S ự nhấp nháy Sự nhấp nháy là quá trình tạo ra ánh sáng sau khi các electron chuyển động từ các quỹ đạo có mức năng lượng cao xuống các mức năng lượng thấp trong một chất hấp thụ, Các
Trang 1CÁC PHƯƠNG PHÁP
GHI ĐO BỨC XẠ
CỤC AN TOÀN BỨC XẠ VÀ HẠT NHÂN Địa chỉ: Tầng 4, số 70 Trần Hưng Đạo, Hà Nội Tel.: 04 - 39 428 636; Fax.: 04 - 38 220 298
Trang 2MỤC TIÊU
Mô tả được 6 phương pháp ghi đo bức xạ,
Biết nguyên tắc hoạt động cơ bản của các đầu
dò chứa khí,
Mô tả hoạt động 3 loại đầu dò chứa khí chính,
Hiểu các thuật ngữ: Phân giải thời gian, Thời gian phục hồi và Thời gian chết đối với các đầu
Trang 3NỘI DUNG
1 Các cơ chế ghi đo bức xạ,
2 Đầu dò (detector) chứa khí,
Trang 41 Các cơ chế ghi đo bức xạ
Các đầu dò bức xạ hoạt động bằng cách ghi đo sự
thay đổi trong môi trường hấp thụ gây bởi sự truyền năng lượng từ bức xạ ion hoá tới môi trường này.
Có 6 cơ chế được sử dụng để ghi đo bức xạ
Trang 5a Sự ion hóa
Sự ion hoá được gây ra trực tiếp bởi bức
xạ alpha, beta và gián tiếp bởi các tia-X, gamma, nơtron,
Các cặp ion được tạo ra có thể được thu nhận và số cặp ion được thu nhận tỷ lệ với lượng bức xạ gây ra sự ion hoá,
Nhiều thiết bị ghi đo bức xạ sử dụng sự ion hoá như một kỹ thuật ghi đo.
Trang 6b S ự nhấp nháy
Sự nhấp nháy là quá trình tạo ra ánh sáng sau khi các electron chuyển động từ các quỹ đạo có mức năng lượng cao xuống các mức năng lượng thấp trong một chất hấp thụ,
Các electron được dịch chuyển lên các quỹ đạo có mức năng lượng cao hơn bởi quá quá trình kích thích ,
Ánh sáng được giải phóng có thể bị biến đổi thành một tín hiệu điện Kích thước của một tín hiệu điện phụ thuộc số electron dịch chuyển đến các quỹ đạo có mức năng lượng cao hơn và do đó có thể gắn liền với lượng bức xạ gây ra sự nhấp nháy,
Sự nhấp nháy là kỹ thuật ghi đo rất quan trọng để kiểm tra bức xạ và các đầu dò sử dụng kỹ thuật này được gọi là các các dầu dò nhấp nháy.
Trang 7c Nhi ệt phát quang
Khi các electron trong các chất nhất định hấp thụ năng
lượng thì chúng sẽ dịch chuyển đến các mức năng lượng cao hơn hoặc ‘các vùng cấm’ Chúng được giữ lại trong các vùng này cho đến khi các chất này được đốt nóng đến một nhiệt độ nhất định,
Năng lượng đốt nóng giải phóng các electron và các
chất này phát ra ánh sáng khi các electron ở trên dịch chuyển về mức năng lượng ban đầu của chúng,
ánh sáng bị biến đổi thành tín hiệu điện liên hệ với
lượng bức xạ tới,
Các chất nhiệt phát quang được sử dụng để kiểm tra
Trang 8d Các cơ chế hóa học
Bức xạ ion hoá có thể gây ra các thay đổi hoá
học Hiệu ứng này được ứng dụng trong phim ảnh ghi đo liều cá nhân, tia X trong y tế và kỹ thuật chụp X-quang,
Trong một vài trường hợp, tốc độ các phản
ứng hoá học tăng lên khi lượng bức xạ ion hoá tăng,
Kỹ thuật này có thể được sử dụng để đo các
liều lượng cao (liều liều kế ceric-cerous )
Trang 9e Sự đốt nóng
Trang 10f Các cơ chế sinh học
Các liều cao của bức xạ có thể gây ra các thay đổi sinh học trong các tế bào sống,
Các thay đổi sinh học chỉ được sử dụng
để đánh giá liều lượng trong các tình huống cuối cùng ở đó con người nửa tin nửa ngờ sẽ có rủi ro bị thu nhận một liều lượng cao
Trang 112 Đầu dò chứa khí
Có ba loại đầu dò chứa khí khác nhau
• Buồng ion hóa,
Trang 122 Đầu dò chứa khí (tiếp)
Đầu dò chứa khí có nhiều loại và kích thước khác nhau Nhưng tất cả đều có chung một dạng gồm một buồng có hai điện cực chứa đầy khí,
Thể tích khí giữa hai điện cực là thể tích hoạt động của đầu dò.
Trang 13Nguyên tắc hoạt động của đầu dò chứa khí
Trang 14Cấu tạo thực tế của đầu dò
Trang 15Nguyên lý làm việc
Bức xạ tới tương tác với thể tích khí và tạo ra các cặp ion Khi một hiệu điện thế được đặt giữa các điện cực thì các ion dương bị hút
về phía cathode và các electron bị hút về phía anode,
Điện tích được tích luỹ trên anode sẽ gây ra một biến đổi điện thế trong mạch Sự biến đổi điện thế tạo ra một xung điện trong mạch ngoài Bằng cách ghi đo xung điện này có thể ghi nhận sự có mặt của bức xạ ion hoá,
Kích thước của xung phụ thuộc số electron được thu nhận bởi anode và điều này phụ thuộc vào lượng bức xạ ion hoá trong buồng cũng như loại bức xạ và năng lượng của nó,
Kích thước của xung cũng là một hàm của điện thế đặt giữa anode và cathode
Trang 16Phân vùng điện áp hoạt động
Voltage
Ion chamber
Prop
ortional
Geiger Muller
P u l s e
H e i g h t
Trang 17Phân giải thời gian, Thời gian chết, Thời gian
phục hồi
Phân giải thời gian của một detector là khoảng thời gian nhỏ nhất phải phân biệt được 2 sự kiện và ghi chúng lại như hai quá trình tách rời nhau,
Phân giải thời gian phụ thuộc
• Thời gian chết của đầu dò (tức là khoảng thời gian để tín hiệu hoặc xung được tích luỹ đủ lớn
để được ghi nhận),
• Thời gian phục hồi (tức là khoảng thời gian mà đầu dò khôi phục từ 1 sự kiện ion hoá trở lại trạng thái ban đầu của nó)
Trang 18Biểu đồ xung
Trang 19a Đầu dò buồng ion hóa
Khi các hạt mang điện đi qua thể tích hoạt động của đầu dò, một số cặp ion được sinh ra Nếu như tất cả các hạt mang điện được hấp thụ hoàn toàn trong thể tích hoạt động của đầu
dò thì số cặp ion sinh ra tỷ lệ thuận với năng lượng của hạt mang điện Nếu như không có điện áp giữa hai điện cực, các cặp ion đó sẽ tái hợp lại,
Tuy nhiên, nếu như có hiệu điện thế giữa hai điện cực của đầu dò các ion âm sẽ chuyển động về điện cực dương và ion dương chuyển động về điện cực âm,
Khi hiệu điện thế giữa hai cực tăng lên, vận tốc của các ion tăng Vì vậy, thời gian để tái hợp giảm đi và phần điện tích thu được tăng lên Nếu điện áp đủ lớn, tất cả các ion sẽ đến
Trang 20a Đầu dò buồng ion hóa (tiếp)
Để ngăn cản buồng ion hoạt động trong vùng tỷ lệ, điện thế được áp vào được giới hạn thấp hơn so với yêu cầu đặt ra để gây ra sự ion hoá thứ cấp của các phân tử khí Nếu một nguồn điện thế 25V được sử dụng thì năng lượng được tăng thêm do sự gia tốc một electron giữa các điện cực không thể lớn hơn 25 eV Năng lượng này
là không đủ để gây ra sự ion hoá thêm nữa,
Các dòng được tạo trong các buồng ion là rất nhỏ, tiêu biểu là cỡ bậc 10-12 A và vì vậy phải được khuếch đại đối với các kết quả đo Do đó các thiết bị mà kết hợp các đầu dò buồng ion thì yêu cầu mạch trạng thái rắn khá phức tạp để khuếch đại các dòng một chiều vô cùng nhỏ này
Trang 21a Đầu dò buồng ion hóa (tiếp)
Thiết kế các buồng ion và chọn lựa khí đổ vào phụ thuộc vào ứng dụng riêng của từng thiết bị,
Đối với các thiết bị kiểm tra bức xạ có thể mang theo thì buồng này thường chứa đầy không khí và được cấu tạo từ các chất có số nguyên tử thấp,
Nếu thiết bị được sử dụng để đo bức xạ alpha hoặc beta thì buồng này phải có các lớp vách mỏng hoặc một cửa sổ rất mỏng Chỉ bằng cách đó loại đầu dò này mới có thể được sử dụng để phân biệt giữa các loại bức xạ bằng cách đặt một tấm chắn trên cửa sổ mỏng
Trang 22a Đầu dò buồng ion hóa (tiếp)
Buồng ion hoá có thể được thiết kế ở nhiều dạng và kích thước khác nhau Khí nạp thường là không khí khô ở điều kiện áp suất khí quyển Một số khí khác nhau cũng được sử dụng cho các mục đích cụ thể,
Điện tích gom được có thể đo bằng 3 cách:
• Dòng trung bình có thể đo bằng bộ khuyếch đại DC chuyên dụng, đại lượng đo được này tỷ lệ thuận với tốc độ đến của bức xạ hạt nhân,
• Số điện tích trong buồng ion hoá sau một khoảng thời gian cố định
có thể xác định được, giá trị đo này liên quan tới tổng bức xạ đến buồng ion hoá trong khoảng thời gian đo nói trên,
• Điện tích xuất hiện trên anode đối với từng sự kiện ion hoá có thể chuyển đổi thành xung điện áp, nó có thể đi qua bộ đặt ngưỡng vào tạo thành xung có thể đếm được
Trang 23a Đầu dò buồng ion hóa (tiếp)
Trang 24b Ống đếm tỷ lệ
Một ống đếm tỷ lệ hoạt động trong vùng tỷ lệ Do ảnh hưởng của
sự nhân khí có thể tăng số electron được tạo thành gần 104 lần Điều này có nghĩa là đối với mỗi electron được tạo ra bởi một sự kiện sự ion hóa ban đầu thì có thể có thêm 10 nghìn electron được tạo ra Do đó mỗi sự kiện ion hoá có thể phân biệt được và đếm được,
Lối ra từ một bộ đếm tỷ lệ là một chuỗi các xung được đếm bởi một mạch đếm Nói chung, thời gian phân giải thường rất ngắn đối với các bộ đếm này (nhỏ hơn một micro giây) vì vậy các tốc độ xung lớn có thể đếm được,
Tuy nhiên, biên độ của mỗi xung là rất nhỏ (cỡ bậc milivolt) và cần phải có sự khuyếch đại trước khi các xung này có thể đếm được,
Độ dốc của đồ thị trong vùng tỷ lệ là khá dốc Điều này có nghĩa là một thay đổi nhỏ của điện áp sẽ có một ảnh hưởng tới độ lớn xung Do đó nguồn cao thế ổn định được sử dụng
Trang 25b Ống đếm tỷ lệ (tiếp)
Như đã được chỉ ra ở phần trước, kích thước xung tổng tỷ lệ với năng lượng được giữ lại bởi bức xạ Vì vậy, các ống đếm tỷ lệ có thể được sử dụng với một mạch phân biệt độ cao của xung để phân biệt giữa các loại bức xạ trên cơ sở khả năng ion hoá của chúng,
Ví dụ, nếu thiết bị này được chiếu xạ cả hai loại bức xạ alpha và beta với cùng một mức năng lượng thì bức xạ alpha sẽ tạo ra nhiều số cặp ion hơn với cùng độ dài quãng dường vì vậy độ lớn xung này sẽ rộng hơn,
Nếu sử dụng các mạch ngoài khác nhau thì các ống đếm tỷ lệ cũng có thể được sử dụng để phân biệt giữa
Trang 27c Ống đếm Geiger Muller
Các bộ đếm Geiger-Muller hoạt động trong vùng Geiger-Muller M) và sử dụng một chất khí như P-10 được sử dụng trong các bộ đếm tỷ lệ Độ lớn của xung lối ra không phụ thuộc năng lượng của hạt ion hoá Điều này có nghĩa là nó không thể phân biệt bằng điện tử giữa bức xạ alpha và beta Mà có thể cũng không đo hoặc phân biệt giữa các mức năng lượng của bức xạ tới,
(G- Trong vùng Geiger-Muller thì một sự phóng điện xảy ra dọc dây anode Sự phóng điện này phải bị dập tắt để ngăn cản sự duy trì của bản thân nó và để ngăn cản sự tạo nhiều xung Sử dụng một khí thích hợp như các khí hữu cơ (ví dụ ethyl alcohol) hoặc các halogen (ví dụ chlorine, bromine) thêm vào trong bình khí sẽ giúp cho sự dập tắt này Các khí hữu cơ ở trên được sử dụng trong suốt quá trình dập tắt, do đó các ống được dập tắt bằng hữu cơ
có một giới hạn thời gian sống hữu ích khoảng 109 tổng số đếm Các halogen có ưu điểm là được không sử dụng trong quá trình
Trang 28c Ống đếm Geiger Muller (tiếp)
Trang 29c Ống đếm Geiger Muller (tiếp)
Một ống đếm G-M nhỏ có thể đủ nhạy để đo các suất liều thấp trong khi một buồng ion hoá với độ nhạy tương tự sẽ cần phải có kích thước lớn hơn Nếu bộ đếm được sử dụng để đo bức xạ alpha và beta thì nó phải có một cửa sổ mỏng để bức xạ vào trong ống,
Một ưu điểm của các bộ đếm G-M là xung lối ra
cỡ vài volt, vì vậy tín hiệu không cần phải khuếch đại trước và mạch có thể được bảo quản đơn giản Điều này có nhĩa là các bộ đếm Geiger- Muller là rất bền và do đó chúng thường được sử dụng ở nơi làm việc để kiểm tra bức xạ gamma.
Trang 30c Ống đếm Geiger Muller (tiếp)
Nếu các detector G-M được sử dụng như các dụng cụ
đo liều hoặc suất liều thì chúng phải có một sự đáp ứng tương tự với mô của cơ thể người trên một dải năng lượng rộng Khi các ống đếm G-M đáp ứng ở năng lượng thấp hơn khoảng 200 keV thì chúng thường được bao bọc trong vật liệu lọc thích hợp để bảo đảm rằng năng lượng đáp ứng này là có thể tuyến tính Điều này được gọi là sự bù trừ năng lượng,
Một trong những nhược điểm của một bộ đếm G-M là phân giải thời gian của chúng dài Thời gian phân giải này thường cỡ 100 đến 300 microsecond (s).
Trang 31c Ống đếm Geiger Muller (tiếp)
Do vậy, bộ đếm này không thích hợp cho tốc độ đếm lớn
vì ở đó các xung được tạo thành rất nhanh Một trạng thái được gọi là chồng chập xung có thể xảy ra trong các trường bức xạ cao ở đó các xung sẽ được tạo thành nhanh đến mức mà chúng gắn liền bản thân chúng với đuôi của xung trước trước khi anode xoá hoàn toàn điện tích Do đó các xung theo sau xung ban đầu được ghi là quá nhỏ Nếu một thiết bị được sử dụng trong một trường bức xạ cao thì ban đầu nó sẽ nâng chỉ số đọc lên cao nhưng chỉ số này lại nhanh chóng trở lại số không, chính
sự sai này chỉ ra rằng trường bức xạ này là an toàn,
Một bộ đếm G-M có thể cho kết quả đo là không trong một vùng suất liều lớn bởi vì sự chồng chập
Trang 32Túm tắt cỏc đầu dũ chứa khớTóm tắt các detector chứa khí
Detector Loạ i bức xạ Hiệu suất Chú giải
Buồng ion Alpha Cao (có cửa sổ mỏng và ổn
định) sử dụng để đếm và quang phổ học.
Beta trung bì nh (có cửa sổ mỏng
và ổn định) Sử dụng trong các thiết bị kiểm tra bức xạcó thể mang theo.
Gamma <0.1% Sử dụng trong các thiết bị kiểm tra bức xạ
có thể mang theo.
X-rays Phụ thuộc độ dày cửa sổ Lợ i thế là sử dụng hầu hết trong an toàn
bức xạ ống đếm tỷ lệ Alpha Cao (vớ i cửa sổ mỏng và ổn
định) sử dụng đếm và đo phổ.
Beta trung bì nh (vớ i cửa sổ mỏng
và ổn định) Sử dụng cho quá trìnăng l ợ ng. nh đếm tất cả các mức
Có thể sử dụng đối vớ i quang phổ học vớ i năng l ợ ng <200 keV.
Gamma <1%
X-rays Phụ thuộc độ dày cửa sổ.
bộ đếm Mỹller Alpha trung bìvà ổn định)nh (vớ i cửa sổ mỏng Không thể phân biệt giữa các mức năngl ợ ng.
Geiger-Beta trung bì nh (vớ i cửa sổ mỏng
và ổn định) Không thể phân biệt giữa các mức năngl ợ ng.
Gamma <1% Không thể phân biệt giữa các mức năng
l ợ ng nh ng sử dụng (vớ i năng l ợ ng bổ xung thích hợ p) trong các thiết bị kiểm tra
Trang 333 Đầu dò nhấp nháy
Khi bức xạ ion hoá đi qua một môi trường vật chất, một số trạng thái bị ion hoá và kích thích được hình thành Các trạng thái kích thích di chuyển về trạng thái bình thường phát ra ánh sáng hoặc các nhấp nháy Các ánh sáng này được ghi nhận bằng ống nhân quang điện và các xung dòng ở lối ra của ống nhân quang điện chỉ thị các hạt ion hoá đi qua chất nhấp nháy,
Trong điều kiện phù hợp, xung sinh ra tỷ lệ với năng lượng do bức xạ ion hoá đi chất nhấp nháy Những đầu dò loại này có thể sử dụng để đo phân bố năng lượng của các hạt ngoài việc đếm chúng,
Các tinh thể nhấp nháy thường được bao bọc bằng các vật liệu phản xạ và ghép với cathod của ống nhân quang điện bằng ống dẫn sáng Vật phản xạ được dùng để tăng khả năng gom ánh
Trang 34Nguyên tắc hoạt động
Các đầu dò nhấp nháy dựa trên một vài chất thực tế (được gọi là các phosphor) phát ánh sáng nhìn thấy khi các electron thay đổi mức năng lượng,
Trong một chất phosphor thì các electron này không duy trì ở mức năng lượng cao trong một khoảng thời gian dài Chúng trở lại mức ban đầu của chúng và phát ra các photon trong vùng ánh sáng nhìn thấy.
Trang 35Nguyên tắc hoạt động (tiếp)
Cường độ của ánh sáng phát ra này tỷ lệ với năng lượng của bức xạ tới Vì vậy, các đầu dò nhấp nháy có thể được sử dụng không chỉ để ghi đo bức xạ mà còn
để phân biệt các mức năng lượng ngoài (tức là chúng có thể được sử dụng cho các mục đích đo phổ).
Trang 36Quá trình tạo sự nhấp nháy
Møc n¨ng l îng thÊp
Møc n¨ng l îng cao
Bøc x¹ tíi
§iÖn tö nh¶y lªn møc n¨ng l îng cao
§iÖn tö trë vÒ møc n¨ng l îng thÊp
vµ ph¸t ra ¸nh s¸ng