Và trong quá trình cộng cư với các dân tộc khác, đặc biệt dưới sự tác động của kinh tế thị trường, hôn nhân của cộng đồng Chăm Hồi giáo Bà ni ngày nay chuyển biến như thế nào?. Trong ch
Trang 1m - _ ị
ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÔNG NAM Á HOC
Ho vả tên sinh viên: NGUYÊN x u AN PHU On g
Mssv: 50300225- Lớp:DN03VHl
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
(CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA)
HÔN NHÂN CỦA CỘNG ĐỒNG
CHĂM HỒI GIÁÒ BÀ NI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Ị
i ị
Chân thành gửi lời cảm ơn đến thầy hướng dẫn luận văn tốt nghiệp - Ts Bá Trung Phụ Thầy đã tận tình chỉ bảo, cung cấp nhiều
tư liệu, hình ảnh, đồng thời luôn theo sát bên tôi trong quá trình hoàn thành đề tài này
4
Cảm ơn ông Đàng Năn g Thọ và bà N guyễn thị Bạch Cúc, cán
bộ trung tâm nghiên cứu văn hóa Chăm đã giúp đỡ tận tình trong quá trình thực tập tốt nghiệp
{ị
Trang 3n h ậ n x é t c ủ a g i á o v i ê n h ư ớ n g d ã n
Ị
i
/
Trang 5CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG CHĂM BÀ NI
1.1 QUÁ TRÌNH DU NHẬP CỦA HỒI GIÁO
1.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG CHĂM BÀ NI
CHƯƠNG 2: HỔN NHÂN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CHĂM
HÒI GIÁO BÀ NI
2.2.1 HỒN NHÂN ĐỒNG TÔN GIÁO
2.2.2 HÔN NHÂN ĐÔNG DẢN T ộ c
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Lý Do Chọn Đề Tài
Chăm một tron g 5 tộc người thuộc ngữ hệ Mã Lai đa đảo ở Việt Nam Là đối tư ợng được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, cư trú chủ yếu ở N am Trung Bộ, một phần ở Tp HCM và một bộ phận ở Tây Nam Bộ Trên lý th uyế t ngưòi Chăm chỉ theo 2 tôn giáo: Bà la môn và Hồi giáo n hư ng trên thực tế người Chăm chia thành 3 cộng đồng: Chăm Bà la môn, Chăm Bà
ni, Chăm Islam Trong quá trình truyền vào Cham pa Hồi giáo đã
bị bản địa hoá một cách mạnh m ẽ ^ đ ể hình thành nên “ đạo Bà n i ”
từ đó cộng đồng Hồi giáo Chăm Bà ni ra đời
Nghiên cứu về hôn nhân của cộ ng đồng Chăm Hồi giáo Bà ni
^clib chúng ta thấy được yếu tố Is la m bên cạnh yếu tố văn hoá dân tọc, thấy được những ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ lên hôn nhân của người Chăm Hồi giáo Bà ni Và trong quá trình cộng cư với các dân tộc khác, đặc biệt dưới sự tác động của kinh tế thị trường, hôn nhân của cộng đồng Chăm Hồi giáo Bà ni ngày nay chuyển biến như thế nào? n h ữ n g pho n g tục mới, n hữ ng quan niêm mới đang hình thà nh và phát triển ra sao? N g h iê n cứu vấn đề này sẽ giúp chúng ta giải đáp những thắc mắc trên đồng thời góp phần thực hiện chính sách kế hoạch h o á gia đình và nhiều chính sách khác của nhà nước đối với người Chăm
Trang 7Đề tài được kết cấu gồm hai chưong:
Ch ương 1: Khái quát về cộng đồng Chăm Hồi giáo Bà ni Trong ch ương này chúng tôi đề cập đến hai vấn đề: lịch sử du nhập của Islam giáo và quá trình hình thành cộng đồng Chăm Hồi giáo Bà ni
Chư ơng 2: Hôn nhân của cộng đồng người Chăm Hồi giáo Bà
ni Trong ch ương này chúng tôi đề cập đến các quan niệm, qui tắc về hôn nhân và đặc biệt giới thiệu lễ nghi hôn nhân của cộng đồng Chăm Hồi giáo Bà ni trong sự so sánh với Chăm Islam Nam bộ
Lịch S ử N g h i ê n C ứ u Đ ề T à i
Người Chăm và văn hóa Chăm đã được nghiên cứu hơn một thế kỉ qua Các nhà nghiên cứu người Pháp như: A L abussiere, Seplfonts, A L an ded , A B e rg a ig n e , C.L e rr ir e, C P aris nhưng đáng kể nhất là Aymonier Với các công trình của mình như “ Les Chams à Bình T h u ậ n ” và “Les Cham s et Leu rs R e l i g i o n s ” ông đã khái quát một cách sâu sắc về các lễ nghi liên đến hôn nhân của người Chăm
Từ những thập niên 50 của thế kỉ này đến tr ước 1975, ở Việt Nam mới xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu về Ch ăm với các tác giả như: Nghiêm Thẩm, N g uyễn Khắc N g ữ “ Mầu hệ C h à m ” ,
D oroh iem “ Lược sử C h à m ” , Thái Văn Kiểm “ Ảnh h ư ởn g Chiêm Thành trong nền văn hóa Việt N a m ” Đặc biệt đán g chú ý là
Trang 8Ngu yễn Văn Luận “Ng ười Chăm Hồi giáo ở Tây N am phần Việt
N a m ”
Từ sau 1975, đã hình thành một lực lượng lớn các nhà nghiên cứu người Việt và cả người Chăm: Ngô Văn Doan h “ Văn hóa
C h a m p a ” , “ Lễ hội Rija N ư g a r ” , Cao Xuân Phổ “ Điêu khắc
C h ă m ” , Phan Xuân Biên (cb) “Ng ười Chăm ở Thuận H ả i ” , “ Văn hóa C h ă m ” Và đặt biệt là luận án Phó Tiến Sĩ của Bá Trung Phụ
“Hôn nhân và gia đình của người Chăm ở Việt N a m ” đã đề cập một cách chi tiết và có hệ th ố n g nhất về hôn nhân của người Chăm Hồi giáo Bà ni Tuy nhiên n hữ ng côn g trình ấy đã được nghiên cứu cách đây hơn 10 năm không phản ánh được những thay đổi của cộng đồng Chăm Hồi giáo Bà ni về mặt hôn nhân trong xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trườnhg như hiện nay
Trang 9— Chăm nước ngoài.
đều khôn g thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phương Pháp Nghiên Cứu
Với đề tài: “Lễ nghi hôn nhân của cộng đồng Chăm Hồi giáo
Bà ni ở Ninh T h u ậ n ” chúng tôi sử dụng phương pháp của ngành dân tộc học, đặc biệt ph ư ơn g pháp điền dã, điều tra, khảo sát
là những phương pháp chính thức được thực hiện
Phương pháp mô tả, so sánh lịch đại và đồng đại cũng được
sử dụng tron g quá trình thực hiện luận văn, kết hợp với nhau để dựng lên bức tranh về hôn nhân của người Chăm Bà ni ở Ninh Thuận, vạch ra n hững điểm giống và khác nhau giữa Ch ăm Bà ni
và các cộng đồng Chăm khác
Nghiê n cứu các tài liệu in ấn có sẵn, các nguồn tư liệu trong các công trình nghiên cứu từ các lĩnh vực khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu ở đây Quan sát các hoạt động, các yếu tổ diễn
ra quanh đám cưới của người Chăm Bà ni
N guồ n tư liệu lưu trữ ở các thư viện khoa học xã hội, thư viện bảo tàng lịch sử Việt Nam, các tạp chí dân tộc học, khảo cổ học và các tạp chí khoa học xã hội
Tư liệu điền dã trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp ở
N inh Thuận, ở Trung Tâm N g h iê n Cứu Văn Hóa Chăm
Trang 10Ngoài ra chúng tội còn sử dụng ph ư ơn g pháp th ống kê bản
đồ, học phương pháp nghiên cứu xóm làng và lối sống dưới tác động của kinh tế, văn hóa, xã hội Và để minh họa một số nội dung cần thiết, các biện pháp kĩ th uật như chụp, sc an cũng được áp dụng
Nghiên cứu hôn nhân của cộng đồng Chăm Hồi giáo Bà ni dực trên cơ sở p h ư ơ n g pháp duy vật biện chứ ng và duy vật lịch
sử Mồi vấn đề được xem xét trong mối quan hệ nhiều chiều, giữa nó với toàn bộ cộng đồng người và với các nhóm khác nhau, xem xét sự tác động của các yếu tố tôn giáo, lịch sử giao tiếp văn hóa đến sự hình thành những đặc trưng riêng của nó
Trang 11CHƯƠNG 1:
SỤ DU NHẬP CỦA HÒI GIẢO VẢ QU;
HÌNH THÀNH CỘNG ĐÒNG CHĂM
' i ĩ
1.1 S ự DU NHẬP CỦA HÔI GIÁO
Trong văn ch ương dân gian Chăm còn lưu lại
N a i nai mưng Mưk ah
Blauh takaỉ nai dơh H a r ơ k kah H a r ơ k dhei
Trang 12buồm em đ i (1)
Theo Inrasara
(Phú Trạm) từ
Harơk đến Hrơk
dhei ứng với vương
quốc Chăm xưa từ
hội) thì 2 địa danh
trên ứng với vương
quốc Chăm thời
Trang 13Tống sử quyển |489, Liệt truyện thứ 28, tờ 1 đến tờ 6a viết về Champa nói về phần vật phẩm, có đoạn ghi: “ cũng có giống trâu núi, không dùng để cày bừa, chỉ dùng để tế quỉ Lúc sắp giết người ta khiến thầy cúng đọc lời chú nguyện rằng: A La Hòa Cập B ạ t” (2) Ngay dưới đó Tống sử đã giải thích: “ng hĩa là cầu cho sớm được siêu th o á t” Như vậy đó có phải là câu kinh mà mọi tín đồ Hồi giáo phải đọc trong mỗi lần làm lễ với động tác đưa đôi bàn tay lên chạm đến bên dưới hai vành tai Nhằm khẳng định và tôn vinh “th ư ợ n g đế Allah là đấng tối t h ư ợ n g ” Theo những phát hiện như trên của mình thì Huber đã khẳng định Hồi giáo đã đến C ham pa vào thời Tống, thế
kỉ thứ X, nhiều tác giả thời kì đó đều đồng ý như vậy Tuy nhiên các tác giả sau này khôn g phải tất cả đều tán thành nhận định trên
Một điều chắc chắn rằng qua 2 tấm bia tìm được, một cái có niên đại vào năm 1039, một cái được xác định có thời gian giữa 1025 và
1035 mà Rav aisse đã công bố trên tạp chí Á Châu (Jouranal Asiatique) 1922 đều chứng tỏ rằng từ giữa thế kỷ thứ X ở Phan Rang, Phan Rí đã có những người ngoại quốc theo Hồi giáo đến làm
ăn, buôn bán N h ư n g tại sao mãi đến thế kỉ thứ X n hữ ng người Hồi giáo mới đến buôn bán ở Champa, nghĩa là rất muộn so với những nơi khác và Trung Quốc Maspero cho rằng những th ương thuyền Hồi giáo thật sự đã qua lại Đông Dương trước đó nhưng Ch ampa có
q u a n h v ấ n đề n à y v ẫ n c ò n đ a n g t r a n h cãi
<~> P h an X u â n B i ê n , P h a n An, P h a n Vă n Dố p , V ă n h o á C h ă m , N X B K h o a h ọ c xã hội ,
1991
3
Trang 14-những điều kiện không thuận lợi: khí hậu, sự khó khăn trong kinh doanh và khai thác các sản phẩm, không có hải cảng tốt và có lẽ
cũng vì những biên chuyên chính tri Vì vậy tác giả đã khăn g định Hồi giáo du nhập một cách thành công cũng như duy trì niềm tin đối với Allah nhờ vào mối quan hệ giữa Champa và Indonesi a vào những
có những người mang tên bắt đầu bằng chữ p u hay bu hay bo mà ý kiên cho răng đó là biên âm của từ A rập Abu Tác giả còn cho biêt
thêm ở Quảng Đông có những gia đình người Hồi giáo gốc Ả rập
sinh sông mà trước đó đã từng sông ở Champa Từ đó M a uguin cho rằng vào thế kỉ thứ X ở Champa đã tồn tại một cộng đồng Hồi giáo gốc Trung Đông, họ có quan hệ với Ch ampa cũng như có quan hệ với những người cùng tôn giáo ở Nam Trung Quốc Và vua Chăm có thể
sử dụng những người này trong công việc buôn bán và ngoại giao với Trung Quốc N hưng thật sự những chứng cứ trên chưa đủ để đánh giá sự ảnh hưởng của Hồi giáo đổi với văn hóa Chăm Vì theo ông, thực sự khi nào triều đình và một phần đáng kể quần chúng nhân dân tin theo về Allah thì khi đó Champa mới bị Hồi giáo hóa
Vì vậy M aug uin chứng minh rằng phải đển nửa cuối thế kỉ XVII Champa mới được Hồi giáo hóa và khi đó hơn nửa dân số C ha m pa đã theo Hồi giáo Và để giải thích tại sao đến đầu thế kỉ XX, theo nhiều
Trang 15tài liệu chỉ có 1/3 dân số Chăm theo Hồi giáo, thì tác giả cho biết có
lẽ một sổ người Chăm theo Hồi giáo đã di cư sang Cambodia
Vào thời vua Cpế Mân (thế kỉ XIV) Ch ampa có mối quan hệ rất tốt đẹp với Java thô ng qua cuộc hôn nhân giữa ông và công chúa nước bạn Trong thời kì này hoạt động th ương mại của hai bên rất phát triển, những th uy ền buôn của Java đã có mặt khắp Đông Nam
Á Và chính trong những điều kiện thuận lợi này giới th ương nhân Chăm theo Hồi giáo đã hình thành Lúc bấy giờ ở làng Phư ơn g Hải (làng Bà Chăm) các họ trong làng không được làm tu sĩ (Bà xế), một
số họ giữ tục thiêu người chết, một số họ lại chôn Chú ng ta cũng biết rằng, nếu gia đình nào không theo Bà la môn giáo thì người trong gia đình đó khôn g được phép làm tu sĩ Bà xế, chúng ta cũng biết rằng người Hồi giáo khô ng thiêu mà chỉ chôn người chết Qua những cứ liệu như trên cho chúng ta khẳn g định hơn nữa ý kiến của Mauguin và Maspero về thời gian du nhập chính thức của Islam vào cộng đồng người Chăm
Một sự kiện quan trọng là năm 1676, linh mục M ohot cập bến ở Champa cho biết vua và một sổ dân là tín đồ Hồi giáo Năm 1685 cha Peret cũng đã xác nhận điều trên Các tài liệu của Hahan về Champa giai đoạn này có đề cập đến bức thư của vua Ch ampa gửi toàn quyền Batavia năm 1680, trong đó vua đã tự xưng là Paduka Siri Sultan, mà Sultan có nghĩa là vua của đất nước Hồi giáo
Như vậy thoạt đầu Hồi giáo đến với người Chăm bằn g sự hiện diện của một cộng đồng Hồi giáo gốc Trung Đông ngay trên đất Champa Nhưng chắc chắn người Chăm không chỉ tiếp xúc với Hồi giáo qua các th ương nhân trên đất của họ Chú ng ta biết rằng trong
5
Trang 16-thế kỉ XII- XVI, người Chăm đã có những hoạt động hàng hải khá phát triển Chính bằng con đường này họ đã tiếp xúc với Indonesia, Malaysia, Malacca mà từ thế kỉ XII ở những nơi này Hồi giáo đã giữ vai trò chủ yếu Đây có lẽ là con đường người Chăm tiếp nhận Hồi giáo Đến thế kỉ thứ XVII Cham pa đã được Hồi giáo hóa, đây là giai đoạn cực kì khó khăn của Champa Chiến tranh và thất bại, vương triều suy yếu, kinh tế chính trị trở nên rối ren, phức tạp Trong hoàn cảnh đó niềm tin vào Bà la môn giáo ngày càng giảm sút và một bộ phận dân chúng đã tin theo vào đức tin mà thiên sứ M oha m et truyền giảng.
1.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG CHẢM HỒI
GIÁO BÀ NI
Theo A ym onie r trong cuốn Les Tchames et leurs religio ns (1891) thì tên “ Ba n i ” xuất phát từ chữ Ả rập “B e n i ” nghĩa là “ những người con trai của đấng tiên t r i ” Từ này đã trở thành tên gọi của một cộng đồng Chăm ở Thuận Hải (Ninh Thuận- Bình Thuận xưa):
“ Chăm Bà n i” hay “ Chăm Hồi giáo Bà n i ” (1)
Cho đến nay việc tìm hiểu về quá trình hình thành cộng đồng Chăm Bà ni vẫn còn đang bỏ ngõ vì thiếu tư liệu Nhưng chắc chắn một điều rằng Chăm Bà ni được hình thành trước thời Minh Mạng Lúc bấy giờ triều đình Champa suy yếu, một số người Chăm trong Nam vào thời vua Minh Mạng đã theo tả quân Lê Văn Duyệt ủng hộ nghĩa quân chống quân triều đình Khi Lê Văn Duyệt thất bại, những người Chăm theo ông cũng bị triều đình tàn sát N hững người Chăm
(1) Phan X u â n Bi ê n , P h a n An, P h an V ă n D ố p , V ă n h o á C h ă m , N X B K h o a h ọ c xã h ộ i , 1991
Trang 17Bà ni là những đối tư ợng thân cận của Lê Văn Duyệt nên nhà Ngu yễn lúc bấy giờ đã đốt các thánh đường Hồi giáo và kinh Koran, lúc ấy nhiều người Chăm đã chạy sang Cambodia Đen thời vua Thiệu Trị, nhờ chính sách ân xá người Chăm Bà ni bắt đầu xây dựng lại thánh đường và khôi phục nền tảng giáo lý Cộng đồng Chăm ở Ninh Thuận ít có mối liên hệ với thế giới Hồi giáo bên ngoài nên vẫn còn giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống khác với cộng đồng Chăm Islam ở tây nam bộ: An Giang, Tây N inh
Trong thời Porome, một sổ tư liệu và văn bản Chăm có nhắc tới cộng đồng Chăm Hồi giáo Bà ni Đồng thời một số thư tịch còn đềcập đến sự hình thành và phát triển của cộng đồng này với một mức
độ khiêm tốn Vì vậy cho tới nay vấn đề này vẫn còn đang được
n g h i ê n c ứ u
Theo số liệu của Ban Tôn Giáo và Ban Dân Tộc Miền Núi Tỉnh Ninh Thuận, tổng số tín đồ Bà ni tính đến tháng 5/2000 là 22.113 người chiếm 39% người Chăm tỉnh Ninh Thuận
Chăm Bà ni
Trang 18-Bà ni có sự đan xen giữa các yếu tố Islam, các tín ng ư ỡn g bản địa và Bà la môn giáo (Bà ni= Islam+ văn hóa dân tộc +B à la môn) Các tập tục truyền thống và chế độ mẫu hệ vẫn còn in đậm trong tôn giáo Bà ni, thể hiện tính bản địa một cách sâu sắc Người Chăm Bà
ni theo tín ngưỡng đa thần, ngoài Allah còn có các vị thần dân gian khác được tôn thờ Nen tảng đức tin không được các tín đồ và kể cả các tầng lớp tu sĩ tuân thủ đầy đủ Điều đó hoàn toàn đi ngược lại với những qui tắc của Islam giáo, chỉ tôn thờ một Allah duy nhất và thực hiện đầy đủ 5 nhiệm vụ của một tín đồ Islam Vì tính chất bản địa hóa quá sâu sắc mà Islam ở Chăm Bà ni đã trở thành một tôn giáo khác, tôn giáo địa phư ơn g (tôn giáo dân tộc) “ đạo Bà n i ”
Thầy Achar vừa là tên gọi chung của chức sắc Bà ni vừ a là từ chỉ cấp thấp nhất tron g hệ th ống chức sắc Bà ni Có 4 cẩp tr ong hệ thống chức sắc, tính từ thấp đến cao gồm: Achar, Khotip, Imưm và
Pô Grù (thầy Cả)
■ Achar: bao gồm n h ữ n g người mới gia nhập hàng tu sĩ Tùy theo thời gian tu và khả năng, chức Achar chia làm 4 cấp là Jăm ak, Talavi, Pô sit, Pô prong mà lễ lên cẩp sẽ được tiến hành trong tháng chay Ramưvvan
■ Khotip hay Tip: người giảng giáo lý vào trưa thứ sáu, thánh lễ hàng tuần của Hồi giáo ở thánh đường Thầy Tip trong đạo Bà ni có nhiệ m vụ thực hiện một sổ nghi lễ tại thánh đường và tư gia mà không đảm nhiệm việc giảng giáo lý
■ Imưm hay Mưm: người điều khiển các buổi lễ vào trưa thứ sáu của Hồi giáo Tro ng đạo Bà ni thầy M ưm là người đã
Trang 19trải qua hơn 15 năm tu hành, được xem là thuộc hết kinh Koran và có khả năng thực hiện hết mọi nghi lễ trong đạo.
■ Pô Grù (thầy Cả): là thầy đứng đầu cộng đồng tôn giáo Bà
ni của một làng, ứng với mỗi thánh đường Bà ni Hầu hết các vẩn đề về đạo và đời đều do thầy Pô Grù quyết định như cho ngày tháng tổ chức các lễ cúng tư gia, điều hành
và phân công thực hiện các nghi lễ trong đạo, phối hợp với các thầy khác trong những nghi lễ đặc biệt như cầu đảo, lập làng, thánh đường mới
Để phụ trách những công việc chung của đạo và của tín đồ trong thôn, ở mỗi thánh đường Bà ni đều có một ban lãnh đạo do các tu sĩ
và các tín đồ có uy tín bầu ra N hiệ m vụ của ban lãnh đạo thánh đường là truyền đạt những quyết định về đạo của thầy Cả hay của tập thể tu sĩ cho tín đồ, tiếp nhận ý kiến, nguyện vọng của tín đồ, giải quyết các cuộc tranh tụ ng trong thôn Thành phần của ban lãnh đạo này gồm Mưdin (thuộc cấp Achar), Tip tan (cấp Tip), Mưm tan cấp Mưm Mỗi thành viên của ban lãnh đạo thá nh đường được chọn một cách dân chủ và không cùng thời gian với nhau nhưng có nhiệm kì 3-
5 năm
9
Trang 20-Trong tập tục mỗi dòng họ Chăm Bà ni cần có một tu sĩ để thực hiện các nghi lễ trong gia đình, dòng tộc theo nghi thức tôn giáo Các tu sĩ Bà ni mồi khi được tấn phong đều tổ chức rất lớn và cũng
có các kiêng khem giống như thầy Pasêh ở người Bà Chăm, tức là đang có vợ và vợ không được có kinh hoặc có thai trong ngày thụ phong
\
Kinh Koran trong tôn giáo Bà ni là những bản kinh được các thầy Achar sao chép lại của nhau bằng chữ Ả rập và được lưu truyền trong giới tu sĩ Xưa kia bản kinh được chép trên giấy gió phải mua bằng giá một con trâu Còn lệ phí học chữ làm thầy Achar có giá trị bằng một xe lúa (1 xe lúa=50 hộc, 1 h ộ c ^ l ỏ kg, vậy 1 xe lúa=800 kg)(1) Ngoài việc học thánh kinh Koran, các thầy Achar còn phải học cách thức tụng niệm, nghi thức hành lễ, cách tính lịch pháp theo lịch Islam và lịch Chăm (nông lịch cổ truy ền của người Chăm) Riêng với thánh kinh Koran, bắt buộc các thầy Achar phải thuộc lòng 20 câu đầu tiên, gọi là Ek Karah
Các tín đồ quani niệm rằng: thầy A ch ar là những vị có trách nhiệm thay mặt cho cộng đồng thực hiện các nghi lễ về tôn giáo như cầu nguyện mỗi ngày 5 lần, bố thí, nhịn ăn trong tháng chay
R a m ư w an C ác tín đồ không cần thực hiện các nguy ên tắc trên mà chỉ cần kiêng thịt heo và thịt của các loài bò sát Tất cả các bổn phận tôn giáo đều đựơc ủy thác hết cho thầy Achar Việc tổ chức đầy đủ
^ ^ N g u y ễ n Đ ứ c T o à n , À n h h ư ờ n g t ôn g i á o đối với t í n n g ư ỡ n g c ù a n g ư ờ i C h ă m ở V i ệ t
N a m , Đai học K h o a H ọc X ã Hội và N h â n Vă n
Trang 21các lễ nghi phong tục được xem như là đã chu toàn trách nhiệm thực hiện đức tin đổi với mỗi tín đồ Hồi giáo Bà ni.
Việc xuất hiện một tầng lớp tu sĩ là đặc điểm của Hồi giáo Chăm
Bà ni khác hẳn với Islam giáo, phản ánh ảnh hưởng của Bà la môn giáo đối với tôn giáo này trong quá trình phát triển cộng đồng người Chăm Sự kiện này cũng góp phần nói lên rằng Bà ni là một thứ tôn giáo biến thể của cộng đồng Chăm dưới ảnh hưởng của những yếu tố bản địa, đặc biệt là các tín ngưỡng dân gian, các phong tục tập quán
và của Bà la môn giáo
Các dịp lễ lớn trong năm của người Chăm Bà ni gồm mùa Ramưwan (tháng 9 lịch Islam, tức th á ng chay Ramadan), mở đầu từ những ngày tảo mộ cúng ông bà lúc gần bước vào Ram ưwan cho đến
Lễ ra chùa (còn gọi : là L ễ xả chay, nghi lễ kết thúc thá ng Ramưvvan
chay tịnh) và lễ Waha vào tháng 12 lịch Islam (đại lễ Royal Hadji của Islam) Ngoài ra người Chăm Bà ni ở Ninh Thuận còn có đại lễ Suk Yậng (kinh hội xoay vòng), theo lệ cứ 3 năm tổ chức một lần với ý ng hĩa tăng cường sự thông cảm, gắn bó giữ a các tín đồ Bà ni ở các làng Chăm Thứ tự các chùa tiến hàn h Suk Yâng vào các ngày thứ 6 ở bảy làng Chăm Bà ni ở Ninh Thuận là: Thàn h Tín, Văn Lâm, Phú Nhuận, Lương Tri, An Nhơn, Phước N h ơn và Tuấn Tú
Tháng chay R a m u w an là lễ hội quan t rọ n g nhất của người Chăm
Bà ni trong năm Ngay từ 25 tháng 8 lịch Chăm, các làng Chăm Bà
ni đã bắt đầu đi dãy mả (tảo mộ), rước vong linh ông bà tổ tiên về nhà, thiết lập một bàn thờ tạm trong gia đình và tổ chức lễ cúng ông
bà (ngăk mukkây) trước khi “ m ờ i ” ông bà đến chùa nghe các thầy
Trang 22Ahchar tụng kinh trong tháng Ramưwan Trong suốt tháng chay các thầy Achar phải túc trực trong chùa, không được về nhà Trường hợp
có công việc quan trống cần giải quyết tại nhà, chỉ được đứng ngoài sân trong ít phút để giải quyết rồi lại quay về chùa chứ không được bước vào nhà Mỗi ngày trong tháng chay, thầy Achar phải cầu nguyện 5 lần Trong 3 ngày đầu tiên tuyệt đổi kiêng ăn uống kể cả hút thuốc từ lúc mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn về đêm được
ăn uống bình thường Những ngày tiếp theo sau đó thì không phải kiêng ăn uống vào ban ngày nhưng phải kiêng thịt cho đến hết tháng chay Vào những giờ hành lễ ở thá nh đường Bà ni trong mùa Ramưvvan, người nhà các thầy Achar sẽ đội mâm cơm vào chùa, vừa
để cúng lễ vừa để các thầy Achar dùng bữa, lúc ăn cơm tu sĩ phải dùng tay đê lây thức ăn và chỉ ăn nửa bên phải mà thôi Và đê giữ cho thân thể sạch sẽ, tu sĩ phải tắm ít nhất mỗi ngày một lần, sau khi
đi tiêu phải tắm rửa thật kĩ, sau khi đi tiểu phải rửa tay chân thật sạch Thời gian sau buổi kinh tối trong thá ng R a m ưw an tại các chùa
Bà ni là dịp để mọi người trao đổi bàn bạc từ việc đạo cho đến việc đời ở trong làng, củng cố tình thân, xóa bỏ hiềm khíc h
Đêm 27 của tháng Ram ưwan tại thá nh đường có một cuộc họp nhân sĩ, những người có uy tín trong palay để bầu chọn cho các tu sĩ
ở cấp Achar, một vị có đạo đức và khả năng nhất vào ban lãnh đạo thánh đường gọi là Mưdin và làm lễ thụ chức cho ông ta Khuya dêm
29 hoặc 30, rạng sáng mồng một, các tu sĩ dùng bữa cơm cuối cùng
để làm lễ mãn tháng thụ trai Cơm này phải nấu với dừa, thức ăn phải có cá đuối, trứnng vịt, trứng gà Để chuẩn bị bữa cơm này, ngày
27 các nhà phải giã lúa lấy gạo mới Lúa được giã 7 lần, một phần để
Trang 23nấu vào đêm ngày 30, một phần đem vào chùa Tất cả được trộn lẫnvới nhau rồi đem biểu cho các tu sĩ Hình thức biếu gạo này có lẽ bắt
là để cúng tuần cho người quá cố Trong hầu hết các lễ tang đều có cắt cổ trâu để cúng tuần vào ngày thứ hai và cúng ngạnh dê vào ngày thứ ba của tang lễ mặc dù luật tục không bắt buộc phải giết trâu làm tuần, có thể làm gà hay cá nhưng do tinh thần báo hiếu cha mẹ, nên
dù có túng thiếu đến đâu chăng nữa, ai nẩy đều cố gắng giết trâu cúng tuần cho bằng được (với sự giúp đỡ củ a họ hàng)
Từ xưa đến nay Bà ni chưa bao giờ là một tôn giáo chính thống,
mà là một hình thức biến thể của Hồi giáo trong không gian văn hóa người Chăm, không thể tách rời khỏi văn hóa dân tộc Chính vì vậy
để thể hiện mối quan hệ với cộng đồng Chăm họ dùng thuật ngữ
“ A w a h ” và “ A h ie r ” để biểu hiện 2 cộng đồng Chăm bị ảnh hưởng bởi
2 tôn giáo khác nhau Chăm Awal tư ợng trưng cho nữ, mang âm tính:
13
Trang 24-đại diện cho Bà ni Chăm Ahier tượng trưng cho nam, mang dương tính:đại diện cho Bà Chăm Nếu chúng ta gọi Chăm Hồi giáo Bà ni là Chăm Awan thì có lẽ sẽ chính xác hơn và phản ánh đúng thực tế Tuy nhiên cách gọi Chăm Hồi giáo Bà ni là phổ biến nhất.
Người Chăm có câu “ Tujuh halâu, clâu b i m o n g ” nghĩa là “ 7 chùa
3 th á p ” Chăm Bà ni ở Ninh Thuận có 7 thánh đường tương ứng với
7 làng như sau:
6 PH Ư ỚC NH ƠN PA M B L A P B IRA W N IN H HÁI
Các làng trên không phải chỉ có cộn g đồng Chăm Bà ni sinh
sống mà còn có các cộng đồng khác, cụ thể như sau: Bà Chăm và Bà ni: palei Phú Nhuận, Bà ni và Islam; palei An Nhơn, Phước Nhơn,
Văn Lâm Các cộng đồng chung sống cùng một làng đựơc phân cách với nhau bằng bàng một con đường nhỏ chạy giữa làng Mồi làng Bà
ni bao giờ cũng có một thánh đường Tiếng Chăm gọi là Thang Mưgik, dân gian quen gọi là chùa Kiến trúc thánh đường Bà ni khác hẳn với kiến trúc của các thánh đường Islam Thánh đường Islam luôn có các tháp vòm với đỉnh nhọn phía trên, trong khi thánh đường
Bà ni có kiến trúc gần giống nhà tục truyền thống (thang yơ) nhưng
Trang 25mở cửa ở đầu Hồi hướng đông và không hề thấy xuất hiện tháp đỉnh vòm trên nóc thánh đường Không như ở các thánh đường Islam mở
•Ị
cửa mỗi ngày để các tín đồ đến cầu kinh, chùa Bà ni chỉ mở cửa vào thứ sáu hàng tuần, vào các ngày trong thá ng Ram ưwan và ngày trong dịp lễ Waha mà thôi
Văn hóa của cộng đồng Chăm Hồi giáo Bà được hình thành qua
sự tiếp thu Islam giáo trên nền tảng văn hóa truyền thố ng dân tộc, cộng với một vài yếu tố Bà la môn giáo để trở thành một nét đặc trưng riêng của người Chăm mang đậm bản sẳc dân tộc Vì vậy ở cộng đồng Chăm Bà ni, nhiều nét văn hóa được bảo lưu tr ong khi đó những nhân tố quan trọng đổi với Islam lại không được chú trọng
15
Trang 26Ở người Ê đê, Gia rai tuổi dậy thì được đánh dấu bằn g lễ cà răng, khi đó nam hay nữ mới được xem là đã trưởng thành và có quyền tự do đi tìm kiếm nguời yêu Nếu trai gái không cà răng đồng nghĩa với việc bị xã hội chê cười và không được tiến tới hôn nhân, chết không được về với tổ tiên Nghi lễ này có từ thời nguyên thuỷ Còn ở người Chăm Bà ni, tuổi dậy thì được đánh dấu bằn g lễ
“k a rơ h ” đối với nữ và lễ “kho t a n ” đối với nam Đây là nghi lễ chung cho các tín đồ Hồi giáo
Nghi lễ này đánh dấu giai đoạn nam và nữ được tự do tìm kiếm người yêu và tiến tới hôn nhân Nếu không qua nghi lễ trên, họ sẽ bị cộng đồng chê cười, khinh miệt Mặt khác khi chết sẽ không được làm đám tuần và chôn chung ở nghĩa địa dòng họ Vì người chết chưa qua nghi lễ đánh dấu tuổi thành niên được coi là “ ha r â m ” (xấu, không tốt)
Trang 27Lễ Karơh và Khotan được tổ chức chung một thời điểm do thầy
Cả quyết định và chung cho một nhóm, nhưng lễ Karơh cho các thiểu
nữ là quan trọng hơn cả Thông th ường lễ này do nhiều gia đìnnh tổ chức chung cho nhiều cô gái Khoản g 3 hoặc 4 cô một lượt, tối đa là
6 cô vì chỉ có 6 tên thánh để đặt cho mỗi cô một tên, cô gái của gia đình đứng ra tổ chức được gọi là Pô Thì Người ta dựng hai cái rạp, một cái làm nơi cử hành lễ và một cái dùng làm nhà ngủ cho các cô gái ở lại qua đêm Trư a ngày hôm trước thầy Cả và thầy Imưm đến nhà lễ đọc kinh, làm nghi thức khai mạc cuộc lễ Sau đó họ đi về nhà trong khi đó các cô gái phải ở lại túc trực tr ong nhà ngủ, không được
ra ngoài với bất cứ lý do gì Trong nhà này có các bà lớn tuổi ở chung để chăm nom các cô gái
-I ■
Sáng hôm sau, các cô gái mặc y phục đẹp nhất của mình và được một bà già và một người đàn ông mặc đồ trắng hướng dẫn sang căn nhà làm lễ Người đàn ông bồng theo một bé trai khoản g chừ ng 6 tháng tuổi đến một tuổi Em bé trai này là một nhân vật bắt buộc phải có trong lễ Karơh của các cô gái vì người ta quan niệm đã có
âm thì phải có dương Em bé phải là người của gia đình hoặc của dòng họ đứng ra tổ chức lễ, vì vậy nó cũng được gọi là Pô Thì giống như cộ gái đang chịu lễ của gia đình này
Le này là lễ thành đinh của các cô gái, đồng thời cũng là lễ ban tên thánh cho các cô, xác nhận là tín đồ Hồi giáo Vì vậy mỗi cô gái được thầy Cả và thầy Imưm đặt cho một tên thánh, gồm 1 trong 6 tên sau đây: A Mứ, A Yăh, Pì Yăh, A Mơ nới, Anh Mơly và Anh Nơly Các tên thánh chỉ được sử dụng trong lễ đạo, không th ông dụng trong đời sống xã hội th ường nhật
17
-TRHđHS ĐẰtHOCMỞTP.HCM
THƯ VIỆN
Trang 28Đứa bé trai Pô Thì được ẳm vào trước tiên để thày Cả hay thầy Imưm đọc vài câu kinh mở đầu buổi lễ và đặt cho nó một tên thánh.
Hâu như lúc nào các thây cũng chọn tên Hô Thanh đê đặt cho đứa bé trong lễ này và nó sẽ giữ tên thánh này suốt đời của nó Sau đó đến lần lượt các cô gái bước vào nhà lễ, đi đển trước Ôn Grù Ông đặt vào miệng mỗi cô một hạt muối, ngụ ý ràng các cô đang ăn chay để lời cầu nguyện của thầy có hiệu quả Ông lấy kéo cắt một ít tóc trên đầu cô gái, bỏ vào cái đĩa và đốt, rồi cho cô gái uổng một ngụm nước Ông đọc một vài câu kinh và ban cho cô gái một tên thánh Cô gái nào cũng chịu lễ như vậy, rồi trở về lại căn nhà ngủ tiếp tục cấm mình cho đến gần trưa Sau đó các cô ra khỏi căn nhà ngủ với bộ áo dài trắng, tóc phía sau ót được búi lên ngụ ý rằng các cô đã khác trước, lần lượt sang nhà lễ lạy tạ Ôn Grù và các thầy Imưm Buổi lễ kết thúc bằng một bữa tiệc khoản đãi tất cả những người có mặt
Lễ Khotan tổ chức cho n hững đứa con trai lên 15 tuổi Một cái rạp được dựng lên đệ từng em vào cho thầy Achar làm lễ Ông ta đọc kinh rồi dùng con dao đưa qua đưa lại trên đầu dương vật, thế là xong chứ không, cắt thật sự Lễ này mang ý nghĩa là một lễ thành đinh đồng thời là lễ nhập đạo của <Chăm Bà ni Kể từ đây người con trai có quyền lập gia đình và đồng thời trở thành một tín đồ Hồi giáo chính thức Vì vậy đây cũng là dịp để đặt tên thánh cho đứa trẻ Các tên thánh mà thầy Achar dùng để đặt tên cho các đứa trẻ trong lễ này thường là: Hô Thanh, Hô Thai, Lim Mứ Mút, Lim K h a n ,L im Mal, Lim Mươn, Lim Li Cậu trai hoặc cha mẹ của cậu phải nhớ tên thánh
mà thầy Achar đã đặt cho cậu ta để sau này có dịp được gọi lại
Trang 29Đối với người Chăm Islam, quan niệm lễ thành đinh chỉ áp dụng cho nam giới, nữ giới không có lễ thành đinh như Chăm Hồi giáo Bà ni, mà chỉ có tục cấm cung, khuê môn bất xuất, tức là không bao giờ được tự do nói ch uyện với con trai, dù người con trai đó ở trong dòng họ Mọi liên lạc của họ đổi với bên ngoài chỉ diễn ra vào ban đêm Và khi muốn đi ra ngoài, họ không được phép đi một mình
mà phải có người thân cùng đi Khi đi phải đội một chiếc khăn trùm đầu, che mặt người đàn bà nào ra đường không đúng như vậy bị coi
Theo tậ p.quán của mẫu hệ Chăm, nữ 16 tuổi có thể lấy chồng Tuy nhiên còn tuỳ thuộc vào hình dáng bên ngoài, sức khoẻ, khả
19
Trang 30-năng làm vợ làm mẹ chứ không chỉ căn cứ vào tuổi tác Ngày nay độtuổi lập gia đình càng tăng lên th ường là 18-20 tuổi, theo qui định
của nhà nước và cũng phù hợp với điêu kiện xã hội bây giờ
Nếu như phụ nữ từ 24 tuổi trở đi mà chưa lấy chồng bị coi là ế
“may p lầ u ” (gái lỡ thì) Đây cũn g là một lí do làm cho người phụ nữ Chăm Bà ni không dám học cao Tuổi kết hôn của nam giới không bị qui định chặt chẽ th ường là 18 tuổi trở đi, nhưng nếu ngoài 30 mà chưa lấy vợ vẫn là chuyện bình thường Tiêu chuẩn đổi với người phụ nữ phải nết na, thùy mị, giỏi công việc nội trợ như nấu ăn, quản
lý nhà cửa Ngoài ra còn phải biết kéo sợi, dệt vải, nuôi dạy con phải giỏi Tiêu chuẩn của người ch ồng lý tưởng trong xã hội Chăm Bà ni cần có những đức tính sau: vui vẻ, tháo vát, cần cù, gần gũi và có tinh thần trách nhiệm với cộng đồng Trong lao động nam giới phải thạo các công việc như: cày bừa, làm rẫy, ruộng, dựng n h à Đ ặ c biệt nam giới có học vấn cao thì rất được kính nể và được nhiều cô gái quan tâm Tuy nhiên điều này lại trái ngược với phụ nữ, người phụ
nữ có học vấn càng cao càng khó lấy chồng, thậm chí rất khó sống trong cộng đồng người Chăm Vì người Chăm Bà ni quan niệm rằng, con gái không đi xa, không cần hộc nhiều, phải sống quanh quẩn trong Palay để lo việc cúng kiến cho dòng họ Đó là một vẩn nạn của hôn nhân Chăm Bà ni ngày nay
Người Chăm Bà ni ngày xư a không coi trọng vẻ đẹp bên ngoài của người phụ nữ, vì đó khô ng phải là yểu tố quan trọng làm nên hạnh phúc gia đình N h ư n g nếu vừa có sắc lại vừa có nểt na thì được mọi người quí trọng và sẽ là đổi tư ợng mong muốn của giới trẻ Quan niệm đó vẫn tồn tại đến ngày nay và trong xã hội hiện đại nhan
Trang 31sắc của người phụ nữ được đánh giá một cách khác hơn Nếu như cô gái chỉ có sắc mà không giỏi việc nhà, không có những đức tính cần thiết của một người! vợ thì sẽ bị dư luận chê cười và rất khó lấy chồng Người Chăm có câu tục ngữ “ Siam mư nai tai adâu é ” nghĩa
là đẹp bên ngoài mà thối rửa bên trong và câu “ xạ mư nai mư tai adâu m ứt” nghĩa là xấu bên ngoài mà lòng dạ như vàng
Xã hội Việt Nam thời xưa rất coi trọng và xã hội Việt Nam thời nay cũng đánh giá cao quan niệm về trinh tiết, xem đó là một chuẩn mực đạo đức của người phụ nữ Mất trinh là một điều khó chấp nhận
và là nguyên nhân chính để hủy bỏ hôn nhân N gược lại người Chăm
Bà ni không coi đó là quan trọng, tuy nhiên họ cấm đoán việc quan
hệ tình dục trước hôn nhân, nếu vi phạm sẽ bị phạt rất nặng
Ở người Chăm Bà ni nếu như ngày trước con gái tuyệt đối phục tùng cha mẹ, được thể hiện rõ trong việc cưới xin, lấy ai làm chồng
là do cha mẹ quyết định Cho dù người con trai không hợp với mình nhưng hợp với cha mẹ, được cha mẹ cho rằng “ chàng rể hiền, tốt thì người con gái phải làm tròn bổn phận người vợ cho đến trọn đời mãn
k iế p ” Ngược lại chàng trai được lòng cô gái n hưng cha mẹ không đồng ý thì vẫn không được lấy như thường N gày nay những điều được nói như trên đã thay đổi, cha mẹ không bắt buộc con cái phải nghe theo ý mình mà để cho chúng tự tìm người mình yêu rồi tự quyết định đi đến hôn nhân Nói như vậy không có nghĩa cha mẹ không có vai trò gì trong hôn nhân của con cái mà chỉ nhẩn mạnh rằng quyết định cuối cùng trong hôn nhân của người Chăm Bà ni ngày nay thuộc về chủ thể hôn nhân Ở làng Văn Lâm đa phần trai gái ngày nay được tự do tron g tình yêu và được quyết định về hôn
21
Trang 32-nhân của mình Tuy nhiên việc đi chơi riêng với nhau chưa được thông thoáng như người Việt, ngay cả việc thể hiện tình cảm trai gái trước mặt người khạc vẫn là một điểu khó coi, ngay cả đổi với đôi trái gái sắp thành vợ thành chồng Một điều đặc biệt nữa là cho tới ngày nay người Chăm Bà ni vẫn cấm đoán việc quan hệ tỉnh dục trước hôn nhân, xem đó là một điều đáng xấu hổ, vì vậy nếu ai vi phạm sẽ bị phạt rất nặng.
Trong xã hội Chăm xưa hôn nhân không phải là việc kết hợp giữa hai cá nhân mà là xây dựng mối quan hệ của hai gia đình nhiều khi là cả 2 dòng họ Nhiều đôi trai gái được sắp đặt ngay từ khi mới
ra đời gọi là “váh n h ú k ” Trường hợp tảo hôn trước đây xảy ra rất nhiều nhưng ngày ngày nay hầu như không còn nữa, do ý thức và đời sống của người Chăm Bà ni ngày càng được nâng cao Đa số nam nữ Chăm bây giờ khi lập gia đình đều có công ăn việc làm tư ơng đổi ổn định, và khi họ kết hôn thì được sự giúp đỡ rất nhiều từ gia đình,dòng họ anh em để xây dựng mái ấm
Vả lại tư tưởng mình sinh con ra thì có quyền quyết định hạnh phúc của nó vẫn còn tồn tại dai dẳng Ngay cả trư ờn g hợp một đôi nam nữ
đã thề ước với nhau thậm chí đã có quan hệ vụng trộm với nhau trước khi cưới, nếu như gia đình cô gái không đồng ý vẫn không được lấy nhau như thường Trư ờng ca Ariya Chăm Bini đa phần là
Trang 33chuyện kể về những mổi tình ngang trái, oan khiên hai người yêu nhau mà vì một lý do nào đó họ không thể chung sống với nhau được.
“Ché tran, mưng xi k tan p r o n g
Mai liu ka ran Ona lo p ô nghi lai o i ”
Đ ể bụng từ thưở em còn thơ
4
Đen lớn em thuộc về ng ư ờ i ta
H ỏ i trời sai lại bất côn g
Ở chế độ phụ hệ người con gái lấy chồng sẽ trở thành người của gia đình nhà chồng và bổn phận đầu tiên là phải sinh cho được một người con trai để nối dõi tông đường (lo cho hưởng hỏa ) nhà chồng Neu người phụ nữ không sinh được con trai thì sẽ có tội lớn và trong nhiều trường hợp như vậy người đàn ông được phép lấy vợ khác để kiểm một mụn con trai Tuy người vợ cả vẫn giữ được vị trí của mình trong gia đình nhưng người đàn ông hay gia đình nhà chồng sẽ chăm lo cho người vợ nào đẻ được con trai hơn Nếu như người đàn
bà rơi vào trường hợp góa bụa thì xã hội sẽ rất coi trọng họ nếu họ quyết thủ tiết để thờ chồng Ngược lại đối với người Chăm Bà ni ngày xưa nếu đẻ toàn con trai thì không được tiến thêm một bước nữa (lấy chồng khác) mà chỉ xin người con gái của chị hoặc em mình làm con nuôi để phụng dưỡng Tập tục này ngày nay không còn nữa Trường hợp chồng chết xã hội xem việc lấy chồng khác là bình
23
Trang 34-thường Ngày nay người Chăm Bà ni không còn quan trọng việc con trai hay con gái nữa, tuy nhiên họ vẫn thích có người con gái trong gia đình, đặc biệt làịcon gái út Vì theo chế độ mẫu hệ, con gái út sẽ nhận trách nhiệm giống như người con trai trưởng của người Việt hay người Hoa (hương hỏa, cúng kiến trong gia đình) Người Chăm vốn thích đông con nhưng quan niệm sinh con phải phù hợp với điều kiên kinh tể gia đình đang được người Chăm từng bước thực hiện.
Theo Maspero: “Nhữ ng quả phụ Chăm không bao giờ tái giá và
để tóc mọc dài đến sau đầu Tuy nhiên theo phong tục Ẩn Độ thì vợ phải nên tự thiêu ngay trong giàn thiêu của người chồng, tục đó vẫn được coi trọng ở người C h ă m ”
Cũng như các dân tộc anh em khác ở Việt Nam, trước hôn nhân các đôi trai gái luôn ổó thời gian và cơ hội để tìm hiểu nhau Ở mồi dân tộc do hoàn cảnh địa lý, tập tục, quan niệm sống, điều kiện kinh tế, khác nhau mà hình thành nên những đặc tính khác nhau
Quá trình tìm hiểu nhau của trai gái Chăm có những phong tục
và tính cách riêng giữa các tôn giáo Tuy cùng theo Islam nhưng người Chăm Bà ni thoải mái hơn người Chăm Islam nhiều trong vấn
đề này Bởi vì Chăm Islam bị giáo luật qui định chặt chẽ, người phụ
nữ đi ra đường phải có cha, mẹ hay người thân đi theo, không được
đi một mình Khi đi phải mang mạn che mặt và không được đi chung hay đụng chạm thân thể với người khác giới
Thuật ngữ đi tìm bạn gái gọi là “ lnk g a r à ” th ường vào ban đêm nhất là những ngày có trăng Lúc ấy các chàng trai cọ cơ hội tụm
Trang 35năm tụm bảy kéo đến nhà cô gái nào đó để tán tỉnh và từ đó những tín hiệu đầu tiên sệ xuất hiện Một chàng trai người Chăm Bà ni muốn tìm hiểu một cô gái nào đấy, thì từ trước anh ta đã có một thời gian để ý, nếu cảm thấy hợp nhãn thì anh ta mới quyết định đến nhà chơi để tìm hiểu.
ị
Cách thức tìm hiểu kiểu truyền thố ng như sau, th ường là các chàng trai đến nhà cô gái sau bữa cơm chiều, đó là thời gian chẩm dứt lao động, mọi người trong gia đình đều có măt đông đủ, cũng là dịp các chàng trai chưa vợ muốn tìm người bạn đời
Giai đoạn đầu, các chàng trai kết thành nhóm từ 2-5 hoặc 8 người, th ường là những bạn bè chơi thân với nhau Trước khi đến nhà cô gái các chàng trai sẽ th ỏa huân trước ai sẽ là người ở lại ai sẽ
25