Nhóm tượng tiêu biểu được trưng bày tại Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam - Thành Phố Hồ Chí Minh đã phần nào thể hiện được những giá trị về một nền nghệ thuật đặc sắc của champa Điêu khắc đá Ch
Trang 1KHẤC ĐÁ CHAMPA QUA NHÓM TƯỢNG ĐANG TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG LỊCH s ử VIỆT NAM
Trang 2L u â n Vă_n_ J Ố t Nghiêp_
MỤC LỤC
Lời Cảm Tạ Trang 1Dần Luận Trang 2Chương 1 - Vài Nét về Lịch sử Champa Trang 6
1.1 Nguồn gốc .Trang 61.2 Sự Hình Thành Và Phát triể n Trang 6Chương 2 - Đôi nét v ề Nghệ Thuật Điêu K hắc Trang 11
2.1 Phong Cách Mỹ Sơn E l Trang 142.2 Phong Cách Hòa L a i Trang 142.3 Phong Cách Đồng Dương Trang 152.4 Phong Cách Trà K iệu Trang 162.5 Phong Cách Tháp M am Trang 172.6 Phong Cách Poklaung G arai Trang 18Chương 3 - Những Hiện Vật Điêu Khắc Đá Champa Đang Trưng Bày
Tại Bao Tàng Việt Nam TP Hồ Chí Minh I Trang 193.1 Thông Kê - Phân L o ại Trang 193.2 Khảo T ả Trang 203.3 Nhận X é t Trang 37Chương 4 - Bước Đầu Tim Hiểu Đặc Điểm Nghệ Thuật Điêu Khắc
Đá Champa Trang 404.1 Đặc Điểm Nghệ T huật Trang 404.2 Giá Trị Lịch Sử - Văn H ó a Trang 47Kết Luận .Trang 49Tài Liệu Tham K hảo Trang 51Phu L u c
Trang 3L uán_văn Tôt Nghjêp_
LỜI CẢM TA
Em xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô Trường Đại Học Mở - Bán Công TP
Hồ Chí Minh và Khoa Đông Nam Á đã dạy dỗ và truyền đạt cho em những kiến thức quý báu để bước vào đời Quý thầy cô đã trang bị cho em những hành trang cần thiết
để trở thành người có ích cho xã h ộ i Công ơn này em không bao giờ quên
Em cũng xin chân thành cảm ơn Phó Tiến Sĩ Nguyễn Thị Hậu đã giúp em hoàn thành cuốn luận văn tôt nghiêp này Cô đã bỏ nhiều công lao và thời gian để hướng dẫn em hoàn thành cuốn luận văn một cách có hệ thông Lời cảm ơn cũng xin gởi đến ba mẹ và bạn bè đã hổ trợ , cổ vũ , động viên cho em suốt thời gian học tập
Cuối cùng một lần nữa em xin cảm ơn tất cả Quý thầy cô Trường Đại Học Mở
- Bán Công TP Hồ Chí Minh , gia đình , anh chị và bạn bè đã hết lòng dạy dỗ hướng dẫn động viên , giúp đỡ em suốt thời gian d à i
Xin chân thành cảm ơn Tháng 9/1998
Trang 4Luân_Yăn Tốt Ngh_iêp_
DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Nghệ thuật Êhampa nói chung , nghệ thuật điêu khắc đá nói riêng là một trong những đỉnh cao về văn hóa , văn minh Champa Dân tộc champa đã để lại cho đất nước Việt Nam một di sản văn hóa vô cùng qúy giá và độc đáo đã góp phần xứng đáng vào kho tàng nghệ thuật Việt Nam
Nhóm tượng tiêu biểu được trưng bày tại Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam - Thành Phố Hồ Chí Minh đã phần nào thể hiện được những giá trị về một nền nghệ thuật đặc sắc của champa
Điêu khắc đá Champa với những giá trị như thế , việc tìm hiểu và tiếp tục nghiên cứu để hiểu đúng đắn hơn , sâu sắc hơn về điêu khắc đá Champa là hết sức cần thiết đô"i với chúng ta , đốì với những ai yêu thích muôn tìm hiểu tài hoa của một dân tộc Chăm hùng dũng Và thông qua những tác phẩm điêu khắc đá được trưng bày ở đây mà thấy được sự cần cù , sáng tạo của người nghệ sĩ Chăm đã gởi gắm những tâm tư tình cảm , khát vọng của tâm hồn con người đôi với cuộc sống như thế nào ? Chính vì vậy , việc bước đầu tìm hiểu nghệ thuật điêu khắc đá Champa qua một số tượng trưng bày tại Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam - Thành Phô" Hồ Chí Minh
để thây rõ những giá trị tinh thần , mỹ th u ật, nội dung và ý nghĩa phản ánh của các tác phẩm đó là điều hết sức cần thiết , nhằm góp phần nhận thức một cách đầy đủ hơn , sâu sắc hơn về điêu khắc đá Champa Cũng như sẽ có dịp giới thiệu cho bạn bè , khách du lịch biết thêm về sự phong phú và nét đẹp của văn hóa Việt Nam nói chung và nghệ thuật điêu khắc đá nói riêng đó là lý do tôi chọn đề tài “Bước đầu tìm hiểu nghệ thuật điêu khắc đá Champa qua nhóm tượng trưng bày tại Bảo Tàng Lịch
Sử Việt Nam - Thành Phô" Hồ Chí Minh” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vân đề
Nhìn lại chặn đường nghiên cứu về nghệ thuật Champa nói chung , trong đó
có điêu khắc đá nói riêng , có lúc rất sôi động , song do những hoàn cảnh lịch sử có lúc tạm thời bị lắng xuống , nhưng nhìn chung qúa trình nghiên cứu cho đến nay đã
có bề dầy gan 1 thê" kỷ Riêng về điêu khắc đá , dù chưa có những công trình chuyên khảo nhưng thông qua những nguồn tư liệu đã được các tác giả đề cập dù trực tiếp hoặc gián tiếp về điêu khắc đá Champa trong các bài viết hay công trình nghiên cứu chung về nghệ thuật Champa không phải là ít Do khuôn khổ , thời gian qúa hạn hẹp cho nên vệc lật lại lịch sử nghiên cứu vân đề chỉ là sơ lược dưới dạng liệt kê (với những tiêu biểu đã đóng góp nhiều trong việc nghiên cứu)và không gian liệt kê chỉ nằm trong khoảng thời gian 1975 trở lại đây
Sau khi miền ilam được hoàn toàn giải phóng đất nước thông nhất điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiên cứu có điều kiện đi tham quan thực tê" tiến
Trang 5Luận_văn Tốt Ngh_iêp_
hành các cuộc điền dã Nhữ ng phát hiện mới và những nghiên cứu được các tác giả công bô" trên các sách và tạp chí như : khảo cổ học , những phát hiện mới về khảo cổ , nghiên cứu nghệ thuật đã đóng góp một phần quan trọng cho công cuộc nghiên cứu nghệ thuật champa nói chung , nghê thuật điêu khắc đá nói riêng
Bài viết của Giáo sư Nguyễn Duy Hinh “khảo cổ học Champa quá khứ và tương lai^đã phê phán những quan niệm sai lầm của một số học giả Phương Tây lịch
sử văn hóa Champa
Tác giả Ngô Văn Doanh có khá nhiều bài viết về nghệ thuật Champa , đặc biệt là nghệ thuật điêu khắc, trong đó có điêu khắc đá Trong đó có hàng loạt bài
“Bàn về nghệ thuật điêu khắc Chàm mới phát hiện ở An Mỹ (Quảng Nam Đà Nẩng)” “Pho tượng mới phát hiện ở Bình Định và vân đề tượng chân dung trong nghệ thuật Chàm” “Tháp cổ Champa sự thật và huyền diệu” , nhất là tác phẩm “Văn hóa Champa” , trong đó tác giả đã khái quát về tình hình nghiên cứu điêu khắc đá Champa từ trước đến nay
Giáo sư Cao Xuân Phổ đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu nghệ thuật Champa nói chung và nghệ thuật điêu khắc đá nói riêng Trong cuốn “Điêu Khắc Chàm” với bài v iế t: “Người Chàm và điêu khắc Chàm” tác giả đã nêu khái quát tình hình văn hóa và lịch sử của Champa Đồng thời tác giả đã xác lập sáu mốc lớn trong chặn đường phát triển của nền nghệ thuật điêu khắc Chàm
Nhà nghiên cứu Trần Kỳ Phương đã bỏ công sức nhiều năm để nghiên cứu nền nghệ thuật Champa , có nhiều bài viết đăng trong tạp chí khảo cổ học , những phát hiện mới về khảo cổ học , nghiên cứu nghệ th u ật Trong đó có những bài viết mang tính chất thông báo những phát hiện ở Bình Định và vân đề tượng chân chung trong nghệ thuật Chàm “Những hiện vật thuộc nghệ thuật Chàm mới phát hiện tại Quảng Nam Đà Nẩng” “Mỹ Sơn trong lịch sử nghệ thuật Chăm” “Những liên hệ giữa nghệ thuật Chàm và nghệ thuật Môn - Dvaravati qua đài thờ Mỹ Sơn Ei ”
Cùng với những bài viết mang tính chất tư liệu sự nghiên cứu mang tíng kiểm định Trần Kỳ Phương đã có những bài viết nêu lên quan điểm của mình đồng ý hoặc là không đồng ý vơí ý kiến của các nhà nghiên cứu trước và đưa ra ý kiến mới Chẳng hạn như bài “Nghệ thuật điêu khắc Chàm Vân đề niên đại” Tác giả cũng có nhiều đề xuất khác nhau trong vân đề phân chia phong cách và giai đoạn phát triển của nghệ thuật Champa nói chung điêu khắc đá nói riêng
Giáo sư Lương Ninh đã có nhiều bài viết liên quan về lịch sử , văn hóa Champa như “Vài nét về Văn hóa Champa” nhưng đáng chú ý nhất là phần viết về Champa trong cuô"n “Lịch sử Việt Nam tậpl ”
Từ sau 1975 , công cuộc nghiên cứu của nghệ thuật Champa , trong đó có lĩnh vực điêu khắc nói chung ,điêu khắc đá nói riêng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Việt nam , các nhà nghiên cứu đã cung cấp thông tin hết sức qúy báo, đồng thời cung cấp thêm những nhận thức m ớ i, trong đó phải kể đến các tác giả như : Phan Xuân Biên , Phan An , Phạm Hữu Mý
Trang 6Luân_v_ặn Tốt Ngh_iêp_
Nhờ đất nước được hòa bình thông nhất , các nhà khoa học của Việt Nam có điều kiện tiếp xúc trực tiếp di tích , di vật phong phú của nền nghệ thuật Champa để phục vụ việc nghiên cứu Cho đến nay , nhiều hiện vật về điêu khắc đá Champađã được phát hiện thêm Các nhà nghiên cứu Việt Nam một mặt đã thừa hưởng và tiếp thu những thành qủa đã đạt được của các nhà nghiên cứu trước đây , đó là sự tiếp thu
có chọn lọc và có phê phán Các nhà nghiên cứu của Việt Nam đã nêu ra nhiều vấn
đề mấu chốt cần giải quyết công việc nghiên cứu văn hóa , nghệ thuật của Champa Chẳng hạn các nhà nghiên cứu đồng ý rằng Champa có sự tiếp thu và chịu ảnh hưởng văn hóa , tôn giáo đặc biệt là Ân Độ Giáo là một thực tế lịch s ử , nhưng không phải là sự tiếp thu nguyên xi mà đã được bản địa hóa Trong lĩnh vực điêu khắc , nhất là điêu khắc đá , chúng ta cũng có thể thấy vấn đề này
Trong một chừng mực nào đó , có thê nói “An Độ” chỉ là cái võ bê ngoài, còn
cái lắng đọng bên trong (nội dung) mà nó phản ánh lại hoàn toàn chumpa
3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
Do thơi gian và khả năng ngoại ngữ còn hạn chế nên không thể đọc được những tác phẩm của các nhà nghiên cứu nước ngoài (hầu hết là tiếng Pháp) cho nên tôi tìm đọc những tác phẩm , công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước vá những tác phẩm nước ngoài được biên dịch l ạ i Đó chính là hạn chế của luận văn
Ngoài ra còn tham khảo tư liệu sách hay những bài viết có liên quan đến đối tượng tìm hiểucủa luận văn , mà các nhà nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu qua các tác phẩm chuyên khảo về nghệ thuật nói chung cũng như các bài viết có liên quan về điêu khắc đá trong các tạp chí khảo cổ học từ 1980 trở lại đây , dân tộc học , văn hóa nghệ th u ật, các tài liệu lịch sử về Champa
Dùng phương pháp tiếp cận hiện v ậ t, đo đ ạ t, khảo tả , chụp ảnh Từ đó đưa
ra những nhân xét về đặc điểm nghệ thuật , giá trị về văn hóa , lịch sử và sự đóng góp của nền văn hóa Champa đối vườn hoa văn hóa dân tộc Việt nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đôi tượng : Điêu khắc đá Champa rất phong phú và đa dạng , do vậy một luận văn tốt nghiệp không thể đề cập hết tất cả mọi vấn đề liên quan đến điêu khắc đá Champa cho nên đốì tượng nghiên cứu chỉ là những phù điêu hướng tới tượng tròn , những biểu tượng của bệ thờ , vật trang trí Những điêu khắc văn bia sẽ không thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn
• Phạm vi nghiên cứu : Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những điêu khắc đá Champa ở giai đoạn từ thế kỷ 12 trở về trước Vì đây là giai đoạn mà nghệ thuật Champa nói chung và điêu khắc đá nói riêng phát triển rực rỡ nhất , hơn thế nữa các hiện vật tiêu biểu được trưng bày tại Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam - Thành Phô"
Hồ Chí Minh chỉ khoảng từ thế kỷ 12 trở về trước
về mặt không gian : Phạm vi nghiên cứu tìm hiểu chủ yếu dựa vào những hiện vật đang trưng bày tại phòng 14 của Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam - Thành Phô" Hồ Chí Minh
Trang 7Luân_Y_ặn Tốt Nghịêp.
5 Kết quả và đóng góp của luận văn
Kết quả bắt đầu tìm hiểu đề tài điêu khắc đá Champa cho thấy rằng điêu khắc
đá Champa có hìng thức thể hiện khá đa dạng , nội dung và ý nghĩa phản ánh của nó
vô cùng phong phú Điêu khắc đá Champa không chỉ có giá trị về mặt nghệ th u ật,
mà nó còn là một trong những tài liệu gốc giúp chúng ta nghiên cứu về văn hóa , văn minh và lịch sử của Champa
Đóng góp của luận văn : Thống kê phân loại và khảo cổ tả một cách có hệ thông nghệ thuật về điêu khắc đá Champa hiện đang trưng bày tại Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam - Thành Phô" Hồ Chí Minh Thông qua sự miêu tả để giải thích nội dung
và ý nghĩa của nó đối với lịch sử của Champa Từ đó khảng định điêu khắc đá Champa là một trong những bằng chứng vật c h ấ t, là nguyên liệu gốc giúp chúng ta trong việc nghiên cứu của văn hóa , văn minh lịch sử của vương quốc Champa cổ
6 Giới thiệu cấu trúc nội dung
Ngoài phần dẫn luận , kết luận , luận văn bao gồm 4 chương Chương I : Vài nét về lịch sử Champa
1.1 Nguồn gốc1.2 Sự hình thành và phát triển
• Chương I I : Đôi nét về nghệ thuật điêu khắc đá Champa
Các giai đoạn (phong cách) của điêu khắc đá Champa
* Chương I I I : Những hiện vật điêu khắc đá Champa đang trưng bày tại Bảo Tàng Lịch
Sử Việt Nam - Thành Phố Hồ Chí Minh 3.1 Thông kê phân loại
3.2 Khảo tả3.3 Nhận xétChương IV : Bước đầu tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật điêu khắc đá Champa
4.1 Đặc điểm nghệ thuật4.2 Giá trị lịch sử - Văn hóa
Trang 8L u ân V ăn T ố t N ghiêp
CHƯƠNG 1
VÀI NÉT VỀ LỊCH sử VƯƠNG QCIỐC CHfîMPfi
Trang 9L u án _Vän T gt N gh_iêp_
Chương 1
VÀI NÉT VỀ LỊCH s ử VƯƠNG QUÔC CHAMPA
1.1 Nguồn GỐC :
Người Chăm là một dân tộc có lịch sử phát triển hết sức phức tạp cho đến nay đã
có một số nhà nghiên cứu cô" gắng phát thảo ra những chặng đường phát triển của lịch sử thăng trầm của dân tộc người Chăm và vương quốc Champa Tuy vậy những tác phẩm vẫn chứa đựng nhiều mâu thuẫn
về nguồn gốc người Chăm cũng như của các dân tộc thuộc ngữ hệ Mã Lai Đa Đảo
ở Việt Nam đến nay trong khoa học còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau Có người cho rằng là con cháu của những người di cư từ thế giới đảo Đông Á đến và ngược lại , có người cho rằng họ từ các vùng biển Nam Trung Quốc mà di cư xuống vùng đất Đông Dương rồi từ đó di cư ra hải đảo Đông Á và người chăm cùng với các dân tộc thuộc ngữ hệ Mã Lai Đa Đảo ở Việt Nam chính là đội hậu bị của đoàn quân di cư từ vùng lục địa Đông Dương ra vùng hải đảo Cũng có người cho rằng trên đường di cư
từ các quần đảo Nam Trung Quốc xuống quần đảo Đông Nam Á , đã có một bộ phận
rẽ vào Việt Nam , đó chính là người £hăm và các dân tộc Mã Lai Đa Đảo hiện nay ỡ Việt Nam Các nhà khảo cổ học đã tìm thây trên vùng đất miền Trung Việt Nam một số di chỉ của một nền văn hóa cổ mà sau này đặt tên là văn hóa Sa Huỳnh Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học , chủ nhân của nền văn hóa đó có liên quan đến tổ tiên của người Qiăm nền văn hóa đó được xem như văn hóa tiên Champa và mối liên hệ giữa văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Champa còn được các nhà khoa học trong và ngoài nước thảo luận
Khu Liên làm vua mây chục năm , rồi vì không có con , cháu ngoại là Phạm Hùng lên thay cho đến khoảng cuối thế kỷ thứ I I I Sau đó thế kỷ Phạm Dật lên kế nghiệp Phạm Hùng đến 336 Tướng Phạm Văn (theo Lương Ninh thì Phạm chắc chắn không phải là họ cũng không phải là phiên âm Varman như có thuyết đã nêu lên , mà có thể là phiên âm của pha , pò , phó , có nghĩa là người đứng đầu) Lúc này Phạm Văn đứng lên loại bỏ tất cả những người kế quyền Vua và tự xưng Vương
Trang 10Lu an _van T ốt N ghiêp_
và đã truyền ngôi được bốn đời trên đất chăm Từ khoảng giữa thế kỷ IV , chúng ta
có thêm nguồn tài liệu bia ký chăm Người ta đã biết bôn bia thuộc về một ông vua
có tên là Bhadravarman I xét về thời gian tương đương , Phạm Dật có thể chính là Bhadravarman I nói trong bia ký
1.2.1 Vương Triều Gangraja (Đầu thế kỷ VI đến đầu thế kỷ VIII)
Trong thực tế , người ta không còn nhìn thấy còn lại một công trình kiến trúc nào trước thế kỷ thứ VI , có lẽ bị đốt phá chưa kịp dựng lại Bia Mỹ Sơn II cho biết vua Sambhavarman (khoảng 595 - 629) cho xây lại đền của Bhadravarman và cũng
là bia đầu tiên thấy sau một thời gian gián đoạn
Tiếp đó Vikrantavarman II (khoảng năm 686 đến đầu thế kỷ VIII) lập đền và dựng bia Bia cung cấp cả gia hệ một triều vua mà các nhà sử học gọi là vương triều Gangraja gồm khoảng chín vua (4 2 ,2 1 1 ) (đầu thế kỷ VI - đầu thế kỷ VIII) Vương triều này rất có thể là sự phát triển nôi tiếp của các triều vua trước , trong đó có Bhadravarman I
Nhìn chung ba thế kỷ của vương triều Gangraja là thời gian phát triển tương đối
ổn định và hưng thịnh của vương quốc , trừ một vài lần bị quân Trung Quốc tấn công , trong đó đáng kể nhất là do tướng Lưu Phương nhà Tùy cầm quân (năm 605) đánh vua Phạm Phan C h í, có thể là Sambhavarman
Bia của Sambhavarman (cuối thế kỷ VI) và các vua khác , lần đầu tiên cho biết tên gọi chính thức của nước là Champa Champa là tên một loài hoa nhưng cũng là tên một địa phương ở vùng Đông Bắc Ân Độ , đặt theo thói quen của nhiều nước Đông Nam Á thời bây giờ Ta không rõ tên này bắt đầu gọi từ lúc nàonhưng hoàn toàn không thấy những tên gọi mà sử sách Trung Quốc ghi chépđược nhắc đến trong văn bia chắc rằng Champa là tên chính thức mà bộ lạc Dừa tự g ọ i, sau khi đã lập nước và chịu ảnh hưởng Ân Độ cũng như cả khi sát nhập lãnh thổ của bộ lạc Cau Tên tộc chăm cũng có thể gọi từ đó
Nước đã lập , kinh đô cũng bắt đầu xây dựng , mang tên S inhapụ^có nghĩa là thành phô" sư tử Một sô" nhà nghiên cứu cho rằng địa điểm Trà Kiệu (ở gần bờ Nam sông Thu Bồn , thuộc huyện Duy Xuyên , Quảng Nam Đà Nẩng ngày nay) với những dâu tích thành , đền thờ và nhà ở là kinh đô cổ Sinhapu2&a“Trong khoảng 68 công trình chình thì một phần lớn đã được hình thành dưới triều Gangraja”
Vương triều cũng được tăng cường trên một lãnh thổ rộng lớn miền đất từ Hoành Sơn đến Hải Vân vẫn là một nơi giành giật , thì đến cuối nhà Tùy Champa đã lấn chiếm hẳn và nhiều lần tân công phủ An Nam , bây giờ còn do nhà Đường chiếm đóng Nữa đầu thê" kỷ vn , vua thứ năm là kadarpadharmalập đền và dựng bia ở địa điểm gần Huê" Đây là bia £hàm thuộc loại cổ nhất mà ta được biết cho đến nay ở Bắc Hải
Vân con vua thứ tám VikrarJVo&i'woi'ft I vừa có bia ở Mỹ Sơn Trà Kiệu , lại vừa có cả ở
Lai Cầm (Nha Trang)
Tuy lãnh thổ thông nhâ"t và mở rộng , vương quyền được tăng cường , nhưng ưu thê" nghiêng về miền Bắc ; kinh đô đặt ở phía Bắc các vua triều Gangraja chắc cũng
Trang 11L u á n _Y_ặn Tốt Nghiêp_
thuộc bộ phận Bắc Chăm Bắc Champa phát triển sau nhưng có ưu thế hơn có thể vì địa bàn của nó rộng và trù phú dân đông hơn nên có điều kiện phát triển nhanh và đã thu hút được Nam Champa Nhưng sau Vikrantavarman II tình hình có sự thay đối ,
ưu thế lại chuyển về miền Nam Lý do của việc này là hiện nay ta chưa được rõ , nhưng chắc chắn là đã thường xuyên có sự đấu tranh giữ a hai bộ phận qúy tộc Nam
và Bắc Champa để giành ưu thế chính trị của mình , tuy rằng sự thống nhất lãnh thổ là nhu cầu tự nhiên của hai bộ p tó i cd dctrt uóñ CoCjuon ihün iôc/mcI
1.2.2 Vương Triều PanduẠanga (giữa thế kỷ VIII giữa thế kỷ IX)
Như đã nói trên , Bắc và Nam Champa có quan hệ thân tộc với nhau nhưng đã có giai đoạn phát triển riêng nên tuy thông nhất mà vẫn thường đấu tranh với nhau Tên Champa được gọi khi có sự thống nhất của Bắc và Nam Champa nhưng cũng có trường hợp dùng để gọi riêng Bắc Chăm , còn Nam Chăm lại có tên riêng là PanduMnga
Tôi chưa biết chắc tên Pandu/langa được gọi từ bao giờ nhưng nó xuất hiện trên bia ký tương đối muộn cũng chưa rõ triều Gangaraja kết thúc như thế nào chỉ biết VikAantavarman I , tức Pracasdaharma , vốn là một đứa cháu lưu lạc của vua Champa
và là cháu ngoại của vua Chân Lạp Isanavarman lên làm vua mấy năm rồi tiếp theo
có thể là vua cuối cùng của vương triều này tên là Vik antavarman II Một chủ phủ miền Nam là Kauthara đã được nền móng ở Nha Trang từ khoảng đầu công nguyên lại tiếp tục được phát triển trong giai đoạn này
Kinh đô thường đặt chủ yếu ở VUapura trên đất Phang Rang nhưng Kauthara vẫn
là một nơi thờ cúng quan trọng , trên đó có một ngôi đền , tháp lớn mang tính chất trên biển đã có vị trí nổi bật và được gọi là Pônaga Chính ở đây người ta đã thấy số bia , trong đó còn cả bia thuộc giai đoạn sớm mà ngôi đền gắn bó với nó đã được phá hủy trước rồi Nhờ những bia này người ta biết được phổ hệ của một vương triều gồm sáu vua mà các nhà sử học thường gọi là vương triều Pandiưunga (4 2 ,2 1 4 )
Bia ký nói tới một ông vua , có lẽ là vua đầu tiên của vương triều tên là Rudravarman II với một niên đại - năm 749 nhưng ta không biết được gì về ông vua này Người đứng đầu phổ hệ vương triều Panduranga chính là vị vua tiếp theo Prithinvind avarman có niên hiệu là Rudraloka
Vào năm 774 Satyavarman lên ngôi sau đó Satyavarman nhừng ngôi cho em trai
út là Indravarman I (787)
Indravarman qua đời để ngôi cho em rể là Harivarman I vào năm 801 không rõ Harivarman I ở ngôi đến năm nào rồi sau đó truyền ngôi cho con VikẰantavarman n ì ông này cũng cầm quyền khá lâu và có hai bia ở Phan Rang năm 829 và ở Pônagar năm 854 Vương triều Panduj7anga tuy đóng đô ở miền nam nhưng không phải là một nước riêng mà nó hoạt động và khẳng định quyền lực trên toàn bộ lãnh thổ nó tiếp tục khẳng định một bước tiến của vương quốc Champa , đã đạt được trong các thế kỷ VIII
và IX Tuy nhiên vương triều không dài chỉ đến Vikpantavarman III thì kết thúc và
Trang 12Luân_Yăn x ố t Ngh_iêp_
chuyển sang một vương triều khác , đồng thời trả lại ưu thế chính trị cho nhóm qúy tộc miền Bắc
1.2.3 Vương Triều Indrapura (Đồng Dương) (giữa thế kỷ IX V cuối thế kỷ X)
Văn bia đã cho biết kinh đô mới “Thành phô"chiếu đầy hào quan” đó là Indrapusa nghĩa là thành phô" mang tên Indra - thần đứng đầu các vị thần
Địa điểm kinh đô mới ở làng Đông ngày nay , trên bờ sông LyLy - một nhóm của sông Thu Bồn - cách Trà Kiệu khoảng 15km về phía Đông Nam
Bia ký Đồng Dương và những nơi khác của vương triều gồm khoảng chín vua (42 , 217) hầu như không biết gì về hai vua đầu tiên là Rudravarman III và Bhadravarman
II (trong khoảng thời gian từ 854 đến 875) tức là từ lúc kết thúc triều Pandusanga đến khi Indravarman II lên ngôi
Indravarman II làm vua trước năm 875 đã ra sức xây dựng vương quốc , cũng cố vương triều của mình
Sau đó Indravarman II qua đời để ngôi cho cháu là Sri Jaya Sinhavarman I Ông này làm vua từ khoảng 890 đến sau 898 Dưới vương triều này đạo phật râ"t là phát triển và hưng thịnh
Saktyavarman lên ngôi (899 - 901) diễn ra một cách mờ n h ạ t
Năm 902 Bhadravarman II (cháu của Sinhavarman) lên làm vua đến khoảng trước năm 918 thì truyền ngôi cho con là Indravarman in Đây là ông vua thứ bảy của vương triều Indrapura , ông làm vua khá d à i
Jaya Indravarman I kế ngôi Indravarman III và làm vua trong khoảng năm 960 - 1972
Vương triều Indrapura kết thúc trong một tình hình rất phức tạp mà cho đến nay ta còn thiếu những tài liệu chắc chắn Sau Jaya Indravarman I nói trong bia ký mà chủ tịch Trung Hoa gọi là Nhân Đức Man cũng có lẽ là người này , thì năm 972 ông vua thứ chín lên ngôi tên là Phê Mí Thuế nhưng chưa được biết tiếng chăm là gì Vương triều Indrapura châm dứt vào khoảng 982 - 983
1.2.4 Giai Đoạn Từ Thế Kỷ X Trở Về Sau
Harivarman IV lập vương triều mới sau khi vua Rudravarman II bị Đại Việt b ắ t, phải chuộc bằng ba huyện Địa Lý , Ma Linh , Bố Chính (1069) Năm 1080 nhường ngôi cho con mới chín tuổi Vua Sri Jaya Sinhavarman II còn quá trẻ nên đã nhường ngôi lại cho chú là Tuvaraja Mahasenapati đến 1086 mới trở lại ngôi vua Năm 1113 Sri Jaya Sinhavarman II truyền ngôi lại cho cháu là Harivarman V và đời vua này kết thúc vào năm 1139 Jaya Iradravarman II lên ngôi năm 1139 và trị vì trong sáu năm Lúc này lãnh thổ Champa bị Chân Lạp chiếm đóng thì ở Pandurang , Rudravarman Parama Brahmaloka xưng vương để chông lại kẻ thù
Sau đó con ông là Sri Jaya Sinhavarman lên ngôi và qua đời khoảng năm 1166,
1167 và có lẽ được con là Jaya Harivarman II kế vị
Vương triều do Rudravarman Parama Brahmaloka sáng lập từ 1145 kết thúc với triều vua Chế Năng Dưới vương triều này có ba sự kiện đáng ghi nhớ là cuộc đâu
Trang 13Tóm lại : Lịch sử của vương quốc Champa trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm , mỗi giai đoạn hay nói khác hơn là mỗi vương triều đã đánh dấu quan trọng trong cuộc sống văn hóa nghệ thuật, tôn giáo Champa Và mỗi giai đoạn dưới mỗi vương triều sẽ ảnh hưởng tới phong cách nghệ th u ật, tôn giáo Champa trong đó có điêu khắc đá sẽ được đề cập trong luận văn
Trang 14L u ân _Yăn T ố t Ngh_iêp_
CHƯƠNG 2
ĐÔI NÉT VỀ NGHỆ THCIỢT ĐIÊU KHẮC ĐÁ
Trang 15Luân_Yăn T ốt Ngh_iêp_
CHƯƠNG 2
ĐÔI NÉT VỀ NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHAC đ á CHAMPA
Nghệ thuật điêu khắc đá Champagắn liền với những công trình kiến trúc Những tác phẩm điêu khắc được phục vụ cho các chức năng của mỗi công trình kiến trúc , hoặc là các tượng thờ , phù điêu , các trang t r í Nghệ thuật điêu khắc chăm đã trãi qua một giai đoạn hình thành và phát triển nhiều thế kỷ Điêu khắc ổhăm đã làm nổi bật sức sống mãnh liệt của con người với những nội tâm lúc bay bổng sảng khoái, lú trầm tĩnh ưu tư , lúc trăn trở day dứt Mỗi tác phẩm điều biểu lộ một trạng thái của tâm hồn con người
Điêu khắc đá Champa cổ có quá trình hình thành và phát triển trên dưới mười thế kỷ Có thể nói quá trình phát triển của nó chịu sự tác động trực tiếp của tình hình chính trị và kinh tế xã hội của Champa qua những thời kỳ khác nhau , nó gắn với sự thăng trầm của lịch sử Champa , đồng thời ở đó những nghệ thuật điêu khắc trong đó
có điêu khắc đá cũng được phát triển y theo nhịp độ thời gian và đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của sự phát triển văn hóa đương thời
Nghệ thuật Champa nói chung , nghệ thuật điêu khắc nói riêng , là bước tranh sinh động về cuộc sống xã hội Champa mang những đặc điểm về thế giới quan , nhân sinh quan của nền văn minh phương Đông tất cả đã được các nghệ nhân Champa khái quát hóa , hình tượng hóa , nhân cách hóa thông qua ngôn ngữ tạo hình và mượn
hc tôn giáo để diễn tả
Nghệ thuật Champa đã trải qua một quá trình phát triển gần như liên tục với nhiều phong cách khác nhau
Việc phân chia các giai đoạn (phong cách) của nền nghệ thuật Champa nói chung trong đó có điêu khắc đá Champa , cho đến nay đã từng tồn tại nhiều ý kiến khác nhau Trong đó có nhiều ý kiến của các nhà khoa học nước ngoài đã bỏ công nghiên cưú , như đã trình bày ở trên chỉ dựa vào những tài liệu đã dịch ra tiếng việt cũng như bám sát những ý kiến của các nhà nghiên cứu trong nước nhằm làm rõ hơn vấn đề niên đại của từng phong cách
+ Theo quan điểm của Nguyễn Duy Hinh , ông cho rằng có sáu giai đoạn :
• Phong cách Sơn Mỹ El (nữa đầu thế kỷ VIII)
• Phong cách Hòa Lai (nữa sau thế kỷ IX)
• Phong cách Đồng Dương (cuối thế kỷ IX)
• Phong cách Trà Kiệu (cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ X)
• Phong cách Tháp Mầm (thế kỷ XII - XIII)
• Phong cách ệo klau garai (thế kỷ X III, XIV , XV)
+ Theo quan niệm của Trần Kỳ Phương với ý kiến xác lập lịch trình của nghệ thuật Champa gồm chín phong cách vào năm 1987 :
Trang 16Luán_Yăn T ốt Ngh_iêp_
• Phong cách Trà Kiệu sớm (cuối thế kỷ VII)
• Phong cách An Mỹ (đầu thế kỷ VII)
• Phong cách Mỹ Sơn El (thế kỷ VIII - IX)
• Phong cách Đồng Dương (cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ X)
• Phong cách Khương Mỹ (đầu thế kỷ X)
• Phong cách Trà Kiệu muộn (cuối thế kỷ X)
• Phong cách Chánh Lộ (thế kỷ XI)
• Phong cách Tháp Mầm (thế kỷ XII - XIV)
• Phong cách Yang Mum (cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV)
Vào năm 1988 Trần Kỳ Phương Xác lập lịch trình của nghệ thuật Champa chỉ có sáu phong cách :
• Phong cách Mỹ Sơn El (đầu thế kỷ VII - đầu thế kỷ IX)
• Phong cách Hoà Lai (nữa đầu thế kỷ IX)
• Phong cách Đồng Dương (giữa đầu thế kỷ IX - đầu thế kỷ X)
• Phong cách Mỹ Sơn A 1 (thế kỷ X)
• Phong cách Ponaga (thế kỷ XI)
• Phong cách Bình Định (thế kỷ XII - XIV)
+ Theo quan điểm của Ngô Vă Doanh Tác gỉa đã dựa vào sự phân định lịch trình ngệ thuật Champa của Boisselier làm cơ sở căn bản và đã nêu ra chín giai đoạn và phong cách của nghệ thuật Champa :
• Ánh hưởng Ân Độ và những tác phẩm điêu khắc đầu tiên của Champa trướcthế kỷ v n
• Điêu khắc thời kỳ các vua Vikrantavarman I , II phong cách Mỹ Sơn El (629 - 575)
• Điêu khắc đá Champa thời kỳ Hoàn Vương (758 - 859) phong cách Hòa Lai
• Phong cách Đồng Dương bắt đầu từ năm 854 hoặc 857
• Phong cách Mỹ Sơn Al (thế kỷ X - nữa đầu thế kỷ XI)
• Phong cách Chánh Lộ ( nữa sau thế kỷ XI)
• Phong cách Tháp Mắm hay phong cách Bình Định (thế kỷ XII - XIV)
Tác giả cho rằng các sách báo đã chuyễn âm sai từ tiếng pháp sang tiếng việt : Tháp Mắm chứ không phải là Tháp Mẩm như mọi người đã quen gọi từ trước đến nay
• Phong cách Yang Mum (thế kỷ XIV - XV)
• Phong cách Porômê (từ năm 1471 đến nay)
+ Theo quan điểm của Cao Xuân Phổ trong phần viết “Những giai đoạn và những phong cách điêu khắc” trong cuốn “Điêu khắc chàm” tác gỉa cho rằng “Ớ đây xin dựa vào sự phát triển của điêu khắc trên những yếu tô" kiến trúc gắn liền với các điêu khắc đá và trên sự so sánh với các nền nghệ thuật xung quanh như An Độ , Môn , khmer , Java , Việt Nam mà định ra sáu mốc lớn :
• Mỹ Sơn El (nữa đầu thế kỷ VIII)
• Hoà Lai (nữa đầu thế kỷ IX)
Trang 17Luân_v_ă_n T ốt Nghiêp_
• Đồng Dương (cuối thế kỷ IX)
• Trà Kiệu (cuối thế kỷ IX - đầu thế kỷ X)
• Tháp Mẫm(thế kỷ XII - XIII)
Po klaun Gara (thế kỷ X III, XIV đến thế kỷ XVI)” ( ¿ ^ ,2 /íO )
Qua việc phân chia các giai đoạn phát triển của nghệ thuật điêu khắc đá Champa của các tác giả cho thấy rằng : Việc định danh cho giai đoạn phát triển của điêu khắc đá Champa - đa số tác giả đã dùng tên địa danh (tên di tích cụ thể) dựa trên
sự phân tích những đặc điểm hay những đặc trưng nghệ thuật mà điêu khắc ở di tích
ấy và dùng khái niệm phong cách kết hợp với các di tích để chỉ giai đoạn phát triển cũng có nhiều tác giả dùng địa danh có tính chất vùng (địa danh rộng) để chỉ giai đoạn phát triển như “Phong cách Tháp Mầm hay phong cách Bình Định” Riêng Ngô Văn Doanh đã có sự kết hợp uyển chuyển việc dùng khái niệm phong cách gắn với tên di tích cụ thể và việc dùng các triều đại vua Champa cùng niên lịch để phân chia các giai đoạn phát triển của nghê thuật điêu khắc Champa
Nhiều nhà nghiên cứu điều thừa nhận vấn đề khó khăn phức tạp nhất ở điêu khắc Chàm là vấn đề niên đ ạ i Chúng ta thấy có bao nhiêu di tích kiến trúc đền , tháp , và có bao nhiêu phong cách thể hiện trong kiến trúc thì có bấy nhiêu trong điêu khắc Các di tích và di vật điêu khắc , trong đó có điêu khắc đá Vì thế đã gây khó khăn không ít trong việc tìm hiểu tiến hóa của nghệ thuật điêu khắc
Việc phân chia các giai đoạn phát triển của nghệ thuật Champa nói chung của điêu khắc đá Champa nói riêng có một ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm đánh giá đúng thực trạng diễn trình của nó
Quá trình hình thành và phát triển của điêu khắc đá Champa không thể tách rới
mà luôn gắn với lịch sử , kinh tế , xã hội của Champa Trên cơ sở tiếp thu sự phân chia môc các giai đoạn phát triển của nền nghệ thuật Champa đã được xác lập bởi các nhà nghiên cứu trước , những niên đại đã được đề xuất cũng như các kết quả của những cuộc khai quật các di tích , di chỉ dưới góc độ khảo cổ học lịch sử Và vấn đề ỡ đây đứng ở gốc độ cá nhân , sau quá trình tìm hiểu và thu thập :cho thấy cách phân chia phong cách nghệ thuật của điêu khắc đá Champa thành sáu phong cách của giáo
sư Cao Xuân Phổ trong tác phẩm “Điêu khắc Chàm” được nhiếu nhà khao, học tán thành Và cho dù có các nghiên cứu đưa ra những ý kiến khác nhau nhưng các ý kiến sau này cũng lấy đó làm nền tảng
• Mỹ Sơn El (nữa đầu thế kỷ VIII)
• Hoà Lai (nữa đầu thế kỷ IX)
• Đồng Dương (cuối thế kỷ IX)
• Trà Kiệu (cuối thế kỷ IX - đầu thế kỷ X)
• Tháp Mẫm(thế kỷ XII - XIII)
Trang 18L uân_văn T ốt Nghịêp_
• Pô klaun Gaỹà (thế kỷ xin , XIV đến thế kỷ XVI)
2.1 Phong cách MỹSơn El (nữađầu thế kỷ V III)
Theo Trần Kỳ Phương “Phong cách Mỹ Sơn E1 là một nghệ thuật lớn trong điêu khắc Chàm, ở giai đoạn này, nghệ thuật Chàm đã loại bỏ dần những ảnh hưởng của nghệ thuật Ân Độ , càng về sau , yếu tô" bản địa càng được phát triển mạnh mẽ, những đặc điểm nhân chủng Chàm được đặt biệt chú trọng Ấnh hưởng nghệ thuật Môn- Dvaravati trong phong cách Mỹ Sơn El ” (4 9 ,1 1 2 )
Có lẽ di vật chạm khắc cổ nhất của Champa còn lại với chúng ta ngày nay là đài thờ và tấm mi cửa ở vùng Mỹ Sơn El Trên tạp chí khảo cổ học sô" 3 - 1983 Trần Kỳ Phương công bô" việc mới phát hiện được ở phê" tích An Mỹ (Quảng Nam - Đà Nẩng)
ba tâm phù điêu chạm bán thân gồm một thần nam hai thần nữ ( 5 1 ) Trần Kỳ Phương cho rằng bộ di vật này có niên đại sớm hơn Mỹ Sơn El Vân đề còn đang được thảo luận
“Trên bậc câ"p của đài thờ nổi bật lên bức chạm toàn cảnh một vũ nữ đang múa Dáng điệu của vũ nữ như đạt đến đỉnh cao của sự hứng khởi , tay dang rộng và bước chân đang xoãi ra , thể hiện một niềm say mê cuồng nhiệt , đây là một kiệt tác của lịch sử điêu khắc Chăm Những hình tượng quanh đài thờ - dù là các tu sĩ BàLaMôn đang đọc kinh tụng niệm , thôi miên , đang trầm tư suy gẫm hay các thú vật cũng đều chậm một tính cách hiện thực , tự nhiên , sống động và hài hòa Đó chính là tinh thần đặc trưng của điêu khắc Mỹ Sơn El ” (5 , 140) Những tác phẩm thuộc bài thời kỳ Mỹ Sơn El , toát lên một vẽ đẹp hài hòa , chân chất một hiện thực sinh động của con người chăm được gởi gắm vào dáng vẽ các đạo sĩ và nghệ sĩ chăm , nhất là hình tượng
vũ nữ chăm trên đài thờ Đặc trưng cho nghệ thuật điêu khắc chăm thời kỳ Mỹ Sơn El
là các hoa văn trang trí cũng như các nét y phục : chiếc thắt lưng cao ngang ngực , cứng , nhọn đầu ở giữa dải thắt lưng dài buông thành nhiều nếp rũ lòa xòa xuống bắp chân , gâu loăn xoăn , đôi khi có khóa thắt lưng hình chữ nhật trước bụng : một mảnh (hay dải) vãi nử hình tròn lững lơ dưới thắt lưng
Đây là thời kỳ giai đoạn chăm bước vào thờ kỳ phát triển rực rỡ trong buổi ban đầu Và mặc dù là một trong những phong cách điêu khắc buổi đầu của văn hóa Chăm nhưng phong cách Mỹ Sơn Elvới sự định hướng tìm về bản ngã dân tộc , đã tạo được một nền tảng vững chắc và sẽ để lại những ảnh hưởng lâu dài lớn lao đến tiến trình của nghệ thuật điêu khắc Chăm trong các giai đoạn về sau
2.2 Phong Cách Hoài Lai (nữa đầu thế kỷ IX)
Theo ý kiến của Trần Kỳ Phương “Trong điêu khắc , phong cách HỒULai chỉ đóng vai trò mờ nhạt” hay “không chỉ độc đáo chỉ hình thành một phong cách riêng” (49 ,14)
Theo ý kiến của Giáo sư Cao Xuân Phổ “Những tác phẩm điêu khắc được thu thập ngay ở Tháp Hoài Lai (Thuận Hải) và những di vật có cùng phong cách nghệ
th u ật: Phong cách Hoài Lait43 ,190)
Trang 19L u ân_văn Tốt N ghjêp_
Phong cách Hoà Lai với những đặc trưng nổi bật về nhân chủng như khuôn mặt hai vuông , cánh mũi nỡ , mồm rộng , môi dưới dày , hàng ria mép đậm về trang phục và trang sức như dải thắt lưng sọc dọc xòe rộng phía dưới , đầu mút cuộn thành nhiều nếp sóng dày , đôi hoa tay tròn to một chiếc kiên đơn dính tua hoặc kiền kép để trơn , vòng đeo ở cánh tay ,cổ tay và cổ chân , tóc búi ba tầng thành hình chóp nhọn
Từ Mỹ Sơn E1 đế Hòa Lai đó là một bước phát triển mới , một đỉnh cao tiếp theo trong nghệ thuật điêu khắc Chăm Những hình tượng thần thánh được thể hiện trong giai đoạn Hòa Lai đã phản ánh được nguyên mẫu từ con người chăm đang sống Đáng chú ý hơn là xu thế “Chăm hóa” các thần thánh khởi đầu từ phong cách Hòa Lai sẽ càng đi xa hơn trong các thời kỳ tiếp theo , càng thêm đậm nét hơn cũng trong phong cách Hòa Lai tư thế múa lệch thân ba đoạn bắt chéo cánh tay sang hẳn một bên (Tribhanga) là khởi
đầu và chuẩn bị cho hình tượng vũ nữ Trà Kiệu về sau này đạt đến sự hoàn mỹ
Chính giai đoạn này đã chứng kiến sự ra đời của kiều tháp Chàm tiêu biểu trong khỏe khoắn đường bệ với những trụ ốp vươn cao đỡ lấy cái vòm cửa hình quả bầu rậm rịt hoa lá với những gờ lượn mạnh mẽ táo bạo
Lúc này cũng chính là thời kỳ hưng thịnh của vương triều Panduranga ở miền Nam (mà Hoà Lai là một di tích trong đó) nơi gốc gác của thị tộc Cau theo truyền thuyết Bia ký cũng đã ghi chép việc xây dựng lại thánh thất Pônaga ở Nha Trang vào lúc bấy giờ (cuối thế kỷ VIII) Và cũng chính lúc này (đầu thế kỷ IX) lần đầu tiên xuất hiện bia ký viết bằng chữ chàm cổ
2.3 Phong Cách Đồng Dương (cuối thế kỷ IX)
Nghệ thuật Đồng Dương , chủ yếu là nghệ thuật Phật Giáo Đại Thừa ,thời kỳ phật giáo chiếm ưư thế trong vương triều Champa vào cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ X Một số lượng phù điêu , tượng phật phát hiện ỡ Đồng Dương vốn là phế tích của phật viện (Vihasa) Laksmidra - Lokesuasa (năm 875) và một ít các phù điêu ở Mỹ Sơn cho thấy một phong cách thống nhất và độc đáo trong nghệ thuật điêu khắc Đồng Dương
Điêu khắc Đồng Dương , gồm chủ yếu là di vật từ Đồng Dương và một số khác ở
Mỹ Sơn , biểu lộ một phong cách thống nhất ,độc đáo kỳ dị nhưng lại dể nhận thấy nhất trong điêu khắc đá Champa Ba đặc trưng lớn để nhận biết phong cách Đồng Dương là :loại hình nhân chủng mang đậm tính dân tộc : đôi môi dày có viền quanh , hàng ria mép dày mũi tẹt cánh rộng Đôi lông mài liền nhautrang trí hoa lá hình sâu
do nối tiếp nhau kết hợp với lá mốc câu và lá cuộn tròn sang phải sang trái tạo thành lối trang trí riêng của Đồng Dương ; có những đóa hoa lán hình lá đề , đồ trang trí rất nặng nề đặc biệt đôi hoa tai hình tròn có đóa hoa lớn hoặc có khi ba đầu/iắn ở giữa Điêu khắc Đồng Dương đã để lại cho người xem những ấn tượng thật mạnh mẽ Toát lên một uy lực với một vẽ rốì rắm kỳ dị tràn đầy sức lực có một sô" nhà nghiên cứu cho rằng : chúng ta có cảm giác một “nổi lo sợ khoảng cách trong phong cách này
Trang 20L u ân V ăn Tốt Ngh_iêp_
Phong cách Đồng Dương để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong nghệ thuật điêu khắc chăm không chỉ vì tính độc đáo tạo nên vẽ đẹp kỳ dị đường bệ bởi ảnh hưởng của phật giáo (mang đậm tính chất Bà La Môn Giáo) mà đây còn là sự đạt đến cực đỉnh trong
sự phát triển những yếu tô" bản địa , tìm về với con người chăm đang được hoàn thiện
“Phong cách Đồng Dương thâm đượm yếu tố nhân bản , gắn bó với cuộc sông trần thế , là những khắc khoải của con người và dân tộc chăm trong một thời xa xưa (5)
142)
2.4 Phong Cách Trà Kiệu (cuối thế kỷ IX - đầu thế kỷ X)
Điêu khắc Trà Kiệugồm chủ yếu các di vật thu thập được ở Trà kiệu và một sô" khác ở Mỹ Sơn , Đồng Dương , Hà Trung (Bình Trị Thiên) đã cho thây sau phong cách Đồng Dương , nghệ thuật điêu khắc Chăm có một sự chuyển hướng đột ngột Trần
Kỳ Phương cho rằng “Có hai phong cách Trà Kiệu : Trà Kiệu sớm (cuối thê" kỷ VII)
và Trà Kiệu muộn (cuối thế kỷ X)” (49 )
Với phong cách Trà Kiệu , nghệ thuật kiến trúc Chăm đã đoạn tuyệt với những nét nặng nề , rối rắm , sự đường bệ trầm lắng của thời kỳ Đồng Dương để tìm về một sự thanh thoát, tinh tê" hơn
về con người thì có cung mày vẫn được chạm nổi như trước song nay thanh tú hơn và tách rời nhau ra , đôi mắt dài hình hạnh nhân nằmngang mày , không có viền quanh , một nụ cười thoáng nhẹ qua điệu bộ duyên dáng khiến cho hình tượng trong hiền hòa diệu dàng
về trang phục thì mũ đội đính năm đóa hoa nhỏ ở vành (ở Đồng Dương là ba đóa hoa lớn) đôi khi có nhiều tầng hoa , trên cùng một hình chóp nón cao trang trí nhiều đường bán nguyệt đồng tâm ; dải thắt lưng buông dài phía trước thon thả phía dưới , phủ lên một mảnh vải hình túi lấp ló chéo ở đằng sau , bên mé đùi , một miếng lá tọa
tí xíu chườm ra ngoài thắt lưng
Nổi bật trong phong cách Trà Kiệu là hình tượng điêu khắc của vũ nữ chăm Trong toàn bộ di sản nghệ thuật điêu khắc Chăm được biết cho đến nay , các phù điêu
vũ nữ ở đài thờ Trà Kiệu đã đạt đến sự tuyệt tác Các phù điêu (gần như tượng tròn)
vũ nữ , đã bộc lộ hết vẽ đẹp của các cô gái £hăm , với bộ ngực căng tròn , cách tay nõn nà , bắp đùi thon thả Tất cả gần như lõa thể nhưng không hề gọi lên một chút dục vọng , bởilẽ tất cả vẽ đẹp cơ thể của các vũ nữ £hăm được kết hợp , trình diễn trong các tư thê" múa tuyệt vời , một cảm xúc sông động rộn ràng Những tấm thân căng tròn sức sông những tư thê" múa uốn lượn mềm mại của các vũ nữ như dây lên những đam mê cuồryihiệt
Phong cách Tra Kiệu còn được thể hiện đậm nét trong hình tượng những động vật điêu khắctrong thời kỳ này Khôi lượng các hiện vật điêu khắc động vật trong nghệ thuật £hăm khá phong phú về sô" lượng và loại hình nhưng cái dễ nhận ra phong cách Trà Kiệu chính là thần thái ngộ nghĩnh , vui tươi - những điêu khắc tượng động vật như sư tử voi và cả những động vật huyền thoại như Garada , Makara đều ở
Trang 212.5 Phong Cách Tháp Mẫm (Thế kỷ XII - XIII)
Hầu hết tác phẩm thuộc phong cách Tháp Mẩm tìm được ở vùng Bình Định ( cho nên có người còn gọi là phong cách Bình Đ ịnh)
Các tác phẩm Tháp Mầm tạo thành một phong cách nhất quán dễ nhận thấy một chi tiết trên điêu khắc được tỉa tót chi li , cầu kỳ khiến cho hình tượng có lúc trông đanh l ạ i Song nhìn chung , điêu khắc Tháp Mẩm có cái đẹp trưởng thành chững chạc , hơi gân guốc Nó vẫn nối tiếp , có cải biên , nhưng truyền thống trước về cách thể hiện loại hình nhân chủng , trang phục và trang sức nhưng đặc biệt là cái chật hóm hỉnh ngộ nghĩnh của các động v ậ t
Phong cách Bình Định một mặt tiếp tục kế thừa những truyềhthống của điêu khắc
đá chăm trước đó , nhưng trong chừng mực nhất định ảnh hưởng của nghệ thuật kh’mer và nghệ thuật Đại Việt thời Lý Trần có một vị trí đáng kể Trong điêu khắc , phong cách Bình Định là sự lựa chọn của Đồng Dương và Trà Kiệu để có thể dung hợp và tạo nên ột xu hướng hiện thực huyền ảo , tính hoành tráng , cái đẹp của những kết cấu mảng trong kiến trúc và khôi trong tạo hình điêu khắc Nếu ở Đồng Dương và Trà Kiệu là sự dam mê sôi động , thì phong cách Tháp Mẫm đi vàosự sâu lắng , sắc lạnh đôi khi khô khan trống vắng
Nổi lên trong các giải trang trí hoa lá là các đường xoắn ốc quy tụ về một đỉnh cao như những ngon sống sắp đổ xuống gây một ấn tượng khắc khoải, chờ mong Các pho tượng và hình người thần thánh điêu khắc trong thời kỳ này như tượng Dvarapula , đem đến cho người xem một cảm giác hụt hẫng bãi sự vương lên nhưng có phần m ệ t Phải chăng linh cảm của nghệ nhân chăm trong thờ điểm này về những xáo động đất nước , đã gửi vào những nét đục , đường chạm
Một mô tiếp trang trí cực kỳ độc đáo của Tháp Mẩm là mô tiếp núm vú căng mịn màng , hay bốn mươi núm vú xiết lấy bốn cạnh của bệ tường Điều kỳ thú ở đây là kiểu trang trí kia không gợi ý lên một ý niêm sắc dục Mà chỉ sự sông Một niềm khao khát mảnh liệt cuộc sống
Hoa lá Tháp Mẩm trông sinh động nhưng đường xoắn mãnh liệ t Những mô tháp típ thu nhỏ trang trí trên góc các tầng tháp gây ấn tượng trùng trùng lớp lớp nổi bật vươn cao lên trời xanh , đặc biệt do vị trí tháp hầu như bao giờ cũng cao hơn cho người đứng xem hay đến cung đường
Những nét thể hiện hiện thực huyền ảo ở đây chính là sự khao khát mãnh liệt cuộc sống đời thường , nhưng vẫn bồn chồn không yên , không nguôi, kiếm tìm nhưng
ảo ảnh của một thời đã qua
- 17
™ * « Đ |IH Ọ C m Ớ T P H C M
Trang 22L u ân _Yăn T ốt N ghi êp_
2.6 Phong Cách Pôklaung Garai (Thế kỷ XIII, x r v đến thế kỷ XVI)
11 Thuộc về giai đoạn này có tấm lá nhĩ Siva múa và hình trang trí góc ở Pôklaung
G arai, pho tượng Siva ở Yang Mum (Gia Lai - Kum Tum) c 5 ) )
Đặc trưng nhân chủng và tính khỏe khoắn của hình tượng vẫn bộc lộ rõ song có một vẽ gì như bức rứt cam chịu biểu lộ ở đôi lông mày “con đỉa” như lại với một gờ dọc trước trán , đôi mắt dướn lên với đôi mắt nằm ngang , mỗm mỉm cười lại banh ra với hàm ria mép cụp xuống Đôi chân trông vẫn lưng chải , nhưng nhòa đi ,hòa nhập với thân dưới thành một hình tam giác Dải thắt lưng buông dài xuống căng phồng , đầu mút cuộn lên như đang muốn khởi động lên một cái gì nữa
Càng về sau - Thế kỷ XVI xu hướng xóa nhòa hình người cũng rõ rệt ở điêu khắc PôRêMê (Thuận Hải) Hình người chạm dần vào tấm bia sau lưng Lúc đầu thân dưới thành một hình tam giác Rồi hình tam giác biến thành một khối hình thù rõ rệt Còn thân trên và đầu cũng dần dần nhập vào tấm bia Chỉ còn lại chiếc mũ đội
và những mô típ trang trí Tháp Mẩm nổi bên trên hình dáng đôi v a i
Những hình tượng cuối cùng của điêu khắc đá Champa là những hình tượng Kút nền nghệ thuật điêu khắc đá của Champa đã hoàn toàn suy thoái Nhưng xét trên bình diện tổng quát thì sự suy thoái đó là đúng với điều kiện kinh t ế , hoàn cảnh xã
h ộ i
• Nghệ thuật Champa nói chung đã trải qua nhiều giai đoạn , nhiều phong cách khác nhau ( tùy theo quan điểm nhận xét của từng nhà nghiên cứu) nhưng đã được một thành tựu rực rỡ của văn hóa chăm , đã thể hiện tài năng , trí tuệ , sự sáng tạo và bản sắc bản lĩnh của dân tộc chăm Đó là một nền nghệ thuật đầy sức sông , nhiều trở thành xúc động một nghệ thuật đầm thắm tính nhân văn và khát vọng
Trang 24Luân_Y_ă_n T ốt Nghiêp_
CHƯƠNG 3
NHỮNG HIỆN VẬT ĐIÊU KHAC đ á CHAMPA
ĐANG TRƯNG BAY TẠI BẢO TÀNG LỊCH s ử VIỆT NAM
Bảo tàng lịch sử Việt Nam , TP Hồ Chí Minh hiện lưu giữ một sưu tập gồm hơn
400 hiện vật về nghệ thuật Champa bao gồm những tên bản điêu khắc đá, một sô" tượng đồng và một số vật dụng bằng bạc, bằng gốm Trong đó có 75 hiện vật bằng đá nhưng chỉ trưng bày 42 tác phẩm điêu khắc đá tiêu biểu tại phòng 14 Phù điêu và tượng chiếm đa số
b Tượng người : 5 tiêu bản
Trang 25Ân Độ Giáo mà Champa tiếp thu, thờ cả ba vị thần những vị thần khác liên quan đến thần của Ân Độ Giáo Nhưng thần Siva được đề cao hơn cả, sau đó là thần Yisnu , thần Brahma hơi bị mờ n h ạ t.
3.2.1 Tượng thần
a Đầu tượng Siva :
Siva là một trong ba vị thần chính của Ân Độ Giáo Thần Siva được mệnh danh
là thần hủy diệt Có trường phái quan điểm chính sự hủy diệt của Siva lại là sự hủy diệt cái cũ để sáng tạo cái mới Do vậy người ta lại coi Siva là thần sáng tạo Ân Độ Giáo ở Champa thuộc phái Siva thường được thể hiện dưới dạng linga để tôn thờ Những hình tượng Siva ở dạng người (hay nhân hóa) thường được đồng nhất là thần vua Champa
Đầu thần Siva (tượng tròn).Trà Kiêu - Quảng Nam Đà Nang - Thế kỷ XI (Hình
Ký hiệu : BTLS 5862
Cao (từ cằm đến đỉnh n ó n ): 0,33m
Cao nón : 0,17m
1).
Trang 26b Tượng Visnu (thần bảo tồn)
Visnu là một trong ba vị thần của Ấn Độ Giáo và được mệnh danh là thần bảo
vệ (hộ giáp) ở giữa đầu sinh và đầu tử Thần Visnu là thần bảo tồn nên xuất hiện trong điêu khắc có nhiều dạng biến hóa dưới hình thú người hoặc thú Khi thế giới gặp nguy thì thần Visnu hạ giới
ở Champa, mặc dù thần Visnu không được tôn thờ phổ biến như thần Siva Nhưng trong đó , nhiều hình tượng trong điêu khắc đá về thần Visnu ở Champa cho ta thấy phần nào đó Visnu cũng khá được đề cao
• Tượng thần Visnu (phù điêu nổi).Khương Mỹ - Quảng Nam Đà Nẩng thế kỷ X (Hình 2)
Cao tượng (từ bàn chân đến đỉnh nón) : 0,99m
Thần ở tư thế đứng, chân trái đứng thẳng, chân trái hai khuỳnh và nhất gót lên
Cả hai cổ chân đều đeo đồ trang sức Y phục là một loại Sampot , phía trước có hai dải khô", dải dài chạm sát chân 0,38m, vạt ngắn nhiều nếp xếp và lệch về phía đùi phải Thần có 4 tay, tay phải ( trước) chống lên hông phải , tay trái (trước) đưa tay ngang bụng lòng bàn tay hướng về phía trước, ngón tay trỏ và ngón tay giữa nắm lại, các ngón tay kia dùi thẳng hướng lên trên, những ngón tay được tạo thon nhỏ Hai tay phía sau rất ngắn , giơ lên ngang tai , lối thể hiện rất cách điêu , hai tay đều có cầm một vật nhưng không rõ là gì ?
Tai thần đeo trang sức hình búp hoa (trông râ"t nặng) Đồ đội trên đầu là loại kirita - Mukuta bốn tầng cao 0,14m Hai lông mày liền nhau , mắt hơi lim dim, môi trên dày hơn môi dưới, gương mặt hiền hòa , thần được tạc đứng trên bệ cao 0,lm , ngang bệ 0,35m
Nhận dạng về hình dáng thể hiện, ta có cảm tưởng đây là một vị thần hộ pháp (Dvarapala) phải chăng là xu hướng Champa hóa Visnu thành Dva^apala thần bảo vệ đền tháp , bảo vệ tôn giáo
c Tượng nữ thần Devi :
Trang 27có gắn 1 vật mà có người cho đó là hình trăng lưỡi liềm, tóc mai mảnh dài sát dái tai, long mày hơi sậm nối liền nhau thành hình vòng cung, sóng mũi thẳng , tai có lỗ để đeo đồ trang sức Môi hơi dày ; miệng như nở nụ cuời, đôi mắt mỡ lớn Nhìn tổng thể , ta cảm tưởng đây là hình tượng một phụ nữ bình thường , với vẻ thanh thản phúc hậu Bức tượng này có thể được coi là một trong những kiệt tác của nghệ thuật điêu khắc đá Champa, khuôn mặt đẹp nhất trong tác phẩm điêu khắc mặt người của Champa
d Tượng nữ thần Laksmi :
Nữ thần Laksmi còn được gọi với tên nữ thần thịnh vượng hoặc là nữ thần sắc đẹp Cùng với thần Visnu , nữ thần Laksmi cũng được tôn thờ khá phổ biến ở Champa
ỳ Nữ phần Laksmi (phù điêu) T rà Kiệu - Quảng Nam Đà Nang Thế kỷ X
đeo ba chuỗi h ạ t, ở chính giữa xâu trên cùng và xâu dưới cùng có hạt chuỗi lớn Tai
đeo trang sức loại những miếng tròn mỏng xâu lại, khuôn mặt đầy đặn, mắt mở lớn , cánh mũi rộng , miệng hơi nở nụ cười, ngực nở nang Đồ đội là |c*Aitcv- Mukuta (kiểu mũ miện) , phía dưới là vòng miện trang trí những hình lá đề, tầng giữa có thể
là tóc được búi thành từng múi, tầng trên cùng là chóp trụ trông đỉnh bằng
Trang 28Nữ thần được thể hiện ở tư thế ngồi hai chân xếp bằng, hai bàn chân dấu kín
trong vạt k h ố Dải Sampot có nhiều vòng Nữ thần có 4 tay , tay phải phía trước cầm cái chày , tay phải sau cầm một vật hình tròn trong lòng bàn tay ; tay trái phía dưới cầm một bông hoa, tay trái phía trên cầm một con ốc Ớ các cổ tay và bắp tay đều có đeo vòng trang sức c ổ nữ thần đeo vòng trang trí những tua hình hoa Đồ đội là Kirita - Mukuta có lẽ chia thành bốn với những gờ dọc , mỗi múi lại chia thành bốn tầng chóp hình trụ tròn Gương mặt chữ điền , mắt mở to , chân mày hình vòng cung , miệng như đang mỉm cười
e Thần ngồi (tượng Phật ?)(phù điêu nổi) Trà Kiệu - Quảng Nam Đà Nang Thế
ma quỷ và sự cám dỗ) và đồng thời biểu hiện sự từ bi của Đức P h ậ t Đồ đội trên đầu
là mũ miện , có những tầng trang trí hình cánh sen (hoa sen là biểu hiện thoát lục thanh bình) trên đỉnh là chóp tròn Đây là hình ảnh Phật đang thiền định
f Thần ngồi (tu sĩ) (phù điêu nổi) Trà Kiệu - Quảng Nam Đà Nẩng Thế kỷ X (Hình 7)
Trang 29L u á n _v_ặn T ốt Nghiêp_
dưới ngửa lòng bàn chân lên trên Cả hai có chân đều đeo vòng trang sức bằng những hạt nhỏ xâu l ạ i Hai bàn chân còn nguyên vẹn , năm ngón chân được tạc rất rõ ràng Cổ đeo tràng hạt và một sợi dây dài choàng qua vai ngang xuống bụng (trông như dây bùa của tu s ĩ) , bụng hơi to , Đây có thể là một thầy tu đang ngồi thiền
g Tượng thần Indra :
ở Ấn Độ thời kỳ Veda, người ta đã tôn thờ thần Indra như là vị thần đứng đầu các vị thần Thần Indra còn gọi là thần sấm sét hay còn gọi là thần mưa Thần Indra tôn thờ ở Champa có lẽ mang ý nghĩa là tôn thờ thần mưa bởi vì do điều kiện địa lý, khí hậu nóng và khô cằn ở Champa, nên nhu cầu về nước cho cuộc sống lao động của
cư dân Champa rất cần thiết Do vậy Indra (thần mưa) đã trở thành một đối tượng kêu cầu cúng tế trong tín ngưỡng của họ
0 Thần Indra (phù điêu nổi).My Sơn-Quảng Nam Đà Nẩng Thế kỷ X (hình 8) (Hình 8)
độ tôn kính (voi là vật cưỡi của thần nhưng thần không trực tiếp cưỡi lên n ữ a)
h Bệ chín vị thần (phù điêu)»Trà Kiệu - Quảng Nam Đà Nẩng Thế kỷ X (hình 9)
sự nhận dạng các vị thần rất khó Vì vậy, ta dựa vào hình tượng học và thần thoại Ân
Độ ở một sô" cốt truyện , ta có thể đoán các vị thần đó
Trang 30Luán _Yăn Tôt N ghj ép_
Vị thứ nhất : Voi xe bảy ngựa kéo , do đó có thể là thần Surya hay còn gọi là thần Mặt Trời Theo thần thoại Ân Độ vị thần này được miêu tả có sắc đẹp, mặc áo dài trắng thường ngồi trên xe có bảy ngựa hồng kéo
Hiện trạng :
Tay bị gãy , đùi phải gãy , chỉ còn lại đùi trái nhưng vẫn thấy rõ là tư thế ngồi xếp bằng, trên ngựa có đeo một chuỗi hạt, vòng eo cũng đeo hai chuỗi hạt, chính giữa có búp hoa
Vị thứ nhì : Ngồi trên bệ có thể là Chandra hay Sôma (thần mặt trăng) Tư thế hai chân ngồi xếp bằng , hai tay nắm lại để trên đùi , trong tay có cầm hình như là hoa sen , ngang bụng có đeo trang sức chuỗi h ạ t, chính giữa có búp hoa, bắp tay trái
có đeo chuỗi h ạ t, chính giữa có búp hoa c ổ có đeo trạng h ạ t
Vị thứ ba : Có con thú đi theo nhưng không rõ là con gò, nên không xác định được tên gọi
Vị thứ tư : Có con thiên nga hoặc con ngỗng đi theo , do đó có thể là thần Bruhma Ngỗng được tạc như đang tung cánh với tư thế chuẩn bị bay Thần ngồi với
tư thế hai chân xếp bằng , hai tay nắm lại để trên hai đ ù i c ổ có đeo tràng hạt, ngang bụng có đeo vòng trang sức Ớ chính giữa có vật trang trí hình xoắn ốc , hai bắp tay gần sát nách có đeo vòng trang sức hình búp hoa
Vị thứ 5 : Có con voi đi theo Do đó có thể là thần Indra vật cưỡi (nhưng không trực tiếp) là hình voi nằm phủ phục , cả hai chân đều bị mẻ hết hai phần ba, hai cánh tay bị gãy nhưng tư thế cho thấy vẫn ngồi xếp bằng , bắp tay phải có đeo trang sức hình búp hoa c ổ có đeo tràng hạt
Vị thứ sáu : Vật cưỡi gần như bị hư hại hết nên không xác định được tên Ngồi với tư thế hai chân xếp bàng, hai cổ tay đều đeo vòng , hai bắp tay đeo vòng hình hoa Cổ đeo hai tràng hạt có vòng lớn chính giữa, ngang bụng có chuỗi hạt hình búp hoa nhọn
Vị thứ bảy : Dường như có con chó đi theo Do đó có thể là thần Darhma (thần chánh pháp) Hai chân ngồi xếp bằng , hai cổ chân có đeo đồ trang sức , hai cổ tay đeo vòng , hai bắp tay đeo trang sức hình hoa ; tay trái nắm tròn lại để trên đ ù i, tay phải cầm vật gì không rõ, c ổ có đeo tràng h ạ t
Vị thứ tám : Có con bò đang phủ phục dưới bệ thần ngồi Do đó đây có thể là thần Siva
Hiện trạng :
Tượng bị vỡ gần như nữa người, bàn tay trái bị hư Tư thế hai chân ngồi xếp bằng Bàn tay phải ôm lấy đùi phải , hai cổ chân và hai cổ tay đều đeo trang sức hình vòng tròn