1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật thi hành án dân sự hiện hành về đình chỉ thi hành án dân sự và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

11 312 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 100,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Khác với hoãn THA và tạm đình chỉ THA, khái niệm “đình chỉ THA” trong THADS được hiểu là việc chấm dứt vai trò của cơ quan THA đối với việc THA khi có một trong những căn cứ do pháp luật quy định. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc đình chỉ THA chỉ làm chấm dứt một quan hệ pháp luật THA mà không làm thay đổi hay chấm dứt các quyền, nghĩa vụ đã được ấn định trong bản án, quyết định. Để làm rõ về vấn đề trên, trong phạm vi bài tiểu luận cuối kỳ, em xin chọn Đề bài số 6: “Anh (chị) hãy phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật thi hành án dân sự hiện hành về đình chỉ thi hành án dân sự và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này?”. NỘI DUNG I. KHÁI CHUNG VỀ ĐÌNH CHỈ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm đình chỉ thi hành án dân sự Đình chỉ thi hành án là việc Cơ quan thi hành án dân sự, cụ thể là Thủ trưởng cơ quan ra quyết định ngừng hẳn việc thi hành án dân sự khi có căn cứ do pháp luật quy định. 2. Thẩm quyền đình chỉ thi án dân sự Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ THA thuộc về Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định THA. 3. Hậu quả pháp lý của đình chỉ thi hành án dân sự Sau khi có quyết định đình chỉ THA, các hoạt động THADS được ngừng lại hẳn. Trường hợp quyết định đình chỉ THA do bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ thì các đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết hậu quả của việc đã thi hành bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định bị hủy. II. CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐÌNH CHỈ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 1. Căn cứ ra quyết định đình chỉ thi hành án dân sự Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 50 Luật THADS 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp sau đây: • Người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế Đối với trường hợp người THA chết không để lại di sản: Đối với cả các nghĩa vụ có thể chuyển giao hay không thể chuyển giao cho người khác, chỉ cần xác định được người phải thi hành án đã chết và có giấy chứng tử của cơ quan có thẩm quyền cấp, mà không có di sản để lại thì hồ sơ thi hành án chỉ cần thu thập được giấy chứng tử và biên bản xác minh tài sản của Chấp hành viên là hoàn toàn có đủ căn cứ ra quyết định đình chỉ thi hành án. Đối với trường hợp nghĩa vụ của người phải THA theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế theo quy định của pháp luật: Loại nghĩa vụ của người phải THA không chuyển giao được là nghĩa vụ gắn liền với nhân thân mà không ai được thực hiện thay vì vậy dù người phải THA chết có để lại di sản thì cũng không phát sinh hậu quả pháp lý, cơ quan THADS hoàn toàn có đủ căn cứ để ra quyết định đình chỉ thi hành án. • Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế Trường hợp quyền và lợi ích của người được THA theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người khác: Như đã phân tích phía trên, trường hợp quyền và lợi ích chỉ được trao cho một người nhất định, người khác không thể thụ hưởng thay khi người đó chết đi. (Ví dụ: Theo khoản 1 Điều 107 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì khi người được cấp dưỡng chết thì quyền được cấp dưỡng cũng mất và quan hệ cấp dưỡng cũng sẽ chấm dứt). Trường hợp quyền và lợi ích của người được THA có thể chuyển giao cho người khác nhưng lại không có người thừa kế: Để đình chỉ thi hành án thuộc trường hợp này, cần phải xác định rõ có hay không có những người thừa kế theo quy định tại BLDS. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch 112016TTLTBTPTANDTCVKSNDTC , mặc dù đã xác định qua các cơ quan có thẩm quyền rằng người được thi hành án không có người thừa kế thì cũng không thể vội vàng đề xuất ra quyết định đình chỉ thi hành án được mà phải thực hiện việc thông báo công khai nội dung xác minh trên đài, báo ở Trung ương và phải đợi ít nhất là 30 ngày kể từ ngày thông báo hợp lệ mà không có người khiếu nại thì mới có thể coi là có căn cứ đình chỉ được.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -BÀI TIỂU LUẬN MÔN: LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Họ và tên :

Đề bài số 6: “Anh (chị) hãy phân tích, đánh giá các quy định của

pháp luật thi hành án dân sự hiện hành về đình chỉ thi hành án dân sự

và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này?”

HÀ NỘI – 2021

Trang 2

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I KHÁI CHUNG VỀ ĐÌNH CHỈ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1

1 Khái niệm đình chỉ thi hành án dân sự 1

2 Thẩm quyền đình chỉ thi án dân sự 1

3 Hậu quả pháp lý của đình chỉ thi hành án dân sự 1

II CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐÌNH CHỈ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 1

1 Căn cứ ra quyết định đình chỉ thi hành án dân sự 1

2 Thời hạn ra quyết định đình chỉ thi hành án dân sự 4

III ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ ĐÌNH CHỈ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 4

1 Đánh giá các quy định pháp luật thi hành án dân sự hiện hành về đình chỉ thi hành án dân sự 4

2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đình chỉ thi hành án dân sự 5

KẾT LUẬN 5

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 6

Trang 3

BẢNG TỪ VIẾT TẮT

THA Thi hành án

THADS Thi hành án dân sự BLDS Bộ luật dân sự CHV Chấp hành viên

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Khác với hoãn THA và tạm đình chỉ THA, khái niệm “đình chỉ THA” trong THADS được hiểu là việc chấm dứt vai trò của cơ quan THA đối với việc THA khi có một trong những căn cứ do pháp luật quy định Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc đình chỉ THA chỉ làm chấm dứt một quan hệ pháp luật THA mà không làm thay đổi hay chấm dứt các quyền, nghĩa vụ đã được ấn định trong bản án, quyết định Để làm rõ về vấn

đề trên, trong phạm vi bài tiểu luận cuối kỳ, em xin chọn Đề bài số 6: “Anh (chị) hãy

phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật thi hành án dân sự hiện hành về đình chỉ thi hành án dân sự và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này?”.

NỘI DUNG

I KHÁI CHUNG VỀ ĐÌNH CHỈ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1 Khái niệm đình chỉ thi hành án dân sự

Đình chỉ thi hành án là việc Cơ quan thi hành án dân sự, cụ thể là Thủ trưởng cơ quan ra quyết định ngừng hẳn việc thi hành án dân sự khi có căn cứ do pháp luật quy định.1

2 Thẩm quyền đình chỉ thi án dân sự

Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ THA thuộc về Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định THA

3 Hậu quả pháp lý của đình chỉ thi hành án dân sự

Sau khi có quyết định đình chỉ THA, các hoạt động THADS được ngừng lại hẳn Trường hợp quyết định đình chỉ THA do bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ thì các đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết hậu quả của việc đã thi hành bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định bị hủy.2

1 Giáo trình Luật thi hành án dân sự, nxb CAND, 2019, tr 176

2 Giáo trình Luật thi hành án dân sự, nxb CAND, 2019, tr 178

1

Trang 5

II CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐÌNH CHỈ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

1 Căn cứ ra quyết định đình chỉ thi hành án dân sự

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 50 Luật THADS 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp sau đây:

 Người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế

Đối với trường hợp người THA chết không để lại di sản: Đối với cả các nghĩa vụ có

thể chuyển giao hay không thể chuyển giao cho người khác, chỉ cần xác định được người phải thi hành án đã chết và có giấy chứng tử của cơ quan có thẩm quyền cấp, mà không có

di sản để lại thì hồ sơ thi hành án chỉ cần thu thập được giấy chứng tử và biên bản xác minh tài sản của Chấp hành viên là hoàn toàn có đủ căn cứ ra quyết định đình chỉ thi hành án

Đối với trường hợp nghĩa vụ của người phải THA theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế theo quy định của pháp luật: Loại nghĩa vụ của

người phải THA không chuyển giao được là nghĩa vụ gắn liền với nhân thân mà không ai được thực hiện thay vì vậy dù người phải THA chết có để lại di sản thì cũng không phát sinh hậu quả pháp lý, cơ quan THADS hoàn toàn có đủ căn cứ để ra quyết định đình chỉ thi hành án

 Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế

Trường hợp quyền và lợi ích của người được THA theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người khác: Như đã phân tích phía trên, trường hợp quyền và lợi

ích chỉ được trao cho một người nhất định, người khác không thể thụ hưởng thay khi người đó chết đi (Ví dụ: Theo khoản 1 Điều 107 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì khi người được cấp dưỡng chết thì quyền được cấp dưỡng cũng mất và quan hệ cấp dưỡng cũng sẽ chấm dứt)

2

Trang 6

Trường hợp quyền và lợi ích của người được THA có thể chuyển giao cho người khác nhưng lại không có người thừa kế: Để đình chỉ thi hành án thuộc trường hợp này, cần

phải xác định rõ có hay không có những người thừa kế theo quy định tại BLDS

Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC3, mặc dù đã xác định qua các cơ quan có thẩm quyền rằng người được thi hành án không có người thừa kế thì cũng không thể vội vàng đề xuất ra quyết định đình chỉ thi hành án được mà phải thực hiện việc thông báo công khai nội dung xác minh trên đài, báo ở Trung ương và phải đợi ít nhất là 30 ngày kể từ ngày thông báo hợp lệ

mà không có người khiếu nại thì mới có thể coi là có căn cứ đình chỉ được

 Đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan THADS đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản án, quyết định, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba

Trường hợp đương sự có thoả thuận bằng văn bản yêu cầu cơ quan THADS đình chỉ thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba: Bản chất đây là một trường hợp thoả thuận trong THADS nên nội dung và hình thức thoả thuận cũng phải tuân thủ các quy định chung về thoả thuận thi hành án

Trường hợp người được thi hành án có văn bản yêu cầu thì chỉ cần ý kiến đơn phương bằng văn bản của người được thi hành án mà không cần phải là ý kiến thống nhất của cả hai bên đương sự

 Bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 103 của Luật này

Đối với bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật (hoặc bản án, quyết định sơ thẩm được đưa ra thi hành ngay theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật THADS)

và bản án, quyết định phúc thẩm, cơ quan THADS đang tổ chức thi hành mà có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì nếu bản án chưa được thi hành xong một phần hoặc toàn bộ, thông thường kèm theo Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ có nội dung tạm đình chỉ thi hành án và khi đó Thủ trưởng cơ quan THADS phải

3 Khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC: “Đối với trường hợp đình chỉ thi hành án do người được thi hành án chết mà không có người thừa kế thì phải xác minh qua chính quyền địa phương, cơ quan quản lý hộ khẩ, nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thi hành án Kết quả xác minh thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương để người có quyền, nghĩa vụ liên quan biêt và bảo về lợi ích của họ Hết thời hạn 30 ngày,

kể từ ngày thông báo công khai hợp lệ mà không có người khiếu nại thì được coi là có căn cứ đình chỉ thi hành án”.

3

Trang 7

thực hiện theo đúng quy định tại Điều 49 Luật THADS Sau khi có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm quyết định huỷ một phần hay toàn bộ bản án mà cơ quan THADS đang tổ chức thi hành thì Thủ trưởng cơ quan THADS sẽ áp dụng căn cứ nêu trên để ra quyết định đình chỉ thi hành án

Tuy nhiên, trong căn cứ này có loại trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 103 Luật THADS, nhằm mục đích bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá Theo đó, luật đã bổ sung quy định không đình chỉ thi hành án trong trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá nhưng bản án, quyết định bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì cơ quan THADS tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận Quy định mới của Luật sửa đổi, bổ sung là căn cứ vào Bộ luật Dân sự về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình mua được tài sản bán đấu giá

 Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác

Xét thấy trường hợp này phải có đủ 3 điều kiện sau thì cơ quan THADS mới có thể

ra quyết định đình chỉ:

- Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể: Việc giải thể đối với tổ chức được

thực hiện theo các quy định của Luật Doanh nghiệp hay các văn bản pháp luật có liên quan hoặc Điều lệ hoạt động của tổ chức đó Khi đó, Chấp hành viên cần nghiên cứu các văn bản pháp luật và điều lệ của tổ chức đó nhằm xác định và thu thập căn cứ chứng minh tổ chức đó đã bị giải thể

- Tổ chức đã giải thể mà không còn tài sản: Trong quyết định hoặc thông báo giải

thể, tổ chức bị giải thể thường luôn có kế hoạch để xử lý các khoản nợ Chấp hành viên cần nắm bắt kịp thời các thông tin này và liên hệ trực tiếp với bộ phận phụ trách giải quyết nợ của tổ chức đó để có thể giải quyết nghĩa vụ mà tổ chức đó phải thực hiện theo bản án, quyết định hoặc xác minh về các tài sản của tổ chức đó sau khi giải thể để làm căn cứ xử lý tiếp theo

- Nghĩa vụ của tổ chức bị giải thể không được chuyển giao cho tổ chức khác: Trước

tiên, CHV cần xác định nghĩa vụ đó có thể được chuyển giao cho tổ chức khác thực hiện hay không hoặc xác định có tổ chức nào có thể tiếp nhận nghĩa vụ của tổ chức

đã bị giải thể hay không Nếu nghĩa vụ có thể chuyển giao và cũng có tổ chức được

4

Trang 8

chuyển giao nghĩa vụ thì Chấp hành viên tiến hành theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 54 Luật THADS

 Có quyết định miễn nghĩa vụ thi hành án;

Việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án hiện nay khi thực hiện căn cứ vào các quy định tại Điều 61, 62, 63 và 64 Luật THADS 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-VKSNDTC-TANDTC

 Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án;

Căn cứ này áp dụng đối với người phải THA là doanh nghiệp và hợp tác xã, trình

tự, thủ tục phá sản đối với các đối tượng này chịu sự điều chỉnh của Luật Phá sản Chấp hành viên có thể thông qua cơ quan quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã và Toà án có thẩm quyền giải quyết để thu thập thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác

xã đang là đối tượng phải THA nhanh chóng nhất

 Người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã chết hoặc

đã thành niên.

Luật THADS đã dự liệu đến tình huống việc kéo dài thời gian tổ chức thi hành nghĩa vụ giao người chưa thành niên cho người khác nuôi dưỡng là điều tất yếu do việc thi hành nghĩa vụ giao người chưa thành niên nuôi dưỡng có những đặc thù và khó khăn nhất định Cơ chế để cơ quan THADS có thể kết thúc việc thi hành án này là đình chỉ thi hành

án khi người được giao nuôi dưỡng đã thành niên

 Ngoài những căn cứ pháp lý trên, còn một số quy định rải rác tại các điều Luật khác liên quan đến đình chỉ thi hành án như Điều 132 Luật THADS quy định chi tiết về thủ tục đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án.

2 Thời hạn ra quyết định đình chỉ thi hành án dân sự

Sau khi thu thập được một trong các căn cứ đã nêu ở trên, CHV đề xuất Thủ trưởng

cơ quan THA ra quyết định đình chỉ THA trong thời hạn tối đa 05 ngày làm việc kể từ ngày CHV xác minh, thu thập được những thông tin là căn cứ để đình chỉ THA

5

Trang 9

III ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ ĐÌNH CHỈ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

1 Đánh giá các quy định pháp luật thi hành án dân sự hiện hành về đình chỉ thi hành

án dân sự

Nhìn chung, các quy định của Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã khắc phục được tình trạng người phải THA lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người được THA để đạt được thỏa thuận không tiếp tục việc THA Tuy nhiên, quy định pháp luật hiện hành về đình chỉ THADS còn tồn tại một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về căn cứ ra quyết định đình chỉ: Tại Khoản 4 Điều 372 BLDS năm

2015 quy định căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự bao gồm trường hợp “bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một” Tuy nhiên Luật THADS không quy định trường hợp

này là căn cứ đình chỉ THADS

Thứ hai, về định nghĩa “người thứ ba” tại điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật THADS:

Luật THADS chưa xác định rõ “người thứ ba” là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

đến người được THA trong cùng một vụ án hay là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khi cơ quan THADS đình chỉ THA thì sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ

Thứ ba, về việc đình chỉ THA do tổ chức giải thể: Điểm d Điều 207 Luật Doanh

nghiệp 2020 quy định về trường hợp giải thể doanh nghiệp do bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao cho các cá nhân là người quản lý có liên quan Tuy nhiên, quy định này mâu thuẫn với Luật THADS về chủ thể được chuyển giao nghĩa vụ

Thứ tư, về trường hợp người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng: Khoản 2

Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định nghĩa vụ và quyền của cha mẹ bao gồm

nuôi dưỡng “con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” Xét thấy điểm h Điều

50 Luật THADS chưa dự liệu trường hợp người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

6

Trang 10

2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đình chỉ thi hành án dân sự

Thứ nhất, cần bổ sung thêm trường hợp khi bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa

nhập làm một là căn cứ ra quyết định đình chỉ THA, tránh mâu thuẫn với BLDS hiện hành

Thứ hai, cần thống nhất định nghĩa về “người thứ ba” tại điểm c Điều 50 Luật

THADS trong văn bản hướng dẫn Người thứ ba không nên giới hạn trong phạm vi cùng một vụ án, mà có thể là bất kỳ ai có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến quyết định đình chỉ

Thứ ba, để phù hợp với Luật Doanh nghiệp 2020, điểm đ Khoản 1 Điều 50 Luật THADS cần được sửa đổi như sau: “Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật”

Thứ tư, nhằm đảm bảo quyền lợi cho con chưa thành niên được giao nuôi dưỡng

trong bản án, quyết định, điểm g Khoản 1 Điều 50 Luật THADS cần được bổ sung như

sau: “Người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã chết hoặc

đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.

KẾT LUẬN

Đình chỉ thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình tổ chức THA, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của các bên đương sự Trong thực tiễn thực áp dụng, vẫn phát sinh một số vướng mắc nhất định, cần khắc phục kịp thời nhằm đảm bảo quyền

và lợi ích cho người được THA

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình Luật thi hành án dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, nxb CAND, 2019;

2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;

3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

4 Bộ luật Dân sự 2015;

5 Luật Doanh nghiệp 2020;

7

Ngày đăng: 07/01/2022, 22:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Lê Minh Nhựt, “Hoàn thiện chế định đình chỉ thi hành án dân sự theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam”, Tạp chí Nghề Luật, Số 10/2020, tr. 69-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện chế định đình chỉ thi hành án dân sự theo pháp luật thihành án dân sự Việt Nam”
1. Giáo trình Luật thi hành án dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, nxb CAND, 2019 Khác
2. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 Khác
3. Luật Hôn nhân và gia đình 2014;4. Bộ luật Dân sự 2015 Khác
6. Thông tư liên tịch 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC Khác
7. Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-VKSNDTC-TANDTC Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w