1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của triết lý khổng tử và vai trò của chữ tín trong các môi quan hệ hợp tác đa phương việt nam asean khóa luận tốt nghiệp đại học

91 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Triết Lý Khổng Tử Và Vai Trò Của Chữ Tín Trong Các Mối Quan Hệ - Hợp Tác Đa Phương Việt Nam - ASEAN
Tác giả Nguyễn Thị Tâm
Người hướng dẫn TS. Trương Giang Long
Trường học Đại học Mở - Bán Công Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa Đông Nam Á
Thể loại luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 1996
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 3,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thông những quan điểm mơi về thế giơi và con đương phát triển vừa độc lập vừa phụ thuộc lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia vơi toàn thể cộng đồng, giữa các nền kinh tế quốc gia đ

Trang 1

VIỆT NAM - ASEAN

(LUẬN VĂN TÓ T NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYKN NGÀNH

VẢN HÓA ĐỒNG NAM Á)KHỎA 1992 - 1996THUỔNG ĐẠI HỌC MỚ T P H c ir

Trang 3

NHẬN X É T CỦ A G IÁO V IÊ N HƯỚNG DAN

Việt Nam gia nhập ASEAN đánh dâu giai đoạn bước ngoặc ưong lịch

sử phát triển của dân tộc ta Bằng cách nào và làm gì để thúc đẩy quá trình hội nhập đạt kết quả tốt là vấn đề trung tâm của các hoạt động hiện nay Vì vậy việc tác giả luận văn lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của triết lý Khổng tử và vai

ưò của chữ tín ưong các mối quan hệ - hợp tác đa phương Việt Nam - ASEAN”, là sự thành công bước đầu theo hướng nhận thức này Đề tài cùng một lúc đáp ứng hai yêu cầu

Thứ nhất : thể nghiệm tốt nhất khả năng và ưình độ của người viết về chuyên ngành đào tạo của mình vào văn hóa Đông Nam Á Thứ hai : bước đầu vận dụng những kiến thức đã học tham gia lý giải một ưong những khía cạnh đang thu htìt sự quan tâm của xã hội : chừ tín nét đẹp trong văn hóa về lối sống, đồng thời là nhân tô" động lực của sự hội nhập, động lực của sự phát triển Chiều sâu của tri thức về văn hóa Đông Nam Á được tác giả diễn đạt mạch lạc, có sức thuyết phục xung quanh sự đánh giá và phân tích ảnh hưởng của triết lý Khổng tử đối với các nước khu vực Đông Nam Á VỊ trí của chữ tín

và ý nghĩa của việc cần phải khai thác nó tíong các mối quan hệ đa phương Việt Nam - ASEAN Giới hạn khuôn khổ bài viết và những nội dung thông tín trình bày trong luận văn thể hiện người viết có hiểu biết rất tốt về kiến thức Đông Nam Á Thành công của luận văn này thể hiện ở chỗ, những kiến thức ưình bày đẩ được chất lọc ở trình độ hiểu biết tốt Văn phong gọn, sấc, bố cục chặt chẽ Một sô vân đề thực tiễn được nêu ưong chương II thêm một lần nữa khẳng định, người viết không phải chỉ có kiến thức lỷ thuyết vững mà còn có khả năng vận dụng kiến thức đã học góp phần giải quyết những nhiệm vụ của đời sống Tuy nhiên đây là một đề tài lớn và khó, do đó luận văn không thể không có nhừng thiếu sót Lượng thông tin đưa vào bài viết nhiều hơn so với yêu cầu của một luận văn tốt nghiệp Đại học Cách lập luận đôi chỗ chưa chặt, trùng lắp Đánh giá về tổng quát yêu cầu của một luận văn tốt nghiệp Đại học ngành văn hóa Đông Nam Á, luận văn về cơ bản đã được đáp ứng ở ưình độ cao Nội dung ưi thức phù hợp với yêu cầu mà đề tài đã xác định Người viết còn có rất nhiều khá năng để tiếp tục phát triển cao hơn nữa Luận văn xứng đáng đạt danh hiệu xuất sắc ngành văn hóa Đông Nam Á

Trang 4

NHẬN X É T CỦA HỘI ĐồN G BAN GIÁM KHẢO

KẾT QUẢ :

TM Hội Đồng Ban Giám Khảo, ngày tháng năm 1996

Ký tên

Trang 5

LỜ I CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đơ của:

- Tiến sĩ Trương Giang Long đã cung cấp tài liệu, đọc sữa bản

thảo và hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này

- Giáo sư Nguyễn Quốc Lộc - chủ nhiệm khoa Đồng Nam Á, cùng

tất cả Quí thầy cô đã tận tình dìu dắt và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức quí báu từ những ngày đầu chập chững làm quen vđi Đỏng Nam Á Nếu không có những kiến thức cơ sở làm nền tảng đó, chắc chắn ngày hôm nay luận văn này đã không thể hoàn thành

- Cuối cùng tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đên Thư viện Khoa học Tổng hợp, ban thủ thư Thư viện Khoa học xã hội, gia đình, bạn

bè đã động viên và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Trang 6

Luận văn tot Tig Hiệp

PHẨN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Nếu như mãi đến cuôì thế kỷ XIX Đỏng Nam Á vẫn chưa được nhìn nhận rõ ràng như một khu vực địa lý - lịch sử - văn hóa - chính trị riêng thì đến chiến tranh thế giới thứ II và thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, Đông Nam Á mđi xuất hiện trên bản đổ chính trị thê giđi như một khu vực có những nét tương đồng rõ rệt Đến cuối thế kỷ XX, Đông Nam Á đã trở thành một trung tâm kinh tế thương mại, một khu vực lịch sử văn hóa đáng chú ý trên thế giới

Hệ thông những quan điểm mơi về thế giơi và con đương phát triển vừa độc lập vừa phụ thuộc lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia vơi toàn thể cộng đồng, giữa các nền kinh tế quốc gia đơn lẻ vơi nền kinh tê thế giơi

dã thể hiện nhãn quang khoa học và thực tiễn trong cách phân tích thế giơi hôm nay của Việt Nam và các nươc ASEAN

Thế giơi dó dầy mâu thuẫn bơi được phân chia không chỉ bằng hàng

rào ý thức hệ mà còn lợi ích dân tộc cũng như những sự khác biệt về tôn giáo, sắc tộc, song cũng lại phải chung sổng vơi nhau vì lợi ích chung toàn nhân loại

Dươi ánh sáng của đổi mơi tư duy chính trị quốc tế, Việt Nam đã xây dựng đưực cách nhìn mơi mẽ về các nươc láng giềng ở Đổng Nam Á và môi quan hệ của Việt Nam vơi các nươc đó

Các nươc thành viên hiệp hội ASEAN là những quốc gia độc lập, tự nguyện tập hợp vơi nhau trong tổ chức khu vực nhằm thúc đẩy hợp tác về kinh tê - chính trị, về văn hóa - xã hội vì sự phát triển của mỗi nươc cũng như toàn khu vực

Ngày 28-07-1995 Việt Nam đã gia nhập ASEAN và trơ thành thành

viên đầy đủ của tổ chức này Đó là một quá trình cổ gắng không ngừng từ

nhiều phía Vân dề đặt ra cho Việt Nam hiện nay là phải làm gì để hội nhập vơi các nươc thành viên

nhưng đồng thơi phải tìm về những cái chung, những nét tương đồng về văn hóa để có thể hội nhập vơi các nươc này

Cả hai lĩnh vực ây muôn đạt được ta cần phải thực hiện dựa trên những

nền tảng gì ?

Nếu như trong công cuộc đâu tranh giải phóng dân tộc chông lại chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, giành lại độc lập tự chủ cho Việt Nam, Đảng Cộng Sản đã dóng vai trò tiên phong, là linh hồn của cả dân tộc ; thì giơ

- 1

Trang 7

Luận văn tất nghiệp

đây trước những hiến động của thế giới : Liên Xô (cũ) sụp đổ, các nươe Đỏng

Âu rối loạn, và trước xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa Đảng Cộng sản Việt Nam lại một lần nữa vững tay lèo lái con thuyền đât nưđc vượt qua những hiến động đó, hội nhập vào khu vực và thế giđi nhưng vẫn đi theo định hương

xã hội chủ nghĩa Trong háo cáo chính trị trình Đại hội VII Đảng đã chủ trương “mở rộng quan hệ hợp tác vđi các nưđc trong khu vực” thì đên Đại hội VIII Đảng ta tiếp tục nhân mạnh “đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ hợp tác” vơi các nưđc ASEAN

“Đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ hợp tác”, đó cũng là nhiệm vụ chiến lược của các nươc ASEAN hiện nay Mục tiêu của nhiệm vụ chiến lưực này là mơ rộng các quan hệ hợp tác về kinh tê, chính trị, về văn hóa và xã hội Vân đề lại đặt ra cho các nước này là sẽ hợp tác như thê nào khi nền kinh tế giữa các quốíc gia không đồng đều nhau, chế độ chính trị rât khác hiệt nhau và văn hóa - xã hội còn rết nhiều khoảng cách về tôn giáo, sắc tộc ?

Cái mà chúng ta có thể dựa trên đó làm nền tảng vững chắc cho các

quan hệ, trao đổi và hợp tác đó là sự ảnh hương của triết lý Khổng tử và vai trò của chữ tín trong các môì quan hệ và hựp tác đa phương Viột Nam - ASEAN.

2 Lịch sử nghiên cứu vân đề:

Thời gian 4 năm học (1992 - 1996) cho Đông Nam Á học ! Những ngày đầu hước di chập chững, làm quen vơi Đông Nam Á học dươi sự hương dẫn của Giáo sư Nguyễn Quốc Lộc - Trương khoa Đông Nam Á học và của Quí thầy cổ Dần dần tôi đã say mê vơi Đỏng Nam Á, vơi những nền văn hóa

cổ truyền Đông Nam Á Tôi hắt đầu “có ý thức” tìm hiểu về “nó”

Ngoài việc tiếp thu các bài giảng của Quí thầy cô, tôi di tìm thêm sách

dể đọc Phần lơn sách của Viện Đông Nam Á xuất hản như :

- Các nưđc Đông Nam Á - lịch sử và hiện tại (ấn hành tháng 05/1990)

- Lịch sử Đông Nam Á hiện đại (Hà Nội, 1993)

- Việt Nam - Đông Nam Á : quan hệ lịch sử Đông Nam Á (NXB chính trị quốc gia, 1993)

- Văn hóa các nươc Đông Nam Á (1983)

Và tìm dọc những tài liệu Đông Nam Á được xuất hản trươc giải phóng như của tác giả Hall D.G.E - Đông Nam Á sử lược (hản dịch của Nguyễn Phúc Tấn) - NXB Khai Trí, 1968

Trong suốt quá trình học tập và tìm hiểu về văn hóa Đỏng Nam Á, tôi

dã đúc kết và rút ra được nhiều vân đề về sự ảnh hương của các nền văn minh

- 2

Trang 8

-Luận văn tốt nghiệp

lơn Ấn Độ và Trung Hoa đối vơi Đỏng Nam Á Các tác giả đều nói rất nhiều

về sự ảnh hương của văn hóa Ấn Độ và của Phật giáo Nhưng còn nền văn minh Trung Hoa vơi một giá trị lớn đó là triết lý của Khổng tử thì không thây hoặc ít thây các tác giả dề cập đến Đó là một điều khicm khuyêt

Năm 1993, Viện Đông Nam Á ân hành quyển “Việt Nam - Đông Nam

Á : quan hệ lịch sử Đông Nam Á” trong đó có bài viết “Khổng giáo với môi trương Việt Nam” của Phổ giáo sư Phan Ngọc Tìm về những tư liệu về Nho giáo thì cũng chỉ thuần túy viết về Nho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo đổi vơi Việt Nam

Trong hai năm gần đây, có nhiều sách, bài viết ngắn viết về sự thành công của một số’ nưđc Châu Á (Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore ) có đề cập đốn vai trồ của Nho giáo

Ngày nay, trong sự phát triển về giao lưu của các nưđc ASEAN ngày càng diễn ra trốn nhiều lĩnh vực Dưới góc nhìn của một người nghiên cứu về văn hóa, tôi lại muôn đi tìm sự ảnh hương của triết lý Khổng tử và vai trò của triết lý ấy trong sự phát triển và giao lưu giữa các nước Đỏng Nam Á

Tập luận văn nhỏ này muôn đóng góp sự suy nghĩ và sự hiểu biết rất hạn chê về việc tìm hiểu “ảnh hương của triết lý Khổng tử và vai trò của chữ tín trong quan hệ - hợp tác đa phương Việt Nam - ASEAN”

3 ĐỐỈ tưựng và phạm vi nghiên cứu :

Đôi tượng nghiên cứu của luận văn là sự ảnh hưởng của triết lý Khổng

Tử và chữ tín trong các quan hệ - hợp tác đa phương Việt Nam - ASEAN Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của triết lý Khổng tử đối vơi các nươc Đông Nam Á là nghiên cứu tổng thể nói chung những diễn biến về mặt lịch sử, về mặt đời sổng xã hội và sự ảnh hương cũng như tiếp nhận những giá trị triết lý Khổng tử của người dân Đỏng Nam Á Và thứ đến, nghiên cứu về chữ tín trong vai trò định hương cho các mối quan hệ - hợp tác đa phương Việt Nam - ASEAN

về mức độ của luận văn, tập trung nghiên cứu, phân tích những diễn biến của lịch sử và dơi sông văn hóa xã hội ơ các nươc ASEAN trong quá trình tiếp thu ảnh hương văn hóa Trung Hoa và triết lý Khổng tử Còn những diễn biên về kinh tê, chính trị và văn hóa - xã hội trong giai đoạn hiện nay dược dề cập đến trong phạm vi về chữ tín của Khổng tử mà thôi

Tuy nhiên, trong điều kiện tư liệu cho phép cộng vơi sự tìm hiểu thêm

từ thực tế cuộc sông, cơ những phần của luận văn được dề cập chưa düng mức

- 3

Trang 9

-Luận văn tất nghiệp

4 Phương pháp nghiên cứu :

Để nghiên cứu đổ tài này, luận văn căn cứ vào những lý luận, quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử; nghĩa là quan điểm về sự vận động cổ quy luật của phát triển xã hội qua các thời kỳ, động thái lịch sử, chủ nghĩa duy vật hiện chứng, tức là nhìn nhận, phân tích hiện tượng trên quan điểm duy vật và biện chứng các mối tương quan từ tự nhiên, xã hội

5 Bô' cục của luận văn :

Luận văn “Ảnh hưởng của triết lý Khổng tử và vai trò của chữ tín trong các môi quan hệ - hợp tác đa phương Việt Nam - ASEAN” gồm có 53 trang Ngoài phần mỏ đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia làm hai chương :

Chương I : Ảnh hưởng của triết lý Khổng tử đôi vđi các nưđc Đổng

Nam Á

Chương II : Vai trò chữ tín của Khổng tử trong các môi quan hệ - hợp

tác da phương Việt Nam - ASEAN

- 4

Trang 10

-Luận vãn tốt nghiệp

CHƯƠNG I : ẢNH HƯỞNG CỦA T R IẾ T l ý K H ổN G t ử ĐÔÌ v ớ i

CẤ C NƯỚC ĐÔNG NAM Á

1 Trong giai đoạn lịch sử:

Đông Nam Á như một khu vực lịch sử văn hóa Nền văn minh Đông

Nam Á cổ bên cạnh các nền văn minh khác ở châu Á, như văn minh Ân Độ

và văn minh Trung Hoa, với một hản sắc riêng, đã phát triển liên tục trong sự tiếp xúc và hội tụ văn hóa và đã có những đổng góp to lởn vào những thành tựu của nhân loại Đó là:

- Một cái nôi hình thành loài người

- Một cái nôi trồng trọt và một nền văn minh nóng nghiệp lúa nước và nghề biển cổ truyền

- Một hệ thông các quốíc gia cổ đại vđi những nền văn hóa dân tộc độc đáo

- Một cao trào giải phổng dân tộc triệt để.<u

Vđi “cái nôi trồng trọt” và một “nền văn minh nông nghiệp lúc nước”, như vậy đã xây dựng nên một mô hình văn hóa Đông Nam Á cổ truyền với ba

hệ thông chính:

- Hệ thống các sản phẩm vật chất của phức thể văn minh nông nghiệp

mà cây lúa là nhân vật trung tâm.<2)

- Hệ thống các tổ chức và thiết chế gia đình - làng - nưđc.( ,)

- Hệ thống các nghi lễ nông nghiệp, tín ngưỡng và các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian.<4)

Từ mô hình văn hóa Đông Nam Á cổ truyền vđi ba hộ thông chính như trên, chúng tôi đi vào nghiên cứu ảnh hưỏng của văn minh Trung Hoa nói chung và của triết lý Khổng tử nói riêng đôi với các nước Đông Nam Á

Nếu như nền văn minh Ân Độ, “vđi khuynh hưđng suy luận trừu tượng, coi trọng tính phổ quát, hướng vào bén trong” <5) đã phát triển rất cao

và dóng góp lđn lao vào đời sông tâm linh của cư dân Đông Nam Á bằng con

(1) Phạm Đức Dương, Việt Nam trong hối cảnh Đông Nam Á (Đề cương nghiên cứu tập hỢp ý kiến của nhiều nhà khoa học : Từ Chi, Trần Quốc vưựng, Hà Văn Tân, Nhữ Thành, Phạm Nguyên Long, Cao Xuân Phổ ) Tạp chí dân tộc học sô" 2/1981, trang 66.

Trang 11

Luán ván tó't rujhiép

dtíóng “truyén bá ton giáo hba binh”; thi nén ván minh Trung Hoa, mác dü dtíóc truyén bá theo con dufóng “mifu bá do vtíóng” nhiíng ván minh Trung Hoa va triét ly cüa Khong tu’ lai có ánh htíóng sáu sác den he tu" tifóng va tao

nén su" on dinh xa hói d các mide Bóng Nam Á.

Ván hóa Trung Hoa phát minh va phát trien tren dai luc Á Bóng rpng lón, phtíóng Bong la dai dt/óng ménh móng, ba be con lai la núi non húng vi

vá hoang mac bao la; thóng thiíóng tren bien va máu djch dufóng bo déu rát khó khan Vdi mói truóng dia ly ntía khép kín nhtí vay, he thóng ván hóa co dai Trung Quóc da có mpt có che" cách ly khá hoán bi: ngUÓi Trung Hoa sóng chính báng canh nóng vá nóng nghiép cüa dan toe náy, có ba dác diém ró ret:

- Coi tri ly nguón nifóc la cóng viec quan trong háng dáu, dan den dác triíng che do nhát thóng chuyén che vá dác triíng tám ly tíc che" cá tính, dé cao

y thtfc táp thé vá quyén uy cá biet.11’

- Sóng nhó trói, phu thuoe váo thién nhien, thuan theo thién nhién, vi thé'má phiíóng dién ké"t cá"u tám ly ton thó nguyén tác”thién nhán cám óng”, yéu cáu ve “thién” cao hón so vói yéu cáu ve “chán”.<2)

- Cupe sóng tuy gian kho song có sií bao dám nhát dinh, tao nén xu htíóng tám ly can “on ”, cáu “tlnh”.( í)

Vói triét ly thrfc dung vá phifóng pháp tií duy triíc quan, cu thé, nén ván minh Trung Hoa táp trung chü y den chính tri - xa hói, da tao nén mpt thiét che"het sifc chát che cüa che"dó quan chü, má tiéu biéu la hé thóng quan niém “tu thán, té gia, tri quóc, blnh thién ha” cüa Nho giáo *-

Theo nhiéu nhá khoa hoc thi các míóc chiu ánh hufóng ván hóa Trung Hoa truyén thóng déu có mó'i quan he “dóng ván”, ó dó su" thóng nhát quóc gia diíóc xáy di/ng tren mpt y thóc dán tóc cao, xa hói coi trong ván hóa giáo duc vá hinh thánh mpt dao ly sóng, mpt ló"i üng xü" mang tính cóng dong gán nhau

Thát váy, các niíóc Bóng Nam Á déu có mpt mói quan hé “dóng ván”

Vi la vüng trong lúa nifóc, nén Bóng Nam Á có mpt nén ván minh khá thuan nhát cüa cií dán nóng nghiép lúa ni/óc vói mpt phiíc thé góm ba yéu tó": ván hóa dóng báng, ván hóa núi, ván hóa bien, trong dó yéu tó" ván hóa dóng báng tuy có sau nhiTng chiém vai tro chü dao.<4' Bóng Nam Á la mpt khu vtfc du\íc dác triíng kién tao hói khí háu, thó nhiíóng cüng nhó dóng thóc vát khác nhau Cách dáy khoáng bón van nám1 2 3 4 (S) , khu vóc Bóng Nam Á la mpt ncíi

(1) Cao Xuan Phó, mot so van dé ve ván hóa vá phát trien ó khu vafe DNA, sách quan

hé Viét Nam - DNA, Vién DNA, tr 43.

Trang 12

-Luận văn tót nghiệp

chứng kiến bươc nhảy biện chứng từ người thương cổ thành người hiện đại

(người Homosapiens) Nơi đây đã diễn ra sự giao hòa giữa hai đại chủng Ôxtraloit và Mongôloit, kết quả đã tạo ra nhiều loại hình nhân chủng có sự kết hợp ở mức độ đậm nhạt khác nhau Đó chính là cơ sơ để hình thành những dân tộc khá thuần nhất về mặt nhân chủng và ngôn ngữ

Cư dân Đỏng Nam Á là những người đã sáng tạo ra nền văn minh nông nghiệp lúa nưđc Điểu đó, ngày nay đã được nhiều bộ môn khoa học, nhất là hộ môn sinh thái học, dân tộc học, khảo cổ học, chứng minh Các công cuộc cách mạng về đá mơi, thời đại kim khí và đặc biệt là giai đoạn dồng thau v.v dã lần lượt diễn ra trên toàn vùng này cùng vơi nền nông nghiệp lúa nưđc Giai doạn Đông Sơn - giai đoạn đồng thau cực thịnh, mà gần dây khoa học đã tìm thây cả ơ Việt Nam và các nước khác trong vùng như Indonesia, Thái Lan và Malaysia là một minh chứng rất sinh động

Có thể nói, hầu hết các quốc gia cổ dại Đông Nam Á đều hình thành trong quá trình chinh phục dồng hằng các con sông lơn và trong quá trình hội

tụ văn hóa xã hội Các quốc gia này dều lấy nông nghiệp lúa nươc làm chỗ dựa và xây dựng nên những nền văn hóa truyền thông mang sắc thái dân tộc dộc đáo, trong sự tiếp xúc hai chiều khác nhau vơi hai nền văn hóa Ân Độ và Trung Hoa

Sự hình thành các quốíc gia này gắn liền vơi việc tiếp thu ảnh hương văn hóa Ân Độ và Trung Hoa Và giữa các quốc gia vơi nhau vẫn thường xuyên cổ mối quan hệ, trao đổi văn hổa và sản phẩm, đồng thời phát triển bản sắc văn hóa riêng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc

Ảnh hương của văn hóa Ân Độ lan tỏa một cách sâu sắc trên phần lơn Đỏng Nam A Mức độ ảnh hương của văn hóa An Độ ỡ Đông Nam A tuy có rộng lơn và sâu xa, song cũng khổng thể phủ nhận một thực tế là vùng chịu ảnh hương của văn hóa Ân Độ cũng có ít nhiều ảnh hương của văn hóa Trung Quốc, của cả các tộc xung quanh, và ngược lại, vùng chịu ảnh hương văn hóa Trung Quôc cũng có ít nhiều ảnh hương văn hóa Ân Độ

¿Tuy quá trình hội tụ văn hóa Trung Hoa diỗn ra theo con dường “mưu

bá dồ vương”, mang tính áp đặt, đồng hóa các tư tương nươc lơn nên làm cho các nươc láng giềng e ngại, không sẵn sàng châp nhận ảnh hương văn hóa Trung Hoa trên các mặt tôn giáo, nghệ thuật, chữ viết Song, cái mà chúng ta không thể phủ nhận, đó là tư tương của Nho giáO|Và triết lý của Khổng tử đã ảnh hương sầu sắc đến đời sống tinh thần và đời sông tâm linh của vùng này

Khổng giáo xét con người trong quan hệ vơi những con ngươi và chỉ trong quan hệ ấy mà thôi Điều này hoàn toàn phù hợp vơi đời sống tinh thần của hầu hết cư dân nông nghiệp vùng Đông Nam Á Không phải ơ chỗ chinh phục vũ trụ như một số’ đạo giáo ở phương Tây, hoặc không phải ơ chỗ tìm sự liên hệ vơi linh hồn, vũ trụ, thần linh, thượng dê’ v.v như ớ đạo Hồi, hay ở

- 7

Trang 13

Có thể nói, chưa nơi nào có một lôì sống cộng dồng chặt chẽ như vùng Đỏng Nam Á Cũng chính vì sống bằng nông nghiệp lúa nước đã hình thành nơi đây lốỉ ứng xử của cư dân Đông Nam Á theo kiểu “trong họ ngoài làng, bán anh em xa mua láng giềng gần” hay “bầu ơi thương lấy bí cùng ”U) Một lôi sống coi trọng cộng đồng và tôn trọng lợi ích tập thể Vì vậy, Khổng

tử vơi chủ trương eủa ông là xây dựng quan hệ giữa con ngươi vơi con người trong cộng đồng, trong xã hội nhằm làm cho cộng đồng đó, xã hội đó ngày càng hoàn thiện hơn, sông doàn kết và có kỷ cương hơn, là hoàn toàn phù hợp vơi cư dân Đông Nam Á

^Khổng tử là ngươi luôn luôn sông mưu cầu cho một cộng dồng yên ổn, lương thiện Phàm làm việc gì ông cũng suy nghĩ tính toán trưđc sau, xem việc làm của ỏng (ngươi quân tử) hương cho dân (kẻ tiểu nhân) theo hương thiện hay không? Ngay cả việc ông khuyên dạy học trò hay tham chính cho vua Lỗ và các tương quốc của nươc Lỗ Trong sử ký Tư Mã Thiên có chép về thơi kỳ Khổng tử tham chính tại Lỗ (năm 502 - 496 trươc công nguyên): “Uy tín của Khổng tử ngày càng lên mà nươc Lỗ hóa ra thịnh trị Những ngươi bán thịt ơ chợ không nói thách nữa; trên đương đàn ông đi một bên, đàn bà đi một bên; của rơi ngoài dương không ai nhặt, dân các nươc xung quanh lại Lỗ làm

ăn mỗi ngày một nhiều” Như vậy thì lơi Khổng tử: “Có ai dùng ta thì một năm kỷ cương dã khá, ba năm sẽ thành công” <2) không phải là một lơi nói quá Chính vì vậy, người dân Đông Nam Á đã biết cách “dùng Khổng tử” cho cộng dồng của mình

“Hệ thông các tổ chức và thiết chế gia đình - làng - nươc” là một trong các hệ thông của mỏ hình văn hóa Đỏng Nam Á cổ truyền Ngươi dân ơ dây von dã sản sinh ra nền văn hóa nông nghiệp lúa nươc và vì vậy mồ hình về

“các tổ chức và thiết chế gia đình - làng - nươc” đôi vơi họ là cần thiết Khác vơi cư dân du mục ơ những nơi khác, sống cuộc dơi phiêu du rày đây mai đó, không có buộc mình vào một tổ chức cộng dồng nào cả Ngược lại, đã là cư 1 2

(1) Phạm Đức Dương, Việt Nam trong bối cảnh ĐNA, tạp chí dân tộc học số 2/1981,

tr 68.

(2) Luận ngữ, hài XIII 10 (Bản dịch của Nguyễn Hiến L ê).

- 8

Trang 14

-Luận vãn tất nghiệp

dân nông nghiệp lúa nưđc buộc anh phải sông nương tựa vào cộng đồng và đề cao ý thức cộng đồng; hay nổi cụ thể hơn đó là ý thức trách nhiệm đôi vơi gia đình - làng - nươc

Chính Khổng tử là người đầu tiên, phát hiện ra cái nguyên lý bât tử: Sông là có trách nhiệm Trách nhiệm đỏi vơi chính mình, vơi những người xung quanh mình Chính vì vậy, ông cho là yêu người, giúp người là đức tính cao quí nhất Cho nên, khi Phàn Trì hỏi về đức nhân, ông đáp: “Nhân là yêu người” và sau khi Tử Lộ (2) tỏ chí hương của mình là mong được giàu sang

để bạn bè cùng hương chung, hỏi lại ổng về chí hương của ông, ông đáp: “ta muốn các nguời già được an vui, các bạn bè tin lẫn nhau, các trẻ em được chăm sóc, vo vê

ông biết là trong xã hội có nhiều người xấu, nhưng cách xử sự của ông vừa nhân vừa trí Ông bảo: “khổng tiên liệu rằng người ta gạt mình, đừng ươc đoán rằng người ta không tin mình, nhưng gặp người như vậy, mình biêt được ngay như vậy là hiền đấy” <4)

Ông ghét một số người như bọn “xảo ngôn lệnh sắc” <5) , bọn “mồm mép lợi khẩu” 1 2 3 4 5 (6) , bọn “hương nguyện” (7) 8 , ghét người “nói điều xâu của kẻ khác, ghét kẻ dươi mà hủy báng người trên, ghét kẻ dũng cảm mà vô lễ, ghét người quả cảm mà cô"chấp” <8) ; ghét kẻ bóc lột kẻ khác dể làm giàu, và một lần ông muôn đuổi Nhiễm cầu đi, không nhận là học trò của mình nữa vì Nhiễm Cầu nghe lời của chủ là Quí Thị, thu thuế nặng của dân (9)

Nhưng ông cũng khuyên không nên ghét bỏ ai thái quá, nhất là kẻ bất nhân, và không cho họ cơ hội để ăn năn, gạt bỏ hẳn ra thì họ sẽ nổi loạn(l0) 11

Và ông khuyên người ta phải khoan hồng, nhất là những kẻ ơ địa vị cao: “Bậc trên mà không khoan hồng, trong việc tê" lễ mà không nghiêm túc, gặp việc tang mà không bi thương, hạng người như vậy còn có gì cho ta xét nữa?”' 1"

Nêu ai muôn tu chỉnh, xin học ông dù dĩ vãng không tốt, ông cũng thâu nhận Chính vì quan diểm của ông - là con ngươi phải sống có trách nhiệm, trách nhiệm vơi xã hội và vơi từng con người một trong xã hội â"y - nên gặp ai dù là ngươi tốt hay người xâu, nhưng dã là một con người của xã hội, của cộng đồng thì ông đều có ý thức trách nhiệm vơi ngươi đó, ý thức

(1) Luận ngữ, hài XII 22.

(2) Tử Lộ là một trong những môn sinh của Khống Tử, rất giỏi về võ bị.

(3) “Lão giã an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giã hoài chi” Luận ngữ, bài V 25.

(4) Luận ngữ, bài XIV 31.

(5) Luận ngữ, bài I 3.

(6) Luận ngữ, bài XVII 18.

(7) “Giả đạo đức, làm bộ cao thương” Luận ngữ, bài XVII 13.

(8) Luận ngữ, bài XVII 24.

(9) Luận ngữ, bài XI 16.

(10) Luận ngữ, bài VIII 10.

(11) Luận ngữ, bài III 26.

- 9

Trang 15

-Luận văn tốt nghiệp

“điều chỉnh” người đó, hướng họ vào con đường thiện, lánh xa con đường ác

và có như vậy xã hội mđi không có nổi loạn

về điểm này, cư dân nông nghiệp lúa nước vùng Đông Nam Á đã áp dụng “quan điểm” của Khổng tử rất tôt, rât triệt để Thật vậy, kho tàng về chuyện cổ tích Đông Nam Á đã dẫn chứng cho chúng ta rất nhiều về vân đề này Thử đi vào tìm hiểu chuyện cổ tích Sơn Tinh, Thủy Tinh của ta về cuộc chiến đâu giữa cái thiện và cái ác; về sức mạnh trị thủy của con người “nhân”, con người “thiện” và kết cuộc, cái gì thuộc về “nhân”, về “thiện” thì ắt sẽ thắng Ớ Thái Lan hay Indonesia cũng có mẫu chuyện cổ tích tương tự như vậy Tất cả những mẫu chuyện của các nước Đông Nam Á vào thời đó đều là những hài học, những “triết thuyết” để hướng con người, hướng cộng đồng vào một lỏi sông tốt hơn để vươn tđi chân, thiện, mỹ

Đôi với Khổng tử và đôi với người dân Đông Nam Á cũng vậy Con ngươi xã hội, con ngươi cộng đồng là con ngươi sống có trách nhiệm Trách nhiệm vơi gia đình, làng, nước, xã hội, loài ngươi Chính giá trị của con người dưỢc khẳng định qua trách nhiệm

Đôi vơi dạo Khổng, điều quyết định là anh phải tuân thủ những qui tắc tạo thành cái dẹp của những quan hệ xã hội: hiếu vơi cha mẹ, lẽ vơi anh em, tín vơi hạn hè, nhân nghĩa vơi mọi ngươi Cư dân nồng nghiệp lúa nươc Đỏng Nam Á để có một lối sống theo tổ chức các thiết chế gia đình, làng, nươc - một lối sổng cộng đồng rất chặt chẽ Ý thức về cộng dồng của họ rất cao và vì vậy các qui tắc, chuẩn mực về quan hệ cộng dồng, xã hội cũng được đặt ra và đòi hỏi các thành viên phải thực hiện hết sức nghiêm ngặt Điển hình cho ý thức này là hình ảnh về tổ chức từ ngôi làng ơ Đông Nam Á

Làng là một thiết chế xã hội - chính trị rất chặt chẽ và đặc trưng của cư dân vùng Đông Nam Á Ở đây, trong mỗi ngôi làng đều có thiết chế về trật tự trên dươi rất rõ ràng Đứng đầu là già làng, người cổ quyền uy tối cao và được tất cả mọi thành viên trong làng tin cậy và tôn trọng Tổn trọng về nhân cách, về lối ứng xử và cả về cách giải quyết những công việc cổ liên quan đến làng Vì vậy, yêu cầu đặt ra cho một ngươi ơ cương vị “già làng” rất cao, đòi hỏi ơ con người đó phải có đầy đủ tài, đức thực sự để được mọi người kính

và trọng Hơn nữa, già làng còn có vai trò là một “tâm gương” để điều chỉnh

và hương thiện cho cộng đồng, ơ đây, vì điểm “chính giá trị của con ngươi dược khẳng định qua trách nhiệm” được làm nổi bật

Gia đình là một đơn vị tổ chức gần gũi nhất và quan trọng nhất đỏi vơi ngươi dân Đông Nam Á Trong khuôn khổ gia đình cũng có trật tự trên, dươi,

có kỷ cương nề nếp rất rõ ràng Ví dụ đôi vơi tập tục của ngươi Indonesia thời xưa, con dâu trong gia đình muốn thưa chuyện gì vơi cha mẹ chổng thì phải

đi đến buồng của cha mẹ và phải đi trong tư thế cuối đầu Còn ngược lại, ngươi cha không bao giờ đặt chân tơi buồng của con dâu, nếu cần việc gì thì gọi con dâu đến hầu v.v Cũng như ơ Việt Nam ngày xưa, trong vấn dề về hôn nhân theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó ”

- 10

Trang 16

-Luận vãn tỏ't nghiệp

Ở đây, chúng tôi không bàn đên việc đó là “cổ hủ” hay “phong kiên” (vì đó là tập tục của người xưa ỏ các nước Đổng Nam Á) mà chỉ đề cập tđi khía cạnh làm nổi bật cách thiết chê, tổ chức một gia đình, một làng và cách quan hệ ứng xử của người Đổng Nam Á Và vì vậy, vđi đạo Khổng: “điều quyết định là anh phải tuân thủ những nguyên tắc tạo thành cái đẹp của những quan hệ xã hội: hiêu với cha mẹ, lễ với anh em, tín vđi bạn bè, nhân nghĩa với mọi người; trong mọi việc phải “cần, kiệm, liêm, chính” biêt kìm chế bản thân theo lễ, biết tu thân <n khi vào đến Đỏng Nam Á đóng một vai trò củng cô', bổ sung cho các qui tắc chuẩn mực ứng xử của cộng đồng Thực vậy, triết lý của Khổng tử cốt lây sự “sinh” làm trọng hon cả Khổng giáo sở

dĩ không giông các tôn giáo khác cũng chính ỏ quan niệm “sinh” của con người mà thôi Thường tôn giáo nào cũng cho sự sông là một cảnh khổ, cho nên phải tìm cách giải thoát; như Phật giáo thì cầu lấy sự “bất sinh”, Lão giáo thì cầu lấy sự “vô vi tịch mịch” (không thiết gì đến sự đời) Còn Khổng giáo thì lấy “sự sinh” 1 (2) 3 ở đời làm vui thú Vì vậy triết lý của Khổng tử là triết lý hướng vào con người, vào các mối quan hệ ứng xử giữa người với người

Ỷ Khổng tử là người rất coi trọng học vân, nhưng phải là học vân được

biểu hiện dưới một hình thức đẹp đẽ Ồng là người đầu tiên mở trường tư (tư học) cho mọi hạng người: “hữu giáo vô loại” 1,1 để đào tạo những con người lương thiện, có lễ nghĩa Ỏng dạy đủ lục nghệ như chương trình các trường công, dạy sử đời trước (Thư), môn ăn nói (Thi), các thể chê' về nghi lễ (Lễ)

và ông bắt học trò phải thực hành cách cư xử vơi cha mẹ, anh em, vơi vua, vơi bạn, vơi mọi ngươi V

Chữ “văn” của Khổng tử, về thực chất đó là học vân và công cụ trưđc hết là ngôn ngữ Xã hội ơ các nươc Đông Nam Á là xã hội coi trọng văn hóa giáo dục Không nơi đâu về chữ nghĩa học vân đưực coi trọng như các nước này

Chữ văn gắn bổ vơi chữ lễ Chữ lễ trươc tiên chỉ dùng để nói cách thờ thần, tổ tiên cho được phúc, tức là chỉ cơ nghĩa cúng tê' thuộc về đường tông giáo mà thôi Sau dùng rộng ra, nó gồm cả những qui củ mà phong tục và tập quán của xã hội đã thừa nhận Vậy lễ vơi ý nghĩa là một, có thể lây làm qui

củ cho hành vi, cổ thể tùy thời mà thay đổi cho hay hơn, khổng phải cô' chấp hay cổ lễ, cựu tục làm hạn chế Chữ lễ hiểu theo một nghĩa rộng hơn, là hình thức, nghi thức để tạo nên các quan hệ Mọi quan hệ đều được hình thức hóa thành qui tắc ứng xử cho cả hai bên để đạt đến sự hài hòa xã hội Do đổ, cái

mà phương Tây gọi là qui tắc xã giao thì ơ các nươc Nho giáo là lễ Lễ chi

(1) Phan Ngọc - Khổng giáo vơi môi trường Việt Nam Sách : quan hệ Việt Nam - ĐNA, tr 182.

(2) Sự sinh ở đây đước hiểu theo nghĩa là cách sông và lôi ứng xử giữa người với người, và giữa con người với cộng đồng, xã hội của người đó.

(3) Luận ngữ, hài XV 38.

Coi thêm nhà giáo họ Khổng - Nguyễn Hiến Lê - c ả o Thơm 1973.

Trang 17

Luận văn tôt nghiệp

phôi tất cả: trong gia đình là hiếu, trong đôi xử vđi mọi người là nhân, là nghĩa, là trí, là tín

Nền văn minh nông nghiệp lúa nước đã sản sinh ra ở Đỏng Nam Á một hệ thông các nghi lễ nông nghiệp, tín nghưỡng chỉ xung quanh cây lúa nước thôi mà ở đây đã có biết bao nhiêu là nghi lẽ về nó Ở Việt Nam có lễ

hạ điền, lễ khai điền; ơ Malaysia thì có lễ cắt lúa, lễ mừng lúa về nhà; ở Thái Lan thì có lễ cúng mừng lúa trổ bông Thường thì các lễ này diễn ra ở một dein vị làng và đưực chuẩn bị rất long trọng, chu đáo Một phần khổng thể thiêu trong các buổi lễ nông nghiệp ở đây là phần nhạc Tiêng trông đồng, tiếng cồng, chiêng là những thứ âm thanh chủ đạo trong những buổi lễ tê (1)

Đặc biệt, ở Đông Nam Á Lễ và Hội bao giờ cũng đi liền nhau Bao giờ cũng phần Lễ xong là đến phần Hội, phần vui chơi, giải trí trong không khí văn hóa dân gian Không phải cư dân Đông Nam Á chỉ có các nghi lỗ về nông nghiệp không thôi mà họ còn có rất nhiều nghi lỗ khác liên quan dến quá trình sinh tử của một con người Bắt đầu từ lúc chuẩn bị sinh ra, lúc bà mẹ mang thai, thì đã có một nghi lễ gọi là lẽ “bắt đầu làm m ẹ” cho người mç (ỏ Indonesia và Malaysia) và lễ cầu cho dứa con ra dời dược “mẹ tròn con vuông”, khi lơn lên chuẩn bị đến tuổi vị thành niên thì lễ “cắt da qui đầu” ỏ Thái Lan, Campuchia Indonesia , đến tuổi lập gia đình thì lễ hỏi, lễ cưđi Và

lễ cuối cùng của một đời người đó là lỗ tang Có thể nói, không nơi nào có nhiều nghi lễ trong một đời sông con ngươi như ơ Đỏng Nam Á; và có quá nhiều nghi lễ trong một năm Cư dân Đông Nam Á quanh năm suốt tháng dắm mình trong nghi lễ và không khí văn hóa dân gian, ơ đây, trước khi đưa

ra quan niệm về lễ - nhạc của Khổng tử, chúng tôi rất muôn nhân mạnh, khỏng phải chúng tôi khẳng định nghi lễ của cư dân Đỏng Nam Á có được là

do ảnh hương lễ - nhạc của Khổng tử <2)

Lỗ-nhạc là phần trọng yêu trong sự giáo hóa của Khổng giáo Lễ- nhạc

có quan hệ rất mật thiết đến luân lý, phong tục và chính trị.Lễ phân ra trật tự khác nhau, để cho nó có thứ vị phân minh, nhạc hợp lại thành một, cùng dồng một thể để mà điều hòa hành động U) Chính vì lễ - nhạc dược hiểu theo nghĩa sâu xa như vậy, cho nên nổ được dùng làm điều cơ bản đổ dạy người và 1 2 3

(1) Có lẽ vì vậy mà hiện nay, trống đồng được coi như một hiểu tượng trung tâm của nền văn minh nông nghiệp lúa nước ĐNA.

(2) Có một luận cứ cho rằng ĐNA đã có lịch sử hơn 4000 năm, trong khi Khổng tử ra đời chỉ vào năm 551 trước CN ; thì không thể có chuyện các nước ĐNA chịu ảnh hương các tập tục về lễ - nhạc của Khổng tử.

(3) “Thiên cao địa hạ, vạn vật tán thù, nhi lễ chế hành hỹ Lưu nhi hất tức, hợp đồng nhị hóa, nhi nhạc hưng yên” : trời cao đất thấp, muôn vật khác nhau, cho nên thánh nhân mới nhân đó là định ra lễ chế dể phân tôn ti trật tự Trời đất và vạn vật lưu hành không nghỉ, rồi hội hợp khí tính cho điều hòa, để hợp đức mà sinh dục, thế mơi thành ra có nhạc vậy Lễ ký, nhạc ký, X IX.

Trang 18

Luán ván tó't nghiép

tri thién ha, khien ngüdi ta cu" xü, hánh dóng cho hdp nhán dao <4) Chü le ó dáy doi vdi Khong tü düdc hiéu theo cáe hám y, các mué dích la dé cho con ngüdi tü dó má nuói düdng tính tinh Khong tuT rát dé cao ve cái hoc, va trong cái hoc cüa óng trong ve tính cám hdn la ve ly trí (nhü da nói yéu cáu ve

“thién” cao hdn yéu cáu ve “chán”) Óng cho ráng moi si/ lien he cüa con ngüdi cüng do ndi tinh cám má ra Vi váy, óng rát chü y gay nén nhiéu tinh cám tot va có uy tính doi vdi nhiéu ngüdi, hay nhin xa hdn dó la cüng la sü hinh thánh dao “nhán” Vdi muc dích náy, chü Le có hám y den dao düc

Chü Le con có hám y gilíp con ngiídi dinh le phái - trái, hiéu diídc müc

do quan he thán - sd va dinh cho diídc trát tü tren dtídi ro ráng Dinh diídc nhü váy sé biét diídc cách üng xü ra sao va cho phái dao

Có phái vi nhüng muc dích sáu xa hdn chü “le ” cüa Khong tü nhü da néu tren má da có mot két luán cho ráng: “Khong tu* chü trüdng khong chóng lai nhiíng tín ngüdng (nghi le) có sán, má su" dung các tín ngüdng áy dé phuc

vu ldi ích xa hoi” (4‘)

Quan trong hdn níía nhiíng düc tính can có la : chính, kính, tín, le, nhán Ve diíc chính Óng dé cáp den thuyét chính danh : “Danh có chính thi ngon mdi thuán, ngon có thuán thi viéc mdi xuói”

Düc kính (cung kính), den vdi Khong tü rát can thiét cho khí tiídng cüa mot ong vua ( “cü kính hánh gián”) Bon chü “cü kính hánh gián” la tóm tát tü cách cho mot óng vua va la chính sách tri dan cüa Khong tü

Néu chi thiéu düc kính thói má van biét yéu dán, lo cho dán, chí thiéii cái uy nghi cüa óng vua thói Trái lai, thiéu düc Tín (giü ldi vdi dán dé cho dán tín minh) thi khong chính quyén nao düng vüng düdc

Luán ngü, bái XII 7 có chép ve viéc Tü Cóng hói ve phép tri dán, Khong tü dáp :

- Lüdng thüc cho dü, binh bi cho dü, dán tin chính quyén

Tü Cóng hói thém :

- Trong ba diéu dó, néu bát dác di phái bó mót thi bó diéu nao trüdc ?

- Bó binh bi

Tü Cóng lai hói : 4

(4) “Tién vüdng chi thé le nhac gia, phi di cüc kháu phúc nhí muc chi duc gia, tüdng

dT giáo dán binh hié'u 6, nhi phán nhán dao chi chính gia” : Tién vüdng che' ra le

nhac khong phái la dé lám cho cüng cüc cái duc cüa miéng, bung, tai, mát nhüng

dé khien dán giü lóng hiéu ó" cho vüa phái, má süa lai cái dao lám ngüdi cho chính váy Le ky, nhac ky, XIX.

(^) Phan Ngoc : Khong giáo va moi trüdng Viét Nam Sách quan he Viét Nam - DNA,

tr 181.

- 13

Trang 19

-Luận văn tot nghiệp

- Trong hai điều còn lại, nếu bất đắc dĩ phải bỏ một nữa, thì điều nào trước ?

- Bỏ lương thực Từ xa xưa vẫn có người chết, nếu dân không tin chính quyền thì chính quyền phải đổ (dân vô tín bất lập)

Ông giảng về tín cũng nhiều gần bằng giảng về lễ Ông dạy học trò 4 môn (điều) thì trong đó có hai là hành và tín Muôn tín thì phải thành thực, cho nên Ổng rất ghét hạng người “xảo ngôn lệnh sắc” cho họ là không có lòng nhân (1), làm loạn đức 1 (2) 3

Xã hội Đỏng Nam Á là xã hội rất coi trọng chữ tín, họ xây dựng những môi quan hệ dựa trên lòng tin cậy lẫn nhau, vơi họ, nếu như đã “một lần bât tín” thì “vạn lần bất tin” <3)

Học thuyết của Khổng tử là tâm lý luận Nó bất tử vì con người có những nhu cầu tâm lý như nhau

Đông Nam Á, vơi nền văn minh nông nghiệp lúa nước đã hình thành nên một đời sổng văn hóa rất riêng biệt và độc dáo Chính nền văn minh nồng nghiệp lúa nươc đã mang lại ở đây một lỏi sống và ứng xử mang tính cộng đồng chặt chẽ Đông Nam Á vơi ý thức cộng đồng luôn được đề cao triệtđể

Khổng tử là người đã được sinh ra và lơn lên trong một xã hội có nền văn minh nông nghiệp trồng lúa ơ đó, về lối sông và cách ứng xử cũng mang tính cộng đồng Đốì vơi Khổng tử, ông xây dựng một con ngươi xã hội mà lại

là con người của cộng đồng Vì vậy, con người mà ông hương tơi là con người đưực cả cộng đồng yêu thích, kính trọng mà nhơ đến mình Hay nói khác đi, vơi Khổng tử đó là con người “quân tử” Con người “quân tử” vơi ông lại là con ngươi cai trị Để là một con người cai trị, ỏng đòi hỏi ơ ngươi đó cần phải

có cái gọi là “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”, phải am hiểu về ngũ kinh: Thi, Thư,

Lễ, Nhạc, Dịch, và phải thông thạo về lục nghệ

Triết lý của Khổng tử đề cao con ngươi “quân tử”, xây dựng một xã hội, một cộng đồng dựa trên các nguyên tắc, chuẩn mực mà những nguyên tắc, chuẩn mục này đều lấy yêu tô" cộng đồng làm nền tảng Vì vậy, khi vào đến Đông Nam Á, những triết lý của Khổng tử đã có tính thích nghi cao độ và

dc hòa đồng vơi tín ngương bản dịa và đời sông tinh thần của cư dân Đông Nam Á

(1) Luận ngữ, bài I 3.

(2) Luận ngữ, bài XV 26.

(3) Tục ngữ, ca dao Việt Nam.

- 14

Trang 20

-Luận văn tôt nghiệp

2 Trong giai đoạn hiện nay:

Bươc vào thời kỳ cận đại Đồng Nam Á đứng trước hai thử thách nghiêm trọng: một là, sự ngưng trệ của xã hội tiểu nông và sự bết lực của chê

độ quân chủ; hai là, sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân và sự đối mặt của nền văn minh phương Tây Dĩ nhiên, người Đỏng Nam Á không đồng nhât kẻ xâm lược vơi nền văn hỏa phương Tây Bản tính người Đổng Nam Á không ngăn cản họ tiếp nhận những ảnh hương văn hóa hiện đại mà trong đó hàm chứa những tinh hoa tốt đẹp, nhân bản và tiến bộ Ý thức độc lập dân tộc, một lần nữa lại đóng vai trò soi sáng và điều chỉnh cho việc tiếp nhận văn hóa Nhiều thành tựu lơn, nhiều tư trào lơn của văn hóa phương Tây (Tây Âu) nhât

là phương Tây hiện đại, đã góp phần đổi mơi diện mạo và phát triển văn hóa hiện đại của các nươc Đỏng Nam Á Mặc dù nền văn hóa của các nươc phương Tây rất khác phương Đỏng, mặc dù còn đầy những mặc cảm dân tộc, nhưng cuối cùng, vơi mong muôn giải phóng và phát triển đất nưđc, các nhà yêu nước, các trí thức dân tộc đã vận động quần chúng nắm lấy các cổng cụ văn hóa phương Tây dể xây dựng nền văn hóa mơi Chí trong một thời gian ngắn đã diễn ra một quá trình cấu trúc hóa lại toàn bộ văn hóa trên mọi lãnh vực vơi tốc độ ngày càng gia tăng Mọi vấn đề đều dược đặt lại: nhân cách, gia đình, làng xã, chính trị, xã hội, kinh tế

Ngày nay, xây dựng một xã hội công bằng văn minh đòi hỏi chúng ta phải trơ lại những truyền thông tốt đẹp từ ngàn xưa Truyền thông cổ khía cạnh hoạt động bằng lập lại và nhờ thế mà nổ đóng vai trò điều tiết, kiểm soát den vơi hoạt động và tiến trình đời sổng xã hội Quan trọng hơn truyền thông cung cấp kinh nghiệm cho các thế hệ đời sau Nhưng mặt khác truyền thống còn là cái dưực k ế thừa, cái đưa vào đời sống hiện đại, cho nên nó cũng

có tính hiện đại Có thể nơi truyền themg là môi quan hệ lịch sử, mà một đầu

là những giá trị tư tương, văn hóa đưực sáng tạo trong quá khứ dân tộc, và một dầu là sự thẩm định, xác lập và phát huy của người hiện đại Vì vậy, có thể nổi truyền thông là các giá trị quá khứ mang ý nghĩa hiện đại Ớ đây, người hiện đại không hổ giản dơn lập lại mẫu mực cũ, mà chủ động tích cực xác lập phát huy truyền thống

Khổng tử và triết lý của ổng đã có ảnh hương sâu sắc nhất định đến

việc hình thành những thang giá trị, những chuẩn mực của xã hội truyền thông Đông Nam Á Các nước Đông Nam Á trong giai đoạn lịch sử đã chịu nhiều ảnh hương của triết lý Khổng tử Các quan niệm về giá trị đạo đức, len ứng

xử, cách xã giao gần như nhất quán trong toàn vùng mà bao trùm trên đó là hình ảnh của Khổng tử và hệ thông triết thuyết của ông Thì ngày nay, trong

một giai đoạn mơi, trong các quan hệ mơi, những giá trị đó vẫn còn và được

tiếp tục phát huy ảnh hương

Thứ nhất, nói về chữ lễ của Khổng tử ơ Đồng Nam Á Ở đây, chữ Lễ cũng dược hiểu theo hai nghĩa Đó là những nghi lễ nông nghiệp, tập tục thời cúng ông bà, tổ tiên Và là lễ trong quan hệ, xã giao

- 15

Trang 21

-Luận văn tốt nghiệp

Các nghi lễ vùng Đổng Nam Á vẫn còn giữ được và lưu truyền cho đến ngày nay ĐƯỢC khái quát lên thành những ngày hội văn hóa dân gian của dân tộc

Các ngày hội đâm trâu, đua ghe ngo, hội chơi trăng, lễ té nưđc cầu mưa giờ đây đã trở thành những ngày lễ hội chung của toàn vùng, trong một sắc thái riêng biệt và độc đáo của Đông Nam Á

Trong quá trình phát triển có những truyền thông phải mất đi, song có những truyền thông phải được bảo tồn Một điều nổi bật rất đặc trưng của người dân vùng Đông Nam Á là từ lâu đời họ đã có tín ngưỡng thờ cúng ông

bà, tổ tiên, về điều này đã kiến cho ổng J Delumeau - giáo sư trường College de France đã nhấn mạnh “điều rất quan trọng cho người phương Tây, qua hình ảnh của những người anh em châu Á và châu Phi là đã tìm thây lại đạo thơ cúng những người đã khuất mà con ngươi ngay từ buổi đầu lịch sử của mình đã tôn thờ Đạo đó đã biểu hiện ỏ đây một tính độc đáo không thể nào xóa bỏ được”

Trơ về lịch sử vùng Đông Nam Á Khi cư dân vùng này bắt đầu sống bằng cây lúa nước mà trong tay họ không cổ một chút gì về khoa học kỹ thuật thì niềm tin của họ vào các hiện tượng siêu nhiên, thần thánh tất yếu được nẩy nơ Họ thờ cúng tất cả các vị thần, các đấng siêu nhiên, linh hồn của tổ tiên ổng bà mong có đưực sự phù hộ cho họ sông yên ổn

Nền văn minh Trung Hoa đến vơi vùng này, mang theo trong đổ là đạo Khổng vơi triết lý của Khổng tử Triết thuyết của ổng điều đầu tiên được nói đến là lễ Đốỉ vơi Khổng tử “lễ ” trong hai đôi tượng: lễ đốỉ vơi những ngươi đã khuất và lễ trong quan hệ đôi xử giữa ngươi vơi người, giữa người vơi xã hội Lễ đối người đã khuất để thể hiện lòng tôn kính, tri ân đối vơi tổ tiên, để từ đó nhắc nhơ thế hệ sau, những ngươi còn đang sống vơi nhau ý thức hơn về trách nhiệm của mình đối vơi gia đình, dòng tộc, xã hội, loài ngươi và cũng từ đó mà điều chỉnh mình cho thật hoàn hảo toàn diện trong các môi quan hệ giữa ngươi vơi ngươi trong xã hội

Toàn bộ ý tương đó đã được người dân vùng Đông Nam Á lĩnh hội, duy trì và phát triển cùng vơi những tập tục, tín ngưỡng bản địa của mình để đưa nó lên một cấp cao hơn vừa mang tính nhân bản vừa mang tính dân tộc độc đáo

Hiện nay các nươc Đông Nam Á vẫn còn giữ tập tục thơ cúng và giỗ ông bà tổ tiên, ơ Việt Nam ta thì có tục cúng cơm tuần cho ngươi chết vào bảy tuần lễ đầu tiên và một trăm ngày sau khi chết Và sau đổ là giỗ hàng năm Vào ngày này con cháu qui tụ về, trươc là tương nhơ ông bà, tổ tiên sau

là để anh em họ hàng gặp gơ nhau trao đổi và nhắc nhơ nhau sống như thế nào để xứng đáng với ông bà tổ tiên , dòng tộc

- 1 6

Trang 22

-Luận văn tòt nghiệp

Ở Indonesia cũng vậy, tục làm giỗ ngày thứ 7, thứ 40, thứ 100 và thứ

1000 không phải là qui định của đạo Hồi, mà đổ là tập quán chung về cúng giỗ tổ tiên của người Indonesia

Tập tục thờ cúng tổ tiên ngày nay đã được khái quát lên thành một nét văn hóa cổ truyền Đỏng Nam Á đổ là ngày hội Tiêt Thanh Minh và ngày Hàn Thực Thanh Minh là lễ tiết hàng năm trong dời sổng văn hóa của con người Đông Nam Á được tổ chức vào ngày 45 sau ngày Lập Xuân, 105 ngày sau ngày Đỏng Chí, tức vào ngày 5 tháng 4 Dương lịch Tiết Thanh Minh là một tập tục cổ truyền đáng trân trọng Đó là ngày lẽ nhắc ta nhớ tđi khởi thủy của một kiếp người, nhắc ta sống thế nào để giống nòi mãi trường tồn trong vòng quay của vũ trụ bao la Người dân Đông Nam Á ngày nay đã biên những tập tục của họ thành những ngày hội rất hiện đại nhưng cũng rất truyền thông

Đó là diều người dân Đông Nam Á đã giữ được cho đên ngày nay mặc

dù trước sự “xâm thực” của các đại giáo khác: đạo Hồi, Kitô giáo, Thiên Chúa giáo Đây cũng là một cách tiếp nhận văn hóa rất uyển chuyển, linh động của người Đỏng Nam Á Họ sẵn sàng chấp nhận hất kỳ tôn giáo nào khi đên với họ (không kỳ thị dị giáo) nhưng đồng thời họ vẫn giữ được những tín ngưỡng truyền thông của bản địa

Cho dù ngày nay khoa học kỹ thuật đã phát triển mạnh mẽ ỏ châu Á,

sự sung túc dã làm thay đổi mạnh mẽ đời sông tinh thần của người dân châu

Á Song những nghi lễ, những tín ngưỡng từ thời xa xưa vẫn sổng mãi cho đến nay Nói như ông Chandra Mittal - người Ân Độ : “Chẳng có gì mâu thuẫn giữa việc tiếp nhận kỹ thuật và giữ niềm tin dã có từ lâu dời” Theo ông Alan Chan Kam Leung - giảng viên triết học trường Đại học quốc gia Singapore, thì ỏ bất cứ cộng đồng người Hoa đáng chú ý nào mốĩ quan tâm tđi những hành vi tín ngưỡng truyền thống đều đang tăng lên Hiện nay tại Philippine, nưđc mà đa số dân theo đạo Thiên Chúa và chịu ảnh hưởng nặng nề các nước

tư bản phương Tây ; cũng như hai quốic gia có sự thông trị của đạo Hồi là Malaysia và Indonesia niềm tin vào các hiện tượng siêu nhiên vẫn nẩy nở Họ vẫn còn có các quan niệm về trời đất, thánh thần và họ vẫn tin vào đó

Khổng tử vơi quan niệm về đạo của ổng: “đạo là cái lý tự nhiên của trời đất, là con đường rộng ai cũng phải qua, cũng phải theo mà đi, tức là cái công - lệ trung - chính để làm qui tắc cho hành động của người đời” (1) Khổng

tử luôn tin có trời Làm việc gì cũng phải thuận ý trời, bằng trái ý thì đổ không phải là ngươi quân tử mà đổ là hành động của kẻ tiểu nhân Ổng luôn luôn tin khi làm việc gì cũng có trời đất hay thánh thần quan sát Có một lần ting bị ép phải thề không bao giờ được đặt chân tơi nươc Vệ nữa và ông đã thề Nhưng sau dó ồng vẫn qua Vệ Thấy vậy, học trò của ông thắc mắc tại sao Ông trả lời vì đó là lơi thề bị ép buộc nên khi ông thề thần thánh sẽ không nghe <2)

(1) Nho giáo, Trần Trọng Kim, tr 58.

(2) Nguyễn Hiến Lê, Luận ngữ (bản dịch).

TRtXMG SẠ IH Q CM dĩP.H CM

- - - - r f

THƯ VIỆN

Trang 23

Luận văn tốt nghiệp

Chính vì tin có trời đất, thánh thần nên ông xây dựng đạo của ông dựa trên cơ

sỏ đó

Sách Trung - Dung chép rằng “Trọng Ni tổ thuật Nghiêu Thuân, hiên chương Văn Võ, thượng thuật liên thời, hạ tập thủy thổ: - Đức Trọng Ni tổ thuật đạo vua Nghiêu Thuấn bắt chước phép vua Văn, vua Võ trên theo trời

mà quyền hiến, dưới tùy thủy thổ mà an vui Đạo của Khổng tử theo ở sự làm diều lành, điều phải bao giờ cũng cảm thấy “ung dung”, không thây áy náy điều gì Đạo của ông cứ theo lẽ thường thì làm, việc phải thì làm, giữ lương tâm cho sạch, cho sáng suốt đừng để tư lợi, tư dục làm dơ bẩn Mọi việc mình làm hựp vđi lệ thương, hợp với lương tâm thì sẽ có trời nhìn thấy, có thần thánh chứng giám

Chữ Lễ của Khổng tử ngoài cái nghĩa lễ đối vơi những bậc thần thánh, những người đã khuất, thể hiện lòng tôn kính, tri ân đôi vơi tổ tiên, dòng tộc (và tin rằng sẽ có những vị thần thánh khuất mặt luôn theo dõi và thây dược những hành động, ý nghĩ vì vậy phải sông sao cho hợp vơi cái lẽ tự nhiên của trời đất, thần thánh đó); còn cổ một ý nghĩa khác Đó là Lễ trong quan hệ đối

xử giữa người vơi ngươi Khổng tử quan niệm rằng Lễ muím cơ được là phải

do Nhân mà ra, vì vậy “Nhân là gốc mà Lễ là ngọn” (1) Và theo ông muôn

có được nhân tốt thì đòi hỏi phải có nghĩa, có trí, có tín, có hiếu, cơ trung

Trong quá trình phát triển, các hủ tục, mê tín dị đoan phải mất di, song

cổ nhiều truyền thông phải được bảo tồn ngay cả khi xã hội phát triển nhanh chóng Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự xâm nhập mạnh mẽ của công nghệ và lối sống phương Tây đã không làm mất đi bản sắc các dân tộc Đông Nam Á Các phong tục, tập quán, lễ hội, nề nếp gia đình vẫn tồn tại

và phát triển vơi những nét độc dáo riêng của phương Đỏng Kính trọng cha

mẹ, thầy cô giáo, coi trọng đạo lý, làm việc thiện, ghét cái xấu, cái ác vẫn là những chuẩn mực dược xã hội trân trọng, dược bảo tồn và trơ thành nội lực quan trọng của sự phát triển

Theo các chuyên gia, thành công của các nươc Đổng Nam Á (Singapore, Thái Lan, Malaysia ) bắt đầu từ gia đình Trươc hết nói về gia đình hiện đại, gia đình văn minh, con người Á Đông mãi mãi là một con ngươi coi trọng gia đình và cuộc sống gia đình Đỏi vơi con người và là con người châu Á, gia đình là thiêng liêng Ở đó tính chính trực người dược nuôi dưỡng

và những giá trị tốt đẹp được truyền từ đời này sang đời khác

Trong những năm của thập niên 80, thủ tương Singapore - Lý Quang Diệu và thủ tương Malaysia - Mahathir Mohamad là những ngươi di đầu cho cuộc đấu tranh gìn giữ bản sắc dân tộc Đông Nam Á và mạnh mẽ chống lại sự can thiệp của nươc ngoài vào đời sống chính trị xã hội của khu vực Những nguyên tắc, nội dung cơ bản gồm những giá trị: gia đình, tổn trọng chính

(1) Nguyễn Hiến L ê, Khổng tử - “đức nhân và đức lễ ”, tr 152

- 18

Trang 24

-Luận văn tût nghiệ-p

quyền, nhất trí trong quyết định và quyền lợi tỏi cao của cộng đồng đôi với cá nhân

Trong một lần trả lời phỏng vấn tạp chí “Tâm Gương” của Cộng Hòa Liên Bang Đức, thủ tướng Malaysia nhấn mạnh : “trong một nền dân chủ ở

Đông Nam Á, thiểu sô" và cá nhân phải được hưởng quyền tự do Tuy nhiên,

các quyền tự do này không được đặt lên trên quyền lợi của đa sổ Chúng tôi yêu cầu sự tổn kính người già, những cơ câu gia đình ổn định, sự tôn trọng cộng đồng ”

Trong cuốn sách “văn hóa và đổi mơi” Cô vân Phạm Văn Đồng cũng

đã nói trở lại hệ thống gia dinh - làng - nước Chúng ta phải thấy mối quan hệ hữu cơ, sự gắn bơ ngược xuôi giữa ba cơ cấu, chính trị và xã hội mà sức mạnh tổng hợp của nó liên quan mật thiết đê" sự tồn tại và hưng thịnh của cả dân tộc.”

Theo các nhà phân tích, trong sô" mười chính sách có hiệu quả ở Đông

Nam Á, có các chính sách sự cam kết xã hội giữa nhà nước và nhân dân Nhà nươc bảo đảm những nhu cầu cơ bản, luật pháp và trật tự, còn nhân dân tôn trọng chính quyền; một môi trường đạo đức trong sạch; có trách nhiệm xã hội

Giáo dục là điều mà các nước Đông Nam Á luôn xem trọng Giáo dục

về kiến thức khoa học kỹ thuật hiện nay luôn là môi quan tâm hàng đầu của các nươc này Nhưng họ vẫn không quên chú trọng đến vân đề giáo dục phẩm chất về đạo đức và giáo dục về tư tương, ơ Việt Nam ta trong mẩy năm gần dây, trường học nào cũng nêu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” Mục đích của nhà trường là đào tạo một thê" hệ cổng dân tương lai có đức, cơ tài, biết đem kiến thức đã học góp phần xây dựng Tổ quốc, làm cho dân giàu nước mạnh

Trong yêu cầu của sự phát tiren ngày nay, để theo kịp vơi tô"c độ phát triển, bắt kịp vơi các nươc tiên tiến trong khu vực, và không bỏ lơ cơ hội phát triển đất nươc, làm giàu cho dân tộc đòi hỏi các quốc gia phải đặt lại mọi vấn

đề về kinh tế - chính trị, về văn hóa - xã hội và ơ đây, mọi vân đổ này đều dược các nươc ASEAN đặt lại một cách nghiêm túc trên nền tảng văn hổa truyền thông, luân lý dạo dức xã hội dã có từ lâu đời Khổng tử vơi những triết lý của ông vẫn giữ một vai trò làm động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng cho các quốc gia trên những nền tảng văn hóa, đạo đức truyền thông của xã hội, của dân tộc

3 Đôi vơi Việt Nam:

Việt Nam vơi các thê" hệ “con Rồng cháu Tiên” đã cùng chung sức nhau trong suốt quá trình khai thác vùng đồng bằng ven biển và vùng đồi núi thuộc lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Thái Bình dã sản sinh ra những giá trị cốt lõi của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Việt Nam trong suốt thời đại các vua Hùng dựng nưđc Những giá trị đó được biểu hiện tập trung ơ các yếu tô" sau

- 19

Trang 25

-Luận văn tôt nghiệ-p

- Áp đụng kỹ thuật trồng lúa nước

- Xây dựng gia đình vừa là tê hào của xã hội, vừa là đơn vị kinh tê

(nhà).

- Tổ chức công xã nông thôn trên cơ sỏ quan hệ láng giềng (làng).

- Thông nhất 15 bộ tộc Âu Việt và Lạc Việt thành một cộng đồng lđn

để hợp sức trị thủy tai, làm thủy lợi và đoàn kêt hảo vệ cương vực

sinh tụ của mình (nước).

Có thể nói, nền văn minh nông nghiệp lúa nưđc ở Việt Nam ta dựa

trên cấu trúc xã hội nhà - làng - nưđc chính là cơ sở tạo nên những sắc thái

riêng ban đầu của tâm hồn, đạo lý, phong tục, tập quán, lối sông, thị hiêu, thẩm mỹ, niềm tin của ông cha ta từ xưa, mà tổng hòa hợp lại thành bản sắc văn hóa dân tộc

Trong bản sắc văn hóa của dân tộc ta, hệ giá trị tinh thần cốt lõi chính

là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng (làng xã) sâu sắc, tình thương nhà tha thiết, tinh thần đoàn kết rộng rãi, dức tính cần cù, thiết thực, linh hoạt, sáng tạo trong lao động Hệ giá trị này là “bộ lọc” tinh nhạy để ông cha chúng ta lựa chọn, tiếp thu những giá trị mới qua những cuộc giao lưu, tiếp xúc văn hóa với bên ngoài

Tiếp xúc với văn hóa Đồng Nam Á chủ yếu thông qua sự truyền bá hòa bình của đạo Phật từ Ân Độ sang; tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, thời

kỳ dầu thông qua sự xâm lưực của các thế lực phong kiến phương Bắc bằng

cả bạo lực và bằng các yêu tô" văn hóa Hán, thời kỳ sau chủ yêu thông qua sự giao lưu hòa bình theo sách lược vừa kiên cường vừa mềm dẻo của các triều dại phong kiến tự chủ Việt Nam Và cuộc tiếp xúc văn hóa vđi phương Tây thông qua sự xâm lược và thông trị nhân danh sứ mạng “khai hóa văn minh” của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đê" quốic

về các yêu tô" văn hóa Hán, Việt Nam đã tiếp thu khá đậm nét và sâu sắc các yếu tô" văn hóa Hán trong một thời gian dài bị phương Bắc đổ hộ về chữ viết, thơ văn, nghệ thuật, và đặc biệt là tư tưởng của Nho giáo và triết lý của Khổng tử

4- Có thể nói Việt Nam là nưđc có ảnh hưởng Nho giáo và triết lý của Khổng tử nhiều nhất, sâu sắc nhất so vđi các nước Đông Nam Á Nho giáo đã tồn tại lâu ngày, ít nhiều được cải biên để hòa nhập vào truyền thông văn hóa của dân tộc Nho giáo đã trở thành hệ tư tưdng chính thông chi phôi các quan điểm chính trị, đạo đức, thể hiện trên nhiều mặt của đời sông vật chất và tinh thần 4

Triết lý của Khổng tử với những quan niệm về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín,

về hiếu - trung, về kẻ tiểu nhân - người quân tử, các nguyên tắc về tam cương, ngũ thường đã trở thành những chuẩn mực của xã hội Việt Nam

Trang 26

Luận văn tôt nghiệp

Truyền thông hiếu học một nét đặc trưng của Khổng tử đã có ỏ Việt Nam cho đến tận ngày nay Xã hội Việt Nam ngày xưa và cả bây giờ luôn coi trọng học thức, coi trọng danh dự “Một miếng ở giữa sàn bằng ha hàn ỏ dưới hep” (1)

Điều kỳ lạ là qua các lần tiếp xúc văn hóa ấy, dù hị áp đặt hay tự nguyện văn hóa Việt Nam không những vẫn giữ vững được bản sắc của mình

mà còn trở nên giàu đẹp thêm nhờ biết tiếp thu và cải biên thành của mình nhiều yếu tô" mới từ bên ngoài phù hợp vđi hệ giá trị cội nguồn của văn hóa dân tộc

Thực chất của các cách thức lựa chọn, tiếp thu đó là:

- Không tiếp nhận toàn bộ hệ thông mà chỉ lựa chọn những giá trị phùhợp

- Tiếp thu và cải biến các hình thức mới về văn hóa, nghệ thuật của thố giơi để biểu đạt nội dung các giá trị văn hóa Việt Nam Việc mổ phỏng chữ Hán để cải biến thành chữ Nôm do Hàn Thuyên khởi xưđng từ thế kỷ XVIII là ví dụ điển hình về một trong nhiều cách thức tiếp thu có sáng tạo thành tựu văn hóa Trung Hoa Những áng thơ, văn chữ Nỏm là một kho tàng văn học vô giá của Việt Nam ta qua Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du, bản dịch Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm, thơ Nôm của Hồ Xuân Hương và nhiều tác phẩm khác

- Trong khi tiếp nhận cả hộ thống thì trên thực tê" đã sắp xê"p lại các bậc thang giá trị khác nhau Tiêu biểu cho cách thức tiếp thu này là những nhà văn hóa lớn của dân tộc Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh

Mọi người đều biết, đạo Khổng đã để xương tam cương, ngũ thường, trong dó, trung vơi vua được xếp lên hàng đầu của thang giá trị Là người xuất thân từ Nho học, lại đỗ tơi thái học sinh (tiến sĩ), Nguyễn Trãi không thể không biết đến các phạm trù trung, hiếu, tiết, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín của Khổng Tử Nhưng khi vận dụng vào sự nghiệp cứu nươc, cứu dân trước sau Nguyễn Trãi dều xem nhân nghĩa làm giá trị bao trùm, nhìn từ cả hai phía Phía chính diện, để làm luận cứ cho những chủ trương chiến lược: “Phàm mưu việc lơn phải lây nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm dầu” “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” Phía phản diện, để phê phán ngăn ngừa “kẻ bất nhân, ăn ấy chơ; áo người vổ nghĩa, mặc chẳng thà” 1 (2)

Năm 1776, tuyên ngôn độc lập Mỹ đưa ra mệnh đề nổi tiếng về quyền bình đẳng, quyền sông, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người vơi tư cách là mỗi cá nhân Hoàn toàn không phủ nhận quyền của mỗi

cá nhân, song Hồ Chí Minh đã đặt quyền của các dân tộc vào vị trí trung tâm

và Ngươi nói:”Tâ"t cả các dân tộc trên thê" giơi đều sinh ra và bình đẳng ; dân

(1) Tục ngữ, ca dao Việt Nam.

(2) Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1969, tr 94

- 2 1

Trang 27

Luận văn tốt nghiệp

tộc nào cũng có quyền sông, quyền sung sướng và quyền tự do” Đổ là sự xêp đặt lại bậc thang giá trị cho phù hựp với đạo lý truyền thông của dân tộc và của nhân dân ta, xem cá nhân nằm trong cộng đồng, và cũng đúng vđi lẽ phải thông thường của nhân loại Bẻti vì nêu dân tộc còn nô lệ, thì mọi cá nhân trong cộng đồng dân tộc ấy không thể có tự do

Như vậy, cả Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đều chú ý tiếp thu những giá trị mới từ các nền văn hóa khác, nhưng lại vận dụng rât sáng tạo vào hoàn cảnh đất nước trên cơ sở những giá trị nền tảng của văn hóa Việt Nam

Trong thời gian 1000 năm Bắc thuộc, cộng đồng người Việt dã thường xuyên đứng lên đấu tranh chống lại chế độ thông trị dưới nhiều hình thức, ỏ nhiều nơi Nói về thời Bắc thuộc, chúng ta phải nêu đậm nét những điều mà nền văn hóa phương Bắc đã đem lại cho dân tộc ta lúc bây giờ: cơ hội học chữ Hán, sách kinh điển của người Hán và những điều tốt đẹp trong văn hóa người Hán Nói rộng ra, dây là thời gian dân tộc Việt Nam ta tiếp thu một cách chọn lọc nền văn hóa người Hán những học thuyết rất thịnh hành của người Hán, nhất là học thuyết của Khổng tử

Bắt đầu trỏ thành ý thức hệ chính thông của giai cấp phong kiến Đại Việt từ thế kỷ XV rồi từng bưđc trở thành chương ngại vật tinh thần của tiến trình văn hóa Việt Nam vào thế kỷ XVIII, Nho giáo đã để lại dâu vết khá rõ nét của nó trên lịch sử và văn hóa Việt Nam trong quá khứ Trên phương diện

là hệ thông các tri thức “quan phương” về lịch sử và tư tưởng, chính trị và pháp quyền, khoa học và giáo dục, đạo đức và nghệ thuật, phong tục và lối sổng , Nho giáo đã đổng vai trò là yếu tố định hương - dự báo cho tiến trình

xã hội của người Việt ngay từ những năm đầu lịch sử; đồng thời với tính chất

là yếu tổ" “chính thông” trong cơ cấu các hoạt động, quan hệ và thiết chế xã hội truyền thống, nó cũng mang chức năng như hệ thông định chuẩn - điều chỉnh trong tiến trình văn hóa của cộng đồng Việt Nam

'l-Khi mơi bắt đầu du nhập vào Việt Nam, Nho giáo là một cổng cụ nô dịch văn hóa của giai cấp thống trị Bắc phương Nhưng qua một thời gian dài

đã được chuyển hóa thành lý thuyết xây dựng quốíc gia của chính quyền phong kiến Đại Việt, và dần dần được các tầng lơp nhân dân địa phương coi

như là truyền thông chủ yếu trong ý nghĩa là một phương hương để xây dựng thiết chế văn hóa - xã hội Việt Nam.^

Đương nhiên, ngoài những hạn chế tự thân, hệ thông chuẩn mực xã hội Nho giáo cũng có giơi hạn lịch sử của nó Khi hình thái kinh tế - xã hội phong kiến kiểu nông nghiệp tiểu nông đã bị phủ định, khi thể chế, thiết chế và cơ chế chính trị - xã hội phong kiến đã bị thủ tiêu, khi các quan hệ xã hội tương ứng thay đổi thì nó cũng tiêu vong trong ý nghĩa là một hệ thông hoàn chỉnh

và thông nhất Nhưng dáng chú ý là các chuẩn mực xã hội cụ thể của nó không tiêu vong một cách toàn thể và đồng bộ, mà một sô" lại tìm đưực dơi sống mơi trong hệ thông chuẩn mực xã hội mơi, dĩ nhiên vơi những thay đổi nhất định về vị trí, nội dung cũng như cơ chế tác động - giá trị chế định

- 2 2

Trang 28

-Luận văn tất nghiệ-p

Chẳng hạn, người Việt Nam xưa nay đề cao trung - hiếu - nhân - nghĩa, mặc

dù hiện nay chẳng một ai còn có thể trung theo kiểu Nho giáo Bdi vì những

khái niệm này cũng có ở cả các dân tộc và quốc gia không theo Nho giáo, song ở Việt Nam thì chúng mang hình thức và ảnh hương cụ thể của Nho giáo, những hình thức và ảnh hưởng đã trỏ thành truyền thông trong văn hóa ứng xử, nghĩa là trong phong tục và đạo đức, tâm thức và tình cảm của toàn thể một cộng đồng người

Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi có câu “lấy đại nghĩa thắng hung tàn dùng chí nhân thay cường bạo ” Lê Lợi và Nguyễn Trãi lúc bây giờ cùng nhân dân ta đã làm như vậy Một dân tộc nổi dược một câu như vậy

và làm dược một việc như vậy, đổ là một dân tộc có tầm vóc và khí phách hào hùng biết bao Đây là lòng tin sâu xa ở con người và cộng dộng con người có sức sống mãnh liệt vì đại nghĩa và chí nhân thắng hung tàn và cường bạo

Cũng như trong thời kỳ đất nưđc phân ranh vào thế kỷ XVIII - XIX Đàng ngoài vđi sự mâu thuẩn gay gắt giữa vua Lê - chúa Trịnh; đàng trong vđi sự thông trị của triều đình nhà Nguyễn Trong thời kỳ này, chuẩn mực của Nho giáo vẫn được các vua chúa áp dụng một cách triệt để như một phương tiện để thu phục nhân tâm trong nươc và như một mỏ thức để tổ chức lực lưựng dưđi quyền như các chuẩn mực: “làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, anh em trước hết phải thân yêu nhau”, “tử hiếu thành trung, đệ cung huynh hữu”, “quân xử thần tử thần bất tử bất trung, phụ xử tử vong tử bất vong bất hiếu”

Khi sang Việt Nam, Nho giáo bị khúc xạ bởi môi trường Việt Nam nên

dã Việt Nam hóa Nó trãi qua bốn độ khúc xạ (1)

Độ khúc xạ thứ nhất: Tổ quốc Việt Nam

Khi tiếp nhận Khổng giáo thì Việt Nam đã hình thành từ lâu Theo Bình Ngô đại cáo thì Việt Nam có nền văn hiến riêng, cương vực riêng, chính quyền riêng, phong tục riêng Do đó, mọi khái niệm Nho giáo vốn là trực tiếp giữa nguời vđi người, đều bị khúc xạ qua lăng kính thứ nhất là Tổ quốc Việt Nam Một khái niệm Khổng giáo vốn là thuần nhất bị tách đôi thành đại

và tiểu Cái gì phục vụ quyén lợi đất nưđc thì gọi là đại, cái gì liên quan giữa

cá nhân vđi cá nhân thì gọi là tiểu Ta chỉ xét một trường hợp cụ thể của Nguyễn Trãi, ngươi bao giờ cũng cho mình là nhà Nho Như vậy đôi vđi con cháu, Nguyễn Trãi có sự phân chia nhất khoát: cái gì phục vụ quyền lợi Tổ quốc Việt Nam là đại, là chí, cái gì chỉ liên quan đến quan hệ giữa tôi với anh

là tiểu Và bao giờ đại hiếu cũng thắng tiểu hiếu, đại nghĩa cũng thắng tiểu nghĩa Đây là một nét khu biệt của tâm thức Việt Nam và không bao giờ nét khu biệt ấy lại mạnh mẽ và phổ biến như ơ thời đại Hồ Chí Minh

Độ khúc xạ thứ hai: làng xã Việt Nam

(1) Phan Ngọc, sđd, tr 190.

- 2 3

Trang 29

-Luận văn tôt nghiệp

Nhà Nho Trung Quốc không có khái niệm làng nươc như nhà Nho Việt Nam Làng nưđc, đây là một khái niệm đặc biệt đối vđi Việt Nam Mọi nhà Nho Việt Nam đều như nhau: họ đều là dân của làng xã trưđc khi là tôi của triều đình Khi là tôi của triều đình thì không ai trung thành hơn họ trong việc phục vụ triều đình để bảo vệ Tổ quốc Bằng chứng là toàn bộ thơ văn chữ Hán là thơ văn yêu nưđc, chống ngoại xâm, đề cao Tổ quốic Khó lòng tìm thây một nền vãn học thống nhất như vậy về tư tưởng Nhưng chỉ cần cầm bút viết chữ nôm là họ trở về ngôn ngữ, phong tục, tục ngữ, ca dao, tâm lý người dân công xã Và họ sẵn sàng phê phán mọi bất cổng, phi lý, tệ tham nhũng của triều đình, bênh vực cái đẹp, cái cao quí của tâm thức công xã Trưđc sau,

họ chỉ là dân vì quan chỉ là một lúc, còn mãi mãi họ là dân Thái độ của họ vơi triều đình khác thái độ nhà Nho Trung Quốic Nưđc là của dân, triều đình chỉ có giá trị khi nó bảo vệ được dân, nếu mà bỏ dân, theo giặc thì lập tức họ chỏng lại và đi đấu trong phong trào cứu nước Do đó xuất hiện một kiểu cai trị phải gượng nhẹ công xã của vua chúa Việt Nam Đây là một hiện tượng Nho giáo hóa về hình thức trong phong tục mà không thay đổi cấu trúc

Độ khúc xạ thứ ba: Việt Nam xét trong quan hệ vơi Trung Quốíc

Trung Quốic tự nó là một thế giơi Vị hoàng đế Trung Quốc muôn làm

gì cũng được Còn ông vua, ông quan, người dân Việt Nam làm bất cứ điều gì cũng phải liệu chừng vì mình là nươc nhỏ Đường lốì đổì ngoại của Việt Nam

đã được Nguyễn Trãi chủ trương:” Giữ hòa hiếu giữa hai nươc; tắt muôn đời chiến tranh” Do đó, khác vơi mọi tộc người, Việt Nam không bao giờ chiếm

dù chỉ là một tấc đất của Trung Quốíc, khổng bao giờ làm nhục đến quốc thể Trung Quốíc, luôn luôn giữ địa vị chư hầu, triều công bất kể triều đình hoàng

đế hùng mạnh hay suy yếu Người ta đem quân xâm lược thì mình đánh lại, đánh bại rồi không giết mà thả về thậm chí cung cấp lương thực, quần áo, thuốic men chu đáo Giữ một thái độ nhún nhường vơi ý thức về lễ, không hề

tỏ ra khiếp sợ nhưng có ý thức về sức mạnh của mình Đỏi xử vơi Hoa kiều như là khách Trong nghi lễ, phẩm phục, ngôn ngữ đâu đâu cũng tỏ ý tôn trọng dồng thời nhắc nhơ cho họ biết mình không bao giờ lư là về chủ quyền

Độ khúc xạ thứ tư : Việt Nam theo văn hóa Đồng Nam Á

Văn hóa Trung Quốc vơi ba yếu tô” khu biệt (chữ Hán, triều đình quân chủ cha truyền con nốỉ, chê” độ khoa cử theo Nho giáo để đào tạo quan lại) thực tê” đã câ”p cho Việt Nam một bộ mặt riêng khác vơi các nưđc Đông Nam

Á khác Nhưng không phải vì thê” mà nó Hán hóa dưực văn hóa Việt Nam Xét cho cùng thì ỏ bất cứ đâu trên đất nươc Việt Nam dươi lđp sơn Trung Quôc bao giờ cũng tồn tại văn hóa Đỏng Nam Á Một nền canh tác lấy lúa nưđc làm cơ sơ, một cơ câu làng xã gần như tự trị, một địa điểm tập trung dân bàn việc làng, trươc kia là chùa và sau đó là đình, một tôn giáo phổ biên thờ cúng tổ tiên, một gia đình do người phụ nữ cai quản, một ngổn ngữ Nam Á và

vổ số những điều khác nữa trong ăn mặc, tục lệ, đình đám, hội hè , vui chơi đều in đậm màu sắc Đông Nam Á

- 2 4

Trang 30

-Luận văn tất nghiệp

4 Nhìn chung: đánh giá ảnh hưởng của triết lý Khổng tử đôi vứi các nứức

Đông Nam Á

Giao lưu văn hóa là qui luật tồn tại và phát triển của mọi nền văn hóa

và mọi xã hội từ xưa đến nay Xét về thực chất, giao lưu văn hóa chính là sự tác động qua lại biện chứng giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh; trong đó, các yếu tô nội sinh giữ vai trò chủ thể, có ý nghĩa quyêt định trong việc định hương mổì quan hệ của chúng vđi các yếu tô' ngoại sinh Ngược lại, các yêu tô ngoại sinh ảnh hưởng mạnh mẽ dươi dạng kích thích hay kìm hãm sự tiên hóa của các yêu tổ' nội sinh Lịch sử nền văn minh của nhân loại cho thây không

có nền văn hóa nào, dù lớn và có ảnh hưởng sâu rộng đên đâu, lại có thể liên tục phát triển trong một địa bàn khép kín, biệt lập, tách rời với sự tiếp xúc vđi các nền văn hóa khác

Vào thời cổ đại, nhiều tộc người da đỏ ỏ châu Mỹ và người da đen ỏ Nam châu Phi đã từng đạt đến một trình độ phát triển văn hóa cao hớn so vđi các châu lục khác cùng thời Nhưng do bị cách bức bởi hai đại dương và vùng

sa mạc Sahara rộng lớn nên các nền văn minh cổ đại của những tộc người kể

trên dã dần dần lâm vào tình trạng suy thoái Trong khi đó, chính các con dương tơ lụa trên bộ và trên biển giữa châu Á và châu Âu được thiết lập vào thời Trung c ổ đã làm cho sự phát triển cả kinh tê' và văn hóa của nhiều tộc ngươi thuộc hai châu lục này vượt lên

Trong thơi cận đại, sự phát triển nhanh của Nhật Bản sau cuộc cải cách Minh Trị và sự trì trệ của Trung Quốc dưới triều đại Mãn Thanh là những ví

dụ nội bật về hai loại hình phát triển khác nhau Nước Nhật thì chủ trương mơ cửa để tiếp thu kỹ thuật tiên tiên phương Tây trên nền tảng văn hóa, đạo lý truyền thông của dân tộc Còn Trung Hoa thì khăng khăng thi hành chính sách bê' quan tỏa cảng, tự ru ngủ mình về nền văn hóa rực rỡ trong quá khứ mấy ngàn năm

Chính nhờ biết bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp vơi tiếp thu cơ chọn lọc những tinh hoa văn hoa của nhân loại mà nhiều nươc châu Á và Đỏng Nam Á đã thành cổng trên con dường xóa bỏ đói nghèo, tiến tơi phồn vinh Người ta đã nhiều lần nói đến tính cách Nhật Bản đã giúp Nhật duổi kịp nhiều nươc phương Tây chỉ trong một thơi gian ngắn Hay như trường hợp của Đài Loan hay Singapore, thành công của họ là do tố chất văn hóa: một hệ thông văn hóa mơi đưực kết hợp giữa văn hóa Nho giáo vơi văn hóa hiện đại Hầu hết các nươc NIEs Đổng Nam Á, ngoài viêc tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại cồn biết khai thác các yêu tô' truyền thông phương Đổng

Vì vậy, sẽ không đúng nêu ai đó cho rằng Nho giáo không đổng góp gì cho sự thành công của Nhật Bản; bơi nêu Nho giáo có đóng vai trò trong sự thành công của Nhật Bản thì tại sao vơi Trung Quốc, quê hương của Nho giáo,

mà Trung Quỏc lại không thành công thậm chí còn thua kém, tụt hậu xa so

- 2 5

Trang 31

-Luận văn tốt nghiệp

vđi các nước khác trong vùng ảnh hương của Nho giáo Hay cho rằng tư tương của Khổng tử ngày nay đã lỗi thời.(1)

Khổng tử dạy con người là phải “ôn cố’, tri tân” - “ôn cũ mà biết mđi” Chữ biết ở đây được hiểu theo nghĩa rấl rộng “Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống” 1 (2) 3 Cái khôn hay cái dại của người dời thường chỉ tính tới cái thực tại hiện hữu, ít ai biết tính tđi cái biến dịch tương lai, biến dịch của mình, của người, của bạn, của thù, của thế cuộc Biến dịch của sự việc, của tâm trạng, của tiềm thức, của trời đất, phải biết đến cái biến dịch của mình, của người, của thế cuộc để thích ứngl ?)

Nhà nươc Nhật Bản và nhân dân Nhật Bản đã nắm được và vận dụng đúng câu nói này Họ đã biết được cái “lẽ biến dịch của thời cuộc” Trong xu

thế thế giđi có nhiều biến động, nhiều thay đổi đang diễn ra sâu rộng trên tất

cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của dời sống Cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, kỹ thuật và tin học đã kéo theo những trào lưu quốc tế hóa, khu vực hóa và toàn cầu hóa trên nhiều phương diện: về sản xuất vật chất, về giao lưu văn hóa

Vđi xu thế đó, khổng một quốc gia nào có thể dứng ngoài cuộc và Nhật Bản là nươc sớm nhận ra điều đó Họ mỏ cửa giao lưu về kinh tế, về văn hóa - xã hội, và cả về chính trị vđi tất cả các nưđc trên thế giđi trên cơ sở Nhật Bản vẫn giữ vững nền tảng văn hóa, đạo đức xã hội truyền thống Có như vậy Nhật Bản mđi đạt được thành công như ngày nay mà không hề mất đi những bản sắc độc đáo của riêng mình

Không phải chỉ riêng Nhật Bản di theo con đương đó mà hiện nay các nưđc Đông Nam Á cũng vậy Đông Nam Á vđi nền văn minh nông nghiệp lúa nước đã tạo ra cho các nưđc này một cơ tầng văn hóa dân tộc truyền thống cùng tồn tại, giao lưu và phát triển đi lên với các nền văn minh khác, Ân Độ

và Trung Hoa

Triết lý của Khổng tử đã có những ảnh hương nhất định đối vơi Đổng Nam Á, đã góp phần tạo nên những nền tảng thiết chế văn hóa - xã hội vững chắc ở các nưđc này.Vì vậy, cho dù thế cuộc có nhiều biến dộng trên phương diện nào và đến đâu đi chăng nữa các nưđc Đông Nam Á mơ cửa tiếp thu các nền văn minh cổng nghiệp tiên tiến, nhưng vẫn giữ vững nền tảng văn hóa truyền thông Triết lý của Khổng tử vẫn có những giá trị ảnh hương, tác động tích cực, đổng vai trò điều chỉnh trong quá trình giao lưu, tiếp xúc vơi các nươc khác trên thế giđi

(1) “Tư tưởng của Khổng tử ngày nay có nhiều điểm lỗi thời, có triết gia chính trị nào dựng một học thuyết cho 2500 năm hao giờ?” - Khổng tử (tái bản) - Nguyễn Hiến

Lê - NXB Văn hóa 08/1995.

(2) Trang tử.

(3) Đọc thêm Thuật xử thế của người xưa - Thu Giang, Nguyễn Duy cần

- 2 6

Trang 32

-Luận văn tôt nghiệp

Lịch sử nhân loại còn biết đến một sô” dân tộc rất hùng mạnh về quân

sự, từng đi chinh phục và thông trị các tộc người khác trên những vùng rộng lơn, nhưng cuối cùng chính họ lại bị đồng hóa về văn hóa, do các yêu tô văn hóa nội sinh của kẻ đi chinh phục kém xa so với văn hóa của nước bị chinh phục

Trong thời đại ngày nay, nhất là những thập kỷ sau chiến tranh thê giới

thứ hai, có nhiều nước mới dành được độc lập dân tộc ở châu Á, châu Phi và

châu Mỹ la tinh dã dặt nhiều hy vọng vào con dường hiện đại hóa theo mô hình Âu Mỹ Cũng có nghĩa hiện đại hóa dồng nhất vơi phương Tây hóa Kêt quả là sự xâm nhập ổ ạt những chuẩn mực và hệ giá trị từ bên ngoài vào các nước nói trên làm cho những chuẩn mực và giá trị văn hóa truyền thông bị biên dạng và biến mất

Cũng vđi bản chất của người Đổng Nam Á là biết tiếp nhận có chọn lọc những tinh hoa của các nền văn minh lớn Ân Độ và Trung Hoa và giờ đây vđi cơn lốc ồ ạt của nền văn minh phương Tây, họ một lần nữa đã biết nắm lây các công cụ văn hóa phương Tây để xây dựng cho mình một nền văn hóa mơi, riêng biệt và mang tính đặc thù Và ở đây trước sự xâm nhập ồ ạt của văn minh phương Tây mọi vấn đề đều đưực đặt lại: nhân cách, gia đình, làng

xã, chính trị, xã hội, kinh tế

Trong sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật

và sự bành trương của lối sông phương Tây, ở các nươc Đổng Nam Á đang diễn ra những sự lựa chọn khác nhau Có khuynh hương Âu hóa mạnh mẽ, tập trung cho sự tăng trương kinh tê” - kỹ thuật, thích nghi nhanh chóng vơi lôi sông vật chất hương thụ, xem nhẹ phát triển vân hóa và ra rời bản sắc dân tộc Ngược lại, có khuynh hương muôn co mình lại, từ chối không muôn mở rộng giao lưu văn hóa, không gắn văn hóa vơi phát triển kinh tế Những bài học thành cổng và không thành công đã qua đều là những bài học quí giá cho từng dân tộc, từng quốc gia trong khu vực Sự lựa chọn thông minh và có hiệu quả sẽ thuộc về những dân tộc có bản lĩnh, có học vân, nắm bắt được xu hương phát triển và những thành tựu của thời đại, kết hợp vơi thực tiễn của đất nươc để hiện đại hóa nền văn hóa dân tộc trong chiến lược phát triển dồng bộ, làm cho nền văn hóa đó từng bươc thỏa mãn dược cuộc sông ngày càng có chất lượng của nhân dân các dân các dân tộc Một lý tương văn hỏa

dù vĩ đại và có sức hấp dẫn loài người đến đâu thì trươc hết nền văn hóa đổ cũng phải hương tơi những yêu cầu trên đây Vì vậy, văn hóa vừa là nền tảng vững bền của xã hội vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nươc

- 27

Trang 33

-Luận văn tất nghiệp

CHƯƠNG II : VAI TRÒ CỦA CHỮ TÍN TRONG C Ấ C MỎI QUAN

H Ệ - H 0 P t ấ c đ a p h ư ơ n g V IỆ T NAM - A SEAN

1 Nhận định chung về các mối quan hộ và hợp tác đa phương của Việt Nam vơi các nươc ASEAN:

Tinh hình thế giơi và khu vực tác động sâu sắc đến các mặt đời sổng

xã hội nưđc ta, đưa đến cho chúng ta những thuận lợi và cả những khó khăn lơn

Đất nươc đã đạt được một số’ thành tựu to lơn nhưng nhìn chung vẫn

chưa vững chắc Những nguy cơ tiềm tàng từ nhiều phía, đặc hiệt trong đôi ngoại cần phải đươc đặc biệt quan tâm

về công tác đôi ngoại giữa Việt Nam và ASEAN đã đạt được những thành quả sau:

- Kể từ năm 1992, Việt Nam được mời tham dự các cuộc họp hàng

năm của các Ngoại trương ASEAN

- Năm 1993, ASEAN thành lập cơ chế họp hiệp thương giữa ASEAN

và Việt Nam nhân dịp Hội nghị ngoại trương ASEAN

- Tại Hội nghị Ngoại trương ASEAN lần thứ VI ơ Singapore (năm 1993) Việt Nam được mời tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN (ARE) để hàn

về các vân đề chính trị và an ninh của khu vực châu Á- Thái Binh Dương Bộ trương Ngoại giao Việt Nam đã tham dự cuộc họp dầu tiên của ARE (Asean Regional Forum) diễn ra tại Bangkok tháng 7 năm 1994

- ASEAN mời Việt Nam tham gia các công trình và dự án hợp tác ASEAN trên năm lĩnh vực khoa học - công nghệ, mỏi trường, y tế ,văn hóa - thông tin và du lịch

- Tháng 9 năm 1994, lần đầu tiên Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trương kinh tế ASEAN lần thứ 26

- Tháng 7 năm 1995, Việt Nam chính thức trơ thành thành viên của ASEAN, đây là một sự kiện có ý nghiã đặc hiệt thắng lợi trong quá trình quan

hệ hợp tác Việt Nam - ASEAN

Trong hoàn cảnh đầy biến động hiện nay, đất nươc thực sự đang dứng trước những thời cơ và cả những thách thức Hoạt động đốỉ ngoại, do dó, phải dược nâng lên một tầm cao mơi phù hợp vơi thực tiễn cuộc sông và vơi những yêu cầu phát triển dôi ngoại trong giai đoạn mơi

về mặt địa - chính trị, chúng ta ử trong một khu vực vừa năng dộng nhất về tăng trương và phát triển kinh tế, nhưng lại vừa tiềm ẩn những nhân

tô có thể gây bât ổn định và không loại trừ khả năng dẫn đến xung đột Trong bối cảnh như vậy, hoạt động đồi ngoại của chúng ta phải là “củng cô' môi trương hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi” hơn nữa để đẩy mạnh

2 8

Trang 34

-Luận văn tất nghiệp

phát triển kinh tế, phục vụ sự nghiệp xây đựng và bảo vệ Tổ quốíc, đồng thời góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giđi, vì hòa hình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

- Các nưđc khác trong khu vực cũng đang đứng tníđc một xu thế tương

tự như chúng ta Yêu cầu về phát triển các quan hệ đôi ngoại, đưực đặt ra và đòi hỏi các nươc phải thực hiện một cách thắng lợi

- Để giải quyết tốt vân dề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố Từ việc cỏ" gắng và từ thiện chí của bản thân mỗi quốc gia, đốn việc cùng nhau nghiên cứu kỹ những biến động và có thể xảy ra trong khu vực và trên thế giới, để

hoạch dịnh những chiến lược thích hợp và đúng đắn cho cả khu vực.

- Các nước ASEAN đều có chung một quá trình lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, có chung một nền văn hóa - văn minh nông nghiệp lúa nưđc,

vổ điều kiện địa lý, tự nhiên có nhiều nét rất tương đồng và do đó đã hình thành những lốỉ ứng xử văn hóa rất gần nhau Song, tất cả những điều đó vẫn chỉ như một điểu kiện cần Tuy có sự thông nhất đó, nhưng cũng chỉ là sự

“thông nhất trong đa dạng” mà thổi, về thực chất mỗi nước, mỗi dân tộc cũng đều có những nét riêng biệt cách xa nhau Vì vậy, trong các môi quan hệ và hợp tác cần dựa trên một nhân tô" cao hơn, có sự thông nhất hơn và có tiếng nói chung hơn, đó là niềm tin Chỉ có dựa trên sự tin cậy lẫn nhau mđi có thể vượt qua được những khác biệt của mỗi quốíc gia, mỗi dân tộc trong khu vực

- Tuy vậy, mỗi quốc gia trong khu vực cũng cần phải chú ý phát huy các yếu tô" “nội lực” của quốc gia mình để dạt den sự cân bằng tương đôi về các lãnh vực kinh tê", ổn định chính trị, văn hóa - xã hội, về phía Việt Nam

xét một cách tương đô'i, sức mạnh vật chất ở nưđc ta vẫn còn ở trình độ thấp

Hơn nữa, để tạo ra được “nội lực”, trong một thời gian dài nữa chúng ta vẫn còn phải được sự hỗ trợ thêm từ ngoài (vổn, thị trường, công nghệ, thông tin, ) Như vậy, xét cho cùng, “nội lực” â'y phải được tạo ra, trưđc hết bằng sức mạnh trí tuệ của toàn dân tộc trong sự nghiệp phát triển đất nước, trong quá trình hội nhập khu vực và hội nhập thế giới của nưđc ta Đó là dương lô'i dộc lập tự chủ, biết kết hợp sức mạnh thơi đại Đó là sức mạnh của khối đại

doàn kết dân tộc, từ nhân dân ở trong nước đến đồng bào ta ở nưđc ngoài, có

2 9

Trang 35

-Luận văn tót nghiệp

khả năng huy động những giá trị tinh thần và sức mạnh vật chất để xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Sự gắn bó của các tầng lơp xã hội thậm chí của từng người dân, vơi những mục tiêu phát triển đất nưđc là bảo đảm quan trọng nhất

về mặt này Chẳng hạn về vân đề vốn nếu chúng ta không tạo được nguồn vốn bên trong ở mức cần thiết, thì việc gọi vốn dầu tư từ bên ngoài ngày càng nhiều có thể có những hậu quả bất lợi, dẫn đến nguy cơ phụ thuộc vào bên ngoài.về mô hình phát triển cũng vậy, chúng ta không rập khuôn theo những

mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ngoài, dù đổ là những mổ hình thành công của một sô" nươc xung quanh ta Bơi lẽ, khổng thể cổ khuôn mẫu sẵn cho bất kỳ mổ hình phát triển nào Mỗi dân tộc cần tự tạo và tự điều chỉnh những hương di trên con dường riêng của mình dồng thời tiếp thu những bài học quí báu của các nưđc khác

Trong quá khứ, cha ông chúng ta đã liên tục thực hiện các cuộc “tiếp

biến văn hóa” để tạo nên bản sắc dân tộc của mình Trong công cuộc cổng

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, việc thực hiện những cuộc “tiếp biên văn hóa” mơi càng đòi hỏi chúng ta phải tự tin, năng động và sáng tạo

hơn nhiều, vơi vốn kiến thức và kinh nghiêm quốc tê" thu thập được nền ngoại

giao Việt Nam cổ nhiệm vụ đổng góp cho các vân đề lý luận của chiên lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nươc theo định hương xã hội chủ nghĩa phù hợp vơi những điều kiện trong khu vực và trên thếgiđi

Đảng ta đã đề ra những mục tiêu cụ thể cho giai đoạn phát triển đâ"t nươc từ nay đến năm 2000 và những định hương cho đến năm 2020 Nhiệm

vụ của chúng ta là phải tìm ra những giải pháp thực hiện phù hợp vơi các điều kiện lịch sử và xã hội, vơi truyền thông và tiềm năng vật chất và tinh thần của đất nươc ta, để có cái gì đó làm “vồn” khi trao đổi vơi bên ngoài Bơi vì nói cho cùng, chính những giá trị lơn do mỗi dân tộc tự tạo ra cho mình mơi là

“nội lực” quan trọng nhất, làm nền tảng vững chắc cho vị thê" quốc tế của mỗi nươc, mỗi dân tộc Bác Hồ đã từng nổi : “Thực lực là cái chuông, ngoại giao như cái tiêng, chuông có to thì tiếng mơi lơn” Làm được như vậy hội nhập mơi khổng bị hòa tan Hơn thê" nữa, mơi tạo ra phong cách đôi ngoại tự tin và linh hoạt trong môi trường vừa hợp tác vừa đâu tranh và tạo ra được những khả năng ứng phó có hiệu quả vơi mọi tình huống bất trắc có thể xảy tơi ở trong khu vực và trên thê" giđi

Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nươc, trên phương diện quô"c tê", sự nghiệp này càng thúc đẩy quá trình tham gia của Việt Nam vào dòng chảy chung của nền văn minh nhân loại Công nghiệp hóa hiện đại hóa đang đặt ra những yêu cầu mơi cho phát triển và các lĩnh vực khác, trong dơ chính trị, đối ngoại và các hoạt động đối ngoại xã hội như một lực đẩy đáng kể trươc mắt cũng như về lâu dài Dươi sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đổi mơi và mơ cửa, thực hiện chính sách “đôi ngoại độc lập tự chủ, da phương hóa và đa dạng hóa”, cũng như thúc đẩy quá trình hội nhập khu vực và hội nhập thế giơi, là những điều kiện không thể thiếu, nhằm tạo ra môi trương quốc tế thuận lợi

3 0

Trang 36

-Luận văn tốt nghiệp

hảo đảm cho việc triển khai sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nưđc

- Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trương phải di đôi vơi tăng cường vai trò quản lý của nhà nươc theo dinh hương xã hội chủ nghĩa Tăng trương kinh tế gắn liền vơi tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trương sinh thái

- Mơ rộng và tăng cương khơi đại đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nươc, ý chí tự lực tự cương, động viên sức mạnh của cả dân tộc nổ lực phân đấu vì mục tiêu dân giàu nươc mạnh xã hội công bằng văn minh

- Mơ rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp dơ của nhân dân thế giơi, kết hợp sức mạnh của dân tộc vơi sức mạnh của thơi dại Động viên mọi nguồn lực bên trong là chính, đồng thơi khai thác tốt những điều kiện thuận lợi mơi trong quan hệ dơi ngoại, tạo môi trường quốíc

tê thuận lợi và tranh thủ những nhân tô" tích cực phục vụ cổng cuộc xây dựng

và bảo vệ đất nươc Việc mơ rộng quan hệ đoi ngoại phải dựa trên cơ sơ giữ vững độc lập tự chủ, giữ gìn, phát huy bản sắc tốt đẹp của dân tộc

Trong quan hệ quốc tế, hòa bình, ổn dịnh và hợp tác để phát triển ngày càng trơ thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và các quốic gia trên thế giơi Các nươc dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết dịnh dơi vơi việc tăng cương sức mạnh tổng hợp của quốc gia; tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quơc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực hoạt đọng khác

Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, đâu tranh chống lại sự áp đặt và can thiệp của nươc ngoài, bảo vệ nền văn hóa dân tộc ; kiên trì đâu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiên bộ xã hội ; các nươc cơ chính trị xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu tranh cùng tồn tại hoa bình

a v ề kinh tế:

Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển nhanh vơi trình

dọ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giơi, quốc tế hóa; khu vực hóa nền kinh tế và dời sổng kinh tế xã hội Do dó các nươc đều dứng trươc những cơ hội để phát triển Tuy nhiên do ưu thế về vơn,

3 1

Trang 37

-Luận văn tốt nghiệp

công nghệ, thị trường thuộc về các nươc phát triển, khiên các nươc chậm phát triển và đang phát triển đứng trước những thách thức to lớn

Trong hoàn cảnh mơi đó, chúng ta chủ trương xây dựng một nền kinh

tế mơ, “đa phương hóa và đa dạng hóa” quan hệ kinh tế đối ngoại, hương mạnh về xuất khẩu, dồng thơi thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong nưđc sản xuất cổ hiệu quả, tranh thủ vốn, công nghệ và thị trường quốc tế để tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hổa đất nươc Tham gia hợp tác quốc tế một cách hình đẳng và có lợi, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài Vốn nưđe ngoài tiêu biểu cho công nghệ hiện đại và quản lý tiên tiên, cần có vốn đôi ứng trong nưđc và ngươi lao động giỏi để sử dụng có hiệu quả Chúng ta cần sử dụng đầu tư của nươc ngoài là để phát triển công nghiệp nội địa, làm cho kinh tế dân tộc ngày càng tăng trương Ngay cả trước khi gia nhập ASEAN cũng vậy Một trong những mục tiêu chủ yếu của việc ta gia nhập ASEAN là nhằm làm cho nưđc ta đứng vững trong thương trương quốc tế

Cái mà Việt Nam cần ở các nưđc ASEAN đó là nguồn vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến, cơn về phía các nươc ASEAN, họ cần ở ta đó là thị trương về nhân công, sức lao động và nguyên liệu thô và đặc biệt nhất là thị trương tiêu thụ rộng lơn vơi hơn 70 triệu dân

Việt Nam vơi yêu cầu phát triển kinh tế, tiến hành công nghiệp hóa, hiện dại hóa đất nươc cho nên sẵn sàng chấp nhận bán sức lao động và nhân công vơi giá rẻ, cũng như bán các nguyên liệu để cổ dược nguồn vốn đầu tư, tiếp nhận khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến Các nưđc ASEAN bỏ vốn đầu tư vào nươc ta đồng thời chuyển giao công nghệ tiên tiến cho ta cũng vì mục đích là nươc ta cổ một thị trường “béo bơ” đôi vơi các nươc ASEAN; nghĩa là, ta tiếp thu cổng nghệ nhưng đồng thơi ta phải tiêu thụ các sản phẩm khác của họ Môi quan hệ này về thực chất là mốỉ quan hệ giữa kẻ mua và ngươi bán ràng buộc nhau

Trong thế giơi ngày nay, việc cung cấp vốn dươi mọi hình thức, không chỉ do nhu cầu của nươc đưực cung cấp mà còn do nhu cầu của nưđc cung cấp Thực vậy, vì theo đuổi lợi nhuận cao, lại có dư vốn, các nước phát triển, nhất

là ơ thơi kỳ phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thường tìm đến những nơi có tốc

độ tăng trương cao, có nhu cầu đầu tư lơn Không ít trương hợp nươc A cung câp vỏn cho nươc B là để nươc B có thể mua hàng của nươc A Nươc A muôn nươc B nhập nhiều hàng của mình, đương nhiên phải tìm cách cải thiện và mơ rộng thị trương nội dịa của nươc B, làm cho nươc B có khả năng nâng cao sức mua Ngay Việt Nam ta hiện nay, không chỉ cần nươc ngoài dầu tư vào ta, mà

ta cũng cần đầu tư ra nươc ngoài Ví dụ, hàng may mặc của ta hiện có mặt tại thị trương 46 nươc vơi giá trị xuât khẩu chỉ đứng sau dầu mơ và gạo Muôn xuât hàng sang thị trương Singapore các cổng ty may mặc của ta không chỉ cần có các cơ sơ sản xuât hiện dại ở trong nưđc, mà còn cần đầu tư vào Singapore, xây dựng ơ đó ít nhất là những cơ sơ tiếp thị, những cửa hàng mẫu

3 2

Trang 38

-Luận văn tất nghiệp

nếu có đủ khả năng và có điều kiện, các công ty của ta có thể bỏ vốn liên doanh vơi các hãng của Singapore trên đất Singapore, để sơm tiếp thu được các công nghệ dệt và may mặc tiên tiến

Có thể thây, sự vận động của đồng vốn theo nhiều chiều dưới nhiều hình thức là qui luật khách quan Tuy nhiên, đổì vđi những nươc đang phát triển như Việt Nam, việc tranh thủ vốin nước ngoài vẫn là một cổng việc rất mơi mẽ, trong một môi trường cạnh tranh quyết liệt Giá lao động rẻ chỉ còn

có thể thu hút phần dầu tư khỏng lơn để xây dựng các ngành công nghiệp truyền thống Ngày nay, các nhà đầu tư thường di tìm những ngành công nghiệp kỹ thuật cao ứ những nơi có cơ sỏ hạ tầng kinh tế và xã hội tốt, có hệ thống pháp luật hữu hiệu Từ năm 1991 đến năm 1993, Indonesia, Malaysia, Thái Lan cùng vơi Hàn Quốc và Trung Quốc chiếm hơn 90% sô" vốn của các nhà đầu tư thế giới đổ vào châu Á Như vậy, Nghĩa là dòng vỏn chỉ chảy vào những nươc có thu nhập trung bình trơ lên, có tốc độ tăng trương tương đối cao, có luật pháp và cơ sơ hạ tầng tốt Cục diện này có thể diễn ra suốt thập

kỷ 90

Kể từ năm 1988, khi nươc ta có luật đầu tư nươc ngoài, đến tháng 12 -

1995 đã có gần 1500 dự án vơi tổng sô" von đăng ký là 18 tỷ USD được cấp giây phép, trong đó có 8 tỷ đã đi vào hoạt động Đây là đầu tư trực tiếp (FDI) của nươc ngoài Trong đó, 70% vốn nươc ngoài được đầu tư vào các ngành sản xuất, 30% vào khách sạn và dịch vụ các doanh nghiệp nhà nươc chiếm

98% số dự án Kinh tê" ngoài quốc doanh chiêm 2% sô" dự án và 0,4% vốn

dăng ký Hình thức liên doanh chiêm 65%; xí nghiệp 100% von nươc ngoài chiếm gần 18%

Trong đó, tính đến cuối năm 1994, đầu tư của các nươc ASEAN vào Việt Nam như sau :<u

Nươc Sô" dự án Tăng sô" vốn (triêu USD)

Trang 39

-Luận văn tốt nghiệp

Từ đầu những năm 1990, các nưđc ASEAN đã tăng thêm sức mạnh kinh tế Singapore, Thái Lan, Malaysia đã trỏ thành những nưđc có khả năng đầu tư ra ngoài Dự trữ ngoại tệ trừ Philippines mới có 4,5 tỷ USD, các nưđc thành viên khác có từ 10 tỷ đến 30 tỷ USD

Tháng 1 năm 1992, Hội nghị cấp cao ASEAN họp ỏ Singapore đã có hai quyết định quan trọng: hình thành khu vực mậu dịch tự do của ASEAN là AFTA trong vòng 10 đến 15 năm và ký hiệp định về khung hợp tác kinh tê

Trong vòng 13 năm (1980 - 1993) giá trị xuất khẩu của Việt Nam qua ASEAN từ 19 triệu tăng lên 725 triệu USD (tăng 51 lần), giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường ASEAN tăng từ 61 triệu lên 1237 triệu USD (tăng hơn 22 lần), trong khi tốc độ xuất khẩu của Việt Nam ra thị trường thê giới chỉ tăng 8 lần, và tốc độ nhập khẩu từ thị trường thế giđi vào Việt Nam chỉ tăng 5% (từ ASEAN là 22,4%)

Đặc biệt từ năm 1988 lại đây, chu chuyển ngoại thương Việt Nam - ASEAN tăng nhanh: trong 3 năm 1989 -1991, phần Việt Nam xuất khẩu qua ASEAN chiếm 28% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam, còn tỉ lệ nhập khẩu

từ ASEAN chiếm 55% tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam

Riêng năm 1993, Việt Nam xuất sang ASEAN 725 triệu USD và nhập

từ ASEAN 1237 triệu USD

Trong các nưđc ASEAN từ 1990 đến nay, Singapore là bạn hàng lđn nhất của Việt Nam, là nưđc dầu tiên áp dụng qui chế tối huệ quốc đôi vđi các thuế khác trong quan hệ mua bán vđi Việt Nam Philippines là bạn hàng lđn thứ hai năm 1991, nhưng qua năm 1992 lại là Malaysia Malaysia cũng thực hiện qui chế tối huệ quốc vđi Việt Nam

Trên lãnh vực đầu tư, từ sau khi Việt Nam tuyên bô' Luật đầu tư nước ngoài 1987, các nưđc ASEAN đầu tư vào Việt Nam vơi 172 dự án vđi sô' vốn 2.037,4 triệu USD , chiếm gần 18% tổng sô' dự án và 16% tổng sô' vốn đầu tư của các nước vào Việt Nam

Tất cả các nước đều khuyên khích các thành phần kinh tê' phát triển,

kể cả xí nghiệp vừa và nhỏ Họ cho rằng có như vậy mới sử dụng được mọi

nguồn vốn trong dân Bỏi vậy, trong tổng sô' vốn đầu tư cơ bản, vỏn của tư nhân thường chiêm tỉ trọng lđn hơn

Hình thức huy động vốn khác cũng khá phong phú và linh hoạt Các hình thức cổ phiếu, trái phiêu, thị trường chứng khoán rất phát triển Hoạt động của thị trường chứng khoán đã góp phần quan trọng vào việc huy động vốn, tạo điều kiện cho vốn di chuyển dễ dàng đến những khu vực kinh doanh

có hiệu quả và bổ sung cho hoạt động của hệ thông ngân hàng

Nguồn vốn của tư bản nước ngoài được coi là yếu tô' cơ bản để phát

triển kinh tế các nưđc ASEAN Nguồn vốn này bao gồm các khâu viện trự,

vô'n vay để tự đầu tư và đầu tư trực tiếp của nưđc ngoài Đầu tư trực tiếp

3 4

Trang 40

-Luận văn tót nghiệp

không chỉ là nguồn bổ sung hêt sức cần thiêt mà còn góp phần vào quá trình chuyển giao công nghệ, giúp cho các nhà kinh doanh trong nưđc những kinh nghiệm quí về tổ chức quản lý Hình thức này cũng tạo khả nàng hùn vỏn nhanh hơn và giải quyết tốt vân đề thị trường tiêu thụ Vì vậy các nước ASEAN đều có các chính sách mỏ cửa rộng rãi để thu hút vỏn đầu tư nước ngoài

Thực tiễn kinh tế trên thế giđi, trong khu vực và nưđc ta trong mây năm qua cho thây, điều kiện quan trọng đầu tiên để có thể thu hút vôn nưđc ngoài là phải có một chiến lược phát triển đúng đắn, bảo đảm kinh tê tăng trương liên tục và ổn định, tạo cơ sỏ chính trị và xã hội ổn định Trong những năm qua Việt Nam và các nước ASEAN đã thực hiện chính sách thu hút vôn nươc ngoài khá thành công Để đạt được kết quả đó, các nước đã có một chiến lược phát triển đúng đắn, bảo đảm kinh tế liên tục tăng trưởng, giá cả ổn định không chốđược lạm phát, sức mua của xã hội tăng, thị trường phồn vinh, tạo

ra nhiều cơ hội đầu tư, thu hút sự quan tâm của các nhà doanh nghiệp nưđc ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp ỏ các nưđc trong khu vực Kinh tế tăng trưởng cao và liên tục là môi trường lý tưởng dể thu hút vôn nươc ngoài một cách ổn định và ngày càng tăng

Trong quan hệ quốc tế, hòa bình, ổn định, hợp tác để phát triển ngày càng trỏ thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và các quốc gia trên thê' giới Các nước giành ưu tiên cho phát triển, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết dịnh đối vơi việc tăng cương sức mạnh tổng hợp của quốc gia; tham gia ngày càng nhiều quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại, và các lãnh vực hoạt động khác

Việt Nam và các nươc ASEAN chủ trương mơ rộng quan hệ hợp tác về kinh tế vơi nhau và vơi các nươc khác ngoài khu vực là một đường lối, chính sách phát triển kinh tế đúng đắn và kịp thời Các nươc đã làm mọi cách để hiện đại hóa nền kinh tế dất nươc trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi (song phương) và có lợi chung cho khu vực (đa phương) Song vấn dề liên kết và hợp tác ở đây ngoài những nhân tô" ảnh hương có lợi như: có những nét tương dồng về văn hóa, về điều kiện địa lý, tự nhiên, cũng có không ít những yêu tô" gây khó khăn trong hợp tác Vân đề khó khăn nổi bật nhât đổ là các yêu tổ" về cạnh tranh

Hợp tác ngày càng tăng thì những điều kiện để cạnh tranh cũng rất gây gắt Hiện nay, mỗi nươc ASEAN đều có những yêu cầu về phát triển kinh tê" như nhau và họ cũng đều có những yếu tô" để cạnh tranh như nhau, về điều kiện tự nhiên lẫn diều kiện xã hội Vì vậy, để môi trương cạnh tranh và hợp tác kinh tê của khu vực dược trong sạch và lành mạnh, nhân tô con người và dạo đức được đưa lên hàng đầu Quan hệ và hợp tác về kinh tế luôn luôn dựa trên lòng tin cậy và sự cảm thông nhau Kuỏn vì mục tiêu chung của khu vực: hòa bình, hợp tác, an ninh và phát triển

3 5

Ngày đăng: 07/01/2022, 20:23

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w