centella asiatica" L. (URB). "American Journal of Life Sciences
10. Nguyễn Hữu Đức, Đặng Thị Mai Phương, 5/2003. Định lượng Asiaticoside trong chế phẩm chứa rau má bằng HPLC. Tạp chí Dược học Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3. Lá lốt - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
Hình 1.3. Lá lốt (Trang 15)
Hình 1.5. Rau mùi (ngò, ngò rí,…) - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
Hình 1.5. Rau mùi (ngò, ngò rí,…) (Trang 17)
Hình 1.6. Rau mùi tàu - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
Hình 1.6. Rau mùi tàu (Trang 18)
Hình 1.7. Rau húng chanh - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
Hình 1.7. Rau húng chanh (Trang 19)
Hình 2.1. Cây rau má - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
Hình 2.1. Cây rau má (Trang 23)
Bảng 2.1. Một số thành phần hóa học của rau má - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
Bảng 2.1. Một số thành phần hóa học của rau má (Trang 25)
Hình 2.2. Một số loại trà rau má - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
Hình 2.2. Một số loại trà rau má (Trang 27)
Hình 2.4. Một số loại viên nang chứa tinh rau má - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
Hình 2.4. Một số loại viên nang chứa tinh rau má (Trang 28)
Hình 3.1. Công thức hóa học của olean - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
Hình 3.1. Công thức hóa học của olean (Trang 30)
Hình 3.3. Công thức hóa học chung của ursan và một số hợp chất thuộc nhóm ursan - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
Hình 3.3. Công thức hóa học chung của ursan và một số hợp chất thuộc nhóm ursan (Trang 32)
Hình 3.4. Công thức hóa học của lupan và saponin trong rễ cây Acanthus iliciformis Linn - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
Hình 3.4. Công thức hóa học của lupan và saponin trong rễ cây Acanthus iliciformis Linn (Trang 33)
Hình 3.5. Công thức hóa học chung của nhóm hopan và hợp chất mollugocin A - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
Hình 3.5. Công thức hóa học chung của nhóm hopan và hợp chất mollugocin A (Trang 34)
Hình 3.6. Công thức hóa học chung của nhóm dammaran - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
Hình 3.6. Công thức hóa học chung của nhóm dammaran (Trang 35)
Hình  3.8.  Công  thức  hóa  học  chung  của  nhóm  lanostan  và  một  số  hợp  chất  thuộc  nhóm  lanostan - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
nh 3.8. Công thức hóa học chung của nhóm lanostan và một số hợp chất thuộc nhóm lanostan (Trang 36)
Hình 3.9. Công thức hóa học của cucurbitan - ĐỒ ÁN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RAU DÂN DÃ VIỆT NAM CÓ TÍNH NĂNG DƢỢC LÝ
Hình 3.9. Công thức hóa học của cucurbitan (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w