1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI GIỮA KỲ MÔN KINH TẾ LƯỢNG 2 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUỔI THỌ TRUNG BÌNH CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚ

25 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 565,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài nghiên cứu này, vì thế được tiến hành để giải thích câu hỏi nghiên cứu: “Những nhân tố nào ảnh hưởng đển giá trị tuổi thọ trung bình của các quốc gia?” dựa trên việc thu thập dữ liệu

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn : TS Chu Thị Mai Phương

Nhóm sinh viên thực hiện: NHÓM 14

Nguyễn Thùy Dung 1714420019

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ -      -

BÀI GIỮA KỲ MÔN KINH TẾ LƯỢNG 2

NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUỔI THỌ TRUNG BÌNH CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

GIAI ĐOẠN 2014-2016

Hà Nội, 12/2019

Trang 2

Nhân tố ảnh hưởng đến tuổi thọ trung bình của các quốc gia trên thế giới

giai đoạn 2014 – 2016

Mục lục

Lời mở đầu 1

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

1.1 Các nghiên cứu đi trước 2

1.1.1 Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa tuổi thọ và yếu tố kinh tế 2

1.1.2 Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa tuổi thọ và yếu tố giới tính 3

1.1.3 Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa tuổi thọ và tỉ lệ sinh 3

1.1.4 Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa tuổi thọ và yếu tố môi trường 4

1.1.5 Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa tuổi thọ và yếu tố giáo dục 4

1.1.6 Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa tuổi thọ và sự tiếp cận điện năng 5

1.2 Hạn chế của các nghiên cứu trước 5

Chương 2 Mô hình nghiên cứu 7

2.1 Xây dựng mô hình 7

2.2 Dữ liệu và biến số 7

2.3 Giả thuyết nghiên cứu 9

Chương 3 Kết quả và thảo luận 11

3.1 Mô tả thống kê biến số 11

3.2 Mô tả tương quan biến số 13

3.3 Kết quả ước lượng và kiểm định 14

Chương 4 Kết luận và kiến nghị 18

4.1 Kết luận 18

4.2 Kiến nghị 18

Tài liệu tham khảo 21

Trang 3

Lời mở đầu

Trải qua hơn 600 năm kể từ hành trình đi tìm “Cội nguồn tuổi trẻ” của nhà thám hiểm Tây Ba Nha, Ponce de Leon, năm 1513, con người vẫn hy vọng một cuộc sống kéo dài hơn Tuy nhiên, cũng giống như những hành trình tìm kiếm sự bất tử của những tiền nhân đi trước như Tần Thủy Hoàng, vua Preter John, hành trình của Ponce de Leon cuối cùng cũng thất bại Trên thực tế, chưa từng có một cá nhân nào sống mãi mãi, người sống lâu nhất trên thế giới ghi nhận cho đến này là Jeanne Calment, người phụ nữ Pháp, sống tới 122 tuổi

Dựa trên công trình nghiên cứu của mình, Hayflick (2011) đã chứng minh rằng con người không thể sống bất tử do những giới hạn phân chia tế bào Joanna Masel cùngcác đồng nghiệp (2017) cũng đưa ra kết luận rằng: lão hóa là quá trình không thể tránh khỏi của con người, từ đó gây ra cái chết tuy nhiên việc cải thiện tuổi thọ của con người là hoàn toàn có thể Trên thực tế, số liệu tuổi thọ trung bình của các quốc gia qua các năm đều có xu hướng tăng lên Bên cạnh đó, đứng trên cấp quốc gia, với số liệu được thu thập của các tổ chức quốc tế, tồn tại sự bất bình đẳng về tuổi thọ trong đó các quốc gia châu Phi thường có mức tuổi thọ khá thấp so với bình quân Bài nghiên cứu này, vì thế được tiến hành để giải thích câu hỏi nghiên cứu:

“Những nhân tố nào ảnh hưởng đển giá trị tuổi thọ trung bình của các quốc gia?” dựa trên việc thu thập dữ liệu các biến trong thời gian 2014 – 2016 từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất chung trong việc cải thiện tuổi thọ trung bình trên quy mô quốc gia

Mục tiêu nghiên cứu của nhóm là xây dựng mô hình, sử dụng phương pháp ước lượng OLS có trọng số để ước lượng các tham số Từ đó phân tích, chứng minh mốiliên hệ giữa các biến đưa sử dụng lên tới tuổi thọ trung bình quốc gia nhằm đưa ra những kiến nghị, giái pháp chung nhằm tăng tuổi thọ trung bình của quốc gia Đối tượng nghiên cứu của bài là các nhân tố ảnh hưởng đến tuổi thọ trung bình của các quốc gia

Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên dữ liệu thứ cấp thu thập trên quy mô quốc gia từ các tổ chức quốc tế trong giai đoạn 2014 – 2016

Bài nghiên cứu gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Mô hình nghiên cứu

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 4: Kiến nghị và đề xuất giải pháp

Trang 4

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu đi trước

1.1.1 Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa tuổi thọ và yếu tố kinh tế

Samuel H.Preston là người đầu tiên nghiên cứu mối quan hệ giữa thu nhập bìnhquân đầu người và tuổi thọ thể hiện qua đường cong Preston được mô tả vào năm

1975 Preston đã nghiên cứu mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người vàtuổi thọ trong những năm 1900, 1930 và 1960 và kết quả nghiên cứu cho thấy rằngmối quan hệ này được giữ nguyên trong cả ba thập kỷ Đường cong Preston chỉ rarằng những người sinh ra ở các nước giàu hơn, trung bình có thể mong đợi sống lâuhơn những người sinh ra ở các nước nghèo Tuy nhiên, mối liên hệ giữa thu nhập vàtuổi thọ còn phức tạp hơn thế Điều này được chỉ ra rằng ở mức thu nhập bình quânđầu người thấp, thu nhập tăng thêm có liên quan đến mức tăng lớn về tuổi thọ,nhưng ở mức thu nhập cao, thu nhập tăng có ít thay đổi liên quan đến tuổi thọ Nóicách khác, tuổi thọ tuân theo quy luật cận biên giảm dần khi thu nhập có xu hướnggia tăng cao, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi

Nguồn: Wikipedia

Đường cong Preston, sử dụng dữ liệu xuyên quốc gia cho năm 2005 Trục x hiển thịGDP bình quân đầu người năm 2005, trục y cho thấy tuổi thọ khi sinh Mỗi dấuchấm đại diện cho một quốc gia cụ thể

Trong thế kỷ 20, Preston đã có phát hiện quan trọng trong nghiên cứu là đườngcong đã dịch chuyển lên trên Điều này có nghĩa là tuổi thọ đã tăng ở hầu hết cácquốc gia độc lập với những thay đổi về thu nhập Phân tích dữ liệu gần đây hơn,Micheal Spence và Mauseen Lewis (2009) cho thấy rằng "sự phù hợp " của mốiquan hệ đã trở nên mạnh mẽ hơn trong những thập kỷ sau kể từ nghiên cứu củaPreston Mặc dù mối quan hệ giữa thu nhập và tuổi thọ trung bình là log tuyến tính,bất kỳ một quốc gia riêng lẻ nào cũng có thể nằm trên hoặc dưới đườngcong Những quốc gia dưới đường cong, chẳng hạn như Nam Phi hoặc Zimbabwe,

có mức tuổi thọ thấp hơn dự đoán chỉ dựa trên thu nhập bình quân đầu người Cácquốc gia trên đường cong, chẳng hạn như Tajikistan, có tuổi thọ cao đặc biệt với

Trang 5

Bài nghiên cứu của nhóm tác giả Raj Chetty, Michael Stepner, Sarah Abraham,Shelby Lin, Benjamin Scuderi, Nicholas Turner, Augustin Bergeron, David Cutler(2016) đưa ra mối quan hệ giữa thu nhập và tuổi thọ, đã giải quyết được 4 vấn đềcòn thiếu sót của những nghiên cứu trước Thứ nhất, mô hình đã xác định hình dạngchính xác của đường tuyến tính giữa tuổi thọ - thu nhập; thứ hai, bài nghiên cứu đãgiải quyết được những tranh luận về khoảng cách kinh tế xã hội về tuổi thọ đangthay đổi theo thời gian; thứ ba, giải quyết được sự khác biệt về tuổi thọ giữa cấp địaphương; thứ tư, giải thích rõ ràng được nguồn gốc của khoảng cách tuổi thọ Bằngcách phân tích dữ liệu mới có sẵn về thu nhập và tỷ lệ tử vong của dân số Hoa Kỳ từnăm 1999 đến năm 2014 Các phân tích được thực hiện: (1) mô tả mối quan hệ giữatuổi thọ ở tuổi 40 và thu nhập trong Hoa Kỳ nói chung; (2) ước tính sự thay đổi tuổithọ theo nhóm thu nhập từ năm 2001 đến năm 2014; (3) lập bản đồ biến đổi địa lý

về tuổi theo nhóm thu nhập trong giai đoạn này; và (4) đánh giá các yếu tố liên quanđến sự khác biệt về tuổi thọ bằng cách sử dụng biến thể giữa các khu vực Kết quảcho thấy nếu mức thu nhập ở tuổi 40 dưới 1%, nam giới có tuổi thọ dự kiến là 72,7tuổi, nữ giới là 78,8 tuổi Mức thu nhập trong top 1%, nam giới có tuổi thọ dự kiến

là 87,3 tuổi, nữ giới là 88,9 tuổi Khoảng cách về tuổi thọ giữa nam và nữ được thuhẹp với mức thu nhập tăng Tuổi thọ thay đổi ở các nhóm thu nhập khác nhau.Trong 5% phân phối thu nhập hàng đầu, tuổi thọ hàng năm tăng 0,18 năm đối vớinam và 0,22 năm với nữ Trong 5% dưới cùng của phân phối thu nhập, tuổi thọ tănghàng năm là 0,02 năm đối với nam, và 0,003 năm đối với nữ Ngoài ra, tuổi thọ thayđổi đáng kể giữa các khu vực tại Hoa Kỳ Tuổi thọ dao động từ 72,3 đến 78,6 tuổiđối với nam giới có thu nhập thấp nhất trên 4 thành phố New York, San Francisco,Dallsd và Detroit, phạm vi tương ứng nhưng mức thu nhập cao hơn là 86,5 đến 87,5tuổi Hiểu được các phân phối thu nhập, cũng như đặc điểm của các khu vực nơi tậptrung nguồn lực kinh tế lớn, đã giúp nhóm tác giả trên hiểu sâu sắc hơn về yếu tốthu nhập có tác động tích cực lên tuổi thọ

1.1.2 Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa tuổi thọ và yếu tố giới tính

Sir Ronald Fisher 1958, ở tuổi 100, có ba đến bốn phụ nữ trên mỗi người đàn ôngcòn sống và đến tuổi 110 phi thường, 95% người sống sót là phụ nữ Tuy nhiên, lưu

ý rằng cho đến đời sau, tỷ số giới tính không đi xa so với tỷ lệ 50:50 Cũng theonghiên cứu này, có tới 70% trẻ sơ sinh tự nhiên bị sảy thai sớm khi mang thai lànam Do đó, đưa ra bằng chứng này cho thấy nam giới dễ bị tử vong hơn, yếu đuốihơn cả trước và sau khi sinh Ngày nay, tỷ lệ giới tính khi sinh ở một số quốc giaquá sai lệch để được giải thích chỉ bằng sự khác biệt sinh học Tỷ lệ giới tính dựkiến khi sinh là khoảng 105 nam trên 100 nữ Với những ý kiến này bài nghiên cứuđược tiến hành để kiểm định xem sự tác động của tỷ lệ giới tính lên tuổi thọ trungbình của quốc gia

1.1.3 Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa tuổi thọ và tỉ lệ sinh

Tỷ lệ sinh trước nay đã được đưa vào nhiều nghiên cứu Maris Kuningas và cộng sự(2011) đã tiến hành nghiên cứu về mối quan hệ giữa khả năng sinh sản và tuổi thọ ởngười Kết luận của nghiên cứu này là phụ nữ sinh ít con được dự đoán có khả năngsống lâu hơn nhưng người không sinh con hoặc sinh nhiều con Trước đó, vào năm

2002 Muller cùng các nhà nghiên cứu cũng đãnghiên cứu về mối quan hệ này và

Trang 6

cũng đi đến kết luận tương tự: phụ nữ càng sinh nhiều con, tỷ lệ tử vong của họcàng tăng, tuổi thọ giảm.

Nghiên cứu của Kirkwood và Rose 1991 chỉ ra rằng với việc mang thai quá nhiềulần sẽ khiến phụ nữ trở nên suy kiệt và khó để khôi phục trạng thái tốt nhất, do đó tỷ

lệ tử vong ở những người này sẽ cao hơn, thêm vào đó việc mang thai quá nhiều lầnkhiến nữ giới bị tác động bất lợi vĩnh viễn lên chuyển hóa lipid và glucozo, điều nàygóp phần làm tăng nguy cơ bệnh động mạch vành, đột quỵ hay tiểu đường Tuynhiên, hiện nay có 2 luồng ý kiến về tác động của tỷ suất sinh trung bình trên mộtphụ nữ tới tuổi thọ Theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí Scientific Reports,quá trình lão hóa của phụ nữ sẽ bị đẩy nhanh hai năm sau mỗi lần họ sinh con Điềunày đồng nghĩa với việc tuổi thọ của họ sẽ càng ngắn đi nếu sinh càng nhiều con.Trong khi đó, một nhóm các nhà nghiên cứu từ Đại học New South Wales đã nêu rarằng những người phụ nữ có 2 con giảm 17% nguy cơ tử vong so với những ngườikhông có con Phụ nữ có 3 con giảm 20% nguy cơ tử vong Từ đó kết luận phụ nữcàng có nhiều con thì tuổi thọ càng có xu hướng giảm đi

1.1.4 Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa tuổi thọ và yếu tố môi trường

Bên cạnh những yếu tố kinh tế thì những yếu tố môi trường cũng được nhiều tác giảnghiên cứu Mariani và các cộng sự (2008) dựa trên việc nghiên cứu mối quan hệgiữa tuổi thọ trung bình và chất lượng môi trường đã đi đến kết luận yếu tố môitrường có ảnh hưởng đến tuổi thọ trung bình

Ezzati và các đồng nghiệp (2019) dựa trên nghiên cứu “Phân tích ô nhiễm khôngkhí và tuổi thọ giảm tại các bang của Mỹ” đã kết luận rằng nồng độ PM2.5 có tácđộng lên tuổi thọ con người Nồng độ PM2.5 cao dẫn đến nguy cơ giảm tuổi thọ, tácđộng này càng lớn nếu khu vực đó có thu nhập thấp và tỷ lệ người nghèo cao

1.1.5 Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa tuổi thọ và yếu tố giáo dục

Nghiên cứu về tác động của giáo dục lên tuổi thọ, Wolfgang Lutz và Endale Kebale(2018) đã tổng hợp dữ liệu trung bình về GDP trên mỗi đầu người, tuổi thọ và sốnăm đi học của 174 quốc gia, từ năm 1970 đến năm 2010 đã đưa ra kết luận rằng:như như năm 1975, sự giàu có có tương quan với tuổi thọ, nhưng mối tương quangiữa tuổi thọ và số năm đi học gần hơn Đây là sự liên quan trực tiếp và không thayđổi theo thời gian, nhưng sự giàu có thì thay đổi Khi nhóm nghiên cứu đưa hai yếu

tố này vào cùng một mô hình toán học, họ thấy rằng sự khác biệt trong giáo dục dựđoán chính xác sự khác biệt trong tuổi thọ, trong khi sự thay đổi về sự giàu có hầunhư không quan trọng Lutz lập luận rằng vì việc học ở trường xảy ra nhiều nămtrước khi một người đạt đến tuổi thọ của họ, cho nên mối tương quan này phản ánhnguyên nhân: giáo dục tốt hơn thúc đẩy cuộc sống lâu hơn Nó cũng có xu hướngdẫn đến sự giàu có hơn, đó là lý do vì sao sự giàu có và tuổi thọ cũng có mối tươngquan với nhau Đồng thời Lutz cũng kết luận rằng, sự giàu có dường như khôngthúc đẩy tuổi thọ, như các chuyên gia vẫn nghĩ, trên thực tế giáo dục đang thúc đẩy

cả hai Ông cho rằng giáo dục cải thiện vĩnh viễn nhận thức của một người, chophép lập kế hoạch và tự kiểm soát tốt hơn trong suốt phần còn lại của cuộc đời họ

Trang 7

1.1.6 Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa tuổi thọ và sự tiếp cận điện năng

Phân tích về tác động của tỷ lệ tiếp cận điện đến tuổi thọ, các nhà nghiên cứu Julia

M Gohlke , Reuben Thomas , Alistair Woodward , Diarmid Campbell-Lendrum ,Annette Prüss-üstün , Simon Hales ,Christopher J Portier (2011), đã sử dụng bộ dữliệu chuỗi thời gian từ 41 quốc gia với các quỹ đạo phát triển khác nhau trongkhoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 2005, đã phát triển một mô hình về tuổi thọ(LE – Life Expectancy) và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh (IM – Infant Mortality) dựatrên mức tiêu thụ điện, tiêu thụ than và LE hoặc IM của những năm trước đây Dựđoán về tác động sức khỏe từ mô hình tác động sức khỏe phát thải ô nhiễm khôngkhí và khí tổng hợp (GAIN) đối với các nhà máy nhiệt điện than so sánh với kết quả

mô hình chuỗi thời gian Kết quả: Mô hình chuỗi thời gian dự đoán rằng mức tiêuthụ điện tăng có liên quan đến giảm IM cho các quốc gia bắt đầu với IM tương đốicao (> 100 / 1.000 ca sinh sống) và LE thấp (<57 tuổi) vào năm 1965, trong khi LEkhông liên quan đáng kể với mức tiêu thụ điện bất kể của IM và LE vào năm 1965.Tăng tiêu thụ than có liên quan đến tăng IM và giảm LE sau khi tính toán tiêu thụđiện, tức là giảm tuổi thọ

Nghiên cứu “Thiếu hụt điện năng và ảnh hưởng của nó lên chất lượng cuộc sống tạiKirinyaga, Kenya” của Christine W Njiru và Sammy C Letema (2018) chỉ ra rằngnăng lượng là yếu tố cần thiết thức đẩy sự phát triển của con người và xã hội hiệnđại Điện năng cần cho quá trình công nghiệp hóa, giúp tăng thu nhập, loại trừ cấcbệnh truyền nhiễm, giảm tỉ lệ trẻ tử vong và gia tăng tuổi thọ Ở các nước đang pháttriển, việc không tiếp vận được nguồn điện dẫn đên việc các thiết bị y tế hiện đạikhông thể hoạt động được để làm các chức năng như bảo quản thuốc hay thực hiệncác ca phẫu thuật cứu người Nâng cao chất lượng vầ khả năng tiếp cận điện sẽ giúpthực hiện các dịch vụ cần thiết đúng lúc, nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổithọ Nghiên cứu cũng chỉ ra 1 dẫn chứng cụ thể về Trung Quốc, năm 2000, tiêu thụđiện năng ở nước này tăng gấp 3 lần, kết quả là tuổi thọ trung bình của phụ nữ đãtăng từ 73 đến 78 tuổi kể từ năm 2000 đến năm 2004 Nghiên cứu cũng cho rằng tỉ

lệ tiếp cận điện tăng 10 lần sẽ dẫn đến 10 năm tuổi thọ được kéo dài; do vậy, thiếuhụt điện năng sẽ làm giảm tuổi thọ của con người Tỉ lệ tiếp cận điện ở Kirinyagachỉ có 7.5% ở nông thôn và 15% ở thành thị, đây cũng có thể là nguyên do khiếncho tuổi thọ trung bình ở nước này chỉ có 63 năm, thấp hơn tuổi thọ dự kiến khisinh là 67 năm Con số này cũng vẫn thấp hơn rất nhiều so với các nước có tỉ lệ tiếpcận điện cao Qua đó, bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng có tỉ lệ tiếp cận điện và tuổi thọcủa người dân ở 1 quốc gia có mối quan hệ thuận chiều

1.2 Hạn chế của các nghiên cứu trước

Các bài nghiên cứu trước về tuổi thọ trung bình đã được thực hiện với nhiềuphương pháp khác nhau và ở nhiều khía cạnh, tuy nhiên vẫn không tránh khỏinhững hạn chế nhất định

Quá trình nghiên cứu của Preson đã góp phần mở rộng quan điểm tăng trưởng kinh

tế là một trong những yếu tố cần thiết để cải thiện sức khỏe và kéo dài tuổi thọ ở cácquốc gia nghèo Tuy nhiên, thiếu sót kết quả nghiên cứu của Preston là thiếu bằngchứng theo chiều dọc Đường cong Preston là một mối quan hệ được tìm thấy trong

dữ liệu xuyên quốc gia, nó giữ cho một mẫu các quốc gia được thực hiện tại một

Trang 8

thời điểm cụ thể Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ tương tựkhông giữ được chuỗi thời gian và dữ liệu theo chiều dọc trong từng quốc gia.Trong đó, thu nhập bình quân đầu người giữa các quốc gia thường tách ra theo thời

gian, trong khi tuổi thọ trung bình, và các chỉ số sức khỏe khác được hội tụ Điều

này cho thấy rằng thời gian thay đổi thu nhập có thể không có tác động đến sứckhỏe hoặc thậm chí có liên quan tiêu cực Thứ hai, quan hệ nhân quả chưa xác đáng.Mối tương quan này không nhất thiết ngụ ý rằng quan hệ nhân quả chạy từ thu nhậpđến sức khỏe Có thể sức khỏe tốt hơn được hỗ trợ bởi tuổi thọ và đóng góp cho thunhập cao hơn Vấn đề nhân quả ngược giữa sức khỏe và thu nhập có nghĩa là bất kỳước tính nào về tác động của thu nhập đến tuổi thọ đều có thể phản ánh nhầm ảnhhưởng của tuổi thọ đối với thu nhập Như vậy, các nghiên cứu không tính đến mốiquan hệ hai chiều tiềm năng này có thể đánh giá quá cao tầm quan trọng của thunhập đối với tuổi thọ

Bài nghiên cứu của nhóm tác giả Raj Chetty, Michael Stepner, Sarah Abraham,Shelby Lin, Benjamin Scuderi, Nicholas Turner, Augustin Bergeron, David Cutler(2016) có kết quả nghiên cứu vẫn còn hạn chế Các mối quan hệ giữa thu nhập vàtuổi thọ không nên được hiểu là tác động nhân quả của việc có nhiều tiền hơn vì thunhập có tương quan với các thuộc tính khác ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe Docác yếu tố gây nhiễu không được đo lường như vậy, tác động nhân quả của thu nhậpđến tuổi thọ có thể nhỏ hơn các hiệp hội được ghi nhận trong nghiên cứu này Ngoài

ra, sự khác biệt trong khu vực địa phương không cần phải phản ánh các tác độngnhân quả của việc sống trong một khu vực cụ thể và có thể bị chi phối bởi sự khácbiệt về đặc điểm của cư dân của từng khu vực Mặc dù phân tích tương quan trongnghiên cứu này không thể thiết lập các cơ chế nguyên nhân, nhưng đây là một bước

để xác định lý thuyết nào cho sự chênh lệch về tuổi thọ đáng được xem xét thêm.Nghiên cứu của Ezzati và các đồng nghiệp (2019) vẫn có giới hạn là do ít quan sát

và thiếu dữ liệu quan sát của các bang hàng năm Bài nghiên cứu nhóm được thựchiện để khắc phục khuyết điểm này do dữ liệu quốc gia được liên tục trong 3 năm,đồng thời xem xét tác động của nồng độ PM2.5 lên tuổi thọ trung bình của quốcgia Nồng độ PM2.5 an toàn cho sức khỏe mọi người là không lớn hơn 10microgram/ m3 Biến pm25 trong mô hình được mã hóa thành biến định tính dựatheo tiêu chuẩn này

Trang 9

Chương 2 Mô hình nghiên cứu 2.1 Xây dựng mô hình

Dựa vào khung lý thuyết trên, nhóm tác giả đề xuất mô hình hồi quy tổng thể nhưsau:

age ijt=β0+β1lngni ijt+β2sex ratioijt+β3birth ijt+β4educ ijt+β5pm25 ijt+β6electric ijt+c i+u ijt

Trong đó:

β0: Hệ số tự do

β i: Hệ số hồi quy (i= {1,6})

u ijt: Sai số ngẫu nhiên

c i: Đặc điểm riêng không thấy được của từng quan sát

2.2 Dữ liệu và biến số

Mô hình bao gồm các biến số được mô tả cụ thể như bảng 2.1 sau:

Trang 10

Bảng 2.1: Bảng tóm tắt biến

Vai

Dấu kỳ vọng

em sơ sinh dự kiến sẽ sống

Bình quân gia quyền tỷ số tử

Thống kê dựa trên ngang giásức mua (PPP)

Số trẻ em nam được sinh ratrên số trẻ em nữ được sinhra

Giá trị trung bình trong 5 năm, tính dựa trên tỷ lệ giới tính khi sinh ra

World Bank

-Tỷ lệ sinh birth Số trẻ em trung bình được sinh ra bởi 1 người phụ nữ trong

suốt thời kỳ sinh sản

Bình quân gia quyền tổng sốtrẻ em được sinh ra trên mộtngười phụ nữ

-Trình độ

học vấn educ

Số năm giáo dục trung bình mà những người 25 tuổi trở lên nhận được

Thời lượng chính thức của mỗi cấp độ giáo dục được

ở cả thành thị và nông thôn

microgram/

Trang 11

-2.3 Giả thuyết nghiên cứu

Thu nhập quốc dân bình quân đầu người đại diện cho sự giàu có của một quốc

gia Kết quả của nghiên cứu Preston (1975 ) các quốc gia giàu có thường có phúclợi xã hội cao, bởi người dân sẽ dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ y tế thiết yếu, vàhiện đại cũng như được hưởng các quỹ trợ cấp xã hội, đời sống đầy đủ hơn, tuổi thọ

sẽ cao hơn

Giả thuyết H1: Thu nhập bình quân đầu người có tác động cùng chiều đến tuổi thọtrung bình của quốc gia đó

Tỷ lệ giới tính đại diện cho tỷ lệ nam giới và nữ giới trong một quốc gia Sir

Ronald Fisher (1958), nam giới có tuổi thọ trung bình thấp hơn nữ giới, không chỉ

do tỷ lệ tử vong tự nhiên, mà còn do những nguy cơ cao hơn từ các nguyên nhânbên ngoài (tai nạn, thương tích, bạo lực, thương vong chiến tranh)

Giả thuyết H2: Tỷ lệ giới tính nam/nữ có tác động ngược chiều lên tuổi thọ trungbình quốc gia đó

Tỷ lệ sinh đại diện cho khả năng sinh sản của một phụ nữ Kirkwood và Rose 1991,

sự tăng cao trong tỷ lệ sinh có thể dẫn đến vượt quá khả năng chu cấp của tự nhiên,cũng như khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các hoạt động ansinh cần thiết, từ đó tạo gánh nặng cho tự nhiên và xã hội, làm ảnh hưởng đến tuổithọ trung bình

Giả thuyết H3: Tỷ lệ sinh có tác động ngược chiều lên tuổi thọ trung bình của quốcgia

Số năm đi học trung bình đại diện cho trình độ về học thức của người dân của một

quốc gia Theo Wolfgang Lutz và Endale Kebale (2018), khi con người được hưởngnền giáo dục tốt sẽ giúp cải thiện nhận thức dẫn đến những lựa chọn về lối sốnglành mạnh và hành vi tích cực liên quan đến sức khỏe, do đó tuổi thọ có thể đượckéo dài

Giả thuyết H4: Số năm đi học trung bình có ảnh hưởng cùng chiều với tuổi thọ trungbình của quốc gia

Mức độ phơi nhiễm PM2.5: đại diện cho chất lượng không khí của quốc gia đó.

Joel D.Schwart và cộng sự (2018), 23.5% người dân Medicare sẽ chết trước 76 tuổi

Trang 12

nếu tiếp xúc với nồng độ PM2.5 ở mức 12 microgram/m3 so với 20.1% người dântiếp xúc với nồng độ PM2.5 7.5 microgram/m3 Từ đó, họ kết luận rằng việc giảmnồng độ PM2.5 tại Mỹ sẽ góp phần tăng tuổi thọ của người dân

Giả thuyết H5: Mức độ phơi nhiễm PM2.5 có tác động ngược chiều lên đến tuổi thọtrung bình quốc gia

Tỷ lệ người dân tiếp cận được với điện: đại diện cho tỷ lệ người dân sống ở mức

tiêu chuẩn cần thiết Christine W Njiru và Sammy C Letema (2018) cho biết tỷ lệngười dân tiếp cận điện tăng giúp tốc độ công nghiệp hóa nhanh hơn, người dânđược chăm sóc và sử dụng các kĩ thuật y tế hiện đại kịp thời, đời sống được cảithiện khiến tuổi thọ tăng

Giả thuyết H6: Tỷ lệ người dân tiếp cận với điện có tác động cùng chiều lên tuổi thọtrung bình quốc gia

Ngày đăng: 08/01/2022, 09:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Leonard Hayflick and the limits of ageing.Vol 377 June 18, 2011https://www.thelancet.com/action/showPdf?pii=S0140-6736%2811%2960908-212.Audrey Baer, Philip E. Graves 2002. A Cross-Country Empirical Analysis.&lt;https://spot.colorado.edu/~gravesp/WPLifeExpectancy6-6-02.htm?mod=article_inline&amp;fbclid=IwAR2pHa7huEJ5TSMIGD82PrvOJoQCYSQj380BglbQCMxTJz2sS4_RuyR2gCo &gt Link
1. Chetty R, Stepner M, Abraham S, Lin S, Scuderi B, Turner N, Bergeron A, Cutler D. 2016. The Association Between Income and Life Expectancy in the United States, 2001-2014.&lt;https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4866586 / &gt Khác
2. Jin L, Elwert F, Freese J, Christakis NA. Preliminary Evidence Regarding the Hypothesis That the Sex Ratio at Sexual Maturity May Affect Longevity in Men, Issue 2010 Aug &lt;https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3000064/?fbclid=IwAR0LVOYZ47_E1roXy3injU1YDUWxmptSUyGHyIB_5MfF67I1riglOXwTZWc#!po=4.62963&gt Khác
3. Debora Mackenzie. 18/04/2018. More education is what makes people live longer, not more money &lt;https://www.newscientist.com/article/2166833-more-education-is-what-makes-people-live-longer-not-more-money/?fbclid=IwAR3ifsNtVEunNyunwDJv42iMC4Sn1BDD1YOiTI8lGrqR3GuWykYI5jm4Oak&gt Khác
4. Hanna Ritchie, Max Roser, 2019. Gender Ratio &lt;https://ourworldindata.org/genderratio?fbclid=IwAR2ro4ZBFhz57eFXCouDh3bp9bS6vVggs01d1gxRb6lGBfIPA6pvm_3o5Do&gt Khác
5. Kuningas. The relationship between fertility and lifespan in humans, AGE (2011) 33:615–622 DOI 10.1007/s11357-010-9202-4&lt;https://drive.google.com/file/d/1K_lOZ8qL0E3BhsTh9a5Hpw20pDmX8IJO/view?usp=sharing&gt Khác
7. Fisher RA (1958) The Genetical Theory of Natural Selection (Dover, New York), p.289 &lt;https://www.pnas.org/content/112/16/4839#ref-6&gt Khác
8. Joel D. Schwarts, 2018 Estimating the effects of PM2.5 on Life Expectancy Using Causual Modeling Methods&lt;https://ehp.niehs.nih.gov/doi/10.1289/EHP3130&gt Khác
9. Carl-Johan Dalgaard and Holger Strulik, Optimal Aging and Death: Understanding the Preston Curve, 2012 Khác
10. Samantha Mathewson, 2017 Here's the Math to Prove It&lt;https://www.livescience.com/60825-aging-is-inevitable-according-to-math.html &gt Khác
13. James E.Bennet, Helen Tamura- Wicks, Robbie M.Parks. Particulate matter air pollution and national and county life expectancy loss in the USA: Aspatiotemporal analysis, Issue July 23, 2019 Khác
14. Christine W. Njiru , Sammy C. Letema 2018. Energy Poverty and Its Implication on Standard of Living in Kirinyaga, Kenya &lt;https://www.hindawi.com/journals/jen/2018/3196567/?fbclid=IwAR27eWXQpeUuqm8wgcIJbvPR-p7W7LV_HuY2wrd_mcP9-oy1i0iEszcHZ4g&gt Khác
15. Chỉ số tỷ lệ giới tính theo World Bank, truy cập 1/12/2019 &lt;https://data.worldbank.org/indicator/SP.POP.BRTH.MF&gt Khác
16. World Health Organization.Health situation and trend assessmentI. Xem 25/11/2019 &lt;http://origin.searo.who.int/entity/health_situation_trends/data/chi/sex-ratio/en/?fbclid=IwAR0YV4gAD4rVrcy7C9IuWL-U9KyiLVI6hvBNIVJuRvmW9u3PO76IwsHzNCs&gt Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w