TRANG THÔNG TIN VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN Tên đề tài luận án “Nghiên cứu giải phẫu sụn viền trên ổ chảo khớp vai và kết quả điều trị tổn thương SLAP bằng phẫu thuật nội soi” Thuộc chuyên ngành: Ngoại khoa Mã số: 9 72 01 04 Họ và tên nghiên cứu sinh: Nguyễn Hà Ngọc Họ và tên Người hướng dẫn: 1. GS. TS. Nguyễn Tiến Bình 2. PGS. TS. Bùi Hồng Thiên Khanh Cơ sở đào tạo: Học viện Quân y. Tóm tắt những đóng góp mới của luận án: Từ kết quả nghiên cứu 30 khớp vai trên 15 xác ướp Việt Nam trưởng thành tại Bộ môn Giải phẫu, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch và 54 bệnh nhân được chẩn đoán xác định tổn thương SLAP và được phẫu thuật nội soi khâu sụn viền tại Bệnh viện Quân Y 175 từ 12014 đến 122018, chúng tôi thấy có những đóng góp mới như sau: Đặc điểm giải phẫu của sụn viền và các thành phần liên quan ở người Việt Nam trưởng thành Đặc điểm của đầu dài cơ nhị đầu: 1830 có bám vào củ trên ổ chảo, tất cả đều bám vào sụn viền, vị trí bám phổ biến nhất từ 11giờ đến 12 giờ (1730 khớp vai); kích thước tại điểm bám: chiều rộng trung bình 3,09 ± 1,06 mm, chiều dài trung bình 11,03 ± 1,64 mm. Phân loại điểm bám (theo Vangsness): dạng 1 chiếm chủ yếu (1930 khớp vai). Đặc điểm của sụn viền: kích thước của sụn viền là: đường kính trên – dưới trung bình là 36,77 ± 4,51 mm, đường kính trước sau dưới trung bình là: 25,63 ± 3,61 mm, đường kính trước sau trên trung bình là: 21,27 ± 3,48 mm. 630 sụn viền không liên tục, 130 sụn viền có khoảng trống giữa sụn viền và ổ chảo. Sụn viền rộng trung bình từ 4,76 ± 1,15 mm đến 6,01 ± 1,51mm; cao trung bình từ 2,62 ± 0,97 mm đến 3,82 ± 1,14 mm. Đặc điểm của ổ chảo: đường kính trên dưới trung bình là: 29,00 ± 3,92 mm, đường kính trước – sau trên trung bình là: 16,27 ± 3,08 mm. đường kính trước – sau dưới trung bình là: 20,47 ± 3,19 mm; chủ yếu là hình oval (2030 xương bả vai). Đặc điểm dây chằng ổ chảo – cánh tay: điểm bám dây chằng ổ chảo cánh tay trên và giữa chủ yếu vị trí từ 12 giờ đến 1giờ. Điểm bám dây chằng ổ chảo cánh tay – dưới trước chủ yếu vị trí từ 4 giờ đến 5giờ. Điểm bám dây chằng ổ chảo cánh tay – dưới sau chủ yếu ở vị trí từ 7 giờ đến 8 giờ. Kết quả điều trị tổn thương SLAP bằng phẫu thuật nội soi Bệnh nhân tổn thương SLAP có cơ chế chấn thương, thường khả năng phục hồi và quay lại chơi thể thao tốt hơn. Cần xác định các mốc giải phẫu tốt trên lâm sàng để có phân độ SLAP được chính xác hơn. Biên độ vận động khớp vai bên tổn thương, sau mổ 12 tháng có sự cải thiện có ý nghĩa về các động tác dạng vai, xoay ngoài và xoay trong so với 6 tháng sau phẫu thuật. Tổng điểm UCLA trung bình sau mổ 6 tháng là 27,78 ± 1,61 và sau 12 tháng là 32,13 ± 1,37. Sau 6 tháng phẫu thuật điểm VAS trung bình là 1,50 ± 0,50 và sau 12 tháng phẫu thuật điểm trung bình là 0,54 ± 0,50. Sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p