TÓM TẮT Đề tài phân tích các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020 với dữ liệu thứ cấp được tiếp cận từ báo cáo thường n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
SVTH : Phạm Tuấn Phát MSSV : 030805170174 GVHD : TS Đỗ Thị Hà Thương
TP HCM, tháng 06/2021
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn!
Phạm Tuấn Phát
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ
từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn
rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Phạm Tuấn Phát
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài phân tích các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020 với dữ liệu thứ cấp được tiếp cận từ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông về phương án phân phối lợi nhuận của các NHTM Biến đo lường chính sách cổ tức của NHTM là tỷ lệ chia
cổ tức (DPR) Các biến độc lập là các biến thể hiện đặc tính của công ty: tỷ lệ chia cổ tức năm trước (DPRt-1), suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE), quy mô ngân hàng(SIZE),
tỷ lệ cho vay/tiền gửi (LDR), đòn bẩy tài chính (LEV), tốc độ tăng trưởng doanh thu (GROWTH)
Kết quả phân tích hồi quy bằng phương pháp bình phương tổng quát (FGLS) của nghiên cứu cho thấy yếu tố suất sinh lời vốn chủ sở hữu, tỷ lệ chia cổ tức năm trước, tốc
độ tăng trưởng doanh thu có tác động cùng chiều với chính sách cổ tức Ngoài ra, tỷ lệ cho vay/tiền gửi và đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều với chính sách cổ tức Nghiên cứu cũng cho thấy có tác động cùng chiều giữa quy mô ngân hàng và chính sách
cổ tức, tuy nhiên lại không có ý nghĩa thống kê
Dựa vào kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra các hàm ý chính sách cho các NHTM nhằm xây dựng chính sách cổ tức hợp lý phù hợp với từng giai đoạn cũng như tình hình thực tế của các NHTM trong thời gian tới
Trang 5ABSTRACT
This study analyzes the factors affecting the dividend policy of Vietnamese commercial banks in the period 2010 - 2020 with secondary data accessed from annual reports, financial statements, resolutions of General Meeting of Shareholders on profit distribution plan of commercial banks The variable that measures the dividend policy
of commercial banks is the dividend payout ratio (DPR) The independent variables are the variables that represent the characteristics of the company: previous year dividend ratio (DPRt-1), return on equity (ROE), bank size (SIZE), loan-to-deposit ratio (LDR), leverage (LEV), revenue growth rate (GROWTH)
The results of the regression analysis using the feasible general least squared (FGLS) model show that the return on equity, the previous year dividend, and the revenue growth rate have a positive impact with dividend policy In addition, the loan-to-deposit ratio and financial leverage have a negative impact on dividend policy The research also presents that there is a positive effect between bank size and dividend policy, but it is not statistically significant
Based on the results, the study provides policy implications for commercial banks
in order to build a reasonable dividend policy suitable for each period as well as the actual situation of Vietnamese commercial banks in the coming time
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
LỜI CAM ĐOAN 3
TÓM TẮT 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 12
DANH MỤC BẢNG 13
DANH MỤC HÌNH 14
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 15
ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 15
MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 16
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 16
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 16
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 16
Thứ ba, làm cách nào để xây dựng một chính sách cổ tức phù hợp với đặc điểm và mục tiêu phát triển của ngân hàng? 17
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 17
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 17
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 17
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
1.5.1 Nguồn dữ liệu 17
Trang 71.5.2 Phương pháp và công cụ nghiên cứu 17
ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 18
1.7 KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN 18
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 20
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU 21
KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 21
2.1.1 Cổ tức (Dividend) 21
2.1.2 Chính sách cổ tức (Dividend Policy) 22
2.1.3 Tầm quan trọng của chính sách cổ tức 22
LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 23
2.2.1 Lý thuyết về sự độc lập của cổ tức 23
2.2.2 Lý thuyết về sự liên quan của cổ tức 25
Mô hình của Walter 25
Mô hình Gordon 26
ĐỘNG CƠ CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA CÔNG TY 27
2.3.1 Lý thuyết chính sách cổ tức bằng tiền cao 27
2.3.2 Lý thuyết chính sách cổ tức thấp 28
2.3.3 Lý thuyết tín hiệu 28
2.3.4 Lý thuyết hiệu ứng nhóm khách hàng 29
2.3.5 Lý thuyết chi phí đại diện 31
2.3.6 Lý thuyết trật tự phân hạng 31
Trang 8CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỶ LỆ CHIA CỔ TỨC CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 32
2.4.1 Các nhân tố bên ngoài ngân hàng 32
Lạm phát 32
Tốc độ tăng trưởng GDP 32
Chính sách thuế thu nhập 33
2.4.2 Các nhân tố bên trong ngân hàng 33
Khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) 33
Tỷ lệ chia cổ tức năm trước 33
Đòn bẩy tài chính 34
Tốc độ tăng trưởng doanh thu 34
Quy mô công ty 34
Tỷ lệ cho vay/tiền gửi 35
CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN 35
2.5.1 Các nghiên cứu nước ngoài 35
2.5.1 Các nghiên cứu trong nước 37
2.5.2 Thảo luận các nghiên cứu trước 37
2.5.3 Mô hình nghiên cứu và các biến đại diện 38
2.5.4 Giải thích các biến 39
2.5.5 Giả thuyết các biến 40
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 43
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
Trang 9QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 44
MẪU VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 45
3.2.1 Mẫu nghiên cứu 45
3.2.2 Dữ liệu nghiên cứu 45
3.2.3 Công cụ nghiên cứu 46
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
3.3.1 Phương pháp định tính 46
3.3.2 Phương pháp định lượng 46
Thống kê mô tả 46
Phân tích tương quan 47
Phân tích hồi quy 47
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 49
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
THỰC TRẠNG CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA CÁC NHTM GIAI ĐOẠN 2010-2020 50
THỐNG KÊ MÔ TẢ 53
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
4.3.1 Phân tích tương quan mô hình nghiên cứu 56
4.3.2 So sánh mô hình FEM và REM 57
Kết quả hồi quy bằng mô hình tác động cố định (FEM) 59
4.3.3 Kiểm định các khuyết tật trong mô hình 60
4.3.4 Khắc phục khuyết tật mô hình bằng mô hình bình phương tổng quát 62
Trang 10KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 63
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 66
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý, KHUYẾN NGHỊ 67
KẾT LUẬN 67
HÀM Ý CHÍNH SÁCH 68
5.2.1 Hàm ý về suất sinh lời vốn chủ sở hữu 68
5.2.2 Hàm ý về tỷ lệ chia cổ tức năm trước 69
5.2.3 Hàm ý về tỷ lệ cho vay/tiền gửi 70
5.2.4 Hàm ý về đòn bẩy tài chính 71
5.2.5 Hàm ý về tốc độ tăng trưởng doanh thu 71
HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 72
ĐỀ CỬ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 73
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 73
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Tài liệu tiếng Việt 75
Tài liệu tiếng Anh 75
PHỤ LỤC 1:CÁC NGÂN HÀNG TRONG MẪU NGHIÊN CỨU 79
PHỤ LỤC 2:DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 80
PHỤ LỤC 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 88
Thống kê mô tả các biến 88
Ma trận tương quan giữa các biến 88
Trang 11Mô hình tác động cố định FEM 89
Mô hình tác động biến đổi REM 90
Kết quả kiểm định Hausman 91
Kết quả kiểm định Collin 92
Kết quả kiểm định Wald 92
Kết quả kiểm định Wooldridge 92
Kết quả hồi quy mô hình bình phương tổng quát FGLS 93
Trang 12DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nguyên nghĩa bằng Tiếng Anh Nguyên nghĩa bằng Tiếng Việt
LDR Loan to deposit ratio Tỷ lệ cho vay/tiền gửi
DPR Dividend payout ratio Tỷ lệ chia cổ tức
FEM Fixed effects model Mô hình hiệu ứng tác động cố định
FGLS Feasible Generalized Least
Squared
Phương pháp Bình phương tổng
quát
REM Random effects model Hiệu ứng tác động ngẫu nhiên
ROE Return On Equity Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Trang 13DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tóm tắt chỉ tiêu đo lường 42
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến 54
Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các biến 56
Bảng 4.3 Kết quả hồi quy theo phân tích FEM và REM 58
Bảng 4.4:Kết quả kiểm định Hausman 58
Bảng 4.5:Mô hình tác động cố định FEM 59
Bảng 4.6:Kết quả kiểm định Collin 60
Bảng 4.7:Kết quả kiểm định Wald 61
Bảng 4.8:Kết quả kiểm định Wooldridge 61
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy bằng phương pháp bình phương tổng quát FGLS 62
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định thực nghiệm bằng ước lượng bình phương tổng quát FGLS 63
Bảng 5.1: Tóm tắt kết quả nghiên cứu 68
Trang 14DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Tỷ lệ chia cổ tức trung bình năm của các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2010-2020 50Hình 4.2: Số lượng và Hình thức chi trả cổ tức của các NHTM giai đoạn 2010-2020 51
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chương 1 sẽ trình bày tính cấp thiết và lý do chọn đề tài nghiên cứu, qua đó xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát và các mục tiêu nghiên cứu cụ thể, theo đó xác định các câu hỏi nghiên cứu tương ứng, phạm vi và đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, chương
1 cũng sẽ trình bày ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, và kết thúc chương này sẽ trình bày kết cấu tổng thể của đề tài
ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Quyết định chính sách cổ tức là một trong ba quyết định quan trọng nhất trong hoạt động quản trị tài chính của doanh nghiệp Chính sách cổ tức có những tác động đến quá trình hoạt động, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên nhiều phương diện Xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức sẽ giúp cho doanh nghiệp xây dựng cho mình một chính sách cổ tức hợp lý
Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, chính sách cổ tức của doanh nghiệp là vấn
đề được các nhà đầu tư rất chú trọng Ngoài việc quan tâm đến hiệu quả hoạt động đầu
tư, khả năng phát triển trong tương lai thì chính sách cổ tức là việc các nhà đầu tư chú ý đến trước khi quyết định có tham gia mua bán cổ phần hay không Còn về phía các ngân hàng thương mại, chính sách cổ tức được sử dụng như một công cụ điều tiết giữa lợi nhuận phân phối và lợi nhuận giữ lại sao cho đáp ứng được nhu cầu tăng vốn đầu tư để đáp ứng chỉ số an toàn vốn (CAR) do Ngân hàng nhà nước quy định, nâng cao năng lực tài chính,khả năng cạnh tranh (tăng quy mô cho vay) cũng như vẫn đảm bảo quyền lợi cho các cổ đông Do đó, thời gian qua hàng loạt các NHTM đã thay đổi chính sách cổ tức từ hướng tập trung chi cổ tức bằng tiền sang giữ lại toàn bộ lợi nhuận hoặc chi trả cổ tức bằng tiền và bằng cổ phiếu nhằm tăng vốn điều lệ để đáp ứng yêu cầu của NHNN và làm hài lòng các cổ đông Tuy nhiên, việc xác định chính sách cổ tức nhằm đảm bảo hài giữa lợi ích của cổ đông và ngân hàng lại là vấn đề rất nhạy cảm và khó khăn đối với các nhà quản lý ngân hàng vì mỗi quyết định chia cổ tức đều ảnh hưởng trực tiếp đến giá cổ
Trang 16phiếu và giá trị của ngân hàng Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả
quyết định thực hiện lựa chọn đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các NHTM Việt Nam”
MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các NHTM Việt Nam, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm giúp các nhà quản trị của NHTM có chính sách cổ tức hợp lý thông qua kết quả nghiên cứu
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Từ mục tiêu tổng quát, xác định các mục tiêu cụ thể của đề tài nghiên cứu như sau: Một là, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các NHTM Việt Nam
Hai là, đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đối với chính sách cổ tức của các NHTM Việt Nam
Ba là, đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm đưa ra chính sách cổ tức hợp lý cho các NHTM Việt Nam trong thời gian tới
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Với mục tiêu xác định và phân tích các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức tại các NHTM Việt Nam, từ đó tạo tiền đề để nhằm đưa ra chính sách cổ tức hợp lý và tăng hiệu quả hoạt động tài chính của các ngân hàng, đề tài nghiên cứu sẽ tập trung xoay quanh việc tìm hiểu và phân tích để trả lời các câu hỏi trọng tâm như sau:
Thứ nhất, Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các NHTM Việt Nam
là gì?
Thứ hai, Các yếu tố đó ảnh hưởng như thế nào đến chính sách cổ tức của các NHTM Việt Nam?
Trang 17Thứ ba, làm cách nào để xây dựng một chính sách cổ tức phù hợp với đặc điểm và mục tiêu phát triển của ngân hàng?
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các NHTM Việt Nam
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp của 23 NHTM Việt Nam, với tiêu chí là các ngân hàng được chọn hoạt động liên tục trong suốt khoảng thời gian nghiên cứu, với các số liệu cần thiết đều được công khai đầy đủ và rõ ràng trên Báo cáo tài chính của từng ngân hàng Tác giả quyết định chọn 23 NHTM vì có ước lượng mẫu lớn khiến cho nghiên cứu có độ tin cậy cao hơn cũng như có cái nhìn chính xác nhất về thay đổi chính sách cổ tức sẽ được trình bày trong chương 4
- Về thời gian: Đề tài tiến hành thu thập và sử dụng dữ liệu của 23 NHTM tại Việt Nam trong 11 năm, giai đoạn 2010-2020
Giai đoạn 2020 được lựa chọn vì có sự thay đổi rõ rệt của hai giai đoạn
2010-2015 và 2010-2015-2020 khi có sự suy giảm rõ rệt về chính sách cổ tức Để tìm hiểu nguyên nhân, tác giả quyết định lựa chọn giai đoạn trên để tiến hành nghiên cứu
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5.1 Nguồn dữ liệu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, thu thập mẫu dữ liệu từ báo cáo tài chính của 23 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 11 năm từ 2010-
2020
1.5.2 Phương pháp và công cụ nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phần mềm Stata để chạy hồi quy theo các mô hình ước lượng FEM, REM; so sánh các mô hình với nhau thông qua kiểm định Hausman để lựa chọn
mô hình tối ưu nhất Tiếp theo đó, tác giả sẽ kiểm định và xử lý các vi phạm của mô hình
đã lựa chọn
Trang 18Cuối cùng, sử dụng phương pháp ước lượng bình phương tổng quát FGLS (Feasible Generalized Least Squares) để chọn ra mô hình phù hợp nhất trong các mô hình để cho
ra kết quả
ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Chính sách cổ tức là chủ đề được khá nhiều các nhà nghiên cứu triển khai ở Việt Nam nhưng chủ yếu thực hiện tại các công ty cổ phần được niêm yết Do tính đặc thù của ngành NH, rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tác động đến chính sách cổ tức của ngân hàng như các yếu tố nội tại (lợi nhuận, quy mô, đòn bẩy tài chính v.v.) cũng như các yếu
tố vĩ mô (lạm phát, GDP, v.v.), nên việc nghiên cứu chính sách cổ tức của NHTM khá khó khăn và rất ít người nghiên cứu , nhất là trong giai đọan 2010-2020
Vì vậy, đề tài khóa luận này sẽ là kế thừa và phát triển thêm để xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến Chính sách cổ tức tại các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2010-2020
1.7 KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN
Khóa luận nghiên cứu các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức của các NHTM Việt Nam bao gồm 05 chương, có bố cục như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương này sẽ trình bày tính cấp thiết và lý do chọn đề tài nghiên cứu, qua đó xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát và các mục tiêu nghiên cứu cụ thể, theo đó xác định các câu hỏi nghiên cứu tương ứng, phạm vi và đối tượng nghiên cứu Đồng thời, xác định phương pháp nghiên cứu và bố cục của khóa luận
Chương 2: Cơ sở lý luận, bằng chứng thực nghiệm và mô hình nghiên cứu
Chương này sẽ trình bày lý thuyết về chính sách cổ tức và động cơ chi trả cổ tức của các NHTM Việt Nam Sau đó lược khảo các công trình nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam về các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức Qua đó, khóa luận xây dựng mô hình nghiên cứu và đề xuất các giả thuyết cũng như dấu dự kiến về tác động của các yếu tố bên trong đến chính sách cổ tức của các NHTM Việt Nam
Trang 19Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyết, bằng chứng thực nghiệm và mô hình nghiên cứu đã trình bày ở chương 2, chương 3 sẽ trình bày dữ liệu nghiên cứu và phân tích các phương pháp nghiên cứu nhằm tiến hành xác định sự ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức của NHTM Việt Nam
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trên cơ sở mô hình và phương pháp nghiên cứu nêu trên, chương 4 sẽ trình bày kết quả phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình, phân tích tương quan mô hình
mô hình nghiên cứu, kiểm định các giả thiết hồi quy mô hình nghiên cứu, tiến hành các kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp Sau đó, thảo luận kết quả nghiên cứu và từ mô hình xác định yếu tố và mức độ tác động của từng yếu tố đến chính sách cổ tức của NHTM Việt Nam
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Từ kết quả nghiên cứu ở chương 4, khóa luận sẽ nêu ra các kết luận chính và đưa
ra các gợi ý, khuyến nghị nhằm xây dựng chính sách cổ tức phù hợp cho các NHTM Việt Nam Bên cạnh đó chương này cũng sẽ trình bày những hạn chế của nghiên cứu và
đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 20TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 chỉ ra tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của việc phân tích các yếu
tố tác động đến chính sách cổ tức của các NHTM Việt Nam Từ mục tiêu nghiên cứu
tổng quát, đề tài đưa ra 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được giải quyết thông qua
03 câu hỏi nghiên cứu tương ứng Tiếp theo, đề tài trình bày đối tượng và phạm vi nghiên
cứu của đề tài là 23 NHTM tại Việt Nam trong 11 năm, giai đoạn từ 2010 – 2020 Đề
tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng
dựa trên nền tảng thừa kế và mở rộng các nghiên cứu trước đó để cập nhật các yếu tố
tác động đến chính sách cổ tức của các NHTM Cuối cùng, chương này trình bày kết cấu
khóa luận gồm 05 chương và sơ lược về nội dung chính của mỗi chương
Trang 21CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU
Chương 2 sẽ thực hiện khảo lược cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm trong và ngoài nước về sự ảnh hưởng của các yếu tố đến chính sách cổ tức tại các NHTM, qua đó chương này sẽ thảo luận để xác định khoảng trống nghiên cứu và thiết
kế mô hình nghiên cứu cho đề tài cho trường hợp các NHTM tại Việt Nam
KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
2.1.1 Cổ tức (Dividend)
Theo The Economic times (2021), cổ tức đề cập đến việc chi trả bằng tiền hoặc cách thức chi trả khác mà một công ty chi trả cho các cổ đông của công ty Cổ tức có thể được trả bằng nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như trả bằng tiền, cổ phiếu hoặc bất kỳ hình thức nào khác Cổ tức của một công ty được quyết định bởi hội đồng quản trị của nó và nó cần có sự chấp thuận của các cổ đông Tuy nhiên, công ty không bắt buộc phải trả cổ tức Cổ tức thường là một phần lợi nhuận mà công ty chia sẻ với các cổ đông
Theo CFA (2015), cổ tức hay lợi tức cổ phần là phần lợi nhuận ròng sau thuế của công ty được phân phối cho cổ đông dựa trên số lượng và loại cổ phiếu mà họ đang nắm giữ
Theo Thương và nnk (2021) “Cổ tức là phần thu nhập các công ty cổ phần trả cho
cổ đông được lấy từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp Khi cổ tức được công
bố, nó trở thành nghĩa vụ pháp lý của công ty và công ty không thể huỷ bỏ.”
Như vậy, cổ tức chính là phần thưởng mà công ty dành cho các cổ đông sau khi đã hoàn thành hết các nghĩa vụ tài chính đối với chính phủ, chủ nợ và người lao động được trích từ lợi nhuận sau thuế của công ty
Trang 222.1.2 Chính sách cổ tức (Dividend Policy)
Chính sách cổ tức là một trong các quyết định tài chính quan trọng nhất và là trách nhiệm của ban lãnh đạo công ty Đây là quyết định về việc sẽ chuyển bao nhiêu phần thu nhập cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức Chính sách cổ tức phản ánh sự phân chia lợi nhuận giữa cổ tức cho các cổ đông và tái đầu tư vào các công ty (Droms & Wright, 2010) Mục tiêu cơ bản của chính sách cổ tức là tối đa hóa sự giàu có của chủ sở hữu Theo đó, chính sách cổ tức không chỉ để tăng giá cổ phiếu trong ngắn hạn, mà mục tiêu dài hạn là tối đa hóa tài sản của chủ sở hữu (Brigham & Gapenski, 1998)
Theo Thương và nnk (2021) “Chính sách cổ tức là chính sách ấn định phân phối thu nhập giữa lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư và phần chi trả cổ tức cho cổ đông Chính sách cổ tức sẽ phân chia bao nhiêu lợi nhuận sau thuế được giữ lại để tái đầu tư và bao nhiêu lợi nhuận sau thuế dùng để chia cổ tức cho cổ đông Đây là quyết định tương đối khó khăn cho các nhà quản trị tài chính bởi việc phải cân đối giữa nhu cầu ngắn hạn và nhu cầu dài hạn đối với hoạt động kinh doanh của công ty, cân bằng về lợi ích của cổ đông và lợi ích của công ty”
Như vậy, chính sách cổ tức là chính sách ấn định việc phân chia lợi nhuận sau thuế của công ty, bao nhiêu phần trăm sẽ được giữ lại để tái đầu tư, bao nhiêu phầm trăm được sử dụng để chi trả cho cổ đông dưới hình thức cổ tức
2.1.3 Tầm quan trọng của chính sách cổ tức
Theo Thương và các nnk (2021), chính sách cổ tức đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động trong tương lai của công ty bởi sự ảnh hưởng trực tiếp đến các chủ thể liên quan đến công ty, cụ thể:
Ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các cổ đông: Cổ tức là nguồn thu nhập mà nhà đầu tư có thể nhận được ngay trong hiện tại khi họ đầu tư vào công ty Do vậy, việc công ty có duy trì trả cổ tức ổn định hay không ổn định, đều đặn hay thất thường đều làm ảnh hưởng đến quan điểm của nhà đầu tư về công ty Do vậy, có thể dẫn đến sự biến động giá trị cổ phiếu của công ty trên thị trường;
Trang 23Ảnh hưởng đến chính sách tài trợ của công ty: Chính sách cổ tức ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định tài trợ của công ty Khi công ty chi trả cổ tức càng nhiều đồng nghĩa với lợi nhuận giữ lại càng ít Khi đó, công ty phải huy động các nguồn tài trợ từ bên ngoài để bù đắp nguồn vốn bên trong thiếu hụt để đáp ứng các nhu cầu vốn của công ty Việc huy động vốn từ bên ngoài sẽ chịu nhiều thủ tức phức tạp và chi phí tốn kém Do
đó, chính sách cổ tức ảnh hưởng đến số lượng vốn cổ phần thường trong cấu trúc vốn của một công ty, từ đó ảnh hưởng đến chi phí vốn của công ty
Ảnh hưởng tới chính sách đầu tư của công ty: Nếu chính sách cổ tức thiên về để lại lợi nhuận giữ lại thì công ty có thể linh hoạt lựa chọn đầu tư vào các dự án có tỷ suất sinh lợi cao Từ đó, có thể kích thích tăng trưởng lợi nhuận và do đó có thể ảnh hưởng đến giá trị cổ phần của doanh nghiệp trong tương lai
Là công cụ để công ty phát tín hiệu ra bên ngoài: Chính sách cổ tức của công ty thể hiện kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong kỳ, thể hiện quan điểm, xu hướng phát triển trong tương lai của công ty Do vậy, cổ tức công ty chi trả cao hay thấp, chi trả theo hình thức nào đều thể hiện dấu hiệu các thông tin về hiệu quả hoạt động, về
chính sách phát triển của công ty ra bên ngoài thị trường
LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
2.2.1 Lý thuyết về sự độc lập của cổ tức
Lý thuyết sự độc lập của cổ tức hay lý thuyết cổ tức không liên quan (Dividend Irrelevance Theory) hay chính sách cổ tức không tác động đến giá trị doanh nghiệp là lý thuyết được phát triển bởi hai giáo sư người Mỹ là Merton Miller và Fanco Modigliani (1961) thường gọi tắt là lý thuyết M&M
Lý thuyết M&M được xây dựng dựa trên các giả thiết về thị trường vốn hoàn hảo, bao gồm các yếu tố sau:
(1) Tất cả người tham gia trên thị trường đều là người nhận giá: Theo đó, trong thị trường hoàn hảo, không có bất kỳ chủ thể nào (người mua, người bán hay người phát
Trang 24hành chứng khoán) đủ lớn để các giao dịch của họ ảnh hưởng đến việc tăng giảm giá cổ phiếu của công ty trên thị trường
(2) Không có chi phí giao dịch như chi phí môi giới, thuế chuyển nhượng hay các loại phí khác liên quan đến việc mua, bán hay phát hành cổ phiếu: Các chủ thể khi thực hiện đối với tất cả các hoạt động mua bán, chuyển nhượng cổ phiếu đều không phải chịu bất kỳ khoản chi phí nào
(3) Thông tin cân xứng và không tốn kém chi phí thu thập thông tin: Hội đồng quản trị công ty và các nhà đầu tư bên ngoài đều có tất cả các thông tin về công ty như nhau Trên thực tế, những người bên trong công ty có lợi thế hơn những người bên ngoài công
ty trong việc nắm bắt tình hình hiện tại hay triển vọng của công ty Giả thiết này xuất phát từ lý do cổ tức được coi là tín hiệu phát ra bên ngoài về giá trị của công ty Nếu người bên trong công ty cố tình sử dụng cổ tức để thay đổi nhận thức của thị trường về giá trị công ty Điều này tạo trạng thái không tốt trên thị trường
(4) Không có vấn đề người đại diện tức là không có xung đột về lợi ích giữa chủ
sở hữu và người quản lý công ty Giả thiết này nhằm đảm bảo các nhà quản lý công ty hành động vì lợi ích của các cổ đông, tức là trong mọi trường hợp khi sử dụng nguồn lực của công ty, nhà quản lý đều đưa ra những quyết định làm tăng giá trị công ty
(5) Không có sự khác biệt về thuế thu nhập cá nhân giữa cổ tức và lãi vốn: Khi không có sự khác biệt về thuế suất thuế thu nhập cá nhân giữa cổ tức bằng tiền và chuyển nhượng cổ phần, thì việc công ty trả cổ tức bằng tiền hay cổ tức bằng cổ phần không quan trọng Nếu cổ tức bằng tiền và chuyển nhượng cổ phần bị đánh thuế thu nhập cá nhân khác nhau thì công ty sẽ có các quyết định khác trên cơ sở so sánh số thuế thu nhập
cá nhân mà nhà đầu tư phải chịu khi nhận cổ tức bằng tiền hoặc khi nhà đầu tư chuyển nhượng cổ phần
(6) Các nhà đầu tư bàng quan giữa cổ tức và lãi vốn: Tất cả các nhà đầu tư đều không có sự phân biệt giữa thu nhập nhận được từ cổ tức và sự gia tăng tài sản nhận được từ lãi vốn thông qua việc nắm giữ cổ phiếu
Trang 25Lý thuyết M&M cho rằng với thị trường vốn hoàn hảo, chính sách cổ tức của một công ty không tác động đến giá cổ phiếu hoặc giá trị công ty Sự giàu có của cổ đông không chịu ảnh hưởng bởi quyết định chia cổ tức của công ty mà chịu ảnh hưởng bởi thu nhập được tạo ra bởi những quyết định đầu tư của công ty và không phải ở việc công ty phân phối lợi nhuận Theo lý thuyết M&M, giá trị cổ phiếu sau khi công ty chia cổ tức bằng giá cổ phiếu trước khi công ty chia cổ tức hay chính sách cổ tức là độc lập với giá trị công ty Các nhà đầu tư tính toán giá trị của công ty dựa trên giá trị vốn hoá của thu nhập trong tương lai của họ và điều này không bị ảnh hưởng bởi việc công ty có trả cổ tức hay không cũng như công ty xây dựng chính sách cổ tức như thế nào
2.2.2 Lý thuyết về sự liên quan của cổ tức
Lý thuyết về sự liên quan của cổ tức (Dividend Relevance Theory) cho rằng cổ tức ảnh hưởng đến sự giàu có của cổ đông Lý thuyết này được đề nghị bởi Walter (1963)
và Gordon (1963)
Mô hình của Walter
Mô hình Walter dựa trên các giả định sau:
Thứ nhất, công ty không sử dụng nguồn tài trợ từ bên ngoài Toàn bộ nhu cầu tài
trợ của công ty lấy từ lợi nhuận giữ lại
Thứ hai, rủi ro kinh doanh không thay đổi khi đầu tư mới, nghĩa là suất sinh lời và
chi phí vốn không đổi
Thứ ba, thu nhập trên mỗi cổ phần và cổ tức trên mỗi cổ phần không đổi
Mô hình Walter cho rằng chính sách cổ tức luôn tác động đến giá trị công ty Mô hình này được xây dựng trên mối quan hệ giữa suất sinh lời đòi tái đầu tư của công ty (r)
và chi phí vốn chủ sở hữu (re) Theo đó:
Nếu suất sinh lời tái đầu tư của công ty lớn hơn chi phí vốn chủ sở hữu thì công
ty sẽ tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cổ đông tái đầu tư bằng thu nhập mà công ty trả cho họ Công ty đang trong giai đoạn tăng trưởng Chính sách cổ tức tối ưu là không chia cổ tức cho cổ đông hay tỷ lệ chia cổ tức bằng 0
Trang 26 Nếu suất sinh lời tái đầu tư của công ty nhỏ hơn chi phí vốn chủ sở hữu thì cổ đông tạo ra thu nhập lớn hơn so với thu nhập công ty tạo ra bằng cách đầu tư ở nơi khác Công ty đang trong giai đoạn suy thoái Chính sách cổ tức tối ưu sẽ là phân phối toàn bộ thu nhập cho cổ đông hay tỷ lệ chia cổ tức là 100%
Nếu suất sinh lời tái đầu tư của công ty bằng chi phí vốn chủ sở hữu thì thu nhập công ty tạo ra không có sự khác biệt với thu nhập cổ đông có được từ việc tái đầu tư bằng thu nhập công ty trả cho họ Công ty không có chính sách cổ tức tối ưu
Mô hình của Walter dựa trên một số giả định không phù hợp với thực tế hoạt động của các công ty, như giả định về nguồn tài trợ không dùng nguồn tài trợ từ bên ngoài, r
và re là hằng số, EPS và D không đổi Tuy nhiên, trên thực tế, các công ty thường sử dụng nguồn vốn từ bên ngoài để tài trợ cho nhu cầu đầu tư, khi gia tăng đầu tư thì rs sẽ tăng và lợi nhuận của công ty có thể tăng hoặc giảm tùy theo tình hình kinh doanh
Mô hình Gordon
Mô hình chiết khấu cổ tức (DDM – Dividend Discount Model) được Williams (1938) giới thiệu và được Gordon (1959) phát triển đã mô tả giá trị cổ phiếu của công ty trên thị trường chính là giá trị hiện tại của dòng cổ tức của công ty
Lý thuyết về sự liên quan của cổ tức được xây dựng dựa trên việc thừa nhận sự không hoàn hảo của thị trường trong đó có thuế, có phát sinh chi phí giao dịch, thông tin không hoàn hảo Gordon dựa trên giả định sau:
(1) Chi phí vốn và lợi nhuận không đổi
(2) Chi phí sử dụng vốn lớn hơn tốc độ tăng trưởng
(3) Tốc độ tăng trưởng cổ tức không đổi
(4) Công ty không sử dụng nguồn tài trợ từ bên ngoài
(5) Không có thuế
(6) Công ty có thời gian hoạt động vô hạn
Theo mô hình của Gordon, giá trị công ty phụ thuộc vào chính sách cổ tức của công
ty Do sự không chắc chắn ở tương lai làm cho giá cổ phiếu phụ thuộc vào chính sách cổ
Trang 27tức Do đó, cổ tức ở hiện tại càng lớn thì giá cổ phiếu càng cao Khi đó, cổ đông sẽ không thờ ơ giữa cổ tức và lãi vốn Cổ đông sẽ trả giá cao hơn cho cổ phiếu của công ty có tỷ
lệ chia cổ tức cao Bên cạnh đó, do cổ đông nhận thức về rủi ro trong tương lai nên bất
kỳ sự giảm cổ tức nào của công ty ở hiện tại có thể sẽ dẫn đến sự sụt giảm giá cổ phiếu
ĐỘNG CƠ CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA CÔNG TY
Trong kỳ họp Đại hội đồng cổ đông, công ty thường đề ra các chính sách cổ tức của công ty trong năm vừa qua Dựa trên các tài liệu chi trả cổ tức của các công ty,tác giả nhận thấy rằng hiếm khi nào các công ty đưa ra chính sách cổ tức cố định qua các năm Điều này rất dễ hiểu bởi hoạt động của công ty bị ảnh hưởng bởi rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nên chính sách cổ tức phải linh hoạt dựa trên tình hình hoạt động thực tế của công ty trong năm tài chính đó Các chính sách cổ tức vô cùng đa dạng: Chi trả cổ tức với tỷ lệ cao, chi trả cổ tức với tỷ lệ cố định, chi trả cổ tức với tỷ lệ thấp, v.v thậm chí có công ty quyết định không chi trả cổ tức Ngoài ra,tỷ lệ chia cổ tức cũng biến động do Đại hội Đồng cổ đông quyết định xem có phù hợp với lợi ích chung hay không Vậy tại sao lại có sự đa dạng và biến động trong chính sách cổ tức như vậy? Các lý thuyết sau sẽ giải quyết vấn đề đó
2.3.1 Lý thuyết chính sách cổ tức bằng tiền cao
Lý thuyết này còn được biết tới là lý thuyết “bird in the hand” được Donalson phát triển vào năm 1961 Theo các nhà đầu tư thì một con chim trong lòng bàn tay (“bird in the hand”)-giống như cổ tức có giá trị hơn hai con chim trong bụi cây (“two in the bush”)-giống như lãi vốn Trong thế giới không chắc chắn và thông tin không hoàn hảo, các nhà đầu tư cho rằng cổ tức ít rủi ro hơn lãi vốn bởi do cổ tức hiện tại cao hơn sẽ làm giảm sự không chắc chắn về dòng tiền trong tương lai Vì vậy, các nhà đầu tư thích chính sách
cổ tức bằng tiền ở hiện tại cao hơn phần lãi vốn cao trong tương lai Các nhà đầu tư sẽ đánh giá cao những công ty chi trả cổ tức cao Do đó, việc tăng chi trả cổ tức với giả định các yếu tố khác không đổi sẽ làm tăng giá trị công ty
Trang 282.3.2 Lý thuyết chính sách cổ tức thấp
Lý thuyết M&M giả định thị trường hoàn hảo với việc loại trừ ảnh hưởng của thuế đối với các chủ thể trong thị trường Theo đó, không có sự khác biệt giữa cổ tức và lãi vốn Tuy nhiên, trên thực tế thường có sự khác biệt trong việc xử lý về thuế liên quan đến cổ tức và lãi vốn Phần lớn các nhà đầu tư đều quan tâm đến lợi nhuận sau thuế, tức phần thu nhập cuối cùng họ nhận về Do đó thuế sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu của các nhà đầu tư đối với cổ tức
Lý thuyết cổ tức thấp còn gọi là lý thuyết hiệu ứng thuế (Tax Effect) xuất phát sự khác biệt về thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với cổ tức bằng tiền và chuyển nhượng
cổ phần theo hướng thuế suất thuế thu nhập cá nhân đánh vào cổ tức bằng tiền cao hơn thuế suất thuế thu nhập cá nhân vào chuyển nhượng cổ phần Hơn nữa, việc chuyển nhượng cổ phần chỉ bị đánh thuế khi nhà đầu tư bán cổ phiếu, còn cổ tức bằng tiền bị đánh thuế ngay lập tức Do đó, nhà đầu tư ưa thích lãi vốn có thể trì hoãn thời điểm nộp thuế bằng việc trì hoãn chuyển nhượng cổ phiếu Điều này khiến các nhà đầu tư ưa thích lãi vốn quan tâm tới các công ty giữ lại phần lớn thu nhập hơn trả cổ tức bằng tiền và họ sẵn sàng trả giá cao cho các công ty có mức cổ tức thấp Vì vậy, tỷ lệ chia cổ tức thấp sẽ làm giảm chi phí vốn và làm tăng giá cổ phiếu
2.3.3 Lý thuyết tín hiệu
Khi thị trường không hoàn hảo tức thông tin không cân xứng thì các nhà quản lý thường sở hữu những thông tin mà các cổ đông không thể tiếp cận được Do sự chênh lệch về thông tin nên giá thị trường của cổ phiếu thường được hình thành từ dòng tiền
mà cổ tức đem lại cho cổ đông Các nhà đầu tư thường sử dụng dòng tiền thực trên vốn chủ sở hữu để định giá công ty Điều này khiến cổ tức trở thành một công cụ truyền tải thông tin của cấp quản lý đến thị trường Khi đó, giá cổ phiếu của công ty sẽ biến động
do cổ tức Đây chính là lý thuyết tín hiệu hay hiệu ứng phát tín hiệu của cổ tức – Signal Effects
Trang 29Theo lý thuyết này, các nhà quản lý công ty có ưu thế hơn so với các nhà đầu tư về việc nắm giữ thông tin liên quan đến công ty Do đó, nhà đầu tư có thể biết được triển vọng của công ty thông qua quyết định cổ tức Cấp quản lý sẽ sử dụng những thay đổi trong chính sách cổ tức để truyền tải thông tin cho thị trường Các nhà đầu tư tin chính sách cổ tức sẽ phản ánh nhận định của cấp quản lý về triển vọng và hiệu quả hoạt động của công ty Do đó, một sự gia tăng trong cổ tức sẽ phát tín hiệu cho thấy khả năng sinh lời tốt của công ty dẫn đến giá trị cổ phiếu sẽ biến động tích cực và ngược lại việc công
ty cắt giảm cổ tức có thể được coi là một tín hiệu cho thấy công ty có triển vọng trong tương lai kém dẫn đến giá cổ phiếu sau đó có thể sẽ phản ứng bất lợi
2.3.4 Lý thuyết hiệu ứng nhóm khách hàng
Nhà đầu tư trên thị trường được chia thành ba nhóm: (1) nhóm ưa thích cổ tức bằng tiền; (2) nhóm ưa thích lãi vốn; (3) nhóm thờ ơ giữa cổ tức bằng tiền và lãi vốn Do đó, một công ty không chỉ đối mặt với một nhà đầu tư mà với nhiều nhà đầu tư khác nhau Công ty sẽ lựa chọn chính sách cổ tức trên cơ sở ưu tiên cho nhóm nhà đầu tư này hơn nhóm nhà đầu tư khác Khuynh hướng mà các nhà đầu tư bị thu hút bởi chính sách cổ tức riêng biệt của một cổ phiếu nào đó gọi là “hiệu ứng khách hàng” - Clientele Effects M&M vẫn giữ quan điểm cho rằng dù hiệu ứng khách hàng khiến cho chính sách
cổ tức của các công ty thay đổi để thu hút những nhà đầu tư cụ thể thì trong thị trường hoàn hảo mọi khách hàng đều tốt như nhau Do đó, giá trị công ty không bị tác động, có nghĩa chính sách cổ tức không tác động đến giá trị công ty
Trên thực tế, các nhà đầu tư luôn phải đối mặt với sự khác biệt về thuế đánh trên
cổ tức bằng tiền và lãi vốn, chịu các chi phí giao dịch phát sinh liên quan đến việc mua bán chứng khoán Điều này dẫn đến các quyết định khác nhau của các nhà đầu tư tùy thuộc vào mục tiêu tối thiểu thuế hay chi phí giao dịch Những nhà đầu tư này sẽ bị thu hút bởi những công ty có chính sách cổ tức phù hợp với điều kiện của họ Ví dụ như đối với những công ty hoạt động trong các ngành tăng trưởng cao thường sẽ không trả cổ
Trang 30tức bằng tiền hoặc trả cổ tức bằng tiền với mức khá thấp thì sẽ thu hút những nhà đầu tư
ưa thích lãi vốn hơn là cổ tức bằng tiền
Hiệu ứng khách hàng bao gồm hai loại: Hiệu ứng khách hàng về thuế và hiệu ứng khách hàng về chi phí giao dịch
Hiệu ứng khách hàng về thuế lý giải do sự khác biệt thuế giữa cổ tức và lãi vốn nên
sẽ ảnh hưởng đến sự ưu tiên của khách hàng để đạt thu nhập sau thuế cao Theo đó, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, các nhà đầu tư trong nhóm chịu thuế thấp, những người dựa vào thu nhập thường xuyên và ổn định sẽ bị thu hút bởi những công ty có chính sách cổ tức bằng tiền cao và ổn định Điển hình cho nhóm này là những người có thu nhập ổn định từ lương hưu Các nhà đầu tư trong nhóm chịu thuế cao sẽ tìm kiếm lợi ích từ việc đầu tư vào những công ty trả cổ tức thấp hoặc không trả cổ tức để kỳ vọng có được phần lãi vốn cao Đây chính là các nhà đầu tư tổ chức như quỹ ủy thác và quỹ hưu trí do bị luật pháp cấm chi tiêu từ việc tăng vốn và cổ tức Chính vì vậy, tùy vào điều kiện cụ thể công ty hướng tới đối tượng khách hàng nào để thực hiện xây dựng chính sách cổ tức cho công ty trong mỗi thời điểm
Hiệu ứng khách hàng về chi phí giao dịch chỉ ra rằng với những nhà đầu tư nhỏ lẻ
đầu tư vào cổ phiếu của công ty với mong muốn nhận được khoản thu nhập ổn định từ
cổ tức thì bị thu hút bởi chính sách cổ tức cao và ổn định bởi đối với họ khoản chi phí giao dịch khi bán cổ phiếu là đáng kể Ngược lại, những nhà đầu tư không phụ thuộc vào thu nhập từ cổ tức thì ưa thích những công ty có chính sách cổ tức thấp nhằm tránh chi phí giao dịch khi họ tái đầu tư vào cổ phiếu đó Bên cạnh đó, tác động của chi phí giao dịch đối với chính sách cổ tức có liên quan đến vấn đề công ty cần phải khôi phục lượng tiền đã chi trả cổ tức cho cổ đông bằng việc huy động thêm vốn chủ sở hữu mới hoặc tài trợ bằng nợ Nếu chi phí phát hành là đáng kể thì các công ty có thể dựa vào thu nhập giữ lại thay vì tài trợ từ bên ngoài Khi đó, các công ty giảm hoặc tránh chi phí giao dịch bằng cách giảm chi trả cổ tức hoặc không trả cổ tức bằng tiền cho cổ đông
Trang 312.3.5 Lý thuyết chi phí đại diện
Lý thuyết chi phí đại diện là một trong những lý thuyết quan trọng nhất trong chính sách cổ tức Jensen và Meckling (1976) đã định nghĩa mối quan hệ đại diện như “một hợp đồng mà theo đó một hoặc nhiều người giao kết với một người khác (người đại diện)
để thực hiện một số dịch vụ thay mặt họ, liên quan đến việc ủy quyền một số quyền ra quyết định cho người đại diện "
Cốt lõi của lý thuyết chi phí đại diện là xung đột lợi ích của các nhà quản lý và cổ đông Các nhà đầu tư phải đảm bảo rằng tiền của họ không bị các nhà quản lý trưng thu hoặc lãng phí do thực hiện không thành công các dự án Easterbrook (1984) cho rằng chi trả cổ tức nhiều hơn làm giảm chi phí đại diện bằng cách giảm nhận thức rủi ro của các nhà đầu tư về xu hướng của các nhà quản lý hành động vì lợi ích của họ Al-Najjar và Hussainey (2009) nhận thấy rằng xung đột lợi ích giữa các nhà quản lý và nhà đầu tư có thể được giảm bớt bằng cách trả cổ tức nhiều hơn cho các cổ đông
2.3.6 Lý thuyết trật tự phân hạng
Lí thuyết trật tự phân hạng hay còn gọi là lí thuyết thứ tự tăng vốn bắt đầu với thông tin bất cân xứng - một cụm từ để chỉ ra rằng các giám đốc biết nhiều về các tiềm năng, rủi ro và các giá trị của doanh nghiệp mình hơn là các nhà đầu tư bên ngoài Thông tin bất cân xứng tác động đến lựa chọn giữa tài trợ từ nội bộ và tài trợ từ bên ngoài, giữa phát hành mới chứng khoán nợ và chứng khoán vốn Điều này sẽ đưa đến một trật tự phân hạng, theo đó các công ty sẽ tài trợ các dự án bằng vốn nội bộ, chủ yếu là lợi nhuận
để tái đầu tư, rồi mới đến phát hành nợ mới và cuối cùng là phát hành vốn cổ phần mới Myers(1984) cho rằng hành động này rất có thể đến từ chi phí phát hành vốn cổ phần mới cao hơn nhiều so với việc tài trợ dự án bằng vốn nội bộ Lý thuyết này cho thấy có mối quan hệ tiêu cực giữa khả năng sinh lời và chính sách cổ tức Các công ty
có lợi nhuận cao có nhiều lợi nhuận giữ lại hơn sử dụng chính phần lợi nhuận ấy đem đi tái đầu tư thay vì chi trả cổ tức
Trang 32CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.4.1 Các nhân tố bên ngoài ngân hàng
Lạm phát
Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác (Mankiw, 2011)
Basse và Reddemann (2011) đã tìm ra sự tác động đáng kể của lạm phát đối với chính sách cổ tức Họ cho rằng các công ty dường như tăng chi trả cổ tức hơn trong môi trường lạm phát Có ít nhất hai giải thích cho hành vi này:
Một là, ban quản lý có thể tin rằng có một số loại chính sách cổ tức tối ưu trong điều kiện thực tế Do đó, có thể có động cơ để ổn định giá trị thực của thu nhập từ cổ tức (giả định các yếu tố khác không thay đổi)
Hai là, lạm phát chỉ đơn giản làm tăng giá trị danh nghĩa thu nhập của doanh nghiệp và do đó làm tăng tỷ lệ chia cổ tức
Tốc độ tăng trưởng GDP
Cũng giống với lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá nền kinh tế cũng như có mối quan hệ mật thiết với chính sách cổ tức.GDP ảnh hưởng tích cực đến sức mua của người tiêu dùng để làm tăng nhu cầu đối với sản phẩm của công ty Nhu cầu về sản phẩm tăng lên sẽ làm tăng doanh số bán hàng của công ty Doanh thu cao sẽ làm tăng lợi nhuận của công ty, khi đó khả năng sinh lời cao
sẽ ảnh hưởng đến sự sẵn sàng chi trả một mức cổ tức cao (Romus và các cộng sự, 2020)
Trang 33Chính sách thuế thu nhập
Theo Alzahrani (2009), trong môi trường có thuế, việc chi trả cổ tức cao hơn sẽ làm giảm giá trị của DN Lập luận này dựa trên sự tác động có thể có của chính sách thuế tại một quốc gia đối với các thu nhập cổ tức và lãi vốn, mà chủ yếu tập trung vào chính sách thuế của Mỹ, ở đó thuế suất đánh trên thu nhập từ cổ tức cao hơn thu nhập từ lãi vốn trong nhiều thập niên
2.4.2 Các nhân tố bên trong ngân hàng
Khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE)
Nghiên cứu của Lintner (1956) cho rằng ROE biểu thị chính xác hiệu quả khi sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ROE càng cao chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, điều này có nghĩa công ty cân đối một cách hài hòa giữa đồng vốn cổ đông với đồng vốn vay (vì nếu vay nhiều thì phải trả lãi vay làm giảm lợi nhuận)
để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trên thị trường để tăng doanh thu, tăng lợi nhuận Khi thu nhập và khả năng sinh lợi DN đạt được càng cao, lợi nhuận giữ lại càng lớn và công ty có thể phân phối cổ tức càng nhiều Điều đó cho thấy ROE càng cao thì công ty chi trả cổ tức càng nhiều và ngược lại Một nghiên cứu khác lại cho kết quả ủng hộ với
lý thuyết trật tự phân hạng: các công ty có khả năng sinh lợi càng lớn thì sẽ dùng càng nhiều lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư thay vì chi trả cổ đông(Amidu và Abor, 2006) Kết quả là ROE càng cao thì công ty chi trả càng thấp và ngược lại
Tỷ lệ chia cổ tức năm trước
Lintner (1956) cho rằng các nhà quản lý cố gắng giữ cổ tức ổn định và chỉ tăng khi
họ chắc chắn duy trì nó và những người quản lý cũng tránh bị cắt cổ tức Bởi vì bất kỳ thay đổi nào trong cổ tức đều được coi là tín hiệu cho kết quả hoạt động trong tương lai của công ty Vì vậy, nếu tỷ lệ chia cổ tức năm trước càng cao thì tỷ lệ chia cổ tức năm
nay càng cao và ngược lại
Trang 34Đòn bẩy tài chính
Theo khái niệm chính xác trong kinh tế học, “đòn bẩy tài chính” thể hiện mức độ doanh nghiệp sử dụng khoản vốn đi vay để làm tăng thêm tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp (hoặc vốn chủ sở hữu, hoặc thu nhập trên mỗi cổ phần) Khoản vốn này thuộc vào nguồn vốn của công ty trong bảng cân đối kế toán Các công ty có vốn vay cao cần duy trì nguồn vốn nội bộ của mình để đáp ứng các nghĩa vụ của mình,thay vì phân phối tiền mặt sẵn có cho cổ đông dưới dạng cổ tức (Al-Kuwari, 2009) Do đó, công ty sử dụng đòn bẩy tài chính càng lớn thì chi trả cổ tức càng ít và ngược lại
Tốc độ tăng trưởng doanh thu
Amidu và Abor (2006) cho rằng việc tăng trưởng doanh thu sẽ cần được tài trợ nhiều hơn để duy trì đà tăng đó, vì vậy lợi nhuận giữ lại cho công ty sẽ chiếm tỷ trọng phần trăm cao hơn lợi nhuận sau thuế bằng cách chi trả cổ tức thấp Công ty có tỷ lệ tăng trưởng càng cao thì càng có nhu cầu vốn lớn để tài trợ các cơ hội đầu tư hấp dẫn, do đó khả năng chi trả cổ tức càng thấp và ngược lại.Tuy nhiên, Afza và Mirza (2011) tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa tăng trưởng doanh số và cổ tức Họ nhận thấy rằng các công
ty tạo ra doanh số bán hàng cao có nhiều khả năng thưởng cho các cổ đông của họ Do
đó tốc độ tăng trưởng doanh thu càng cao thì chi trả cổ tức càng nhiều và ngược lại
Quy mô công ty
Jaara và các cộng sự (2018) cho rằng quy mô của một công ty đóng một vai trò lớn trong việc quyết định loại chính sách cổ tức sẽ được sử dụng Nhìn chung, công ty càng lớn thì tiền càng nhiều, dẫn đến lợi tức đầu tư tốt hơn và công ty ít gặp rủi ro hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng công ty lớn có phạm vi tiếp cận thị trường lớn hơn và khả năng mở rộng sản xuất tốt hơn, vậy nên công ty thường chi trả cổ tức cao hơn và ngược lại Tuy nhiên, Ahmed & Javid (2009) cho rằng các DN có quy mô lớn thường là những DN có
cổ phiếu được niêm yết và mua bán rộng rãi trên TTCK Điều này cho phép các DN quy
mô lớn không nhất thiết phải công bố một tỉ lệ cổ tức tiền mặt quá cao vì giá cổ phiếu
Trang 35mới là điều mà các nhà đầu tư quan tâm hơn cả Trong trường hợp này, quy mô công ty càng lớn thì chi trả cổ tức thấp và ngược lại
Tỷ lệ cho vay/tiền gửi
Hệ số cho vay trên tiền gửi thể hiện khả năng của ngân hàng trong việc hoàn trả các khoản rút tiền của người gửi tiền bằng cách dựa vào các khoản vay được cung cấp như một nguồn thanh khoản Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi cao làm giảm vị thế thanh khoản của các ngân hàng, đặc biệt là dưới dạng tiền mặt, vậy nên sẽ không có lợi để trả cổ tức
cao (Olowe và Moyosore, 2014) Thế nên tỷ lệ cho vay/tiền gửi càng cao thì chi trả cổ
tức càng ít và ngược lại
CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN
2.5.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Casey và cộng sự (2000) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các NHTM Bắc Mỹ giai đoạn 1982-1992 Bằng cách sử dụng mô hình của Rozeff (1982), các tác giả đã tìm ra yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến chính sách cổ tức là tăng trưởng doanh thu và số lượng cổ đông và không có sự tác động đáng kể của mức độ tăng trưởng trong quá khứ, hệ số beta và quyền sở hữu của cổ đông lớn, tuy nhiên ba yếu tố trên lại có tác động đáng kể đối với các ngành khác
Nadeem và các cộng sự (2018) xem xét các yếu tố quyết định chính sách cổ tức của các ngân hàng Pakistan từ 2005 đến 2015 Bằng cách sử dụng các kỹ thuật dữ liệu bảng, kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng khả năng sinh lời, cơ hội đầu tư và cổ tức năm trước có tác động tích cực đáng kể về chi trả cổ tức của các ngân hàng Pakistan trong khi tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ cho vay/tiền gửi có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể Hơn nữa, kết quả của nghiên cứu này cũng nhấn mạnh rằng chi trả cổ tức năm trước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến tỷ lệ chia cổ tức của các ngân hàng Kết quả cũng cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về các yếu tố ảnh hưởng đến cổ tức trước và sau cuộc khủng hoảng tài chính
Trang 36Gul và các cộng sự (2012) nghiên cứu 18 ngân hàng trên sàn giao dịch chứng khoán Pakistan giai đoạn 2006-2011 Bằng cách sử dụng hệ số tương quan tuyến tính để tìm thấy tác động của các biến độc lập với tỷ lệ chia cổ tức, nghiên cứu đã cho thấy có sự tác động cùng chiều của quy mô công ty, tốc độ tăng trưởng và khả năng sinh lời đến chính sách cổ tức Trong khi đó các biến đòn bẩy tài chính và rủi ro có ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách cổ tức
Maladjian và các cộng sự (2014) điều tra các yếu tố quyết định chính sách cổ tức
ở các ngân hàng Lebanon được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Beirut Nghiên cứu này xem xét tác động của bảy biến: khả năng sinh lời, thanh khoản, đòn bẩy, quy
mô công ty, tăng trưởng, rủi ro công ty và mức chi trả cổ tức của năm trước trên tỷ lệ chia cổ tức bằng cách sử dụng tập dữ liệu bảng không cân bằng về các ngân hàng niêm yết trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2011.Với việc phân tích mô hình hồi quy dữ liệu bảng, kết quả thực nghiệm cho thấy các chính sách cổ tức bị ảnh hưởng tích cực bởi quy mô công ty, rủi ro và cổ tức của năm trước Tuy nhiên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi cơ hội tăng trưởng và lợi nhuận
Aziz và các cộng sự (2019) đã nghiên cứu các yếu tố tác động của chính sách cổ tức của 13 ngân hàng thường và ngân hàng Hồi Giáo trên sàn giao dịch chứng khoán Pakistan từ năm 2001-2016 Nghiên cứu ước tính dữ liệu bảng được lấy từ Thomson Reuters trên EVIEWS bằng cách chạy mô hình tác động cố định (FEM) Các tác giả nhận thấy rằng thu nhập trên mỗi cổ phiếu có mối tương quan thuận với tỷ lệ chia cổ tức, trong khi tỷ suất lợi nhuận trên tài sản và tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cũng có mối liên
hệ tuyến tính chặt chẽ với tỷ lệ chia cổ tức Ngược lại, kết quả cho thấy mối tương quan nghịch giữa lợi tức trên vốn chủ sở hữu với chi trả cổ tức
Yiadom và cộng sự (2011) sử dụng mô hình tác động cố định và ngẫu nhiên nhằm tìm ra các yếu tố quyết định chính sách cổ tức của các ngân hàng ở Ghana trong khoảng thời gian từ 1999-2003.Kết quả cho thấy lợi nhuận, nợ, thay đổi trong cổ tức và khả năng thế chấp là những yếu tố có ý nghĩa thống kê tích cực ảnh hưởng đến chính sách cổ tức
Trang 37của các ngân hàng ở Ghana Mặt khác, tăng trưởng doanh thu và thời gian thành lập ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách cổ tức của ngân hàng Ngoài ra, tiền mặt tác động ngược chiều đến chính sách cổ tức nhưng có tác động không đáng kể
2.5.1 Các nghiên cứu trong nước
Hiện nay, các nghiên cứu thực nghiệm về chính sách cổ tức của các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn khá hạn chế, đa số chỉ tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các công ty cổ phần (nói chung) hoặc một nhóm các công ty thuộc các ngành nghề cụ thể (Dầu khí,dệt may v.v.) được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Để đóng góp thêm cho các nghiên cứu trong nước, đặc biệt là giai đoạn nhiều biến động 2010-2020 của ngành NH, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các NHTM giai đoạn 2010-2020
2.5.2 Thảo luận các nghiên cứu trước
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của NHTM.Với sự đa dạng cả về số lượng mẫu, mô hình nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, v.v., các nhà nghiên cứu đã tìm ra một số nhân tố ảnh hưởng đến chính sách
cổ tức như: Nhóm nhân tố vĩ mô (Thuế, Lạm phát, GDP, v.v.), Nhóm nhân tố quản trị công ty (Quyền sở hữu của tổ chức, Quyền sở hữu của cổ đông lớn, v.v.), Nhóm nhân tố đặc tính công ty (Khả năng sinh lời, Tỷ lệ chia cổ tức năm trước, v.v.)
Dựa vào những yếu tố trên, có thể thấy rằng chính sách cổ tức là vô cùng riêng biệt với từng đặc điểm thể chế, pháp lý, chính sách khác nhau ở từng quốc gia Vậy nên việc nghiên cứu chính sách cổ tức của các NHTM ở Việt Nam là vô cùng quan trọng để xem xét các yếu tố tác động có giống với các nghiên cứu của thế giới hay không Do các yếu
tố đặc trưng của ngành NH khác với công ty cổ phần thường (Lấy tiền tệ là đối tượng kinh doanh trực tiếp, hoạt động ngân hàng chỉ do tổ chức tín dụng thực hiện, là hoạt động đặc thù: thể hiện ở chỗ rủi ro cao, khó quản lý, khó giám sát, v.v ) nên hiện tại ở Việt
Trang 38Nam nói chung, giai đoạn 2010-2020 nói riêng, có rất ít các nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các NHTM
Trong khóa luận này, tác giả quyết định sẽ đi sâu vào nghiên cứu định lượng nhóm yếu tố đặc tính của công ty (nhân tố bên trong) nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của các NHTM cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam Đa số trong các nghiên cứu trước đây trên thế giới, tỷ lệ chia cổ tức (DPR) được sử dụng khá phổ biến nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức Do đó, trong phạm
vi khóa luận này, tỷ lệ chia cổ tức được lựa chọn làm biến phụ thuộc để nghiên cứu về chính sách cổ tức của các NHTM Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2010-2020
2.5.3 Mô hình nghiên cứu và các biến đại diện
Căn cứ vào công trình nghiên cứu của Nadeem(2018), Gul(2012), Maladjian(2014), Aziz(2019) cho thấy các yếu tố ảnh hưởng chính sách cổ tức gồm: lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu, chính sách cổ tức năm trước, tốc độ tăng trưởng doanh thu, quy mô công ty, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, đòn bẩy tài chính Vì vậy, mô hình nghiên cứu có phương trình sau:
DPR i,t = β 0 + β 1 DPR i,t-1 + β 2 SIZE i,t + β 3 ROE i,t + β 4 GROWTH i,t
+ β 5 LDR i,t + β 6 LEV i,t + ε i,t
Trong đó:
DPRt : biến phụ thuộc trong lần quan sát thứ t
DPRt-1, ROE, GROWH, SIZE, LEV, LDR: các biến độc lập
β0: hệ số chặn
β1,β2,…,β6: các hệ số góc
εt: sai số ngẫu nhiên trong lần quan sát thứ t
Trang 392.5.4 Giải thích các biến
Thứ nhất, biến phụ thuộc là tỷ lệ chia cổ tức (DPR I,t), được tính bằng công thức
cổ tức mỗi cổ phần chia cho thu nhập mỗi cổ phần Cổ tức mỗi cổ phần được lấy từ lịch chia cổ tức của website thống kê Finance Vietstock và trong thuyết minh báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại, thu nhập mỗi cổ phần được lấy dữ liệu từ website thống kê Finance Vietstock
Thu nhập mỗi cổ phần năm t
Thứ hai, tỷ lệ chia cổ tức năm trước (DPR I,t-1) là biến độc lập được tính bằng công thức cổ tức mỗi cổ phần chia cho thu nhập mỗi cổ phần Cũng giống như biến độc lập tỷ lệ chia cổ tức, tỷ lệ chia cổ tức năm trước cũng gồm cổ tức mỗi cổ phần được lấy
từ lịch chia cổ tức của website thống kê Finance Vietstock và trong thuyết minh báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại, thu nhập mỗi cổ phần được lấy dữ liệu từ website thống kê Finance Vietstock
DPR i,t-1= 𝐶ổ 𝑡ứ𝑐 𝑚ỗ𝑖 𝑐ổ 𝑝ℎầ𝑛 𝑛ă𝑚 𝑡−1
Thu nhập mỗi cổ phần năm t−1
Thứ ba, quy mô công ty (SIZE i,t) là biến độc lập được tính bằng logarit tổng tài
sản Khoản mục tổng tài sản được tác giả thu thập từ bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại
SIZE i,t=Log(Tổng tài sản) Thứ tư, lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) là biến độc lập được tính bằng công thức lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu Khoản mục lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh, vốn chủ sở hữu được lấy từ bảng cân đối
kế toán của các ngân hàng thương mại
Vốn chủ sở hữu bình quân
Thứ năm, tốc độ tăng trưởng doanh thu là biến độc lập được tính bằng công thức lấy hiệu của doanh thu thuần năm nay và doanh thu thuần năm trước chia cho doanh thu
Trang 40thuần năm trước Khoản mục doanh thu thuần được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng thương mại
GROWTH i,t= (𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑛ă𝑚 𝑡 – 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑛ă𝑚 𝑡−1)
𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑛ă𝑚 𝑡−1
Thứ sáu, tỷ lệ cho vay/tiền gửi là biến độc lập được tính bằng bằng số tiền cho khách hàng vay chia cho tiền gửi khách hàng Cả hai khoản mục trên đều được lấy từ bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại
𝑇𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖 𝑘ℎá𝑐ℎ ℎà𝑛𝑔
Thứ bẩy, đòn bẩy tài chính là biến độc lập được tính bằng công thức tổng nợ chia cho vốn chủ sở hữu Cả hai khoản mục trên đều được lấy từ bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛
2.5.5 Giả thuyết các biến
Tỷ lệ chia cổ tức năm trước ảnh hưởng đến chính sách cổ tức
Lintner (1956) cho rằng rất khó để DN đưa ra một mức cổ tức cao hơn so với mức
cổ tức được công bố của năm kề trước trừ khi họ chắc chắn về sự tăng trưởng bền vững của DN Ngược lại, một sự đi xuống của tỷ lệ cổ tức so với năm trước cũng là một điều tối kị trong việc hoạch định chính sách cổ tức DN Như vậy, có sự tác động cùng chiều của tỷ lệ chia cổ tức năm trước với tỷ lệ chia cổ tức Maladjian và Khoury(2014) cũng
có kết luận tương tự về sự ảnh hưởng về tỷ lệ chia cổ tức năm trước với chính sách cổ tức
Giả thuyết H1:Tỷ lệ chia cổ tức năm trước có tác động cùng chiều đến chính sách
cổ tức
Quy mô công ty ảnh hưởng đến chính sách cổ tức
Một công ty lớn có thể dễ dàng tiếp cận thị trường vốn và nhận được tiền tài trợ nhiều hơn Do đó, quy mô công ty lớn hơn được kỳ vọng sẽ có khả năng tạo ra thu nhập
lớn hơn để có thể trả cổ tức cao hơn so với công ty nhỏ hơn (Fransiskus Randa và Ingrid