Trên cơ sở chủ trương chính sách mới về tài chính- kinh tế mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II tháng 02/1951 đề ra, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 15/SL
Trang 2trường thế giới và trong nước , sự tăng vọt của giá nguyên liệu, giá vàng với những tiềm ẩn rủi rocủa hệ thống luôn là thách thức lớn đối với ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
A.SƠ LƯỢC VỀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM.
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến dưới sựthống trị của thực dân Pháp Hệ thống tiền tệ, tín dụng ngân hàng được thiết lập và hoạt độngchủ yếu phục vụ chính sách thuộc địa của Pháp ở Việt Nam Trong suốt thời kỳ thuộc địa, sự hình thành và phát triển của hệ thống tiền tệ, tín dụng đều do Chính phủ Pháp xếp đặt, bảo hộ thông qua Ngân hàng Đông Dương Thực chất, Ngân hàng Đông Dương hoạt động với tư cách là một Ngân hàng phát hành Trung ương, đồng thời là một ngân hàng kinh doanh đa năng bao gồm các nghiệp vụ ngân hàng thương mại và nghiệp vụ đầu tư
Sau Cách mạng tháng 8, một trong những nhiệm vụ trọng tâmcủa chính quyền cách mạng là phảitừng bước xây dựng nền tiền tệ độc lập, tự chủ, công cụ quan trọng của chính quyền để xây dựng
và bảo vệ đất nước Nhiệm vụ này dần trở thành hiện thực khi bước sang năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam ngày một tiến triển mạnh mẽ với những chiến thắng vang dội trên khắp các chiến trường, vùng giải phóng không ngừng được mở rộng Sự chuyển biến của cục diện cách mạng đòi hỏi công tác kinh tế, tài chính phải được củng cố và phát triển theo yêu cầu mới Trên cơ sở chủ trương chính sách mới về tài chính- kinh tế mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 02/1951) đề ra, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam với các nhiệm vụ chủ yếu là: Quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ, quản lý Kho bạc nhà nước, thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với địch Sự ra đời của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là một bước ngoặt lịch sử, là kết quả nối tiếp của quá trình đấu tranh xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, đánh dấu bước phát triển mới, thay đổi về chất trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ở nước ta
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1955-1975), hoạt động của Ngân hàng Quốc gia tập trung vào việc tăng cường quản lý, điều hoà lưu thông tiền tệ theo các nguyên tắc quản lý kinh tế XHCN; xây dựng và hoàn thiện chế độ tín dụng hướng vào phục vụ phát triển kinh tế quốc doanh
và kinh tế tập thể; mở rộng phạm vi và cải tiến nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt,
Trang 3thiết lập vai trò ngân hàng là trung tâm thanh toán của nền kinh tế; mở rộng quan hệ thanh toán
và tín dụng quốc tế; thực hiện chế độ Nhà nước độc quyền quản lý ngoại hối
Ngày 26/10/1961, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN)
Thời kỳ 1975-1985 là giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thanh lý hệ thống Ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam; thu hồi tiền cũ ở cả hai miền Nam- Bắc; phát hành các loại tiền mới của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.Trong giai đoạn này, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường
Tháng 3/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/HĐBT với định hướng cơ bản là chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh Tháng 5/1990,Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác
xã tín dụng và công ty tài chính Sự ra đời của 2 Pháp lệnh ngân hàng đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp Trong đó, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng trung ương; các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụngkinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong khuôn khổ pháp luật
Từ năm 1990 đến nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2003), Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 và các nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN (Nghị định
số 88/1998/NĐ-CP ngày 02/11/1998, Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày 19/5/2003, Nghị định
số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008, Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013)
Trang 4Hình ảnh Trụ sở Ngân hàng nhà nước Việt Nam
B HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năngquản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ choChính phủ Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm sự an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
1 Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Nhà nước.
Do chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng nhà nước vừa mang tính quản lí nhànước chuyên ngành, vừa mang tính điều hành kinh tế nên hệ thống tổ chức có những khác biệt sovới các cơ quan quản lí nhà nước chuyên ngành ở các lĩnh vực khác
Trang 5Theo quy định của Điều 7 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ngân hàng nhà nước được tổ chức thành hệ thống tập trung, thống nhất gồm bộ máy điều hành và các đơn vị hoạt động nghiệp
vụ tại trụ sở chính, các chi nhánh ở các tỉnh , thành phố, văn phòng đại diện ở trong nước và ở nước ngoài, các đơn vị trực thuộc khác
Trụ sở chính của Ngân hàng nhà nước Việt Nam đặt tại Hà Nội, là trung tâm lãnh đạo, điều hành mọi hoạt động của Ngân hàng nhà nước
Chi nhánh Ngân hàng nhà nước là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng nhà nước, không có tư cách pháp nhân, chịu sự lãnh đạo và điều hành tập trung thống nhất của thống đốc Chi nhánh Ngân hàng nhà nước thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo uỷ quyền của Thống đốc
Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng nhà nước, có nhiệm vụ đại diện theo sự
uỷ quyền của Thống đốc Khác với chi nhánh Ngân hàng nhà nước, văn phòng đại diện không được tiến hành hoạt động nghiệp vụ ngân hàng
Các đơn vị trực thuộc Ngân hàng nhà nước gồm có các đơn vị sự nghiệp (cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, cung ứng dịch vụ tin học, thông tin và báo chí chuyên ngành ngân hàng) v v
2 Hoạt động của ngân hàng nhà nước thể hiện qua các mặt:
a Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia là nhiệm vụ mà ngày nay, ở các quốc gia, Nhà nước đều giao cho ngân hàng trung ương Đạo luật ngân hàng trung ương của các nước đều có các quy định về nhiệm vụ của ngân hàng trung ương trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Chẳng hạn, Luật ngân hàng Cộng hoà liên bang Đức năm 1957 quy định nhiệm vụ của Ngân hàng Cộng hoà liên bang Đức trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia ở Điều 3; Luật ngân hàng trung ương Pháp năm 1993 quy định nhiệm vụ này tại Điều 1; Luật ngân hàng quốc gia Hungari năm 1991 quy định ở Điều 3,4
Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định: Thống đốc Ngân hàng nhà nước quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ
Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các tổ chức tín dụng Ngân hàng nhà nước quy định và thực hiện việctái cấp vốn cho tổ chức tín dụng theo các hình thức sau đây:
Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá;
Chiết khấu giấy tờ có giá;
Các hình thức tái cấp vốn khác
Trang 6Ngân hàng nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, Ngân hàng nhà nước quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác.
Tỉ giá hối đoái của đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường
có sự điều tiết của Nhà nước Ngân hàng nhà nước công bố tỉ giá hối đoái, quyết định chế độ tỉ giá, cơ chế điều hành tỉ giá
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Ngân hàng nhà nước quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi tại tổ chức tín dụng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ Ngân hàng nhà nước thực hiện thông qua việc mua, bán giấy tờ có giá đối với tổ chức tín dụng để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
b Phát hành tiền.
Phát hành tiền là cung ứng tiền vào lun thông làm phương tiện thanh toán
Điều 16 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định: Ngân hàng nhà nước là cơ quan duy nhất phát hành tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm tiền giấy và tiền kim loại
Như vậy, theo quy định trên đây của Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì chỉ có Ngân hàng nhà nước Việt Nam mới có quyền phát hành tiền Mọi hành vi từ chối nhận, lưu hành đồng tiền
do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành đều bị coi là bất hợp pháp
c Bảo lãnh, tạm ứng cho ngân sách, cho vay
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng nhà nước khác biệt về bản chất so với hoạt động tín dụng củacác tổ chức tín dụng Bởi vì, hoạt động tín dụng của Ngân hàng nhà nước nhằm mục tiêu thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm an toàn cho hệ thống tín dụng Hoạt động tín dụng của Ngân hàng nhà nước được thực hiện dưới các hình thức bảo lãnh, tạm ứng cho ngân sách nhà nước, cho vay:
Bảo lãnh được xem là hình thức hoạt động tín dụng của Ngân hàng nhà nước nhưng chỉ
áp dụng cho tổ chức tín dụng vay vốn nước ngoài theo quyết định của Thủ tướng Chínhphủ
Tạm ứng cho ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương) là hình thức hoạt động tín dụngcủa Ngân hàng nhà nước để xử lí thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà nước theo quyếtđịnh của Thủ tướng Chính phủ
Trang 7Việc Ngân hàng nhà nước cho ngân sách nhà nước vay hoặc tạm ứng cho ngân sách nhà nước tức là cung ứng thêm tiền cho lưu thông sẽ gây ra lạm phát và ảnh hưởng tới chính sách tiền tệ Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cũng đã khẳng định:
"Từng bước giảm bội chi ngân sách, không bù đắp bội chi bằng phát hành tiền dưới bất kì hình thức nào" Một số nước khi ngân sách thiếu hụt thường giải quyết bằng cách vay dân (phát hành trái phiếu) hoặc vay nước ngoài Ở nước ta, trong tình hình nền kinh tế chuyển đổi, nguồn chi rất lớn, nguồn thu có hạn nên ngân sách nhà nước thường gặp tình trạng thiếu hụt tạm thời, nếu không có sự hỗ trợ của Ngân hàng nhà nước thì sẽ rất khó khăn" Vì vậy, đòi hỏi có quy định tạmứng cho ngân sách nhà nước
Để khắc phục mặt trái của việc Ngân hàng nhà nước tạm ứng cho ngân sách nhà nước, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, Luật Ngân hàng nhà nước quy định, khoản tạm ứng phải được hoàn trả trong năm ngân sách, trừ trường hợp đặc biệt do Ưỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định.Cho vay là hình thức hoạt động tín dụng của Ngân hàng nhà nước Theo hình thức này, Ngân hàng nhà nước cho các tổ chức tín dụng vay ngắn hạn
d Mở tài khoản, hoạt động thanh toán và ngân quỹ.
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước giao, Ngân hàng nhà nước được mở tài khoản ở ngân hàng nước ngoài, tổ chức tiền tệ, ngân hàng quốc tế
Ngân hàng nhà nước được mở và quản lí tài khoản, thực hiện các giao dịch cho tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước Ngoài ra, với vị trí là ngân hàng trung ương của đất nước, Ngân hàng nhà nước còn có thẩm quyền cung cấp các dịch vụ thanh toán cho hệ thống các tổ chức tín dụng, cho các khách hàng khác, thực hiện các hoạt động ngân hàng đối ngoại
e Quản lí ngoại hối và hoạt động ngoại hối.
Thẩm quyền quản lí ngoại hối của Ngân hàng nhà nước thể hiện trên hai phương diện: Quản lí hành chính nhà nước về ngoại hối và quản lí ngoại hối bằng nghiệp vụ ngân hàng trung ương.Quản lí hành chính nhà nước về ngoại hối của Ngân hàng nhà nước mang tính chấp hành-điều hành Tính chấp hành- điều hành trong hoạt động quản lí hành chính nhà nước về ngoại hối của Ngân hàng nhà nước thể hiện ở chỗ, dựa vào quyền lực nhà nước, Ngân hàng nhà nước thực hiệncác biện pháp để bảo đảm thực hiện pháp luật, áp dụng các biện pháp tổ chức và tác động trực tiếp vào hoạt động của các đối tượng chịu sự quản lí nhà nước về ngoại hối Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định thẩm quyền quản lí hành chính nhà nước của Ngân hàng nhà nước về ngoại hối như: Xây dựng các dự án luật, pháp lệnh về quản lí ngoại hối; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối; kiểm soát hoạt động ngoại hối của các tổ chức tín dụng
Quẳn lí ngoại hối bằng nghiệp vụ ngân hàng trung ương là thẩm quyền quan trọng mà Nhà nước giao cho Ngân hàng nhà nước Nội dung cơ bản của thẩm quyền này là Nhà nước giao cho Ngân
Trang 8hàng nhà nước thực hiện quản lí dự trữ ngoại hối nhà nước nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối nhà nước.
Hoạt động ngoại hối của Ngân hàng nhà nước được thực hiện trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế và thực hiện các giao dịch ngoại hối khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
f Thanh tra ngân hàng.
Khái niệm thanh tra ngân hàng: là bộ phận của hoạt động quản lí Nhà nước về ngân hàng
Do đó, hoạt động thanh tra ngân hàng có các đặc điểm của hoạt động thanh tra nhà nước,thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, hoạt động thanh tra ngân hàng mang tính quyền lực Nhà nước, do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền thực hiện
Thứ hai, thanh tra gắn liền với hoạt động quản lí nhà nước về ngân hàng
Ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng quản lí nhà nước về tiền tệ và ngân hàng Do đó, với tưcách pháp lí là thanh tra chuyên ngành, thanh tra ngân hàng có quyền thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan tới chức năng quản lí nhà nước của Ngân hàhg nhà nước về tiền
tệ và ngân hàng
Thực tiễn hoạt động quản lí nhà nước về ngân hàng cho thấy, thanh tra ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo vệ quyền, lợiích hợp pháp của người gửi tiền, là công cụ quan trọng để thực hiện các chức năng của ngân hàng trung ương Chính vì vậy, trong đạo luật ngân hàng trung ương của nhiều nước có quy định
về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngân hàng Chẳng hạn, Luật ngân hàng quốc gia Ba Lan năm 1989 (sửa đổi năm 1994) có quy định về tổ chức và hoạt động của tổ chức thanh tra ngân hàìig tại các điều từ Điều 44 - 47 Theo đạo luật này, Chù tịch Ngân hàng quốc gia Ba Lan trực tiếp lãnh đạo hoạt động thanh tra ngân hàng Ở Trung Quốc, Luật ngân hàng nhân dân Trung Quốc năm 1995 quy định: Ngân hàng trung ương của Trung Quốc có quyền thanh tra ở bất kì thời điểm nào đối với tiền gửi, hoạt động tín dụng, thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác của các định chế tài chính (Điều 32)
Đối tượng thanh tra, nội dung hoạt động của thanh tra ngân hàng
Ngân hàng nhà nước thanh tra các đối tượng sau đây:
1 Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụngnước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng nhà nước yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra hoặc phối hợp thanh tra công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng;
Trang 92 Tổ chức có hoạt động ngoại hối, hoạt động kinh doanh vàng; tổ chức hoạt động thông tin tíndụng; tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không phải là ngân hàng;
3 Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Namtrong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng thuộc phạm vi quản lí nhà nước của Ngân hàng nhà nước
Đối tượng thanh tra ngân hàng có các quyền và nghĩa vụ sau:
1 Thực hiện kết luận thanh tra
2 Thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
Căn cứ ra quyết định thanh tra
Việc ra quyết định thanh tra phải trên cơ sở một trong các căn cứ sau đây:
1 Chương trình, kế hoạch thanh tra;
2 Yêu cầu của Thống đốc Ngân hàng nhà nước;
3 Khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
4 Khi có dấu hiệu rủi ro đe dọa sự an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng
Nội dung thanh tra ngân hàng gồm:
1 Thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, việc thực hiện các quy định tronggiấy phép do Ngân hàng nhà nước cấp
2 Xem xét, đánh giá mức độ rủi ro, năng lực quản trị rủi ro và tình hình tài chính của đổi tượngthanh tra ngân hàng
3 Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc ban hành văn bànquy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lí nhà nước về tiền tệ và ngân hàng
4 Kiến nghị, yêu cầu đổi tượng thanh tra ngân hàng có biện pháp hạn chế, giảm thiểu và xử lírủi ro để bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và phòng ngừa, ngăn chặn hành động dẫn đến vi phạm pháp luật
5 Phát hiện, ngăn chặn và xử lí theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xử lí vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng
6 Hoạt động giám sát ngân hàng
Ngân hàng nhà nước thực hiện việc giám sát ngân hàng đối với mọi hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng nhà nước yêu cầu
Trang 10cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát hoặc phối hợp giám sát công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng.
Đối tượng giám sát ngân hàng có các quyền và nghĩa vụ sau:
1 Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác thông túi, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan thanh tra,giám sát ngân hàng; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin,tài liệu đã cung cấp
2 Báo cáo, giải trình đối với khuyến nghị, cảnh báo rủi ro và an toàn hoạt động của cơ quanthanh tra, giám sát ngân hàng
3 Thực hiện khuyến nghị, cảnh báo rủi ro và an toàn hoạt động của cơ quan thanh tra, giám sátngân hàng
Nội dung giám sát ngân hàng gồm:
1 Thu thập, tổng hợp và xử lí tài liệu, thông tin, dữ liệu theo yêu cầu giám sát ngân hàng
2 Xem xét, theo dõi tình hình chấp hành các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng và cácquy định khác của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lí về thanh tra và khuyến nghị, cảnh báo về giám sát ngân hàng
3 Phân tích, đánh giá tình hình tài chính, hoạt động, quản trị, điều hành và mức độ rủi ro của tổchức tín dụng; xếp hạng các tổ chức tín dụng hàng năm
4 Phát hiện, cảnh báo rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng và nguy co dẫn đến vi phạmpháp luật về tiền tệ và ngân hàng
5 Kiến nghị, đề xuất biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lí rủi ro, vi phạm pháp luật
3 Công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm :
1 Chủ trì xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia, kế hoạch cung ứng lượng tiền bổ sung cholưu thông hàng năm trình Chính phủ;
2 Điều hành các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia; thực hiện việc đưa tiền ra lưuthông, rút tiền từ lưu thông về theo tín hiệu của thị trường trong phạm vi lượng tiền cung ứng đãđược Chính phủ phê duyệt;
Trang 113 Báo cáo Chính phủ, Quốc hội kết quả thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia từ ngày
01/01/2011 :Vai trò, nhiệm vụ của NHNN trên lĩnh vực thanh tra, giám sát cũngđược điều chỉnh
để tăng cường thẩm quyền trong việc xử lý rủi ro của TCTD Luật quyđịnh theo hướng khẳngđịnh thẩm quyền của NHNN trong toàn bộ quá trình giám sát antoàn hoạt động của TCTD từkhâu cấp phép, xây dựng quy chế an toàn, theo dõi, giám sáthoạt động, can thiệp khi phát sinhkhó khăn và chủ động xử lý khi có nguy cơ đổ vỡ Bêncạnh đó, các quy định của Luật NHNNkhẳng định sự khác biệt về bản chất giữa thanh tra,giám sát an toàn hoạt động ngân hàng vớithanh tra hành chính thông thường thông quaviệc đưa ra nguyên tắc cho hoạt động thanh tra,giám sát an toàn hoạt động ngân hàng nhưsau: Thanh tra, giám sát ngân hàng được thực hiệntheo quy định của Luật NHNN và cácquy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp có sựkhác nhau giữa quy định vềthanh tra, giám sát ngân hàng của Luật NHNN với quy định của luậtkhác thì thực hiệntheo quy định của Luật NHNN; Thống đốc NHNN quy định trình tự, thủ tụcthanh tra,giám sát ngân hàng
Về nguyên tắc thực hiện thanh tra, giám sát an toàn hoạt động ngân hàng: Luật quy định việc thanh tra, giám sát ngân hàng là sự kết hợp thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng với thanh tra, giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng Luật mở rộng phạm vi giám sát đối với toàn bộ hoạt động của một TCTD, kể cả các hoạt động thông qua các công ty con của các TCTD
Thẩm quyền của NHNN trong việc can thiệp, xử lý sớm các TCTD đã được quy định cụ thể hơn nhằm ngăn chặn kịp thời những khả năng đổ vỡ, cụ thể: NHNN có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lý đặc biệt đối với TCTD vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật
về tiền tệ và ngân hàng, gặp khó khăn về tài chính, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng, gồm mua cổ phần của TCTD; đình chỉ, tạm đình chỉ,miễn nhiệm chức vụ người quản
lý, người điều hành của TCTD; quyết định sáp nhập, hợp nhất, giải thể TCTD; đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt; thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật về phá sản đối với TCTD
Ngoài ra, để đảm bảo kỷ luật trong hoạt động ngân hàng, các thể chế và thẩm quyền của NHNN đối với các TCTD đã được cụ thể hoá rất rõ trong Luật NHNN Thẩm quyền quản lý nhà nước đối với bảo hiểm tiền gửi: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi gắn chặt với hoạt động ngân hàng và khách hàng gửi tiền tại TCTD Để bảo đảm có cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi, Luật đã có quy định mang tính nguyên tắc về thẩm quyền của NHNN đối với bảo hiểm tiền gửi:“Thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi”