SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHI CỤC LÂM NGHIỆP KHÁNH HÒA ĐỀ TÀI ĐÁNH GIÁ PHẠM VI PHÂN BỐ VÀ THỬ NGHIỆM NHÂN GIỐNG ĐỐI VỚI 2 LOÀI THÔNG LÁ DẸT Pinus krempfii VÀ PƠ
Trang 1SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHI CỤC LÂM NGHIỆP KHÁNH HÒA
ĐỀ TÀI
ĐÁNH GIÁ PHẠM VI PHÂN BỐ VÀ THỬ NGHIỆM NHÂN GIỐNG
ĐỐI VỚI 2 LOÀI THÔNG LÁ DẸT (Pinus krempfii)
VÀ PƠ MU (Fokienia hodginsii) TẠI KHÁNH HÒA
Chủ nhiệm đề tài: KS Trần Giỏi
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG
THÔNG LÁ DẸT (Pinus krempfii) và PƠ MU (Fokienia hodginsii)
TẠI KHÁNH HÒA
Thực hiện: Th.S Nguyễn Thanh Nguyên
& KS Trần Giỏi
Nha Trang - 05/2014
Trang 2Tham gia thực hiện:
Võ Quang Cảnh (Chi cục Lâm nghiệp KH)
Trương Thị Cẩm Nhung (Đại học Nông Lâm, TP.HCM)
Lê Đình Quốc (Đại học Nông Lâm, TP.HCM)
Trương Quốc Tân (Đại học Nông Lâm, TP.HCM)
Lê Kim Hoàn Vũ (BQL Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà)
Nguyễn Thanh Chế (BQL Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà) Nguyễn Xuân Lợi (BQL Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà)
Lương Nguyễn Nhật Trường (Phòng Nông nghiệp H Khánh Vĩnh)
Bo Văn Lợi (Trạm QLBVR Sơn Thái - Cty TNHHMTV Lâm sản) Nguyễn Hải Đăng (Đội QLBVR - Cty TNHHMTV Lâm Sản) Phạm Hữu Nhân (Trạm QLBVR.Giang Ly - VQG Bidoup Núi Bà)
Đơn vị tư vấn:
Tổ Cảnh quan & Hoa viên - Đại học Nông Lâm, TP.HCM
Trung tâm Đa dạng sinh học và Phát triển - TP.HCM
Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm lâm sinh Lâm Đồng
Đơn vị phối hợp:
Ban Quản lý Rừng phòng hộ Ninh Hòa - Khánh Hòa
Ban Quản lý Rừng phòng hộ Khánh Sơn - Khánh Hòa
Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà - Khánh Hòa
Trạm Quản lý bảo vệ rừng Sơn Thái (Cty TNHHMTV Lâm sản) Trạm Quản lý BVR Giang Ly - VQG Bidoup Núi Bà - Lâm Đồng
Trang 3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
I TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 7
1 Nghiên cứu về Thông lá dẹt 7
1.1 Ngoài nước 7
1.2 Trong nước 8
2 Nghiên cứu về Pơ mu 10
2.1 Ngoài nước 10
2.2 Trong nước 11
II NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
1 Nội dung 13
2 Phương pháp nghiên cứu 13
2.1.Phương pháp nhân giống hữu tính (giống hạt) 13
2.2 Phương pháp nhân giống sinh dưỡng (giống hom) 14
III KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 14
1 Nhân giống hữu tính 14
1.1 Nhân giống hạt Thông lá dẹt 14
1.2 Nhân giống hạt Pơ mu 16
2 Thử nghiệm giâm hom 19
2.1 Giâm hom Thông lá dẹt 19
2.2 Giâm hom Pơ mu 21
3 Theo dõi sinh trưởng cây con tại vườn ươm 24
IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 26
1 Kết luận 26
2 Đề xuất 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
HÌNH ẢNH MINH HỌA 30
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANOVA Phân tích phương sai (Analysis of variance)
F F thực nghiệm - Giá trị thống kê (F - ratio)
Fcrit F lý thuyết (F critical)
FFI Tổ chức bảo tồn động thực vật quốc tế
GPS Hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System)
IAA Indole acetic acid
IBA Indole butyric acid
Interaction Tương tác (giữa 2 yếu tố)
IUCN Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới
IVI Chỉ số giá trị quan trọng (Importance value index) LSD Sai biệt có nghĩa nhỏ nhất (Least significant difference)
MS Trung bình bình phương
NAA Naphthalene acetic acid
N/ha Mật độ (cây/ha)
Nmax Mật độ tối đa (cây/ha)
Nmin Mật độ tối thiểu (cây/ha)
OXT Ô xúc tiến tái sinh tự nhiên
P - value Giá trị xác xuất
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Kết quả thử nghiệm gieo ươm hạt Thông lá dẹt 15
Bảng 2 So sánh tỷ lệ nẩy mầm của hạt Thông lá dẹt giữa 4 xuất xứ 15
Bảng 3 Kết quả thử nghiệm gieo ươm hạt Pơ mu 17
Bảng 4 So sánh tỷ lệ nẩy mầm của hạt Pơ mu giữa 4 xuất xứ 17
Bảng 5 So sánh trung bình giữa các nhóm 18
Bảng 6 Kết quả thử nghiệm giâm hom Thông lá dẹt 19
Bảng 7 So sánh tỷ lệ ra rễ của hom Thông lá dẹt 20
Bảng 8 Kết quả thử nghiệm giâm hom Pơ mu 21
Bảng 9 So sánh tỷ lệ ra rễ của hom Pơ mu 22
Bảng 10 Tổng hợp kết quả nhân giống Thông lá dẹt và Pơ mu 24
Bảng 11 Tổng hợp kết quả theo dõi sinh trưởng cây con tại vườn ươm 25
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1 So sánh tỷ lệ nẩy mầm của hạt Thông lá dẹt giữa 4 xuất xứ 16
Biểu đồ 2 So sánh tỷ lệ nẩy mầm của hạt Pơ mu giữa 4 xuất xứ 19
Biểu đồ 3 So sánh tỷ lệ ra rễ của hom Pơ mu 24
Trang 6MỞ ĐẦU
Dự án “Điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm thuộc danh mục Nghị định 32/2006/NĐ-CP theo vùng sinh thái” do Trung tâm Tài nguyên và Môi trường Lâm nghiệp thực hiện (Viện Điều tra Quy hoạch rừng, năm 2010) đã nhận định nhiều loài trong nhóm thực vật nguy cấp quý hiếm chưa được quan tâm bảo tồn đúng mức, mặc khác một số nơi do không đủ điều kiện hoạt động nên công tác bảo tồn và phát triển các loài thực vật nguy cấp quý hiếm bị lãng quên Trong
số đó, 2 loài Pơ mu và Thông lá dẹt đã được xác định mức độ nguy cấp và
có nguy cơ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên
Đặc trưng nổi bật ở phần lớn các loài cây lá kim bản địa là sinh sống trên các vùng núi cao hiểm trở, điều kiện khí hậu và lập địa không thuận lợi cho tái sinh tự nhiên, ngoài ra đây còn là các đối tượng thường xuyên bị tác động chặt phá mạnh do con người gây nên Thế nên, vấn đề bảo tồn các loài cây này đã trở nên cấp bách hơn bao giờ hết
Cây Pơ mu có phạm vi phân bố rất rộng, xuất hiện tại 17 tỉnh trong
cả nước, từ miền Bắc xuống tới Ninh Thuận, loài này hiện đang được bảo tồn tại hơn 14 Vườn quốc gia và Khu BTTN, tuy nhiên nhiều cây có đường kính lớn có giá trị thương mại vẫn đang bị khai thác lén lút Riêng tại Khánh Hòa, tình trạng lạm thác trái phép Pơ mu đến mức báo động, nhiều quần thể đã bị suy kiệt cả về số lượng và chất lượng Kết quả điều tra về phân bố cho thấy còn rất ít cây đạt chất lượng phục vụ cho công tác nhân giống, đồng thời khả năng tái sinh tự nhiên cũng rất hạn chế
Là loài đặc hữu hẹp của Việt Nam, vấn đề phân loại và tiến hóa của Thông lá dẹt còn nhiều tranh cãi đối với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Đặc trưng về lâm học của loài cũng chưa được nghiên cứu thấu đáo,
do phạm vi phân bố hẹp (chỉ 4 tỉnh Nam Tây nguyên và Trung bộ) gồm các quần thể có quy mô nhỏ và phân tán, công tác bảo tồn đứng trước nhiều khó khăn Mối đe dọa lớn nhất là mất sinh cảnh sống do khai hoang
và khai thác rừng, tình trạng biến đổi khí hậu; tái sinh tự nhiên kém dẫn đến thiếu lớp cây kế cận Việc mở đường giao thông xuyên qua khu vực phân bố của loài này cũng là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm về số lượng
Trang 7Những vấn đề nêu trên cho thấy công tác bảo tồn và phát triển bền vững đối với Thông lá dẹt và Pơ mu đòi hỏi phải đặt ra nhiều giải pháp mang tính đồng bộ, trong đó nghiên cứu về nhân giống là ưu tiên hàng đầu
Tại các nước tiên tiến, để bảo tồn các nguồn gen quý hiếm, nhiều phương thức nhân giống được triển khai trên cơ sở áp dụng các tiến bộ về công nghệ sinh học nhằm mục tiêu tạo ra nguồn giống chất lượng cao và
đủ đáp ứng cho các chương trình trồng phục hồi và phát triển bền vững Mặc khác, kết hợp sử dụng giống có chất lượng di truyền được cải thiện với việc trồng đúng lập địa và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích đáng là những biện pháp tổng hợp bảo tồn nguồn gen cây rừng
Đối với nước ta, công tác nhân giống đối với các loài cây quý hiếm, nguy cấp nói chung và đối với Thông lá dẹt và Pơ mu nói riêng, đã đạt được một số thành công Tuy vậy, công tác giống cây rừng vẫn còn một số bất cập, như tỷ lệ giống có chất lượng cao được sử dụng chưa nhiều, việc
áp dụng các thành tựu của công nghệ sinh học vào cải thiện giống mới ở giai đoạn ban đầu Ngoài ra, phần lớn nghiên cứu còn mang tính địa phương, khó đánh giá một cách toàn diện
Nội dung của chuyên đề này là thử nghiệm nhân giống đối với Thông lá dẹt và Pơ mu theo 2 phương thức: gieo hạt và giâm hom, nhằm mục tiêu góp phần bảo tồn nguồn gen đối với 2 loài cây nguy cấp, quý hiếm này
Trang 8
I TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu về Thông lá dẹt
1.1 Nghiên cứu ngoài nước:
- Danh pháp:
Tên nước ngoài: Krempf’s Pine (Thông Krempf)
Tên khoa học: Pinus krempfii H Lecomte (1921) Tên đồng danh: Pinus krempfii Lec var poilanei Lec (1924)
Ducampopinus krempfii (Lec.) A.Chev (1944)
- Pinus krempfii có dạng cây gỗ lớn, thường mọc vượt tầng, cao đến
30 m Là một trong những loài Thông bất thường nhất với lá có phiến dẹp phẳng, loài đặc hữu xuất hiện trong 1 khu vực nhỏ ở vùng cao nguyên phía Nam Việt Nam, đã trải qua quá trình suy giảm do hậu quả của chiến tranh, lửa rừng và sự chuyển đổi từ rừng tự nhiên sang rừng trồng và các mục đích khác Mặc dù phần lớn các quần thể hiện tại đã thuộc Vườn quốc gia, tuy nhiên do sự phát triển cơ sở hạ tầng đã dẫn đến tình trạng sinh cảnh rừng bị chia cắt hơn nữa [17]
- Thông Krempf thường xuất hiện ở độ cao từ 1.200-2.000 m, trên các đỉnh núi bằng hoặc các sườn dốc Mọc hỗn giao với các loài cây lá rộng thường xanh, với các họ ưu thế là Fagaceae) và Lauraceae Có mối quan hệ sinh thái với các loài Pơ mu, Thông Đà Lạt và Thông tre [15]
- Theo Campbell & Hammond (1989), nghiên cứu về hệ thực vật tại cao nguyên Đà Lạt đã ghi nhận tình trạng hỗn giao giữa các loài cây gỗ cứng, dương xỉ thân gỗ và loài thông cổ đại -Thông Krempf- là các thành phần đại diện cho thảm thực vật phân bố dọc theo các sườn dốc trong khu vực Hàng trăm, có thể là hàng ngàn cá thể Thông Krempf đã được tìm thấy tại 3 địa điểm Hiện diện trên nền đất laterite hóa, thoát nước tốt, có
độ pH thấp Mùa mưa thường xảy ra từ tháng 8-11
Theo IUCN (2013-2), Pinus krempfii là loài đặc hữu của Việt Nam
hiện diện ở phía nam dãy Trường Sơn, tại những khu vực: Hòn Vọng Phu, Chu Yang Sinh và dãy núi BiDoup, thuộc phạm vi của 4 tỉnh Đắc Lắc, Lâm Đồng, Khánh Hòa và các tỉnh Ninh Thuận Phân bố trong khoảng 10 địa điểm khác nhau và phạm vi được ước tính là 1.925km2 So với ghi nhận trước đây (Lecomte,1920) diện tích có phần lớn hơn (khoảng 3.000
km2), như vậy đã có sự suy giảm hơn 30% trong vòng ba thế hệ [16]
Trang 9- Chưa thấy có công trình nghiên cứu nào của các tác giả ngoài nước
về nhân giống Thông lá dẹt Ngoài ra, đã có đề xuất từ một vài Vườn thực vật nổi tiếng, với mong muốn được trồng thử nghiệm loài cây này tại vùng
có khí hậu ôn đới, để có thể nghiên cứu kỹ hơn về đặc điểm sinh học của Thông Krempf
2 Nghiên cứu trong nước:
- Hình thái và sinh sản: Thông lá dẹt thường có kích thước cao lớn, rất khó theo dõi quá trình thụ phấn và phát triển nón quả
Nón đơn tính, nón đực nhỏ yếu, dạng đuôi sóc, mọc thòng Nón cái thường mọc đơn độc, hình trứng, dài 4-9 cm và rộng 3-8 cm, gồm nhiều vẩy hóa gỗ (12-20 vẩy hữu thụ), treo rũ với cuống cong ngắn, khi chín (màu vàng nâu) vẩy tách và phát tán hạt khi còn trên cây Hạt nhỏ màu nâu nhạt, hình trứng, 4-5mm, được nối liền với cánh dài 10-15mm
Nón xuất hiện vào tháng 4-5 Hạt giống rất khó thu hái, thường nón chín và phát tán hạt trong khoảng thời gian từ tháng 7-10, do vậy khó dự đoán được thời gian tốt nhất để thu hạt
Hạt khi chín có thể phát tán trong một phạm vi tương đối rộng và nón quả còn tồn tại một thời gian trên cây
Cây mầm thường có khoảng 10-13 lá mầm đầu tiên, dạng sợi có hình xoắn cong về một hướng như lưỡi liềm, dài khoảng 2-3cm, sau đến là các
lá nhỏ mọc quanh thân, dài 1,5-2,5cm Khi cây ở độ tuổi non (5-20 tuổi), lá dài và rộng bản (dài 10-16cm) hơn lá cây trưởng thành, xếp như hai lưỡi kéo ở phần đầu cành [5]
- Phân bố và quần thể: Hiện diện trong kiểu rừng hỗn giao giữa cây
lá rộng và cây lá kim, với diện tích trên 50.000 ha (trong đó khoảng 14.000
ha ở VQG Bidoup Núi Bà, 10.000 ha thuộc xã Đa Chay, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng; 750 ha thuộc khu vực Cổng Trời-xã Lát, huyện Lạc Dương) Riêng VQG Bi Doup Núi Bà có khoảng 30 tiểu quần thể, mỗi quần thể có số lượng cá thể trưởng thành dưới 250 (có quần thể chỉ còn vài
cá thể) Trong vùng phân bố tập trung nhất, mật độ trung bình khoảng 20 cây/ha Nhìn chung Thông lá dẹt có phân bố không liên tục mà ngắt quãng, khoảng cách ngắt quãng khá lớn (100 - 200m) [11]
- Đặc điểm tái sinh: Trong rừng nguyên sinh có độ tàn che lớn (0,8)
và đất có tầng mùn dày (>50 cm), ở trên sườn và đỉnh hầu như không gặp cây tái sinh, cá biệt chỉ gặp 1 - 2 cây mạ ở cách gốc cây mẹ 20m nơi cây gỗ lớn mới đổ; ngoài ra ở những rừng hỗn giao có độ che khá lớn (0,6 - 0,8) Thông lá dẹp cũng tái sinh kém Nhưng tại vị trí trống có tầng mùn mỏng,
độ ẩm cao, lại gặp rất nhiều cây mạ Điều này chứng tỏ cây mạ đòi hỏi có nhiều ánh sáng [4]
Trang 10- Tình trạng bảo tồn: Thông lá dẹt nằm trong nhóm IIa của Nghị Định 32-CP Mối đe dọa lớn nhất là mất sinh cảnh sống do khai thác rừng; tái sinh kém dẫn đến thiếu lớp cây kế cận Việc mở đường giao thông băng qua khu vực phân bố của loài này (tuyến đường Khánh Lê-Lâm Đồng) cũng là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm về số lượng Theo báo cáo của VQG Bidoup Núi Bà, số lượng cá thể/quần thể đang suy giảm trong khoảng 10 năm trở lại đây [10]
- Đề tài “Bảo tồn nguồn gen thực vật rừng” do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam chủ trì từ năm 1988, đã phối hợp với các cơ quan chức năng và địa phương như với Cục kiểm lâm và đặc biệt là với Sở Nông Lâm Lâm Đồng, Ban quản lý rừng đặc dụng Lâm Viên (Đà Lạt), Trung tâm nghiên cứu lâm sinh Lâm Đồng, đã nhiều lần tiến hành điều tra, khảo sát tại hai vùng phân bố chính của Thông lá dẹt là Cổng Trời và vùng Long Lanh, đã thu thập hạt, cây con tái sinh, thử nghiệm gây trồng và đề xuất phương án bảo vệ cho loài thông này, tuy nhiên kết quả đạt được còn rất hạn chế [11]
- Năm 2007, Lê Cảnh Nam đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài Thông lá dẹt tại VQG Bidoup Núi Bà với các kết quả sau: Thông lá dẹt là loài phân bố hẹp và mang tính đặc hữu, khả năng tái sinh hạn chế; phân bố chủ yếu ở độ cao từ 1460 m trở lên trong kiểu rừng hỗn giao cây lá rộng - cây lá kim, trên nền đất có độ pH từ 4,9 - 5,4 và hàm lượng N tổng số từ 0,138 - 0,441; và có quan hệ hỗ trợ với các loài Cáp mộc, Trâm đỏ và Tiểu hồi [1]
Nhìn chung, việc gây trồng Thông lá dẹt ở ngoài vùng phân bố tự nhiên còn nhiều trở ngại, cần được phân tích kỹ Những nỗ lực thực nghiệm được Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam tiến hành đã không thành công vì yêu cầu sinh trưởng của loài này rất đặc trưng và chưa được nghiên cứu thấu đáo Cần có những nghiên cứu sâu hơn về khả năng tái sinh cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp bảo tồn hợp lý Đồng thời tiến hành thu quả gieo ươm
và giâm hom thực nghiệm để chuẩn bị xây dựng các mô hình trồng
- Trên cơ sở đó, năm 2010, VQG Bidoup Núi Bà đã bắt đầu tiến hành xây dựng mô hình trồng rừng để bảo tồn và phát triển bền vững loài Thông
lá dẹt ở Lâm Đồng Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cũng đã tiến hành thu thập hạt, cây con để gây trồng thử nghiệm tại trạm Lâm sinh Măng Linh (1989), nhưng kết quả rất hạn chế
- VQG Bidoup-Núi Bà đã thực hiện 2 mô hình trồng rừng bảo tồn đối với 2 loài Thông lá dẹt và Pơ mu, kết quả sơ bộ như sau:
+ Thông lá dẹt: trồng tại TK.79A, xã Đa Nhim, huyện lạc Dương, diện tích khoảng 2 ha
Mô hình 1: mật độ trồng 1.000 cây/ha, trạng thái rừng IA, tỷ lệ sống 35%
Trang 11Mô hình 2: mật độ trồng 500 cây/ha, trạng thái rừng IIIA1, tỷ lệ sống 30%
+ Pơ mu: trồng tại TK.91, xã Đa Chais, huyện lạc Dương, diện tích khoảng 1,5 ha Mật độ trồng 500 cây/ha, tỷ lệ sống 30%
Đánh giá: Cả hai loài cây đều có tỷ lệ sống thấp
- Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Lâm Đồng cũng đã từng giâm hom Thông lá dẹt (2010), tuy nhiên chỉ có 1 vài hom ra rễ với tỷ
lệ cây sống rất thấp
Về nhân giống hữu tính: do hạt giống khó thu hái nên chưa có các kết quả khả quan về nhân giống hữu tính Cây mầm có thể gặp trong rừng tự nhiên nhưng rất di thực về trồng, cây trồng sinh trưởng kém [6]
Đến nay chưa có công trình nghiên cứu quy mô về nhân giống đối với Thông lá dẹt, chỉ có vài nghiên cứu nhỏ lẻ về phương thức nhân giống bằng hạt và hom, tuy nhiên chưa thấy các báo cáo chính thức
2 Nghiên cứu về Pơ mu
2.1 Nghiên cứu ngoài nước:
- Danh pháp:
Tên khoa học: Fokienia hodginsii (Dunn) A.Henry & H.Thomas
- Pơ mu theo các tài liệu nước ngoài gọi là Fujian cypress (Tùng Phúc Kiến), do loài này mọc rất nhiều tại Phúc Kiến (Flore of China)
- Loài cây này phân bố ở 3 nước: Trung Quốc, Lào và Việt Nam Tại Trung Quốc, Pơ mu hiện diện trong giới hạn độ cao từ 100-1800m, trong khi đó tại Việt Nam lên đến 800-2400m, sự biến động về độ cao này
có thể do khác biệt về vĩ độ, địa hình, hoặc bởi mức độ tác động khác nhau
do con người gây nên (Anon, 2010)
- Các công trình nghiên cứu (trên thế giới) liên quan đến đặc tính sinh thái và nhân giống cây Pơ mu có phần hạn chế, chủ yếu là tại Trung quốc Có thể liệt kê 1 vài nghiên cứu sau:
+ Nghiên cứu của Zheng Ren-hua et al (2004) về tuyển chọn giống
Pơ mu đã xác định: trọng lượng bình quân của mỗi nón quả là 2,757g, dao động từ 1,342 đến 4,748g; bình quân khoảng 300-400 nón/ kg
Về hạt giống: bình quân khoảng 170.000 hạt/kg
Kết quả này là bước đệm cho các nghiên cứu tiếp theo về cải thiện
di truyền, bảo tồn nguồn gen Pơ mu [13]
+ Nghiên cứu của Wu Qing-jin (2008) về tuyển chọn cây trội, đã đo đếm và phân tích các dữ liệu từ 80 cây ở độ tuổi là 5 tuổi (có nguồn gốc hạt) sau đó tuyển chọn ra 15 cây trội có các kết quả về hình thân như sau: chiều cao cây trung bình: 5,5m, đường kính ngang ngực: 7cm và khối lượng gỗ: 0,0119m3 Quá trình tuyển chọn cho thấy, ở mức 5 tuổi, các cây
Trang 12trội có tính trạng sinh trưởng tốt có thể đưa vào xây dựng vườn giống và nhân giống sinh dưỡng [12]
+ Nghiên cứu của Zheng Rong et al (2007) về giâm hom Pơ mu đã cung cấp các thông tin: hom được cắt từ cây mẹ 2-4 tuổi, sử dụng IBA với nồng độ thấp (100mg/L) giúp hom ra rễ, giâm trên nền cát sạch, thời điểm giâm hom tốt nhất là từ tháng 6-10 tại Phúc Kiến, Tuy nhiên báo cáo này không thể hiện tỷ lệ ra rễ [14]
- Theo Osborn (2004), chuyên gia của tổ chức FFI, đã tiến hành điều
tra hiện trạng chung của Pơ mu và đưa ra những đề nghị sau:
+ Tiếp tục thu thập các tài liệu đã công bố có liên quan và hữu ích cho việc thực hiện kế hoạch quản lý
+ Tiến hành nghiên cứu chi tiết về đặc tính sinh thái và phương thức tái sinh của Pơ mu
+ Đánh giá trữ lượng gỗ đứng Pơ mu bằng phương pháp viễn thám hoặc các phương pháp khác
+ Tập hợp và tổng quan tất cả các thông tin về phân bố, mật độ của
2.2 Nghiên cứu trong nước:
- Dự án của Viện Khoa học Lâm nghiệp về “Chuẩn bị và thực hiện
chiến lược quản lý Pơ mu (Fokienia hodginsii) ở Việt Nam đến năm 2008
đã đề cập nhiều vấn đề bức xúc:
+ Tình trạng lạm thác diễn ra từ nhiều năm qua đã đe dọa đến sự diệt vong của Pơ mu, mặc dù Nghị định 18/1992 HĐBT quy định danh sách những loài động thực vật quý hiếm và những quy định về quản lý, bảo vệ chúng Pơ mu thuộc nhóm loài cây gỗ có giá trị kinh tế cao do bị khai thác quá mức dẫn đến tình trạng kiệt quệ và có nguy cơ bị tuyệt chủng - nhóm IIA của Danh mục thực vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (Nghị định số 32/2006)
+ Thiếu dữ liệu chính xác về hiện trạng quần thể Pơ mu cũng như về
số lượng cá thể và trữ lượng cây đứng
Trang 13+ Thông tin về sinh thái của Pơ mu có thể tham khảo từ nhiều nguồn, nhưng những tài liệu này chỉ cung cấp một vài thông tin và thường lập lại thông tin của nhau Dự án đã dẫn chứng và nhấn mạnh cần phải có những nghiên cứu cụ thể về sinh thái và tái sinh của Pơ mu (Aljos Farjon, 2002)
+ Để sử dụng bền vững loài cây này cần xây dựng kế hoạch quản lý
Pơ mu trong cả nước trên cơ sở tổng hợp hiện trạng và đánh giá toàn diện + Đề xuất chiến lược bảo tồn cả nội vi và ngoại vi cho loài cây quý hiếm này
- Hiện trạng bảo tồn: theo Sách đỏ Việt Nam (2007), loài cây này được xếp ở mức “Nguy cấp” (EN- Endangered) do khu phân bố bị suy giảm nghiêm trọng và tệ nạn khai thác trái phép vẫn tiếp diển ở nhiều nơi với cường độ mạnh, kể cả trong các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn thiên nhiên Hai quần thể tự nhiên tại Kỳ Sơn (Nghệ An) và Văn Bàn (Lào Cai)
đã được đăng ký là nguồn giống quốc gia Ở một số nơi (Nghệ An, Sơn La, Lào Cai, Lâm Đồng) những khu vực trồng thử nghiệm Pơ mu đã được thiết lập khá thành công, hiện còn đang theo dõi [4]
- Hạt Pơ mu sau khi thu hái, đem gieo sẽ có tỷ lệ nẩy mầm trên 50% Hạt giống có thể trữ lạnh (90C) nhưng không quá 150 ngày và tỷ lệ nẩy mầm chỉ còn khoảng 30% [8]
- Theo báo cáo “Cải thiện giống và quản lý giống cây rừng ở Việt Nam” : Nét đặc trưng để nhân giống các loài cây lá kim thành công là các hom giâm phải có cả ngọn thì cây hom mới có thể phát triển thành cây, độ
ẩm giá thể giâm hom không lớn (dưới 50%), độ ẩm không khí lại phải lớn (hơn 90%), mùa giâm hom có hiệu quả cao thường là mùa lạnh, loại hom
có tỷ lệ ra rễ cao nhất khi nhân giống hom là chồi vượt nửa hoá gỗ Đã có một số loài cây lá kim được nhân giống thành công (ở quy mô thí nghiệm), đạt tỷ lệ ra rễ từ 60-100%, trong đó có Pơ mu
Hom non Pơ mu được giâm, khoảng 2 tuổi, có thể đạt tỷ lệ ra rễ 70% , khi xử lý với TTG1 (là chế phẩm của IBA), tỷ lệ này có thể lên đến
100 % theo các điều kiện tốt nhất Ngoài ra có thể sử dụng chất BAP để giâm hom [2], [3]
- Theo một nghiên cứu khác, hom Pơ mu được giâm thành công
ở những cá thể từ 2-8 tuổi, bằng cành của cây trưởng thành hoặc đã qua tạo chồi Hom ra rễ đạt 85-90% khi xử lý bằng NAA 1% sau 60 –
90 ngày giâm, với giá bằng cát hay trực tiếp trong túi bầu Cây Pơmu trồng bằng hom có tiềm năng sinh trưởng tốt và có thể mở ra triển vọng phục hồi rừng Nhìn chung, các loài cây quí hiếm như Pơ mu có khả năng phát triển tốt, nhưng nguồn hạt rất hiếm hoặc không đủ đáp ứng nhu cầu, do đó cần phát triển trồng rừng trên diện rộng bằng cây hom [9]
Trang 14- Nghiên cứu đa dạng di truyền quần thể nhằm mục đích bảo tồn loài
Pơ mu của Nguyễn Thị Phương Trang (Viện Sinh thái và TNSV, 2012) đã nhân giống Pơ mu bằng giâm hom, với thuốc kích thích ra rễ IBA 400 ppm, tỷ lệ thành công là 75% [7]
- Nghiên cứu về nuôi cấy mô Pơ mu đã được nhóm tác giả Phạm Thế Anh và cộng sự (Viện Sinh học Nhiệt đới) thực hiện năm 2007 Kết quả cho thấy Pơ mu ra rễ nhiều và dài nhất trên môi trường WPM + IBA (5mg/l), sau 45 ngày nuôi cấy
II NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Nội dung
Thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật nhân giống đối với Thông lá dẹt và Pơ mu, bao gồm:
- Nhân giống hữu tính (giống hạt)
- Nhân giống sinh dưỡng (giống hom)
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Phương pháp nhân giống hữu tính (giống hạt):
- Chọn cây mẹ và thu hái nón hạt:
Về nguyên tắc, cây mẹ được chọn là cây trội đang sinh trưởng và phát triển tốt, thân thẳng, không cong queo hoặc bị sâu bệnh Độ tuổi từ 30 đến 40 tuổi, D1.3: 25 - 35cm, sai quả Tuy nhiên, do số lượng cá thể của 2 loài rất ít và phân tán, nên các đối tượng được chọn theo các chỉ tiêu ở mức tương đối về hình thân
Thu hái giống: mùa thu hái nón thường từ tháng 9-12, khi vỏ nón chuyển màu từ màu xanh sang màu nâu vàng
- Xử lý hạt: Sau khi thu hái, nón quả được phơi khô ở nơi nắng nhẹ
và sau 7 - 10 ngày các hạt giống được tách ra, sàng lọc để loại bỏ hạt lép
và các tạp chất Sau đó hạt sẽ được xử lý cho nẩy mầm và theo dõi
- Bố trí thử nghiệm: Nón hạt được thu hái theo 4 xuất xứ ở các địa phương Ninh Hòa, Cam Lâm, Khánh Sơn, Khánh Vĩnh; bố trí nhân giống theo kiểu khối đầy đủ (3 lần lặp)
Trang 15điều chỉnh độ che nắng; nguồn nước đủ để tưới phun sương Đất sử dụng gồm hỗn hợp đất mùn (40%) được lấy từ nơi có quần thể Pơ mu và Thông
lá dẹt, phần còn lại là đất mặt tại chỗ
- Theo dõi và đánh giá quá trình sinh trưởng của từng xuất xứ trong vòng 1 năm
2.2 Phương pháp nhân giống sinh dưỡng (giống hom)
- Cách chọn hom: Hom giâm phải có cả ngọn, là chồi vượt nửa hoá
gỗ Về độ tuổi: hom non, khoảng 2-5 tuổi
- Xử lý hom: hom được cắt vát phía dưới bằng kéo sắc Chiều dài hom khoảng 15-20 cm
- Chất kích thích ra rễ: sử dụng 2 loại auxin là IAA (Indole acetic acid) và NAA (Naptalen acetic acid) ở dạng dung dịch, nồng độ thấp từ 0,5-1% (đối với Pơ mu) và 1-2% (đối với Thông lá dẹt)
- Các điều kiện thích hợp nhất để cây hom ra rễ là ở nhiệt độ 28 -
33oC , độ ẩm không khí ở khu giâm hom 90% và thường xuyên tưới phun sương Giá thể sử dụng là cát sạch đã được khử trùng
- Bố trí thử nghiệm: Thực hiện với 4 xuất xứ hom, mỗi xuất xứ chọn
30 hom, thử nghiệm trên 2 nhóm auxin (IAA, NAA), bố trí kiểu khối đầy
đủ (3 lần lặp), số hom thực hiện gồm:
Pơ mu : 15 hom x 4 x.xứ x 2 auxin x 3 lặp = 360
Thông lá dẹt : 15 hom x 4 x.xứ x 2 auxin x 3 lặp = 360
Tổng cộng: 720/ 2 loài
Đối chứng: 20 hom được chọn từ 4 xuất xứ cho mỗi loài
- Sử dụng phần mềm thống kê Analysis-Anova để phân tích và đánh giá các kết quả
III KẾT QUẢ – THẢO LUẬN
1 Nhân giống hữu tính
1.1 Nhân giống hạt Thông lá dẹt:
- Nón quả của Thông lá dẹt được thu hái tại 4 quần thể khác nhau ở các địa điểm: Khánh Phú, Ninh Tây (hòn Vọng Phu), Sơn Thái và Hòn Giao
- Các thông số kỹ thuật trong quá trình gieo ươm và theo dõi:
+ Số lượng nón Thông lá dẹt trên 1 kg: 70-75 nón/kg
+ Số lượng hạt Thông lá dẹt có trong 1 nón quả: 20-25 hạt/nón quả + Hạt nẩy mầm 7-10 ngày sau khi xử lý, thời gian theo dõi nẩy mầm kéo dài đến 30 ngày
+ Cây mầm gồm 10-13 lá mầm dạng sợi, mọc cong theo 1 hướng, lá mầm dài khoảng 2cm
Trang 16+ Đến tháng thứ 6, bắt đầu xuất hiện lá chính thức, gồm 2 lá có phiến dẹp xếp trong 1 bẹ lá
+ Sau 12 tháng, chiều cao trung bình của cây con: 8-10cm
Bảng 1: Kết quả thử nghiệm gieo ươm hạt Thông lá dẹt trên 4 xuất xứ
TT XUẤT
XỨ
LẶP 1 LẶP 2 LẶP 3 TỔNG
Số hạt gieo
Hạt nẩy mầm
Số hạt gieo
Hạt nẩy mầm
Số hạt gieo
Hạt nẩy mầm
Số hạt gieo
Hạt nẩy mầm
% nẩy mầm
1 Khánh Phú 30 19 30 16 30 15 90 50 55,6
2 Ninh Tây 30 22 30 17 30 19 90 58 64,4
3 Sơn Thái 30 21 30 24 30 22 90 67 74,4
4 Hòn Giao 30 20 30 19 30 23 90 62 68,9 TỔNG 120 82 120 76 120 79 360 237 65,8
Bảng 2: So sánh tỷ lệ nẩy mầm của hạt Thông lá dẹt giữa 4 xuất xứ
Phân tích phương sai 1 nhân tố (bảng 2)
Anova: Single Factor
SUMMARY
Groups Count Sum Average Variance
Row 1: Khanh Phu 3 166,7 55,6 48,1
Row 2: Ninh Tay 3 193,3 64,4 70,3
Row 3: Son Thai 3 223,3 74,4 25,9
Row 4: Hon Giao 3 206,7 68,9 48,2
Trang 17- Do F thực nghiệm: 3,969 < F lý thuyết : 4,066 như vậy giữa các xuất xứ, mặc dù có khác biệt, nhưng không đáng kể
- Trong đó, xuất xứ Sơn Thái (row 3) cho tỷ lệ nẩy mầm bình quân cao nhất (74,4%) nên ưu tiên chọn để nhân giống; ngoài ra có thể chọn thêm xuất xứ Hòn Giao (68,9%) để tăng thêm nguồn giống
Biểu đồ 1: So sánh tỷ lệ nẩy mầm của hạt Thông lá dẹt giữa 4 xuất xứ
1.2 Nhân giống hạt Pơ mu:
- Nón quả của Pơ mu được thu hái tại 4 quần thể khác nhau ở các địa điểm: Khánh Phú, Suối Cát, Sơn Thái và Hòn Giao
- Các thông số kỹ thuật trong quá trình gieo ươm và theo dõi:
+ Thời điểm thu hái nón: tháng 9-10
+ Số lượng nón quả/kg: 380-430
Trang 18+ Mỗi nón quả có bình quân 8 hạt
+ Hạt nẩy mầm sau 3-5 ngày (từ khi xử lý), thời gian nẩy mầm kéo dài đến 40 ngày
+ Cây mầm có 2 lá mầm dạng bản (dài cở 1cm), khoảng 7 ngày sau xuất hiện các lá dạng sợi
- Qua tháng thứ 3, bắt đầu xuất hiện dạng lá chính thức, gồm 2 cặp
lá hình vẩy ở mổi đốt
- Sau 12 tháng, cây con cao trung bình 15 cm
Bảng 3: Kết quả thử nghiệm gieo ươm hạt Pơ mu trên 4 xuất xứ
XỨ
Số hạt gieo
Hạt nẩy mầm
Số hạt gieo
Hạt nẩy mầm
Số hạt gieo
Hạt nẩy mầm
Số hạt gieo
Hạt nẩy mầm
% nẩy mầm
Phân tích phương sai 1 nhân tố (bảng 4) SUMMARY
Groups Count Sum Average Variance
Row 1 : Khanh Phu 3 166,7 55,6 70,3
Row 2 : Suoi Cat 3 140,0 46,7 77,7
Row 3 : Son Thai 3 216,7 72,2 25,9
Row 4 : Hon Giao 3 193,3 64,4 48,1