GIỚI HẠN ĐỀ TÀI : v ề không gian nghiên cứu, như tên đề tài dã nêu rõ, luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu người Malay một tộc ngươi có tôn giáo chính thống là Hồi giáo chiếm tỉ lệ 50%
Trang 1Luận Văn Tối Nghiệp T rang 1
DẪN NHẬP
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Lịch sử văn hóa Đông Nam Á dã diễn ra những quá trình phân tán - hội tụ dẫn đến những phức thể văn hóa mới chung cho toàn vùng, bước hội tụ sau cao hơn bước hội tụ trước, đồng thời cũng để lại nhiều sắc thái khác nhau mang màu sắc dân tộc hay dấu â'n địa phương Vì vậy một đặc trưng nổi bậc của văn hóa Đông Nam Á là “ thông nhâ't và đa dạng” Và quá trình hội tụ bắt nguồn từ nhiều trung tâm khác nhau, nên không mang tính đơn tuyến trong sự biệt lập, mà mang tính đa tuyến trong sự tiếp xúc đan xen nhiều chiều, tạo nên những đường đồng quy, những cấu trúc văn hóa tộc người đa thành phần được vận hành theo những cơ chế linh hoạt mà đồng nhất Kết quả là tính da dạng ngày càng mở rộng trong không gian và tính đồng nhất được tiềm ẩn sâu trong thời gian và sự tương tác của chúng trỏ thành cơ chế tổng hợp qui định sự phát triển của mõi nước và ciía cầ khu vực( l'
Nhưng có một điều nghịch lý là các nước Đông Nam Á đều sinh ra và lớn lên trong một khu vực lịch sử văn hóa, có chung một cội nguồn, sống cạnh nhau với nhiều nét lương đồng, cùng chung một sô' phận lịch sử và hiện nay dang cùng nhau liên kết thành một khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển trong xu thế vừa quốc tế hóa vừa khu vực hóa Ấy thế mà trong vốn kiến thức của ngươi Đông Nam Á thiếu hẳn sự hiểu biết về khu vực, về các nước láng giềng Điều đó hạn chế rất nhiều tới nhận thức về nền văn hóa của chính mỗi nước và mối quan hệ hợp tác khu vực.
Trong tháng 07/1997 Việt Nam đã chính thức gia nhập ASEAN và trở thành thành viên đầy đủ của tổ chức này Vì vậy việc tìm hiểu lẫn nhau dể rút ngắn khoảng cách dị biệt
và hòa nhập các điểm tương đồng của mỗi nước thành viên trong tổ chức là điều tất yếu Trong đó đáng lưu ý là Malaysia, một nước khá phát triển trong khu vực, một quốc gia đa tộc
theo Hồi giáo nằm ở trung tâm Đông Nam Á Đặc biệt Malaysia còn là một thành viên quan
trọng trong khối ASEAN dã cổ quan hệ ngoại giao rất sơm và hầu như luôn duy trì chính sách đôi ngoại tích cực đôi với Việt Nam trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh và cũng như luôn nỗ lực làm cầu nối giúp Việt Nam xóa dần khoảng cách, xích lại gần hơn với ASEAN.
v ề khía cạnh văn hóa thì giữa Malaysia và Việt Nam nói riêng không chỉ giông
nhau về ngôn ngữ ở mức độ nào đó mà còn tương đồng nhau nhiều đểưi về văn học, văn hóa
vật chất, văn hóa tinh thần, xã hội truyền thông Dân tộc Malay là một dân tộc chủ thể của đất nước Malaysia Người Malay chiếm 50% dân sô', là lộc ngươi dông nhất là một vân đề
quan trọng Nên với đề tài tìm hiểu “PHONG TỤC T Ậ P Q U ÁN CỦA NGƯỜI M ALA Y Ô
M A LA YSIA ”, chúng tôi có nguyện vọng là góp phần vào việc tìm hiểu thêm về văn hóa
của mỗi nước, quy định sự hình thành và bẳn sắc văn hóa của mỗi dân tộc để các thê' hệ sau
kế thừa và tiếp tục phát triển.
(l * Xem Đinh Gia Khánh “Văn hóa dân giah Việt Nam trong hối cảnh văn hóa Đông Nam Á - 1993.
Trang 2Luận Văn Tốt Nghiệp T rang 2
1 T ro n s nước :
Cho đến nay theo sự tìm hiểu của chúng tôi thì chưa có một công trình nghiên cứu nào viết riêng về “Phong tục tập quán ciía người Malaysia” Có chăng chỉ là những tác phẩm, những bài viết, bài báo giới thiệu một cách khái quát về đất nước và con người của Malaysia nói chung Từ trước đến nay các tài liệu về Malaysia xuất bản bằng tiếng Việt rất
ít, phần lớn là những cuốn sách kiến thức phổ thông đề cập chủ yếu đến các vấn đề kinh tế,
• chính trị của Malaysia Hầu như không cỏ tài liệu nghiên cứu chuyên sâu vào văn hóa, dân tộccủa đất nuớc này, chẳng hạn :
- Ban thư ký ASEAN với “Các nước ASEAN” (Phần viết về Malaysia).
- “Triển vọng kinh tế vĩ mỏ của ASEAN” (Phần viết về triển vọng kinh tế Malaysia)
- “Văn học các các nước Đông Nam Á ” Tác giá chủ yếu đề cập đến vấn dề lịch
sử các Thiên hùng ca trong những thời kỳ dầu tiên của loài người.
- Đinh Kim Phúc - Lâm Quang Trực
“ASEAN - Lịch sử hình thành và phát triển”
Hai tác giả giới thiệu về Malaysia với tư cách là một thành viên của ASEAN từ năm 1967.
- Huỳnh Văn Tòng - Đinh Kim Phúc
“Lịch sử Đông Nam Á ” Tập 2 (Phần lịch sử Malaysia).
- Ngô Văn Doanh “Truyện cổ Malaysia”.
- Phạm Đức Thành “Malaysia trên đường phát triển”
- Vũ Dương Ninh “Các nước ASEAN” (phần Viết về Malaysia)
Và một sô" bài viết của Lê Văn Toàn - Trần Hoàng Kim, của Đào Duy Huân viết
về kinh tế Malaysia, của Phú Văn Hãn về ngôn ngữ Malayu, của Phạm Thị Vinh về giáo dục Hồi giáo ở Malaysia .
Đặc biệt, trước sự kiện gần đây nhất Việt Nam hội nhập ASEAN, nhiều chương trình phát thanh truyền hình, báo chí có những bài giới thiệu về đất nước và con người Malaysia Tuy nhiên tất cả điều mang tính giơi thiệu khái quát chung chung.
2 N g o à i n ư ớ c :
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu bằng tiếng Anh có đề cập thuộc về văn hóa cũng như các phong tục tập quán của Đông Nam Á nói chung, văn hóa Malaysia nói riêng, nhưng phần lơn còn tán mác, chưa có hệ thống và thường xuất bản dưới dạng các cuốn
Trang 3Luận Văn l o t Nghiệp T rang 3
sách nhỏ hướng dẫn và quảng cáo du lịch Trong dó có mộl số sách đáng chú ý về Malaysia như:
- “The Peoples Of Malaya” của David R Hughes xuâ't bản tại Singapore năm
1965, giới thiệu về phong tục tập quán các tộc người chính ở Malaya(2).
- “Culture Shock Malaysia” của Minan - Heidi, với công trình giới thiệu văn hóa của Malaysia năm 1996.
- “Visitors Guide to Malaysia” năm 1995.
- “The Malays : Their Problems and Future” của S.Husin All, xuât bản tại Kuala Lumpur - Malaysia năm 1981, phân tích về các vấn đề dân tộc, tôn giáo, văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội Malaysia.
- “Ethnicity and Ethnic relation in Malaysia” của Raymond Lee xuất bản năm
1986, bàn về tộc người và các quan hệ về lộc người Malaysia.
- “The culture heritage of Malaysia” của Yahaya Ismail, xuất bản năm 1989, trình bày vắn tắt sinh hoạt truyền thống của ba cộng dồng người chính ở Malaysia.
- “ Social and culture practices in Malaysia society” của Cục Thií tướng phối hợp với Cục Thông tin, trình bày tóm lắt nghi thức văn hóa, xã hội ở Malaysia.
- “Festivals and religions occasions in Malaysia” của Cục Đoàn kết dân tộc, Cục Thủ tướng, đề cập đến các hoạt động, lễ hội tôn giáo của Malaysia V V
Và hàng trăm công trình nghiên cứu khác(3).
Nhìn chung thì các công trình nghiên cứu trên đề cập đến tất cả những gì thuộc về văn hóa Đông Nam Á và của Malaysia đốì với thế giới thì không phải là mới Song ở Việt Nam thì các công trình nghiên cứu này đều bằng tiếng Anh chưa dịch sang tiếng Việt Do đổ, một công trình nghiên cứu bằng liếng Việt, giứi thiệu về các phong tục tập quán của nước bạn Malaysia thiết nghi là một công trình rất có ý nghĩa và bổ ích.
Với đề tài “PHONG TỤC T Ậ P Q U ÁN CỦA NGƯỜI M A L A Y Ở M ALA YSIA ”
chúng tôi không có tham vọng vượt lên những người đi trước mà chỉ xin kế thừa thành quả của những người đi trước kết hợp với kết quả lao động của mình Chúng tôi đã cô" gắng bổ
sung một số vân đề mà các công trình kể trên chưa đi sâu phân tích “Phong tục tập quán của người Malay ở Malaysia” nhưng rõ ràng là những bổ sung này chi' mới là kết quả nghiên cứu
bước đầu và sẽ còn phải tiếp tục đưực sửa chữa hoàn thiện ở những quá trình tìm hiểu tiếp
th eo
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u VÀ N G U ồN TẶI LIỆU :
Để giăi quyết những vấn đề khoa học đặt ra trong luận văn, chúng tôi đã sử dụng nhiều tài liệu, so sánh, đối chiếu các thông tin, dịch thuật và phân tích một cách có hệ thống các nguồn tài liệu trong và ngoài nước.
<2) Tên cũ của Vương quốc Malaya cu, nay đã nhập vào liên hang Malaysia lừ năm 1963
( Xem Phần Thư Mục
Trang 4Luận Văn Tốt Nghiệp T rang 4
tiếp.
Luận văn được viết trên cơ sở tổng hợp các nguồn tư liệu bằng phương pháp gián
Đặc biệt là sử dụng các nguồn tài liệu do Lãnh sự quán Malaysia tại Tp.Hồ Chí Minh cung cấp, và các tài liệu cũ tại Cục hai trữ Trung ương II .
- Diên kiến và phỏng vấn ngài Tùy viên văn hóa Lãnh sự quán Malaysia tại Tp.Hồ Chí Minh.
- Một số tư liệu mang từ Malaysia về do bạn bè cho mượn và ở thư viện quốc gia.
IV GIỚI HẠN ĐỀ TÀI :
v ề không gian nghiên cứu, như tên đề tài dã nêu rõ, luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu người Malay một tộc ngươi có tôn giáo chính thống là Hồi giáo chiếm tỉ lệ 50% dân số là dân tộc chủ thể trên bán đảo Malay Nên việc giới thiệu và trình bày đời sống văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, tôn giáo, phong tục lập quán và mốì quan hệ giữa tộc người Malay và các tộc khác trong liên bang Malaysia là nhiệm vụ của đề tài.
về nội dung, bố cục của bài luận văn này, chúng tôi chia theo các phần như sau :
Chương I : Tổng quan về dất nước VIÌ con ngtíoi Malaysia
Chương I I : Văn hóa vật chât và văn hóa tinh thần cửa người Malay
Chương /// : Cộng đồng lảng xã, phong tục tập quấn của người Malay ở Malaysia Chương IV : Quan hệ tộc người Malay với các tộc người khác và vâh đề văn hóa dân tộc ở Malaysia.
V KẾT LUẬN :
Với luận văn này một sự giới thiệu bước dầu về một nền văn hóa nổi tiếng của khu vực Đông Nam Á chúng tôi thiết nghĩ sẽ đóng góp một phần không nhỏ vào việc cung cấp những thông tin cần thiết để chúng ta hiểu biết rõ hơn về các nước láng giềng và trong khu vực Đây là một luận văn lốt nghiệp dại học nhưng vì diều kiện thời gian, điều kiện nghiên cứu có hạn cũng như kiến thức chuyên môn hạn chế nên luận văn này chắc chắn có những thiếu sót cần bổ sung thêm Công trình nghiên cứu này nhất dịnh sẽ trở nên bổ ích và
có ý nghĩa hơn nếu có được sự quan tâm, bổ sung của quý thầy cô và quý bạn.
Trang 5Luận Văn Tốt Nghiệp T rang 5
VÀ CON NGƯỜI MALAYSIA
I ĐIỀU KIỆN T ự NHIÊN
Malaysia nằm ở Đông Nam Á, có diện tích rộng 330.434 km2, lãnh thổ Malaysia
chia làm hai miền riêng biệt gồm bán đảo Mã Lai và hai bang Sabah và Sarawak ở phía tây bán đảo Boreo Liên bang Malaysia gồm có 13 bang : Perils, Kedah, Pulau Pinang, Perak, Selangor, Negeri Sembilan, Malacca, Johor, Kelantan, Terengganu, Penang, Sarawak và Sabah.
v ề hình dạng, bán đảo Malaysia có dạng hình lưỡi liềm nằm gần đường xích đạo
giữa tọa độ 1° - 7° vĩ Bắc, 100° - 119° kinh Đông, đã tạo nên một dãy núi liên tục trãi dài lừ
Miền Đông và miền Tây của Malaysia tách rời nhau hoàn toàn.
Miền Tây Malaysia rộng gần 133.000 km2 thuộc bán đảo Malacca giáp với Thái Lan ở phía Bắc và Singapore ỡ phía Nam.
Miền Đông Malaysia rộng 197.605 km2 Miền này có biên giới chung với Indonesia về phía Nam và Brunei Vùng biển của Malaysia kéo dài đến 4,8 nghìn km.
Đất nước Malaysia bị chia cắt bơi hai phần : ỏ miền Tây độ cao trung bình so với mặt biển là 1.500 - 2.000m, có nhiều dãy núi kéo dài từ phía Nam Thái Lan xuống với ngọn núi cao nhất là 2.190m Sông ngòi nhỏ, ngắn nhưng trong số đó có con sông quan trọng nhâ't
là sông Pahang dài 320km Ớ miền Đông, độ cao trung bình 2.300 - 2.400m, nhiều dãy núi chạy dọc theo chiều biên giới với Indonesia Với ngọn iuìi cao nhất là Kinabalu 4.101km Sông lớn nhất là sông Rajang dài 560km.
v ề khí hậu, Malaysia nằm gần xích dạo nên chịu ảnh hưởng của gió mùa, nhiệt
độ trung bình hằng ngày của Malaysia từ 21°c - 32°c Tuy nhiên những nơi có độ cao hơn
1.500m nhiệt độ khoảng -2°c đến -3 °c , lượng mưa nhiều trong năm khoảng 2.410mm đến 2.500mm Mưa quanh năm nhưng phần lơn mưa vào mùa đông ít khi mưa vào mùa hè.
Khí hậu của Malaysia chịu sự ảnh hưởng của biến gió mùa từ Đông Bắc thổi vào
từ tháng 11 đến tháng 3 và gió mùa từ Tây Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 9.
, v ề hệ thực vật : Malaysia hì một dal nước giàu có về tài nguyên thiên nhiên
Rừng chiếm khoảng 2/3 diện tích tự nhiên, tập trung ở miền Đông và ở giữa vùng bán đảo Malacca cung cap nhiều loại lâm sản quí, liêu biểu nhất là gỗ năm 1990 thu được (6 tỷ 526 triệu đô la Malaysia) từ xuất khẩu gỗ tròn, gỗ xẽ Rừng chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế Malaysia.
Do Malaysia có điều kiện đât đai nên rất thuận lợi cho việc trồng các loại cây như : Cọ dầu, dừa, dứa, cao su, lúa v.v
Trang 6Luận Văn Tốt Nghiệp T rang 6
Lúa : là loại cây trồng rất phổ biến ở bang Kedah và Perlis chiếm khoảng 17% diện tích canh tác năng suấl lúa năm 1990 đạt 2.866kg/ha, ngày nay Malaysia đã cơ bản giải quyết về vấn đề lương thực.
Cao su : được người Anh đưa vào Malaysia từ thế kỷ 19 và trở thành cây công nghiệp chính yếu, cao su được trồng ở nhiều nơi Các đồn điền cao su chiếm 65% diện tích canh tác Cao su chủ yếu dùng để xuất khẩu, cung câ'p 38% cao su tự nhiên của thế giới.
Cọ dầu : được trồng nhiều ở bang Selangor và bang Terengganu đây là mặt hàng xuất khẩu lớn của Malaysia chiếm 79.5% xuâl khẩu dầu cọ của thê giới.
Ngoài ra Malaysia còn có nhiều loại cây trồng khác như : Ca cao, chè, hồ tiêu, đậu phông, thuốc lá, và các loại cây có củ .
Malaysia được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và điều kiện đất đai nên rừng của Malaysia có chứa một cuộc sống động vật hoang dã vô cùng phong phú và đa dạng.
Cọp : là loại thú rất quí và là niềm hãnh diện của núi rừng Malaysia và được xem
là biểu tượng của đất nước này.
Voi : là động vật lớn nhất tại Malaysia nhưng lại có kích thước trunh bình so với
loài voi ở Phi Châu, chúng sống theo đàn ở một số khu rừng tại Malaysia.
Beo và báo : thì nhiều vô số kể lại các khu rừng nguyên sinh.
Bò rừng : là loại động vật ăn cỏ sống theo dàn rất đông đúc.
Mèo : Thì chúng ta có thể thấy khắp nơi với nhiều chủng loại chúng được nuôi trong nhà hoặc dưới dạng thú hoang.
Khỉ : là loại động vật đông nhất, bạn có thể thây chúng có mặt ở khắp mọi nơi,
ngay cả ở thành phố, người Malaysia dùng chúng dể hái dừa ở trên đảo đây là điều gây sự
chú ý cho du khách khi đến du lịch tại Malaysia.
Ngoài ra, Malaysia còn có những loài chim quí hiếm có hơn 600 loài khác nhau.
v ề hải sản : Malaysia có một mạng lưới sông ngòi phong phú nên ngành hải sản cũng rất phong phú và đa dạng Chỉ riêng vùng Siligan, Parkengan, Kajin và Gulisa đã cung cấp đến 95% sản lượng tôm cá toàn quốc.
Khoáng sản : Nguồn tài nguyên dưới lòng đất cũng rất phong phú đặc biệt là thiếc cung cấp khoăng 33,1% sản lượng thiếc cho toàn thế giới, với trữ lượng 1,5 triệu tấn, sản lượng cao nhất thế giới Các mỏ thiếc lớn tập trung ở các bang Perak, Selangor và một số nơi khác tại Malacca.
Dầu lửa được tạp trung nhiều ở Đông Malaysia trữ lưựng ước khoảng 400 triệu tân, khí đốt 566 tỷ mét khối, quặng sắt 70 triệu tân, đồng 80 đến 90 triệu tấn, Bôxit 8 đến 10 triệu lấn.
Ngoài ra còn có than đá, vàng, cao lanh, mangan, niken, thủy ngân .
Trang 7Luận Văn Tốt Nghiệp Trang 7
• Ở Malaysia còn có nhiều ngành nghề thủ công nghiệp như : dệt vải, đan lát, nghề
bạc, đồng râ't nổi tiếng và dặc biệt nhai là dệt Songket ở Terengganu và Kelantan có nghề
dệt lụa kim tuyến Ở Sarawak và Sabah cổ nghề dệt chăn thổ cẩm, vải in hoa Batik là mặt hàng nổi tiếng nhất thế giới tại Malaysia.
Tóm lại đất nước Malaysia là nước được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên như : lâm sản, nông nghiệp, khoáng sản .
II HOÀN CẢNH XÃ HỘI
v ề thể chế chính trị, Malaysia là một nước quân chủ lập hiến, gồm có 13 bang trong đó có 9 bang ỡ miền Tây Malaysia (Johor, Pahang, Terengganu, Kelantan, Perils, Perak, Kedah Selangor Vcà Sembilan) được đặt dưới quyền một chính phủ địa phương do dân tiểu bang đó bầu ra và dưới sự lãnh đạo của tinh thần tôi cao của một Sultan theo chế độ cha truyền con nối Bôn bang còn lại (Penang, Malacca, Sabah và Sarawak) đứng đầu là các thủ hiến cũng được đặc dưới sự điều hành của một chính phủ do dân bầu, không có Sultan nhưng quyền lãnh đạo và tinh thần tôn giáo thuộc về một vị đại diện cho vua Malaysia ở địa phương.
Người đứng đầu liên bang là đức vua dược bầu làm Yang dipertuan Agang theo
• nhiệm kỳ là 5 năm(l).
Hiến pháp là bộ Luật lối cao và quan trọng hơn hết, nó bát dầu dược công bố vào
• ngày 31/08/1957 Tâ't cả các bang đều có Hiến pháp và Quốc hội riêng.
Cơ quan Luật pháp tỏi cao là Quốc hội gồm lvai viện : Thượng nghị viện và Hạ nghị viện, nội các là cơ quan hành pháp do Thủ tướng đứng đầu và chịu trách nhiệm, các Thượng nghị viện được bầu lừ một cuộc tổng tuyển cử.
Năm 1995 có 192 thành viên dược chọn trong cuộc bầu cử chung vào ngày 25/04 Cuộc bầu cử dân chủ này dược lổ chức 5 năm một lần và mỗi khu vực bầu cử sẽ'là một thành viên trong Hội đồng nhân dân Đáng chính trị cho 5 năm tứi p ú i tướng là người đứng đầu chính phủ, ông ta sẽ được sự giúp đỡ của Phó Thủ tướng và các thành viên trong nội các Các Thượng nghị viện là những người được vua Agong chi' định với sự gợi ý của Thủ tướng.
Chính phủ liên bang có quyền lực trên tất cá các lĩnh vực : đối ngoại, quốc phòng,
an ninh, tư pháp (trừ luật Hồi giáo) quyền công dân liên bang, tài chính, thương mại, công nghiệp, thông tin, giao thông vận tải Tuy nhiên, các bang ở phần phía Đông Malaysia vần được bảo đảm quyền tự trị, dược cho phép nhập cư, định cư, dịch vụ dân sự và các vấn dề tập tục (Barian National) Đây là liên minh các dang phái hạt nhân của liên minh này là tổ chức thống nhất dân tộc Malaysia được thành lạp từ năm 1952 (UMNO) và 11 đảng phái khác bên cạnh 12 đảng phái tham gia mặt trận dàn tộc có 8 đăng dối lập.
Có 2 đảng đối lập bât hợp pháp Đỏ là dâng cộng sản Malay (CPM) và Đáng cộng sản Malaysia.
( 4 )
Xem phụ lục 7
Trang 8Luận Văn Tô't Nghiệp Trang 8
* về kinh tế :
Trong những năm cuối thập kỷ 80 đâ't nước Malaysia còn gặp nhiều khó khăn trên các lĩnh vực kinh tế, tài chính, cơ sở hạ tầng, thiếu lao động có kỹ thuật, xuất khẩu hàng thô sơ, nạn thất nghiệp V V thì trong vòng 6 năm trở lại đây đât nước Malaysia đã từng bước khắc phục được những tồn tại trên.
Điển hình là chính phủ Malaysia đã đưa ra chính sách phát triển kinh tế quốc gia rất có hiệu quả dẫn đến nền kinh tế Malaysia tcăng trưởng lên 9%, để phát triển được như vậy
là nhờ vào sự ổn định về chính trị và sự vững vàng về hành chính quản trị dưới sự lãnh dạo tài tình của những người đứng đầu Nhà nước.
Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Malaysia Nhà nước khuyến khích xuất khẩu một số mặt hàng như gỗ tròn, cao su để nhằm khuyến khích ngành chế biến 1995 dự kiến xuâ't khẩu 7.500 nghìn mét khối cây cao su, dầu, cọ ca cao, gỗ cũng dược xuất khẩu.
Công nghiệp cũng dược quan tâm hàng đầu với máy điện, thiết bị máy móc, các sản phẩm từ dầu mỏ, dự kiến thu được từ xuất khẩu các mặt hàng này là 106 tỷ đô la Malaysia vào năm 1995 tăng gấp đôi 1996.
Các mặt hàng thủ công cũng được nhà nước khuyến khích như hàng dệt, quần áo,
để phát triển hàng hóa trong nước và giải quyết tỷ lệ thất nghiệp, về công ăn việc làm dự kiến tăng 3,2% năm dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp giãin 4,5% năm 1995 nhà nước luôn luôn chú
ý đến việc đào tạo lực lượng lao động trỏ có tay nghề cao Chính phủ Malaysia rât quan tâm đến việc cải thiện từng bước những cơ sở hạ tầng như : giao thông vận tải, đường cao tốc, đường sắt, đường ở nông thôn, viễn thông, điện năng xây dựng sân bay quốc tế và các bến cảng, ngành kiến trúc xây dựng
Malaysia đã đạt tỷ lệ tăng trưởng 8,5% bình quân thu nhập tính theo dầu ngươi 4,444 USD, xuất khẩu đạt 41 tỷ USD, nông nghiệp đạt 16% GDP, công nghiệp dạt 30% GDP
Tỷ giá đồng đô la Malaysia là 1USD = 2,516 đô la Malaysia.
Từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ VI các quốc gia này lệ thuộc vào Phù Nam (Campuchia) ; từ thế kỷ thứ VIII độc lập với nhà nước Srivitjaya được thay thế bởi một đế chế hùng mạnh là Majapahit và cuối thế kỷ thứ VIII các nước này bị người Xiêm chinh phục.
Đến thế kỷ XV, người MaLay dã xây dựng kinh thành Malacca trên cửa sông Malacca và tuyên bô' sự ra đời của một nhà nước Hồi giáo Nhưng rồi sự xâm nhấp của các nước phương Tây đã phá vỡ cuộc sống của các quốc gia trong vùng.
Trang 9Luận Văn Tốt Nghiệp Trang 9
Năm 1511 Bồ Đào Nha đánh tan vương'quite Malacca và bắt đầu đặt chế độ thuộc địa phương Tây tại Malaysia trên 100 năm Trong thời kỳ này một số nước tiểu quốc cũng đã xuất hiện tiêu biểu nhâ't là tiểu quốc Giôhô và sau đó Giôhô đã chinh phục các tiểu quốc khác.
Năm 1961 Hà Lan liên minh với Giôhô cướp Malacca từ tay người Bồ Đào Nha, tiếp đến là cuộc chiến tranh diễn ra liên minh giữa Hà Lan và Giôhô Kêt cục của vân đề này là Hà Lan đã buộc Giôhô ký hiệp ước bình đẳng Như vậy đến cuối thế kỹ XVIII Giôhô
bị sâu xé và lãnh thổ bị chia nhỏ.
Cuối thế kỷ XVIII thực dân Anh bắt đầu tâ'n,công Malaysia người Anh chiếm Penang (1786), chiếm Singapore (1819), chiếm thành phô' Malacca (1805) trở thành thuộc địa của Anh bởi Hiệp ước London Năm 1824 Indonesia vẫn thuộc về Hà Lan, cồn Malacca và Singapore thuộc về Anh Những năm 1874 - 1888, người Anh đã chinh phục các vương quốc Hồi giáo: Perak, Negeri Sembilan, Selangor, Johor và Pahang Theo hiệp ước Anh - Xiêm năm 1909, những tiểu quốc vốn bị Xiêm thống trị như Heda, Kelantan, Terengganu, Perils, thuộc về người Anh bị người Anh chinh phục và thôn tín, dần dần Anh chiếm hết bán đảo Malaysia và hai bang riêng biệt là Sarawak và sabah dẫn đến nhân dân Malaysia đã nổi dạy chông lại chính quyền thực dân Anh thế kỷ XVII và XIX, tuy nhiên đầu thế kỷ XX toàn bộ Malaysia đã trở thành thị trường khai thác nông nghiệp và khoáng sản Cũng trong đầu thời
kỳ này đã xuất hiện các tổ chức như : Phong trào công nông, bãi công, đình công, chống dế quốc liên tiếp xảy ra, phong trào dân tộc, phong trào thanh niên lần lượt ra đời.
Năm 1941 Nhật hâ't cẳng Anh ra khỏi Malaysia và Singapore và điều này đã trổi lên tinh thần yêu nước của người dân Malaysia Dưới sự lãnh dạo của Đảng cộng sán Malaysia, phong trào kháng Nhật giành dược dộc lập Tháng 11/1945, Anh phục hồi lại chính
quyền thực dân ở Malaysia và dàn áp phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Malaysia.
Năm 1946, Anh tách Singapore thành thuộc dịa riêng Năm 1948 ,9 tiểu quốc gia Hồi giáo và hai bang Penang và Malacca nằm trên bán đảo hựp nhâ't thành liên bang Malaysia Cuộc bầu cử đầu tiên được tổ chức 1951 ỏ mức độ địa phương Cuộc bầu cử toàn liên bang được tổ chức vào năm 1955 với sự thắng thế của Đáng liên minh chính trị (Tổ chức dân tộc thống nhất Malay đại diện cho quyền lợi của bộ phận tư sản gô'c Malay, hiệp hội Hoa kiều ở Malaysia, và đảng Quốc Hội Ân Độ ở Malaysia và được thành lập vào tháng 10/1957 Ngày 16/09/1963 Malaysia được thành lập gồm 9 bang trên bán đảo Malaysia, Sabah và Sarawak trên bán đảo Borneo và Singapore Tuy nhiên ngày 9/08/1965 Singapore tuyên bố tách khỏi liên bang Malaysia trở thành một quốc gia độc lập.
IV DÂN C ư
Dân số Malaysia theo điều tra dân số 1996 là 18 triệu người Sự phân bố dân cư không đồng đều chủ yếu tập trung ở bán dảo Malaysia Còn ở Bắc Kalimantan chỉ có 2 đến 3 triệu người Dân cư sống tập trung ở vùng có nền kinh tế phát triển nhâ't là vùng ven biển.
Cũng giống như nhiều nước ỏ Đông Nam Á, Malaysia lcà một quôc gia đa tộc, có hơn 100 dân tộc, gồm có 2 nhóm chính là bán địa và không bản địa, nhóm không bản địa
Trang 10Luận Văn Tốt Nghiệp T rang 10
gồm có người Hoa - Ấn và những cộng đồng ít người khác như Ả Rập, dân tộc Bắc An Độ người lai Âu Á và người Châu Âu.
Theo các nhà nhân chủng thì người bản địa bao gồm thố' dân và người Malay chiếm 54%, dân số là người Hoa chiếm 34% số dân, Ân Độ chiếm 10% số dân, các dân tộc khác 2%.
Tuy nhiên đất nước Malaysia vẫn kêu gọi nhân dân đến thế kỷ 21 phải đạt 70 triệu dân nhưng con số trước mắt phải đạt 27 triệu dân vào năm 2010 Chính phủ Malaysia kêu gọi mỗi gia đình nên có từ 4 đến 5 con dể cân đôi về cơ cấu lao động cho vần dề phát triển kinh tế.
V NGÔN NGỮ
Malaysia là một quốc gia đa dân lộc và chính phủ tôn trọng quyền của chủng tộc, dân tộc về ngôn ngữ, tôn giáo, văn hóa, do đó bộ mặt đất nước rất phong phú và đa dạng Mỗi người dân hằng ngày sử dụng ít nhất là hai ngôn ngữ Ngôn ngữ chính thức cũng là ngôn ngữ nhân dân thường sử dụng hằng ngày là tiếng Malay Ngôn ngữ thứ hai là tiếng Anh và một số ngôn ngữ khác rất quan trọng cũng được dùng như ngôn ngữ phổ thông là tiếng Trung Quốc, tiếng Hindu và Ân Độ.
Trong những gia đình người Hindu và người Hoa các cháu nhỏ nói tiếng Hindu hoặc Trung Quốc, và ở trường học các cháu học tiếng Malay và tiếng Anh Như vậy tự nhiên còn rất ít tuổi các cháu tiếp xúc 3 ngôn ngữ cùng một lúc Hoặc ngược lại các cháu Malay hoặc Hindu theo học ở những trường học người Hoa dĩ nhiên được học tiếng Trung Quốc và bên cạnh đó là tiếng Malay và tiếng Anh, ở những trường học do người Hindu mở trường học cũng diễn ra như vậy.
Tiếng Anh được sử dụng nhiều trong buôn bán và giao dịch, còn tiếng Malay là tiếng sử dụng cho cậc đơn từ trong cơ quan, công sỡ.
Một hiện tượng khác cũng đáng ghi nhận là sự vươn lên có tính thông trị tiếng Anh Có tình hình là một số gia đình người Hoa, Ân Độ khi những ông bố, bà mẹ chủ gia đình cồn trẻ tuổi thường coi tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ của mình, sự kiện này được coi là sự bành trướng của tiếng Anh trôn phạm vi toàn thế giới Bên cạnh đó là nguyện vọng của nhiều phụ huynh muốn con mình biết nhiều thứ tiếng.
Mặc khác trên thực tê, người Hoa và người Hindu nói tiếng mẹ đẻ hằng ngày nhưng lại mù chữ không đục được liếng mẹ dẻ của mình Điều này là do quyết định của bố
mẹ Tuy nhiên hiện nay râ't nhiều người thấy sự mù đọc này là một thiệt thòi lớn cho con cái
và đang tiến hành khắc phục.
Một hiện tưựng nữa thường gặp là sự dung hòa của ngôn ngữ mới trong môi trường giao tiếp và đời thường Mọi người nói với bạn bè của mình lẫn lộn cả tiếng Anh tiếng Trung Quốc, tiếng Malay và điều này đôi khi làm cho những người không phải gốc gác Malay ngạc nhiên Câu mở đầu là tiếng Trung Quốc nhưng chia tay nhau trong tiếng Anh hoặc ngược lại Tiếng Trung Quỗc vốn có nhiều phương ngữ khác nhau và râ't nhiều người Hoa ở Malaysia thường coi trọng những người nói tiếng Anh nhâ't là ở các thành phố lớn.
Trang 11Luận Văn Tốt Nghiệp T rang 11
CỦA NGƯỜI MALAY
tiếp tuyến, người hóa trang hình chim, răng cưa hình chữ s gẫy khúc đã cho ta thây có sự
gần gủi đặc biệt giữa nền nghệ thuật này với nền nghệ thuật Đông Sơn Việt Nam là đã từng tồn tại một truyền thống văn hóa bán dịa làm nền tảng để đạt đến trình độ nghệ thuật cao trước khi có sự xâm nhập của nền văn hóa Ân - Hoa.
Vào giữa thế kỷ trước sau công nguyên, văn hóa Ân - Hoa (chủ yếu là Ân Độ - Nho giáo - Phật giáo) đã xâm nhập vào Đông Nam Á, ở Malaysia người ta cũng thây xuất hiện phong cách nghệ thuật của Ân Độ Tuy nhiên so với các quốc gia khác trong khu vực thì khá khiêm nhường, cư dân các vương quốc không muốn ứng dụng một mô hình theo kiểu Ân
Độ Các nhà khảo cổ học phát hiện các di vật nghệ thuật điều có kích thước nhỏ, bút phát
đơn giản hầu hết chúng chỉ tập trung ở vùng Tây Bắc Malaysia trong đó chủ yếu là ở bang
Kedalì và có niên đại rất muộn từ thế kỷ thứ V đến X.
Đến thế kỷ XV Hồi giáo theo chân thương nhân Ấn đến Sumatra và Malacca Cũng giống như các nước Đông Nam A hải đáo khác Malaysia tiếp nhận một nền văn hóa Hồi giáo Điều này đã ảnh hưởng đến nền nghệ thuật của Malaysia Hồi giáo về nguyên tắC'-
cấm đoán việc thể hiện người và động vật, cho nên nền nghệ thuật tiêu biểu của nó là kiến<c trúc và trang trí kiến trúc Vì vậy từ thế kỷ XV t r ỏ di nền nghệ thuật của Malaysia phát triển< mạnh về kiến trúc thánh đường, chúng là loại hình tiêu biểu và là niềm tự hào của người dân-^ Malay Thánh đường là trung tâm văn hóa của cộng đồng ỏ đấy một ngày 5 lần các tín đ(W đến cầu kinh.
Mặc dù nền văn hóa Hồi giáo du nhập vào Malaysia từ thế kỷ XV nhưng đến thế
kỷ XVIII người ta mới biết được các thánh đường Hồi giáo cổ xưa nhất ở Malaysia được xây
dựng trên Duyên Hải miền Đông của bán đảo như Thánh đường Kampung Lowt ở Kelantan cách bờ biển 6 km nhưng bốn thế kỷ trước thì chúng ở ven biển, hình dáng của các thánh
đường được làm theo phong cách cổ truyền Đó là kiến true gỗ với ba đến năm tầng mái, bốn tàu xòe rộng ở chân và thu nhỏ dần trên đỉnh, đứng xa ta trông thây như ngọn núi, thoạt nhìn
ta trông nó như mái chùa của người Trung Quốc.
Từ thế kỷ XVI các thương nhân và sự di dân của người Trung Quốc đến buôn bán
và làm ăn ngày càng đông ở Malaysia đã góp phần không ít vào việc xây dựng những thánh đường đầu tiên ở Malaysia Cũng chính lại Malacca đã xuâ't hiện phong cách thánh đường sớm nhât của nghệ thuật Malaysia Các loại thánh đường này đều có mặt bằng hình vuông, với bộ mái nhiều tầng theo kiểu mái chùa Trung Quốc, trên đỉnh mái có một bộ phận trang
Trang 12Luận Văn Tốt Nghiệp Trang 12
trí gọi là Mastaka và những tháp cao (Minaret) có mặt bằng hình vuông hoặc hình bát giác theo kiểu tháp Trung Quốc được xây cạnh sánh đường chính là nơi ông Bilal đứng kêu gọi các tín đồ đến thánh đường để cầu nguyện Phòng cầu kinh được dựng trên một vòng tường thấp bằng đá thay cho những cọc gỗ xưa kia, các bức tường và lan can gỗ cũng đưực thay bằng đá và gạch Những thánh đường liêu biểu cho phong cách này là thánh đường Terengkera Thánh đường Kampung Hulu dựng vào năm 1728 môtíp trang trí của các thánh đường này chỉ dùng hoa lá và chữ Á Rập song rất là mỹ thuật.
Đến thế kỷ XVIII thì một sô' thánh đường chịu sự ảnh hưởng của kiến trúc Châu
Âu Điển hình là thánh đường Abubakar<5) ỏ bang Johor được dựng năm 1892 với những cửa
ra vào và cửa sổ có mái vòm kiểu Ý ở phần kiến trúc bổn dưới Thánh đường Paloh ở bang
Perak với những Minaret dựng theo kiểu tháp đồng hồ Anh, thánh đường Jamek các cột trụ theo phong cách Pháp được xây dựng vào 1925.
Đến thế kỷ XIX xuất hiện loại kiến trúc thánh đường có vòm “Củ hành” và ô cửa hình vòng cung hoặc hình tròn, hình nhọn, chúng phổ biến đến tận ngày nay kể cả trong kiến trúc thế tục.
Sự tồn tại của nhiều phong cách kiến trúc trong cùng một giai đoạn đã khiến cho
bộ mặt của kiến trúc Hồi giáo Malaysia phong phú hơn hẳn những giai đoạn trước Tiêu biểu
là thánh đường Jame(6) dược dựng vào năm 1907 theo phong cách nghệ thuật Hồi giáo Bắc
Ân Độ với những vòm mái củ hành màu vàng, phía trên có phủ một chỏm tháp 3 tầng, kết thúc bằng một mũi nhọn Phần đỡ bên dưới có mặt bằng hình đa giác được phủ bằng ba màu : nâu, đen, trắng xen kẽ nhau, các Minaret cũng được phủ bằng các hoa sắc này Gần đây thánh đường này đã bị hư hại và năm 1993 nó được trùng tu Còn thánh đường Abudiah(7) dựng năm 1913 ở Kuala Kangsar bang Perak lại theo phong cách kiến trúc Trung Đông kết hợp với kiến trúc Ân Độ, gồm một mái vòm lớn ỡ chính giữa và bốn vòm mái nhỏ hơn hình những cỉi hành mạ vàng cùng vơi tám Minaret chính và mươi sáu Minaret phụ Ngoài ra còn một số thánh đường vơi những vòm mái hình củ hành màu đen.
Giai đoạn Malaysia giành được độc lập cũng là giai đọan mà ngành nghệ thuật của Malaysia đang tìm kiếm và xây dựng cho đất nước mình một nền nghệ thuật vừa mang tính hiện đại vừa dân tộc Trong kiến trúc tôn giáo trở về với kiến trúc dân gian cũng được các nghệ nhân Malaysia chú ý đến Vì vậy bên cạnh những thánh đường mang một phong cách Trung Đông - Ân Độ - Sumatra thì trong giai đoạn này đã xuất hiện những thánh đường mang một phong cách đặc sắc mà các giai đoạn trước chưa có được Tiêu biểu nhâ't là thánh
đường quôc gia ở thủ đô Kuala Lumpur(8) được hoàn thành năm 1965 sau năm năm xây dựng
Ớ thánh đường này người ta không còn thây bộ mái hình kim tự tháp nhiều tầng như những thánh đường thuộc phong cách Trung Đông nữa mà nó có dáng dấp một cái dù hơi gâ'p lại, những cách gấp của mái khiến ta liên tưởng đến nếp mái của những ngôi nhà sàn liền mái
<5) Xem phụ lục ảnh “Nhà cửa kiến trúc” Ảnh 1.
<6) Xem phụ lục ảnh “Nhà cửa kiến trúc” Ảnh 2
<7> Xem phụ lục ảnh “Nhà cửa kiến trúc” Ảnh 3
(l,) Xem phụ lục ảnh “Nhà cửa kiến trúc” Ảnh 4
Trang 13Luận Văn T ết Nghiệp Trang 13
trong các làng quê ở Malaysia*9^ số nêp mái có khi lên đến 18 nêp mái và được coi là biêu trưng cho 5 cột của Hồi giáo và 13 bang ở Malaysia ngày nay Công trình này đã nâng nền nghệ thuật kiến trúc Hồi giáo của Malaysia ngang tầm với những công trình hiện đại của thế giới với lối kỹ thuật xây dựng tiến bộ Ngoài thánh đường quốc gia một công trình kiến trúc Hồi giáo đáng lưu ý là thánh đường của bang Negri Sembilan trung tâm của nền văn hóa Minangkabau gồm 9 cạnh, tại mỗi cạnh mục lên một Minaret tượng trưng cho 9 thủ lĩnh trước kia của bang Một trong những thánh đường lớn nhíít ở Malaysia và ở khu vực Đông Nam Á hiện nay là thánh đường Sultan Salahuddin Abdul Aziz Shah của bang Selangor(l0) dược xây năm 1988 Thánh đường vòm mái này lại đặt trên một tầng mái dốc có 4 cạnh khiến ta nhớ lại tầng mái dốc của những thánh đường thuộc phong cách Malacca xưa kia Nó được coi là một trong những vòm mái thánh đường lớn nhất trên thế giới hiện nay với đường kính khoảng 5,2m và cao 10m Toàn bộ vòm mái được phủ kín bằng những hoa văn hình thoi màu xanh lam trên nền trắng Phần chân đế được trang trí bằng một dải băng với những hoa văn tạo từ chữ Ả Rập cách điệu và cùng được thể hiện bằng một hòa sắc lam trắng Tương ứng với vòm mái 4 Minaret ở xung quanh cũng được dựng từ những trụ trắng ghép lại theo xu hướng tròn với phần chổm tháp và các lan can tô điểm bằng hai màu lam trắng Các Minaret cao 14m là một trong những Minaret cao nhất thế giới Vì vậy có thể nói rằng, cùng với thánh đường quốc gia ở thủ đô Kuala Lumpur thì thánh dường Sultan Salabuddin Abdul Aziz Shah của bang Selangor xứng đáng được coi là công trình kiến trúc vĩ dại nhất của nghệ thuật Malaysia.
Một loại hình kiến trúc quan trọng khác là các cung điện ở Malaysia Do các vật liệu làm bằng gỗ và những vật liệu dễ bị phá hủy theo thời gian nên ngày nay chúng ta chỉ còn thấy một ít các di tích còn sót lại, điển hình là cung điện của các vị Sultan Malaysia chỉ
là những ngôi nhà sàn được xây dựng bằng gỗ, được trang trí bằng những hoa văn chạm khắc trên cột, xà ngang, cửa ra vào Tiêu biểu cho loại hình kiến trúc này là Istana Ampang Tingi ở bang Negri Sembilan(ll) dựng vào năm 1865 dưới triều đại Yam Tuan Iman trước kia theo lời mô tá trong cuốh “Biên niên sử Mã Lai” thì cung điện này được dựng theo môtíp vơi những tầng mái uốn cong theo hình sừng trâu của người Minangkabau nhưng do đã tu sửa nên ngày nay cung điện này không còn bộ mái dốc kiểu Minangkabau nữa mà chỉ còn 2 tầng mái ỈỢp bằng cỏ khô với độ dốc bình thường Nét dặc sắc trong loại cung điện này là nghệ thuật chạm khắc gỗ Toàn bộ các thành phần kiến trúc như cột, xà ngang, lan can, cầu thang, cửa sổ, cửa ra vào và tường điều được phủ kính những măng chạm khắc các môtíp hoa lá với một nét chạm hết sức tinh vi và bay bươm vơi một kỹ thuật lắp ghép tài tình, không cần một cái đinh nào để giữ vững những chỗ lắp ráp Công trình này đã dược coi là một trong những tác phẩm nghệ thuật đẹp của Malaysia và hiện nay nó được dùng làm nhà bảo tàng của bang Negri Sembilan.
Những cung điện ỡ miền Đông Malaysia còn lại đến nay sớm nhâ't cũng chỉ vào đầu thế kỷ XIX Tiêu biểu cho loại hình kiến trúc này là Istana Teng Kunik ở bang
(l<) Xem phụ lục ảnh “Nhà cửa kiến trúc” Ảnh 7
(IU) Xem phụ lục ảnh “Nhà cửa kiến trúc” Ảnh 5
(ll) Xem phụ lục ảnh “Nhà cửa kiến trúc” Ảnh 6
Trang 14Luận Vẩn Tôt Nghiệp Trang 14
Terengganu(l2) của vị Sultan Zainal Abidin III vào những năm 1884 - 1888 Đó là các loại nhà sàn có mặt bằng kép với bộ mái khá dốc gồm 2 tầng ở dãy chính và một tầng ở dãy phụ với những môtíp hoa lá chạm khắc tinh vi phía trên cửa sổ, cửa ra vào và các bức tường Sau đây ta điểm qua một sô loại nhà sàn tiêu biểu.
N hà 5 m á i T eren gganu :
Chúng ở quận Besut, loại nhà này rất dễ nhặn thấy bởi chúng có 5 mái, 1 mái giữa thẳng làm trung tâm và 4 mái ngắn hơn nhỏ xuống 4 mép Đường viền phía dưới của mái nhà được trang trí bằng nghệ thuật điêu khắc với những hoa văn uyển chuyển đưực làm bằng gổ Các ngôi nhà được thể hiện bằng một mô thức như nhà có mái hiên Seranta, phòng trước Anjung, giang trung tâm và nhà bếp Nguyên vật liệu chính dược người dân Malay sử dụng để câ't nhà như gỗ Kapur, ngói Cegal, Menrantico, mái nhà được lợp bằng ngói Senggora được nhập từ Thái Lan hoặc được sản xuất tại địa phương.
@ N hà m á i d à i ở P e ra k :
Loại nhà này được gọi là Rumal Laulai theo tiếng Malay, chỉ thấy chúng dọc bờ sông Perak ỡ quận trung tâm Lower Perak và Kuala Kangsar Nhà cTú theo dạng một mái dài lựp lá, vách dược làm băng những nan tre, sưdn nhà, mái nhà dược làm bằng gỗ Trong nhà
có 12 - 16 cột nhà, có gác lững mái hiên nhà bếp được tách riêng ra xa gian nhà chính bởi 'một hành lang không có mái che gọi là Ruang Selong Nguyên vật liệu dùng để dựng nhà là
gỗ, tre.
@ N hà ở quận Tua ran, Sabah
Diện tích nhà này được thiết kế rất lớn, để có thể tổ chức lễ hội ngay trong nhà,
nó có thể chứa tất cả mọi người trong làng Nguyên vật liệu dùng để làm nhà như cây đuốc, tre, mây, cọ, và cây song Phần lớn chúng được lây từ rừng về.
Ta có thể thấy dược nét xác thực của ngôi nhà qua các dồ vật dược trưng trong nhà qua việc bố trí các phòng như : hiên nhà, phòng ăn, phòng ngủ, phòng tiếp khách và gác mái.
N hà m á i dà i ở N e g ri S em bilan.
Kiến trúc của loại nhà này rât đẹp đặc biệt là nốc và mái, nốc oằn cong tạo nên một nét riêng biệt râ't đặc sắc, nhà có mái rất dcài, nhà được bô' trí như : ngoài gian nhà chính, phẩn trung tâm, nhà bếp còn có hiên nhà và nhà trước phần trung tâm còn có gác lững dùng như phòng ngũ của các cô gái khi nhà có tiệc hoặc dùng làm nơi chứa đồ.
2 Y p h ụ c - T rang sức.
Malaysia không chỉ nổi tiếng với những ngôi đền, chùa mang phong cách đặc thù
mà thời trang nước này cũng đang gựi sự chú ý của nhiều nhà tạo Mode Châu Á, những y phục rực rở hoa văn được làm từ bàn tay khéo léo của những nghệ nhân truyền thống dệt nên
đã tạo không ít tiếng vang trên thế giới Cũng giống như bất kỳ một loại y phục truyền thống
(12> Xem phụ lục ảnh “Nhà cửa kiến trúc” Anh 9
Trang 15Luận Văn Tốt Nghiệp Trang 15
nào ở các nước khác như : Kimono của Nhật, Sari của Ấn Độ, Cheong Sam của Trung Quốc
và Áo Dài của Việt Nam.
Một trong những nét nổi bậc và quyến rũ nhất của nền văn hóa Malaysia là y phục và trang sức truyền thống của người dân Malay vẫn được bảo tồn và thậm chí còn lưu truyền đến tận ngày nay Chúng được người dân Malaysia vận trong nhiều việc : Đám cưới, tiệc tùng, dạ hội, lễ hội.
Y phục truyền thống của người đàn ông Malay là chiếc Sarong được dệt bằng vài Songket chúng được các nghệ nhân dệt lên những sợí chiíi có ánh kim tuyến hoặc bằng vàng được mặc với áo choàng rộng không cổ gọi là áo Baju, hoặc cliiêc, quần rộng S’luar dược may bằng vải lụa trùm lên trên là một loại Sarong trong giống như váy được xếp và quấn chặt ngang thắt lưng dài đến gối, quần S’luar dưực may kết hợp hài hòa với áo Baju Khi đến thánh đường để cầu nguyện thì nam phải có khăn che đầu hoặc đội nón, họ thường đội “mũ chỏm trắng” hoặc không đội nón thì họ phải có chiếc khăn che đầu chúng được quân bằng nhiều kiểu khác nhau.
Trong các ngày lễ thì các gia dinh người Malay tham dự với những bộ quần áo kiểu cách hơn ngày thường họ mặc Baju Melayu để tham dự các buổi lễ Các Sultan và những người có địa vị cao chức trọng thường mặc áo Baju Melayu thêu rất là đắc tiền với những sợi chỉ vàng hoặc họ đính kim cương trên áo Ao Baju Melayu và Sarong là trang phục truyền thống của người Malay, ở nhà nam mặc Baju Melayu rất giản dị đi cùng với nó là chiếc Sarong giống như váy dài đến gối.
Nhưng ngày nay y phục truyền thống của đàn ông Malay không còn ưa chuộng nữa đôi với cánh đàn ông và giới trẻ mà thay vào đó là những chiếc quần tây, áo sơ mi hoặc
đồ Veston khi đi chơi hoặc đến công sờ làm việc vì chúng rẽ hơn và thuận tiện cho việc đi lại hơn.
Y phục truyền thống ciia người phụ nữ Malay là áo Baju cánh loe dược bỏ ra ngoài dài đến đùi Trong những ngày lễ thì họ mặc Sarong đưực may theo kiểu Kainlepas của người Indonesia, theo truyền thống thì họ phải đội khăn che kín mặt Đôi khi ta thấy phụ
nữ họ che phủ từ đầu đến chân chỉ chừa có đôi mắt Khăn đầu được dệt bằng vải Muslin thêu lên trên đó là những sợi chỉ kim tuyến xuất xứ tù' Terengganu Ngày nay phụ nữ Malay họ biết kết hợp những kiểu khăn che truyền thông với hiện đại là những chiếc khăn che được gắn chặt với nón vừa khích đầu chỉ hở mặt đang thịnh hành ở thành thị Phụ nữ muốn đeo khăn choàng hoặc mạng che mặt là tùy ý cá nhân nhưng trong các buổi lễ cầu nguyện thì phải có khăn che đầu.
Ở các trường học, chính phủ bắt nữ sinh mặc đồng phục, học sinh mặc áo sơ mi rộng dài tay, hoặc áo Baju Kurung trắng dài tay rộng bỏ ra ngoài cùng với chiếc Sarong.
Tóm Lại y phục của người Malay là loại y phục nghiêm túc họ cũng dùng trang sức để tôn lên vẽ đẹp cho họ Người phụ nữ Malay thường mặc y phục kèm theo những thứ trang sức không thể thiếu được như : vòng đeo tay thật to chúng đưực làm bằng vàng, đá cẩm thạch hoặc bằng vải; nón rộng vành được kết hoa nhiều màu; vòng đeo cổ bằng vải hoặc bằng vàng; đồ cài áo; dây chuyền; hoa tai tâ't cả đều được người phụ nữ Malay chú ý đến.
Trang 16Luận Vila Tôt Nghiệp Trang 16
Chúng được các nghệ nhân làm một cách khéo léo tinh vi và lạ mắt Đặc biệt là họ không thể không làm đầu với những kiểu tóc dài và xù trông càng gợi cảm và lôi cuốn Người phụ
nữ Malay khi chưa có gia đình họ không thích dùng nước hoa nhân tạo được sản xuâ't từ kỹ thuật công nghệ nhưng thân người họ vẫn tỏa hương nhờ những loại nước hoa ép ra nhỏ vào bồn tắm.
Hiện nay, trong xu hướng Âu hóa của y phục hiện đại, người Malay ở Malaysia nhất là giới trung niên và thanh niên đều Âu phục Dù ở các giai câ'p khác nhau ăn mặc một cách khác, người giàu thì áo đắc tiền, người nghèo thì vải thô nhưng họ vẫn giữ được vẽ đẹp trong bộ trang phục truyền thống hòa vào bộ trang phục hiện đại.
3 Ả m thự c
Có thể nói ăn uống là một dạng “tiêu khiển” đầy kinh tế vào rất ưa chuộng của
đa phần người dân ở đất nước Malaysia Và cũng như truyền thống của các dân tộc Châu Á thức ăn của Malaysia luôn dồi dào và nhiều chùng loại đầy màu sắc và mang nhiều hương vị độc đáo Đến bâd cứ nơi đâu bạn cũng có thể tìm thấy và thưởng thức các món ăn dặc sản : từ những khu chuyên bán đồ biển, những nhà hàng thủy tạ cho đến các quầy của những người bán hàng rong Đặt chân đến mỗi miền bạn đều không thể quên hương vị đặc thù của những món ăn truyền thống mà thiên nhiên và con người nơi dó luôn sẳn sàng thiết đãi đặc biệt là các món ăn của người Hoa, Ân, Thái .
Nhưng có một điều ngạc nhiên là những món ăn của người Malay thì không dễ tìm thây ở Malaysia như là các món ăn của người Hoa, Ân, Thái Thể chế ăn uống của người Malay thì họ ăn theo chế độ ăn kiêng khem của llồi giáo Mặc dù nhiều món ăn của người Malay đại thể đều giống nhau như : món Satay nó có ở khắp mọi nơi dây là loại bánh nhỏ gồm có thịt gà, rau quả hoặc thịt cừu dược nhúng với nước sốt gia vị đậu phộng, ngoài ra bạn cũng có cơ hội để thử một vài món ăn của người Malay như món Tahugoreng là một loại bánh nướng làm bằng tương đậu và mầm đậu sau đó trộn với nước sốt đậu phỗng Món Ikanbitis thì được làm bằng những con cá nhỏ nướng vàng lên hoặc món Ikan Assam là món
cá được lên men chua bằng những trái me được nướng lên, món Sambulu là món tôm thẻ nướng đỏ trộn với bột càri nướng lên và sau dó ăn với nước sốt được làm bằng rượu van, rau mùi, đậu phông và nước dừa Món Sarigoreng là loại gạo rang “Nasi” là loại gạo trộn với
“goreng” rồi rang lên món này được phổ biến rộng rãi hơn nhưng đặc biệt là món ăn này của ngườ Hoa, Ân Độ cũng nhưciía người Malay mỗi vùng đều có cách cho gia vị riêng Ngoài
ra, người Malay có một món được lất cả mọi người ưa thích là món Nasilemak là loại cơm nấu bằng nước dừa, sau khi cơm chín lại đem rang lên với Ikanbilis đậu phông và nước dừa.
Bữa cơm gia đình của người Malay với những món ăn cơ bản như : cơm, cá, rau Người Malay nâu cơm chứ không đổ Cá được ăn theo kiểu : cá tươi, cá muô'i, cá khô và cá mắm, từ cá hay tôm người Malay làm ra các loại mắm, mốt khác nhau Món ưa thích nhất là thịt được trộn với các loại gia vị Dầu rán chủ yếu được làm bằng dầu dừa.
Trong bữa cơm thì phong tục truyền thống của gia đình người Malay, trong những ngày lễ ăn kiêng người Malay dùng trà để tiếp khách nếu như họ dùng rượu thì họ cho là có tội không thể khoan dung dược.
Trang 17Luận Văn Tôi Nghiệp Trang 17
Người Malay ăn bốc chứ không dùng thìa đủa như người Việt Nam Vào bữa ăn, cơm được sới ra một bát to bằng tre, thức ăn được bày ra các bát bằng võ dừa được các nghệ nhân làm thủ công trang trí hoa văn rất đẹp Khi a n jTghói Malay bưng, đĩa thức_ăn bangjá_
ốc.
Người Malay cũng râ't chú trọng trong việc ăn uống, đó cũng là phản ánh rõ nét
dân tộc người Malay ở Malaysia nói riêng và người Malay ở các nơi khác trên thế giới nói
chung Đó cũng là một loại biểu tượng nhằm biểu thị ý nghĩa tín ngưỡng Thái độ ứng xử niềm mong ước tin tưởng của cư dân.
II VĂN HÓA TINH THẦN
1 Văn h ọc
Malaysia là một quốc gia đa chủng tộc với nền văn hóa đa dạng luôn dung hợp và chuyển hóa lẫn nhau để tạo thành nền văn hóa chung của các cộng đồng Khi Hồi giáo tràn vào thế giới Malaysia mang theo những làn gió mới ciía văn hóa Á Rập, Ba Tư thì các tác phẩm văn hóa truyền thống Malay đều được viết bằng tiếng Kawi, tiếng Malay theo bản chữ
Ả Rập, một trong những ngôn ngữ ciía Hồi giáo.
Nét độc dáo của văn học cổ điển Malay là các thể thơ cổ điển Pantun, Syair, Gurindam, Seloka và thơ tự do, nhưng Pantun bao giờ cũng chiếm một vị tri đặc biệt trong văn học(l3) Cho đến nay có nhiều loại Pantun dược sưu tầm và xuất bản trong các tuyển tập của các tác giả Malaysia cũng như các tác giả phương Tây Phổ biến nhất là loại Pantun 4 câu một khổ, hai câu đầu chỉ là bộ phận thứ nhất của Pantun nó là “bước điệm” “phần chuẩn
bị cho nghĩa” bởi vì hai câu sau của Pantun mới đề cập đến nội dung muốn nói cụ thể Chẳng hạn hai câu đầu họ sử dụng các biểu tượng theo quan điểm của xã hội Melayu(14) Ví dụ
“trứng vịt” là biểu tượng của sự cô đơn, “con kiến” nổi đau khổ vì tinh yêu, “nước hoa hồng” nước chữa khỏi nỗi đau ấy v.v Và mối quan hệ giữa hai câu trên và hai câu dưới bạn sẽ hiểu nội dung bài thơ một cách cụ thể hoặc trừu tượng thông qua các biểu tượng trên Để hiểu rõ được nội dung hoàn chỉnh của thơ Pantun thì dòi hỏi người đọc phải có kiến thức sâu sắc về ngôn ngữ văn hóa và đời sông xã hội của Melayu mới nhận thức hết được ý nghĩa thật
sự của bài thơ Và đây là một bài thơ điển hình.
Telur itik dari Singgóra
Pandan teiietak dilangkahi
Darahnya titik di Singapura
Bandan terlantar di Langkawi
Trứng vịt tới từ Singgora
Cây Pandan bị dẫm đạp
Máu đã đỗ ở Singappura
Thân xác được chân ở Langkawi
<13) Bunga Rampai, Aspect oi' Malay cultre by Mohd.Taib Osman, 1988
<l4) “M elayu” đồng nghĩa với chữ “Nusantara” lãnh thổ lộng lớn thống nhâ't bởi lịch sử văn hóa nay là
Malaysia, Indonesia, Singapore và Brunei.
~TWCK 0*1 HOC Mớ rp.HCM
THƠ VIỆN
Trang 18Luận Văn Tối Nghiệp T rang 18
Bài Pantun này nói đến số phận bi thảm của một chàng thanh niên tên là Tun Jana Khatib, anh ta bị hành hình ở Singapura chỉ vì muốn trổ tài trước mặt vương phi và thi thể của chàng được chôn ở Langkawi.
Trong các thể loại thư truyền thống duy chỉ cổ Pantun là thể loại văn học dân gian đồng thời tham gia vào các tác phẩm văn học viết Qua khổ thơ trên ta thấy được Pantun nó chứa tính hàm xúc và biểu tượng cao, Pantun nó được đưa vào các thể loại văn học khác làm chức năng như một sự kiện nào đó, chốt lại một vẩn đề như một lời kết luận rất gây ân tượng
Ta chưa thể xác định chính xác Pantun xuất hiện trong dân gian vào thời điểm nào, nhưng Pantun dã đi vào văn học viết lừ cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV Theo các nhà nghiên cứu thì trước khi Pantun xticất hiện một cách chính thức trong văn học lịch sử thì nó là
bộ phận của các Hikayat thần thoại (truyện thần thoại các truyện cố tích có nguồn gốc từ Ân
Độ, thậm chí trong “Truyện Seri Rama” Có những Pantun lấy các tên nhân vật như Ken Tambuhan, Panju Semirang Hanuman hay Laksamana làm biểu tượng Không những thế, sau này Pantun còn thâm nhập vào các truyện kể Hồi giáo Bằng cách ây các tác phẩm có nguồn gốc ngoại lai đã nhanh chóng đi vào cuộc sống của người Malayu.
Trong xã hội hiện nay thì Pantun có những vai trò và vị trí khác nhau, nó không cồn mang tính phổ biến nữa nhất là ở thành phố, còn nông thôn thì nó chỉ cồn tồn tại qua văn học truyền khẩu Trước đây thanh niên nam nữ họ thể hiẹn tình cám, tâm tư và ước muốn qua Pantun, còn ngày nay Pantun không còn là phương tiện để họ giao lưu với nhau mà thay vào
đó là các hình thức giải trí hiện dại hơn như họ di tham quan, đi du lịch, picnic, có thể rũ nhau
di xem phim, cùng nhau đi nhà hát hoặc họ có thể tiếp xúc với nhau ở trường học, công sở
và các nơi công cộng Qua đó họ có thể tìm hiểu và biểu lộ tình cảm trực tiếp, không còn phải vòng vo, bổng giỗ như trước Còn trong các hoạt động long trọng như lễ đăng quang, lễ hỏi, lễ cưới, Panlun không còn chỗ dứng nữa Nếu có chăng chỉ là khổ thư Pantun được xắp đặt trước, không phải là đối đáp ứng khẩu để giữ gìn truyền thống mà thôi Mặc dù vậy, Pantun vẫn còn tồn tại ở một số vùng nông thôn Pantun giúp cho họ giải tỏa nổi buồn, thử trí thông minh, châm chọc và khuyên răng Pantun không còn là yếu tố bắt buộc trong các nghi
lễ truyền thống, nhưng bản thân Pantun là một truyền thống nên nó được xã hội giữ gìn, bảo tồn và phát huy Ngày nay Pantun được sưu tầm và nghiên cứu để dịch sang các thứ tiếng như : Hoa - Anh - Nga - Tamil và các ngôn ngữ khác để thu vào băng bán rộng rãi Các phương tiện truyền thông, truyền hình hằng tuần vẫn phát Pantun Trong thể loại nhạc hiện đại của Malay vẫn sử dụng Pantun.
Trang 19Luận Văn Tô't Nghiệp Trang 19
2 M úa tru y ền th ô n g M a ỉa y
Nghệ thuật múa của Malay sớm hình thành các hình thái múa và mỗi hình thái có một chức năng do xã hội phân công Trong thực tế sinh hoạt văn hóa của xã hội mà các hình thái nghệ thuật múa mang tính chất xã hội, phục vụ cho các mục đích xã hội Mỗi hình thái múa đã được xác định ngay từ tên gọi của chúng Hình thái múa dân gian, hình thái múa tôn giáo tín ngưỡng, hình thái múa cung đình Nền nghệ thuật múa dân tộc Malay có một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Các điệu múa của người dân Malay nó quyến rũ người xem qua sự nhẹ nhàng và thanh thoát, nét duyên dáng quyến rũ theo tiết tâ'u lúc nhanh, lúc chậm, tâ't cả kết hợp với nhau tạo nên một di sản văn hóa đang được làm sống dậy nhằm phản ánh bản châ't văn hóa dân tộc của người Malay.
Tất cả những điệu múa của Malay bao giờ cũng chứa đựng những giá trị thẩm
mỹ, bản chất tốt đẹp, hầu hết những điệu múa của người Malay đều được tất cả các tộc người khác ở Malaysia ưa thích và đánh giá cao Múa ciía người Malay xuất phát từ những hoạt động xã hội, những buổi lễ đăng quang của các Sultan, lễ được mùa Sau đây chúng ta
sẽ tìm hiểu một số điệu múa nổi tiếng của người Malay.
Tarian A sti
Điệu này được dựa trên các bài hát của người Asli như Mankan Sirik, Gumung Bannang và Saputagan Trong điệu múa Tepak Sirik tâ't cả các vũ công đều mặc quần áo của người Malay và mang một tàu lá lên sân khấu múa theo điệu của người Asli.
T arian A sy ik
Đây là điệu múa cupg đình xuất xứ từ cung điện Rajakuning ở bang Kelantan Điệu múa này được các cung nữ trong hoàn cung múa với đội ngũ 10 người, trong trang phục truyền thống rất rực rỡ màu sắc Khi Asyik Puteri vai nữ chính xuất hiện thì những động tác tuyệt đẹp được kết hợp hài hòa với nhau tạo nên một khung cảnh sinh động Nó được biểu diễn trong các buổi lễ chính thức tại ở cung đình, lễ hội và lễ cưới cung đình Malay.
@ Tarian U alai
Đây là diệu múa tín ngưỡng liên quan đến thần Padi (lúa) nhằm ca ngợi và tôn kính linh hồn cây lúa Điệu múa này được các thiếu nữ ở Terengganu biểu diễn Mỗi một động tác của họ đều phản ánh đến cuộc sống ciía những người nông dân trồng lúa, nên bạn
sẽ thây giữa sân khấu có một cây dù màu sắc rực rỡ, các cô gái sẽ múa xung quang cây dù được tượng trưng cho thần Padi, ngoài ra trên sân khẩu còn có những dụng cụ làm nông như cuốc, sàng, nón nhà nông và các dụng cụ khác, họ vừa mụa vừa hát.
@ T arian S in ta S ayan g
Đây là điệu múa bắt nguồn từ bang Kedah, nó được các ngư dân đánh cá dọc theo miền ven biển múa để chúc cho bạn bè và đồng nghiệp ra khơi trở về bình an Điệu múa này được múa từng cặp nam nữ, nam thì mặc áo Baju Melayu với quần Sampin và Songkok caro
nữ thì áo Baju Kedah với Selendong trong khi múa.
Trang 20Luận Văn Tô t Nghiệp Trang 20
@ T añ an K u da K ep a n g
Điệu múa này có nguồn gốc ở Java, nó ca ngợi lòng trung thành và tinh thần dũng
cảm của nhà tiên tri Mohammad và các môn đệ của ngài Họ cởi trên lưng ngựa đi khắp Java
để truyền những câu truyện về sự chiến thắng vẽ vang của người Islam giáo Họ cho rằng họ chiến thắng được là nhờ có thánh Alah dẫn lối Điệu múa này được biểu diễn với sự nhiệt tình của người biểu diễn, với những động tác mạnh mẽ và rắn chắc Nhạc sử dụng cho điệu múa này là cồng, chiêng, trống Tambourines và Angklungs.
@ M ak Yong
Đây là điệu múa thịnh hành ở Kelanlan có nguồn gốc từ Patani ở miền Nam Thái Lan Thành phần diễn viên toàn là nữ, người múa chính gọi là Makyong Các nhân vật tham gia gồm có Pakyung muda, Pakyungtua và Makyung, ngoài ra họ còn có 16 diễn viên phụ khác như nàng hầu và những người trự giúp họ Chúng được múa ở các buổi lễ đăng quang của các Sultan.
J o G e t
Đây là diệu múa rất sinh động nó được kết hợp với điệu nhảy dân gian của người
Bồ Đào Nha Điệu múa này được múa bởi một dôi nam nữ với nhịp điệu nhanh Tuy nhiên
họ không bao giờ ôm nhau vì sự nhất quán trong những điệu múa truyền thống của người Malay thì nam và nữ không được ôm nhau, că nam lẫn nữ đều múa một cách duyên dáng theo điệu nhạc bè truyền thống của người Malay Điệu múa này rất thịnh hành và được coi là điệu múa mang tính xã hội, chúng được trình diễn vào những lễ hội văn hóa, đám cưới, ỡ Malacca thì chúng phổ biến hơn ca điệu Chakunchak.
@ B e rd ik is B a ra t
Đây là màn biểu diễn ca múa ở Kelantan, người tham gia có cả nam lẫn nữ, thường thì có một người trong dội vừa diễu cợt và tranh luận và ngay lập tức sáng tác những bài thư của chính mình cho cá nhóm hát theo Diễn viên nam thì mặc áo sơ mi tay ngắn, quần dài và chít một mãnh vải trên dầu làm khăn trùm, nhạc truyền thống của Malay có màn ca múa Berdikis Barat dể phụ họa thêm.
Ta ría n A n din g
Điệu múa này có nguồn gốc từ Brunei, ngày nay nó phổ biến ở Kedayan của Sipitang ở Sabah Các dụng cụ biểu diễn cho diệu múa này là đàn kéo Violin, sáo Bana cùng với tiếng hát để phụ họa thêm.
@ Tarían L ilin
Tarian Lilin hay còn gọi là diệu múa đèn, chúng mang đầy sức hấp dẫn và lôi cuốn Nó mô tả sự đáng thương của một cô gái, cô ta làm mâ't chiếc nhẫn hôn ước chỉ vì người chồng sắp cươi tìr bỏ cô ta di lìm sự giàu có, cô dã tìm kiếm nổ với sự giúp đỡ của một cây đèn Đó là lý do tại sao người ta biểu diễn với đèn cầy kết hợp với động tác đang tìm kiếm chiếc nhẫn Điệu múa này nó đòi hỏi sự khéo léo và duyên dáng của người thực hiện Chúng được múa phổ biến ở Malaysia.
Trang 21Luận Văn Tốt Nghiệp Trang 21
B hangra
Đây là điệu múa mang đầy sự hồ hởi của Punjabi chúng mô tả sự vui mừng của người dân khi được một vụ mùa tươi tốt Các vũ công toàn là nam họ bận các bộ trang phục truyền thống với màu sắc được kết hợp hài hòa với bộ trang phục Nhạc điệm cho điệu múa này là những chiếc trông, họ dùng tay vỗ vào hai mặt trống họ vừa vỗ vừa nhảy.
Sum azau
Điệu Sumazau là điệu múa truyền thống ỡ bang Sabah Khi múa các vũ công xếp thành hai hàng xen kẽ một nam và một nữ vơi nhau, họ dang hai tay ra múa một cách uyển chuyển khi xem bạn liên tưởng đến như những cánh chim đang bay Điệu múa này được điệm với 6 cái chiêng.
@ D a tun Juh id
Điệu Datun Julud là điệu múa phổ biến ở bang Sarawak Nó tượng trưng cho sự hạnh phúc của một đức vua được thượng đế ban cho một vị hoàng tử Nhạc điệm cho điệu múa này là các loại nhạc khí bản địa, họ vừa múa vừa khảy đàn.
lá v.v khi các thành viên đọc thần chú xong thì tiếng trống, cồng, sáo, nổi lên và sau cùng
hạ màn hình xuống.
Múa rối bóng nó được xem như là một cửa ngõ để nhìn về quá khứ của Malaysia Chúng kể lại những câu chuyện anh hùng ca Ramajana và Mahabbarta của đạo Hindu Khi xem rối bóng khán giả sẽ thấy hình tượng của các nhân vật thần thoại, những thiên hùng ca lấy từ những câu chuyện dân gian nổi tiếng.
Đ ể thực hiện được những màn trình diễn rối bóng, người ta phải chế tạo ra các nhân vật trong vở rối được làm bằng da cán mỏng ra, chúng khác với các con rối ở Indonesia thì các con rối được làm bằng gỗ Người biểu diễn rối bóng tạo nên các các mẫu rối cho mình bằng cách sử dụng màu sắc để miêu tả các nhân vật khác nhau, còn có một tấm vải trắng tạo
<IS> Janely Planet Travel Survival, Facts about Malaysia - Arts - P.39.
Trang 22Luận Văn Tốt Nghiệp Trang 22
nên sân khấu của vỡ diễn Khi xem khán giả sẽ không thâ'y trực tiếp những con rối mà chi' thấy bóng của chúng được chiếu qua màn hình nhờ vào ngọn đèn để ở phía sau tâm vải Người điều khiển các con rối này đóng một vai trò rất quan trọng, anh ta phải có đôi bàn tay khéo léo để di chuyển những cây que được gắn vào những con rối và di chuyển giữa màn hình và ánh đèn, những con rối sẽ di chuyển theo những dâu hiệu và lời đọc thoại cùng với tiếng nhạc nền từng chập, từng chập làm cho khán giả bị 'lôi cuốn bởi những cuộc diễn hành
và trận đấu diễn ra trên sân khâ'u với các nhân vật anh hùng, ác quỷ, ma, rồng v.v lần lượt hiện ra lờ mờ trước màn ảnh Khi xem những ý niệm về những giá trị tôn giáo vật linh của người dân Malay sẽ gợi lên cho người xem.
Ngày nay do sự phát triển về ngành du lịch đã đem lại chỗ đứng cho múa rối phục hồi Tuy nhiên chúng không còn được biểu diễn thường xuyên như trước đây nữa vì sự phát triển của ngành phim ảnh mà chỉ còn biểu diễn vào những dịp lễ như lễ tạ mùa, đám cưới.
Trong thời gian rảnh rổi, người Malay có rất nhiều thú tiêu khiển như Top -
Spinning(l6), thả diều, đầu vỏ, múa lân, thi chim hót Trẻ em thì có trò chơi Congkok chơi ở trong nhà, chúng giông như trò chơi ô quan ở Việt Nam mà trẻ em hay chơi.
4 Tôn g iá o tín ngư ỡng của ngư ời M alay
Tôn giáo tín ngưỡng là một bộ phận của văn hóa, tôn giáo của một chủng tộc và bối cảnh lịch sử của nó, kết cấu xã hội, trình độ ý thức với hình thái quan niệm Các mối quan niệm này không thể tách rời nhau Cũng như các dân tộc khác ở Đông Nam Á, người Malay cũng sùng bái thế giới tự nhiên , tin tưởng ở sự linh thiêng của linh hồn tổ tiên và những người đã chết Họ thờ cây côi, rừng rú, núi sông, bờ biển, vịnh nước cùng các con vật khác Như một sô" các tộc người khác ở Châu Á họ gọi trời là cha, gọi đất là mẹ, họ tin tưởng ở lực lượng siêu nhiên và tỏ lòng với thế giới tự nhiên, họ có những nghi lễ hiến tế Bên cạnh các tín ngưỡng cổ xưa như đa thần giáo, thờ cúng tổ tiên thì đạo Hồi là tôn giáo chính thống của Malaysia vậy đạo Hồi vào dût nước này khi nào.
a ) S ự xâm n h ập của H ồ i g iá o tạ i M alaysia :
Malaysia là một nước đa tộc, đa văn hóa cũng là một quốc gia đa tôn giáo Trên thực tế, dân tộc với các loại tôn giáo tính ngưỡng có quan hệ mật thiết với nhau Hầu như toàn bộ dân tộc Malay theo tín ngưỡng Hồi giáo, mà Hồi giáo và dân tộc Malay có mối quan
hệ không thể tác rời(l7).
Như chúng ta đã biết từ thê" kỷ XIV văn hóa Ẳ Rập - Ba Tư thay chân văn hóa Ấn
Độ ảnh hưởng vào Malaysia và phổ biến rộng rãi Hồi giáo ở Malaysia Vào thế kỷ XV, Hồi giáo theo chân những thương nhân và xâm nhập vào bán đảo Malay, điểm đặt chân của nó
là thành phố Malacca vì Malacca lúc bâ"y giờ là trung tâm buôn bán sầm uâ"t có thể nói Malacca bắt đầu trước thời kỳ hưng thịnh bâì cứ mặt hàng nào cũng có thể tìm thây tại đây Lucá bây giờ Malacca dưới sự cai trị của Pakamevara, ông có tài ngoại giao cũng như buôn bán và ông đã đưa ra những chính sách nhằm thu hút các lái buôn đến buôn bán tại Malacca.
<l6> Top - Spinning giống như trò chơi bông vụ ở Việt Nam như chúng ta nhưng dẹt hơn.
(l7) Xem The Growth of Civilization, lập 2, Lim Chin Tok và D.J Tata 1971.
Trang 23Luận Văn Tốt Nghiệp Trang 23
Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các lái buôn từ khắp nơi xâm nhập buôn bán và truyền đạo tại Malacca đặc biệt là các lái buôn đến lừ Bắc Sumatra Sự cải sang Hồi giáo được chính thức bắt đầu sau cuộc hôn nhân của ông hoàng Pakamevara với công chúa của vương quốc Hồi giáo Pasai ở phía Bắc đảo Sumatra cùng với việc đổi tên ông thành tên Hồi giáo Iskandar Shar Dưới sự bảo trợ của ông, số người Hồi giáo đến Malacca ngày một đông và không thuần chỉ vì lý do buôn bán như trước mà còn vì lý do thực hành và truyền bá tôn giáo Theo một số nhà nghiên cứu thì sự cải giáo lúc đầu diễn‘ra khá thô sượng nhưng cũng có kết quả Kết cục là thế chỗ cho các vị thánh và những vị anh hùng trong các sử thi và huyền thoại Ấn Độ như Rama, Laksmana, Ajuna đã trở thành hình ảnh hư cấu của Alexander đại
đế, được coi là người tiền trạm của Muhamet trong công cuộc đấu tranh cho nhấ”t thần giáo
Và những người Malay trước đây đã từng nhận là hóa thân của thần Indra và Visnu giơ dây
đã tự coi là con cháu ciía nhân vật thần thánh Macedonne qua những ông vua Ba Tư.
Từng bước một và khá êm thấm Hồi giáo đã từ cung đình lan xuống dân chúng và dần dần chi phối toàn bộ lĩnh vực dơi sống văn hóa xã hội Malaysia Cho đến nay trong số các quốc gia Đông Nam Á hải đảo, Malaysia là quốc gia mà tất cả cư dân Malay đều theo Hồi giáo.
Ở Malaysia tôn giáo và tộc người có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mỗi người Malay là một tín đồ Hồi giáo Sự ảnh hưởng của Hồi giáo đã ăn sâu bắt rễ vào người dân Malay từ khi họ từ bỗ tín ngưỡng đa thần và chấp nhận Hồi giáo trong thời vương quốc Malacca và cũng bắt đầu từ đó họ không thay đổi tín ngưỡng nữa.
Mỗi cộng đồng Hồi giáo được tự do sử dụng tài sản riêng của mình, tự điều khiển công việc nội bộ, thành lập và duy trì các tổ chức truyền giáo và làm phúc cũng như lập các trường học Hồi giáo theo pháp luật qui định.
Người đứng đầu các bang, trừ bang Penang, Malacca, Sabah và Sarawak đều là các tiểu vương, đồng thời cũng chính là ngươi dứng đầu các cộng đồng Hồi giáo Đạo Hồi có vai trò rất to lớn trong đời sống văn hóa, chính trị, kinh tế của Malaysia đặc biệt là giáo dục Năm 1955 ở Malaysia thành lập trường cao đẳng Hồi giáo, vào năm 1970 trường này trỏ thành khoa Hồi giáo của trường Đại học Tổng hợp Malay, chính phủ Malaysia tiếp tục báo trợ cho hệ thông giáo dục Hồi giáo trong nước và tăng cương chi phí cho việc giảng dạy Hồi giáo trong các trường học của người Malay.
Ở cấp độ hành lễ thì thứ sáu hàng tuần phải tập trung ở thánh đường để cẩu
nguyện và nghe giảng đạo Cuộc hợp mặt bắt đầu từ 1:00 trưa, trước khi vào thánh đường tâ't
cả phải bỏ giầy dép ra ngoài và chân tay phai được rửa sạch, khi đi cầu nguyện ở tòa thánh, đàn ông phải đội nón chỏm ngồi xếp bằng thành dãy dưới những bục giảng Phụ nữ thì họ mặc áo dài màu trắng gọi là Kaitelekong phủ kín từ đầu đến chân chỉ trừ có cặp mắt nhưng
họ không được ngồi ngay chính điện mà họ phải ngồi tách riêng đằng sau những tâm màng hoặc phòng riêng biệt, họ không được phép đi cùng với người đàn ông đến tòa thánh.
Trong kinh thánh của Hồi giáo có 5 giáo điều cơ bản mà các tín đồ phải tuân theo :
Trang 24Luận Văn Tốt Nghiệp Trang 24
1 Họ phái tin vào thánh Allah và Mabi Mohamed là vị khâm mạng của thánh Allah.
2 Họ phải cầu nguyện 5 lần trong một ngày.
3 Đến tháng Ramadzan (tháng thứ chín của niên lịch Hồi giáo) họ phải ăn chay.
4 Phải làm phước cho kẻ nghèo khó.
5 Nếu có thể họ sẽ đi hành hương đến thành phố Mecca ở Ả Rập.
Trong 5 giáo điều trên thì giáo điều thứ 5 đề ta trách nhiệm cho bất cứ ai đã trưởng thành và có đầy đủ điều kiện để đến vùng đất Mecca để cầu nguyện Niên lịch Hồi giáo được xây dựng theo chu kỳ của mặt trăng, mỗi năm có 354 ngày bắt đầu từ ngày 16 tháng 07 năm 622 sau công nguyên trái với lịch của Thiên Chúa giáo là 365 ngày Lịch Hồi giáo có 12 tháng trong năm là Muharram, Sajar, Rab’ilawal, Rabi’il - akhir, Jumadi’ll - awal, JumadiT - akhir, Rajab, Sha’ban, Ramadhan, Shawwal, Dzu’l - ka’edah, Dzu’l, tương dương
từ tháng 1 đến tháng 12 của niên lịch Thiên Chúa giáo nên việc hành hương sẽ thay đổi theo
từng năm Những người hành hương ở Mecca phải ở dó trong tháng 12 là tháng Dzu’l vì
tháng này là tháng quan trọng có các nghi thức tôn giáo và là mục đích của chuyến hành hương Ngày thứ 10 của tháng Dzu’l - hijjah là ngày thiêng liêng và cũng là ngày lễ Hari
Raya Haji là lể hội hành hương ở Malaysia.
Phụ nữ chưa chồng không được di đi hành hương trừ khi họ đi với ông anh họ hoặc đi trong một nhóm Người bệnh tật và người lớn tuổi có thể đưực miễn Đối với người nghèo không đủ tiền để đi hành hương thì họ chỉ cần tham dự những buổi cầu nguyện thứ sáu mỗi tuần là đủ Nhưng tất cả các tín đồ Hồi giáo cái mong ước duy nhất trong đời của họ là được đến miền đất thánh Mecca vì họ xem đó là trách nhiệm tôn giáo của mỗi tín đồ.
Trước khi khởi hành, người hành hương phải thực hiện một sô" nghi thức đặc biệt
n h ư : tắm rữa sạch sẽ và mặc quần áo Ihram Đây là loại quắp áo chiLcóiiai mánh vái trắng không có đường chi' may được mặc theo hai cách, một là theopCain hay là SarongDhai là mặc với íU)(Baju^hóng dược đội nón, không mang giầy kín mu bẳn chân, nên chỉ mang dép hoặc
đi chân không Sau khi hành hương ờ thánh dịa Mecca họ lại tiếp lục đến nơi chôn giáo chủ Mohammad ở Media điều này không cần thiết lắm nhưng có rất nhiều người đến nơi dây Khi chuyến hành hương trong vòng 5 tháng kêì thúc, người hành hương có được Serban và Jubbah và được gọi là Haji là người theo Islam giáo đã hành hương đến Mecca.
Chúng ta có thể thây nhiều hình thức hoạt dộng xã hội của người dân Malay điều chịu ánh hưởng của Hồi giáo Người theo đạo Hồi không được ăn thịt heo vì heo là con vật
dơ bẩn (theo truyền thuyết của Hồi giáo) và không được ăn bất cứ một con vật nào khi chết
mà không được cầu kinh hoặc những con vật chết trước khi làm thịt và những con vật lự đưa thức ăn vào miệng như : Thỏ, khỉ Không được uống bia, hút thuốc lá, ngoài ra không được chê những món ăn, không được dự trữ thực phẩm gây biến động thị trường Người theo Hồi giáo bao giờ cũng biết tự trọng đối với mình như đối với người khác, công bằng, bác ái biết giúp đỡ người nghèo khó, không dược lấy tiền của trẻ mồ côi, không mê tín dị đoan, xem bói toán, không được vào nhà người khác khi không được sự đồng ý của chủ nhà, phụ nữ không được nói chuyện cười đùa với đàn ông xa lạ ngoài chồng mình ra, không được lấy chồng
Trang 25Luận Văn Tốt Nghiệp T rang 25
ngoại đạo Khi đã thờ thánh Allah thì không được thờ bất kỳ một tượng thần nào khác đây được xem là một trong những tội nặng nhất.
b ) C ác đạo g iá o kh á c
Từ khi có sự xâm nhập của Hồi giáo thì tại Malaysia đã hiện diện hai tôn giáo lớn
là Phật giáo và Ấn Độ giáo Nhưng chủ yếu là Ân giáo Có thể nói rằng chính sự giàu có và thuần phác của thế giới hải đảo đã thu hút những thương nhân và kiều nhân nước ngoài đến sinh sông, lập nghiệp, trong số này trước hết phải kể đến những thương nhân và kiều dcân Ân
Độ, họ đã đem đến đây không những chỉ là hàng hóa mà còn có các tín đồ An giáo có vai trò lan truyền thuyết giáo của họ tại đây Lúc này Ân giáo chưa phát triển mạnh ở vùng này nó
còn bị giới hạn ở mức độ lý thuyết và tiềm thức Tuy nhiên ảnh hưởng của Ân Độ giáo ở các
lĩnh vực khác nhau như đời sống văn hóa, xã hội Malaysia vô cùng sâu đậm Cũng như đối với các dân tộc Đông Nam Á khác, Ân Độ đã đưa vào Malaysia những kỹ thuật mới của nghề trồng lúa, chăn nuôi và sử dụng đồ sắt cùng với hệ thống chữ viết, những quan niệm tôn giáo, những thiết chế của chính phủ quân chủ và hệ thông tiền tệ Khi khảo sát từ vựng của Malay người ta thấy có rất nhiều từ vay mượn của Ân Độ như từ cầu nguyện, ăn chay, trời, địa ngục những từ về luật pháp như : ngai vàng, nhà vua, tể tướng, hoàng cung Trong lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật biểu diễn, ảnh hưởng của Ân Độ cũng thật rõ rệt, hai bản anh hùng ca Ramayana và Mahasharata đã trở thành những tác phấm văn hóa thân thuộc đối với người dân Malay và thành chủ đề bất tận đôi với những vở kịch múa, rối bóng Trong
âm nhạc cũng vậy tuy không còn lưu giữ được những bài hát bản nhạc nhưng sự có mặt của những nhạc cụ Ân Độ như loại trống hình trụ, dàn Serunai trong nhạc cụ Malay đã cho thấy
sự ảnh hưởng của âm nhạc Ân Độ với âm nhạc Malay Trong kiến trúc vẫn còn những ngôi đền thờ và những công trình kiến trúc mà đã được xây dựng để biểu tượng hóa triết lý Hindu điển hình là ngôi đền Cahdi Batu Pahat ở Kedah Trong đời sông hằng ngày ảnh hưởng Ấn
Độ vẫn cồn in dấu trong một số nghi lễ tập tục của người Malay, đặc biệt là trong những nghi
lễ khi đứa trẻ mới sinh Có thể nói rằng trươc khi văn hóa Hồi giáo du nhập, thế giới thuần phác của cư dân Malay dã dược phủ một lơp văn hóa Ân Độ, nền văn hóa này đã bén rể và trở thành một bộ phận câ'u thành nền văn hóa truyền thống của Malaysia.
* Phật giáo bắt đầu từ 2000 năm trước do bởi người Ấn Độ di cư đến Đông Nam
Á đồng thời mang theo những giáo nghi Phật giáo và Ấn Độ giáo Bán đảo Malay, cho đến thế kỷ XVI công nguyên, Phật giáo tiểu thừa và đại thừa đều lưu hành dân gian (căn cứ trên giáo lý và sự thật thì Phật giáo cũng là một tôn giáo vĩ đại có tính quốc tế của toàn nhân loại) Nhưng sau này do chuyển biến tích cực pha lẫn tôn giáo với lãnh đạo chính trị, Phật giáo cũng bị áp chế v ả lại trước thế kỷ XIV, tại bán đảo trên cơ bcản chưa rõ có bao nhiêu người Hoa, sau này người Hoa từ từ di cư cùng mang theo Phật giáo từ phía Nam Trung Quôc đến, đó là Phật giáo Đại thừa nơi mà họ đặt chân đến đầu tiên là Malacca Ở Malaysia hiện nay có rất nhiều tín ngưỡng Phật giáo nhưng chủ yếu là người Hoa.
* Thiên Chúa giáo xâm nhập vào Malaysia theo sự xâm lược của người Bồ Đào Nha Họ đã cố gắng tạo ảnh hưởng Thiên Chúa giáo nhưng không có kết quả gì.
Khi tìm hiểu qua các đạo giáo trên chúng ta thây rằng các đạo giáo không phải xuâ't phát từ bản địa Các đạo giáo đều xâm nhập vào đất nước Malaysia một cách không
i
Trang 26Luận Văn Tốt Nghiệp Trang 26
hợp lệ và không cân đối Điển hình là Hồi giáo trong thời kỳ cao đỉnh của vương quốc Malacca, vị trí của Islam giáo phụ thuộc vào giai câ'p thượng lưu đặc biệt là các vị tiểu quốc đóng một vai trò chủ động trong việc truyền và thuyết giáo Islam Các nhà thuyết giáo và những nhà sùng đạo đi lan truyền giáo dưới sự bảo trợ của các tiểu quốc đương thời, truyền những kiến thức uyên bác về Hồi giáo cho các tầng lớp quý tộc Những người dân bình thường chỉ rập khuôn theo do đó họ chẳng bao giờ hiểu tận tường về triết lý, luật của Hồi giáo Họ đi chơi vào rfgày thứ sáu, uống bia, uống rượu, đánh bài không giông như cuộc sống ở nông thôn, người dân thành thị không bị ép buộc bởi các lễ giáo, họ thích làm gì thì
họ |àm, họ đến nhiều nơi giải trí, mà theo Hồi giáo là dầy rẫy tội lỗi Ngoài ra do giờ giấc làm việc chiếm hết thời gian của họ nên khó cổ thể thực hiện cầu nguyện theo giáo điều 5 lần trong một ngày Tóm lại thì hầu hết người dân Malay dều theo Hồi giáo Tuy nhiên mức
độ tin tưởng còn tùy thuộc vào mỗi người, có người họ tin tưởng một cách sâu sắc và họ tuân theo những giáo điều đã đưa ra, họ đọc và hiểu kinh thánh Qur’an, có người họ chỉ tin tưởng
ở lớp vỏ bề ngoài, họ không bao giờ cầu nguyện hoặc ăn chay như giáo điều đã đưa ra Có người không biết một chữ trong kinh Qur’an, họ luôn luôn mắc phải những lỗi lầm, lòng tin của họ chỉ là một sự dối trá mặc dù họ được sinh ra trong những tín đồ Hồi giáo.
5 L ễ h ộ i tru y ề n thô'ng.
Ở Malaysia cũng như nhiều dân tộc trên thế giới, lễ hội là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng tiêu biểu, lễ hội ở các dân tộc Malaysia rất phong phú và đa dạng Phong phú vì ở bang nào, vùng nào cũng có lễ hội, tháng nào trong năm bũng có lễ hội Đa dạng là vì mỗi lễ hội điều chứa một sắc thái riêng.
Nghi thức của lễ hội người Malay ở Malaysia đã đóng góp một cách có ý nghĩa vào sự duy trì tính Malay trong cộng đồng Điều này cho ta thấy rằng hầu hết các lễ hội Malay đều mang tính tôn giáo và cổ xưa Mặc dù có sự thay đổi về thời gian nhưng người Malay vẫn theo sát ngày tháng ciía lịch Hồi giáo một cách nghiêm túc Để hiểu rõ về các lỗ hội truyền thống của người dân Malay một cách hoàn hảo thì la phải nghiên cứu và hiểu rõ các lễ hội cổ truyền của người Hồi giáo ở Malaysia.
Trong những ngày lễ Hari Raya Haja và Hari Raya Puasa của người Malay là hai
lễ hội quan trọng nhất rất được xem trọng, được chính phủ Malaysia liệt vào những ngày lỗ cộng đồng.
Với những ngày lễ truyền thống của người Malay là :
a) H a ri R a y a H aja
Hari Raya Haja là lễ hội của người Hồi giáo còn gọi là lễ hành hương, đặc biệt là đối với hhững ai đã thực hiện chuyên hành hương đến thánh địa Mecca được tổ chức vào tháng 5 là một trong năm giáo điều của Hồi giáo luật Lễ này còn được biết đến với tên là Hari Raya Aidil Adha hay Hari Raya Rosban có nghĩa là các tín đồ Hồi giáo sẩn sàng bâ't chấp mọi khó khăn đế đi đến thánh địa Mecca Nó rơi vào ngày thứ 10 của tháng Dzul’lhijah
là ngày thiêng liêng nó đánh dâu một sự kiện quan trọng trong lịch sử Hồi giáo và cũng là ngày mà tổ tiên và loài người gặp nhau trong sự vui sướng và hạnh phúc.
Trang 27Luân Văn Tốt Nghiệp Trang 27
Lễ Hari Raya Haja còn gọi là lễ dâng hiến Theo truyền thuyết thì Abraham là người đã bị ra lệnh phải hy sinh đứa con trai yêu quí của mình là Ishamael vào đúng lúc đó thánh Allah xuất hiện thay vật tế lễ là một con cừu Kibas cho Ishamael Nên các tín đồ Hồi giáo đến ngày nay phải đến thánh địa Mecca dâng những vật tế lễ tại thung lũng Mina, họ
mổ thịt bò, cừu, dê, trâu phân phát cho người nghèo của những người Hồi giáo để tưởng nhớ đến sự thử thách của Allah đối với nhà tiên tri Abraham về sự trung thành của ngài Đây là bổn phận bắt buộc đối với mỗi tín đồ nhưng dối với những người không có khả năng làm vật
tế lễ thì được miễn Ở Malaysia thì lễ Hari Raya Haji yên lặng hơn không được cử hành trong một phạm vi rộng lớn nhưng nó lại có ý nghĩa về mặt tôn giáo nhiều hơn và được xem là một ngày tốt đẹp Lễ này được bắt đầu bởi buổi cầu kinh ở thánh đường hoặc Surau, tại Surau họ nghe Iman giảng đạo.
Vào ngày này ở lòa thánh, thánh lễ Sembahyang Hari Raya Haja được tổ chức với các bài thánh giáo ca ngợi thánh Allah bằng tiếng Arab, bà con Hồi giáo gặp gỡ nhau, và đây cũng là dịp người Hồi giáo kết bạn gặp gỡ bạn bè, hàng xóm của mình mà không phân biệt tôn giáo và các thành phần dân tộc Vào dịp lễ này, người nghèo tập trung tại các thánh đường để nhận đồ bô' thí, trẻ em được mặc quần áo mới, được đô't pháo, được tặng quà và họ làm nghi thức xin tội như lễ Hari Raya Puasa.
b ) L ễ H a ri R a ya Puasa
Vào ngày 17 tháng 4 vừa qua người Hồi giáo Malaysia cũng như tất cả các tín đồ Hồi giáo khác trên thế giới vui mừng chào đón ngày lễ Hari Raya Puasa Đây là ngày lễ lớn của đạo Hồi và ở Malaysia Lễ Hari Raya Puasa đưực coi là ngày lễ dân tộc Theo tiếng Malaysia thì Hari Raya là ngày lễ lớn, còn Puasa là ăn chay vì vậy Hari Ray Puasa có liên quan đến tháng ăn chay Ramadhan (tháng 9 của Hồi giáo) của đạo Hồi Khác với tục ăn chay của đạo Phật hay Cô Đốc giáo, ngươi Hồi giáo thực hiện nghĩa vụ ăn chay theo cách riêng của mình Bắt đầu từ ngày 1 đến ngày 30 tháng Ramadhan hàng năm tất cả các tín đồ Hồi giáo không phân biệt nam nừ, già trỏ, giàu nghèo đều nhịn ăn, uống, hút hoàn toàn từ lúc mặt trời mọc đến khi mặc trời lặn, chiều xuống cho đến hết đêm họ lại ăn uống bình thường, trong tháng Ramadhan ở các khu vực người Hồi giáo sinh sống, mọi trò vui chơi giải trí, thậm chí cả các xung đột, chiến tranh cũng tạm dừng bởi vì đây là tháng thiêng liêng nhất trong năm, nó đề cao khía cạnh đạo đức trong đời sống và trách nhiệm của các tín đồ Ngoài
ra mùa này còn là dịp lễ bô' thí, làm việc thiện mỗi gia đình phải trích một sô' tiền lợi nhuận trong năm nộp cho các nhà chức trách để phân phát cho người nghèo.
Sau 30 ngày chay giới thầm lặng là ngày hội Hari Raya Puasa tưng bừng rộn rã (ngày 1 -10 Syavval của Hồi lịch) chính vì thế người ta gọi ngày hội Hari Raya Puasa là ngày hội mãn chay Người dàn Malay sẽ biết ngày bắt đầu lễ Hari Raya Puasa bỡi những nhà có tráph nhiệm theo dõi tuần trăng ở ngoài khơi rồi báo vào đâ't liền cho các nhà chức trách và
họ thông báo cho người dân Malay biết qua truyền hình, đài, báo chí hoặc do những người đứng đầu trong làng.
Theo giáo lý của Hồi giáo ngày bắt đầu lể Hari Raya Puasa phải đúng vào ngày xuâ't hiện tuần trăng mới (tức là ngày đầu tiên trăng mọc trong tháng Syawal)
Trang 28Luận Vãn Tốt Nghiệp Trang 28
Không khí ngày hội tràn ngập khắp nơi, trong làng, ngoài ngõ, trong nhà, ngoài phố, nhà nhà trang hoàng đẹp đẽ, người người sắm sửa quần áo mới, quà cáp và đồ ăn thức uống Với trẻ nhỏ đây là ngày hội vui nhâ't, chúng được mặc những bộ quần áo mới nhâ't, thưởng thức bao loại bánh kẹo và các món ăn ngon, chúng được ông bà, cha mẹ, chú bác, anh chị thưởng quà và tự do vui chơi tụ họp với bạn bè Đốì với người lớn, ngày lễ đến một cách trang nghiêm hơn, đúng với tính chất một ngày lễ tôn giáo Tuy nhiên người Malaysia
đã kết hợp một cách tinh tế và hài hòa lễ nghi Hồi giáo với các tập tục truyền thống địa phương.
Buổi sáng những người mộ đạo việc đầu tiên là phải tắm rửa sạch sẽ hơn ngày thường với ý nghĩa là gội rữa những lỗi lầm đã qua Sau đó họ đi thăm cha mẹ, thầy dạy kinh Qur’an và bạn bè Khác với ngươi Việt là khi di thăm hỏi người thân và bạn bề là chúc phúc lành cho nhau, còn người Malay đến với người thân để đưực họ ban phúc lành và tha thứ cho mọi lỗi lầm đã mắc phải trong suốt năm qua và hứa sẽ không bao giờ lập lại tội lõi ấy nữa*,
Vì vậy khi trở về nhà họ luôn luôn có một tâm trạng thoải mái vì đã được chúc phúc và thứ lỗi Họ thay những bộ quần áo mới đẹp nhất và thưởng thức các loại bánh ngọt và các món
ăn đặc sản đã chuẩn bị từ hôm trước Sau bữa cơm thịnh soạn vui vẽ cùng gia đình các thành viên đi đến tòa thánh để dự lễ, tại đây họ cầu nguyện nhiều lần và đặc biệt là đọc kinh tạ ơn
và ca ngợi đức thánh Allah Sau đó Iman(l!i) bắt đầu giảng kinh nhân ngày lễ và nhắc nhở mọi người phải thực hiện tốt nghĩa vụ tôn giáo của mình, làm việc thiện tránh xa những điều
ác Sau buổi giảng kinh, các tín đồ lần lượt lên bắt tay và chúc mừng ngày lễ cho ông Iman
và mọi người dự lễ Buổi lễ ở nhà thờ kết thúc, ai nấy vội vã ra về hoặc tiếp tục đi hỏi thăm bạn bè cùng người thân Trong ngày này người Malay luôn mở rộng cửa nhà để đón khách
Họ chuẩn bị nhiều bánh kẹo và hoa quá để thiết đãi bạn bè, ở ngoài đường, các cửa hàng nơi đâu cũng có thể thấy câu “Selamat Hari Raya” nghĩa là “Chúc mừng ngày lễ hạnh phúc” Vì Hồi lịch ngắn hơn năm dương lịch 11 ngày cho nên mỗi năm sẽ đến sớm hơn 11 ngày so với dương lịch Cứ như vậy lễ Hari Raya Puasa sẽ lần lượt rơi vào mùa thu, mùa dông, mùa xuân rồi mùa hạ và lập lại Tuy thế, cho dù ngày lễ (.lien ra vào ngày nào thì cũng không giảm bớt
ý nghĩa của mình, duy chỉ cổ hình thức lổ chức ngììy lễ, có thay đổi ít nhiều phụ thuộc vào tập quán của mỗi địa phương trong thế giới đạo Hồi.
c) Sinh n h ậ t của g iá o chủ M oh am m ad
Ngày kỷ niệm sinh nhật ciía nhà tiên tri Mohammad là lễ hội quan trọng đô'i với các tín đồ Hồi giáo Ngày này rơi vào ngày 12 của tháng Rabi’ulaual tháng thứ ba của niên lịch Hồi giáo Lễ này hoàn toàn mang tính tôn giáo, hoạt động chính trong buổi lễ này là các buổi tụng kinh Murhaban và thuyết giáo lại các thánh đường, những đám rước và Kerduris hát những bài kinh Zikr dâng lên ngài và cầu mong thánh Allah phù hộ ngài Lễ này hoàn toàn mang tính tôn giáo không giống hai lễ trên, trong lễ này không trang hoàng nhà cửa không có quần áo mới, không có pháo mà chỉ có các bữa tiệc dành riêng cho người nghèo được tổ chức bởi các ban công tác xã hội, tôn giáo hoặc cá nhân Ngoài ra, có những cuộc diễn hành đi qua các con đường chính đi đến tòa thánh Điểm khác nhau giữa lễ này và hai lễ Hari Rayas ở trên là ở chỗ sinh nhật giáo chủ không lớn nhưng trịnh trọng hơn, điểm nổi bật
<M !> Người phụ trách hướng dẫn lỗ cầu nguyện ở nhà thờ.
Trang 29Luân Văn Tô t Nghiệp í T rang 29
trong 2 lễ Hari Raya là chủ yếu vui chơi giải trí hơn là nghĩa vụ tôn giáo, trong khi đó lễ sinh nhật giáo chủ Mohammad hoàn toàn mang tính tôn giáo.
Đến đêm từng gia đình tổ chức bữa cơm gia đình để ngồi tưởng nhớ lại vị giáo chủ Mohammad Đối với người Hồi giáo, tháng Rabiul Awal là một trong những tháng thuận lợi để làm lễ cưới.
d) L ễ A shura
Là ngày lễ được rơi vào ngày 10 tháng Mubarain tháng thứ nhất của niên đại Hồi giáo và được gọi là ngày lễ tự nguyện ăn chay Lễ này được tổ chức để các tín đồ nhớ lại những ngày đói khổ trong chiến tranh Trong ngày này tất cá các chiến sĩ phải gom góp tất
cả những thức ăn dư thừa nâu lại với nhau thành loại cháo đặc biệt gọi là “Bubor Ashura” Ngày nay để tưởng nhớ lại các tín đồ hụ lại làm theo nghi thức của các chiến sĩ, nhà nhà, nguời người cùng đóng góp thực phẩm để nấu món cháo này như : thịt, bột ngọt, đường muối, chuôi, bắp, dừa tất cả các thức ăn có thể ăn được Tất cả đều nấu chung với nhau và nó được xem là món ăn thiêng liêng tất cả các tín đồ phải ăn hết không được chừa lại Ngoài ra trong ngày này, người ta còn tổ chức buổi biểu diễn hóa trang được gọi là Boria và thường được diễn ngoài trời Đặc biệt còn có các buổi hài kịch biểu diễn ở ngoài trời ca ngợi những người con của đức giáo chủ đã hy sinh vì Hồi giáo.
e ) L ễ Isra k và M ik ra j
Đây là ngày lễ bắt đầu năm mới của Hồi giáo còn được biết đến với tên là Maal Hijrah, cũng là một trong những lễ hội quan trọng của cả cộng đồng Nó rơi vào ngày 27 tháng Rejab (tháng thứ 7 của Hồi lịch) Đây là một lễ hội tôn giáo nó mang ý nghĩa sự đắc đạo của các nhà tiên tri Ớ các bang Kedah, Negri Sembilan, Johor được tổ chức rất long trọng.
f) Puju Pan ta i
Đây là lỗ cúng bái được các cư dân đánh cá tổ chức hàng năm ở các khu vực ven
biển trước khi họ ra khơi đánh cá Vào ngày này các ngư dân mang lẽ vật để tế ra bờ biển cầu nguyện để cho họ ra khơi và trở về bình an, lễ này mang tính chất tôn giáo, nó là một trong những ngày hội lớn của các cư dân vùng Kuala Terengganu cách 5 km về phía Nam.
g ) N uzul O uran
Đây là ngày lễ kỷ niệm ngày nhà tiên tri đọc kinh Qur’an soi sáng, lễ này được tổ chức long trọng của cả cộng đồng 6 bang Hồi giáo ở Malaysia : Kelantan, Penang, Perak Perils, Selangor, Terengganu.
h ) M a n d i Sa fa r
Mandi nghĩa là tắm, Safar là tháng thứ nhì niên lịch Islam giáo Nên lễ này được gọi là “lễ tắm ciía tháng thứ nhì” lễ này chỉ có tại Malaysia và nó còn hiểu theo một nghĩa nữa \à ‘Tàm sạch cơ thế và linh hồn”
Trang 31Luận Văn Tôt Nghiệp Trang 30
Ở Malaysia nước là một biểu tượng trong các buổi lễ tôn giáo(l9), khi một người Malay họ đi thăm một trong những nơi thờ phụng vị thánh nổi tiếng nào thì họ được rãy nước thánh để trôi đi những điều xấu xa và bệnh tật Trong ngày này các tín đồ sẽ được uống nước thánh Ayer Safar là loại nước đã được làm phép.
Trên bãi biển bạn sẽ thây một quang cảnh nhộn nhịp trong ngày lễ này, người la mặc các trang phục đầy màu sắc họ nhảy múa nô đùa trên bãi biển Không khí giống như buổi tắm biển hơn là mang một không khí tôn giáo.
Một số nơi họ không tổ chức lễ này vì họ cho rằng đây là một hành động bâ't kính Nhưng dù gì đi nữa thì lễ Mandi Safar vẫn tồn tại ở một số nơi đặc biệt là ở vùng Tanjong.
k ) L ễ tạ m ùa.
Lễ này được gọi là lễ Bambaazon, là hiện thân của cây lúa Theo truyền thuyết, Thượng đế và vợ ông ta là Suminundu đã hy sinh đứa con gái duy nhất của mình là Huminođun để tạo ra thực phẩm cho người Kadazon Ông gieo những hạt lúa lên người cô con gái và sự sống đã nãy mầm tạo ra một loại thực phẩm để cứu đói cho người dân Kadazon
là cây lúa, do đó sự hiện diện của Bambaazon sẽ làm cho cây lúa tăng trưởng nhanh chóng
và tươi tốt Người dân Kadazon tổ chức lễ này vào giữa tháng 5 hàng năm để tỏ lòng biết ơn
của người dân đối với Thượng đế Kinoingan Minamangun.
Lễ này họ tổ chức theo 4 nghi thức tương ứng với 4 giai đoạn của một vụ mùa :
- Sự trở về của Bammaazon :
Ở Tambunan nghi lễ này được tổ chức khác ntyau tùy theo từng vùng Các nữ thầy
tế, trước vụ thu hoạch hụ sẽ chọn những bông lúa tốt nhất cất đi và bó chúng lại, điều này họ hàm ý là linh hồn của cây lúa sẽ ngự trị trong những bông lúa tốt nhất Còn người Kadazan
sống ở Penumpang họ sẽ chọn những cây lúa có nhiều hạt cột chúng lại với nhau và không
được đụng đến chúng cho đến khu vụ mùa thu hoạch kết thúc họ sẽ cắt những cây lúa đó đem về nhà chủ nông trại, việc này có ý nghĩa như là linh hồn của cây lúa đã được về nhà nghỉ ngơi chờ cho đến vụ mùa sau.
- Nghi thức Magavau
Nghi thức thứ hai là Magavau, sau khi câ't lúa vào kho họ sẽ tổ chức lễ này được xem là lễ tạ ơn linh hồn Bambaazon vào buổi chiều tới họ bắt đầu nghi lễ này các tín đồ ngồi tụng những bài kinh cho linh hồn của cô Huminodun cho đến khuya, trong nhà của chủ nông trại họ vừa đi xung quanh nhà vừa cầu nguyện, họ cùng ca ngợi Bambaazon với những bài hát và cùng nhau nhảy múa.