1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Alexandre de rhodes vai trò của ông trong việc thành lập chữ quốc ngữ và hội nhập văn hóa việt nam khóa luận tốt nghiệp đại học

88 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Alexandre De Rhodes Vai Trò Của Ông Trong Việc Thành Lập Chữ Quốc Ngữ Và Hội Nhập Văn Hóa Việt Nam
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Đinh Kim Phúc
Trường học Đại Học Mở Bán Công Tp. Hcm
Chuyên ngành Văn Hóa Đông Nam Á
Thể loại luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 1996
Thành phố TP. HỒ CHÍ MINH
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 9,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sở dĩ vai ưò của người Bồ Đào Nha được chúng tôi xem xét kỹ trong giai đoạn đầu của công cuộc truyền giáo là vì họ đã gây một ảnh hưởng lđn về luân lý và tôn giáo, ngôn ngữ họ dùng làm c

Trang 1

VÀ HỘI NHẬP VĂN HÓA VIỆT NAM

(LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á

Trang 2

* MỤC LỤC

-*ỉ

Stf lược lịch sử truyền bá đạo Thiên Chúa tại Việt Nam

từ gỉai đoạn đâu đến thời kỳ Alexandre de Rhodes

Tiểu sử thân thê' và sự nghiệp của Alexander de Rhodes ỉ 8

n. Những kinh nghiệm đầu tiên về truyền giáo 21III Alexandre de Rhodes và việc truyền giáo

Trang 3

B Ra Đàng Ngoài - Thành lập giáo đoàn xứ Bắc 23

E Giai đoạn cuối đời của Alexandre de Rhodes 26

IV Alexandre de Rhodes vđi công việc xuất bản

CHƯƠNG BỐN:

Việc học tiếng Việt và hoàn chỉnh chữ quốc ngíĩ

I Việc thành lập chữ quốc ngữ: Một sự nghiệp chung 31

II Việc học và hoàn chỉnh chữ quốc ngữ giai đoạn phôi thai

A Việc học tiếng Việt của Alexandre de Rhodes 37

B Các tác phẩm bằng Việt ngữ của Alexandre de Rhođes 40

c Nhận định địa vị cứa Alexandre de Rhodes

CHƯƠNG NẮM:

KHÍA CẠNH HỘI NHẬP VĂN HÓA VIỆT NAM

1 Nhận xét chung của giáo sĩ Alexandre de Rhodes 56

2 Việc hội nhập vào văn hóa - xã hội Việt Nam 57

60KẾT LUẬN

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Vào đầu tháng 11_1995, tại thành phố Hồ Chí Minh và tại thủ đô Hà Nội

đã ghi dấu hai sự kiện quan trọng Trước hết đó là việc tái lập tên đường Alexandre de Rhodes ngay trước dinh Thông Nhất, Thành phô' Hồ Chí Minh Và

sự kiện thứ hai là việc đặt lại tượng đài của ông trong Viện Bảo Tàng Lịch sử Việc đặt lại tên đường và dựng tượng dài cho ông đã nói lên việc đánh giá lại công lao của ông và lòng biết ơn của chúng ta về việc ông đã thực hiện được một

sự nghiệp văn hóa hết sức quan trọng và mang nhiều lợi ích cho dân tộc Việt Nam, đó là góp phần sáng tác và hoàn chỉnh chữ quốc ngữ trong giai đoạn đầu,

mà hôm nay chúng ta là những người được thừa k ế di sản quý báu ây

Như chúng ta đều biết, sự tiếp xúc Đông - Tây đã diễn ra d Việt Nam trưđc tiên là do sự truyền bá đạo Thiên Chúa được các giáo sĩ người “Tây Dương” thực hiện Vđi bản tính cởi mở, ít kỳ thị “dị giáo”, với ý thức hòa đồng tôn giáo, người Việt Nam lúc đầu đã tiếp nhận KiTô giáo dễ dàng hơn các nước khác Chính trên cơ sở thuận lợi này mà các giáo sĩ thừa sai cũng làm được nhiều việc Ngoài việc vận động truyền giáo, đào tạo giáo sĩ, kẻ giảng , cho công việc đức tin, về mặt văn hóa họ còn góp công Latin hóa chữ quốc ngữ để truyền tải đức tin một cách dễ dàng, tách rời chữ Việt ra khỏi khuôn chữ vuông và nền văn hóa Khổng giáo để làm quen với ngôn ngữ phương Tây Công trình tập thể này được

sự đóng góp của nhiều người theo đạo Thiên Chúa cả phương Tây lẫn Việt Nam Trong đó nổi bật lên ba khuôn mặt lớn: Linh mục Caspar Amaral với tự điển Việt_Bồ, Linh mục Antonie Barbosa với tự điển Bồ_Việt và Alexandre de Rhodes vđi tựdiển Việt_Bồ_La xuất bản tại Rome 1651 và cuôh “Phép giảng tám ngày” Với tự điển Việt„Bồ_La và Phép giảng, chữ quốc ngữ đã được đúc kết và chuẩn hóa có chữ in, nó tỏ rõ tính tiện lợi và hiện đại của nó

Chính vì thế chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “ALEXANDRE DE RHODES - VAI TRÒ CỦA ÔNG TRONG VIỆC THÀNH LẬP CHỮ Q u ố c NGỮ

VÀ HỘI NHẬP VĂN HÓA V Ệ T NAM” vđi niềm hy vọng rằng đề tài này sẽ góp phần trước hết làm sáng tỏ thêm một khía cạnh về con người Alexandre de Rhodes và sau đó góp phần làm phong phú thêm các đề tài luận văn của khoa Đông Nam Á học _ Đại Học Mở-Bán Công - Thành phố Hồ Chí Minh Chúng tôi mong rằng luận văn này sẽ nói lên hoài bão của chúng tôi về nhân vật lịch sử này Trước hết ngoài sự nghiệp truyền bá đạo Thiên Chúa vào nưđc ta và góp công sáng tác, hoàn chỉnh chữ quốc ngữ giai đoạn phôi thai, ông còn là một nhà văn hóa đã cố công học hỏi, tìm hiểu và yêu mến đất nưđc-con người Việt Nam như quê hương thứ hai cửa ông

I LICH SỬ NGHIẾN c ử u VÂN Đ ầ ;

v ề sự nghiệp góp công sáng tác chữ quốc ngữ của Alexandre de Rhodes cũng như sự nghiệp truyền giáo của ông, trước đây đã có nhiều soạn thảo và nghiên cứu trong cũng như ngoài nước Tựu trung vể các sáng tác ấy đa phần chỉ tập trung vào công trình sáng tác chữ quốc ngữ, nghiên cứu chữ quốc ngữ giai đoạn đầu qua các tác phẩm của ông, khỉa cạnh truyền giáo của ông, hoặc viết về tiểu sử của ông hoặc dể phê phán hoặc để bênh vực đính chính những chi tiết sai

Trang 5

—2-r-lầm về thân thế và sự nghiệp của ông Phần hình thức của các công ưình này có rất nhiều thể loại, tựu trung đa phần là các bài viết riêng lẻ dăng rải rác trên các báo, các công trình tập thể được đúc kết lại thành sách, in trong các tập san, tạp chí trong và ngoài nước, một số các bài tham luận của các học giả Việt Nam cũng như người nước ngoài bằng tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh Ngoài ra còn một

số luận văn tiến sĩ trình tại Paris trước năm 1975 về thân thế và sự nghiệp của ông Và gần đây nhất, một số tác phẩm của ông đã dược dịch sang tiếng Việt và xuất bản tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng như việc tái bản lại cuốn tự điển Việt- Bồ-La

Qua một số công trình nêu ưên, chúng tôi đã tham khảo một số các tác phẩm như sau:

- Lịch sử Việt Nam tập I - NXB Khoa Học Xã Hội Hà Nội

- Giáo trình lịch sử Việt Nam- Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội I

- Sự phát triển tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám của tác giả Trần Văn Giàu

- Việt sử Tân Biên - Quyển III - Phạm Văn Sơn - Sài Gòn 1959

- Nước Đại Nam đôi diện vđi Pháp và Trung Hoa - Yoshihaku Tsuboi - bản dịch NXB Ban Khoa Học Xã Hội Thành ủ y - TP HCM - 1990

Các tác phẩm này giúp chúng tôi nắm vững được những sự kiện chung trong từng thời kỳ cụ thể Bên cạnh đó, để phục vụ cho nội dung đề tài, chúng tôi

dã tham khảo các tài liệu sau dây:

- Lịch sử Giáo hội Công giáo - Quyển II của Bùi Đức Sinh - Sài Gòn1972

- Việt Nam giáo sữ của Phan Phát Hườn - Sài Gòn - NXB Cứu thế Tùng Thư, 1962

- Lược sử Giáo phận Đàng Trong - Tòa Giám Mục TP HCM 1994

- Hành trình và Truyền Giáo - Alexandre de Rhodes - Bản dịch Việt ngữ - Hồng Nhuệ - NXB Đại Kết, TP HCM 1994

- Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài - Alexandre de Rhodes - Bản dịch Việt ngữ - Hồng Nhuệ, TP HCM 1994

- Giáo sĩ Đắc Lộ và tác phẩm quốc ngữ đầu tiên (Phép giảng tóm ngày) Nguyễn Khắc Xuyên và Phạm Đình Khiêm - NXB Tinh Việt Văn Đoàn, 1961

- Tham luận về cải tiến chữ quốc ngữ Trong “Vẩn đề cải tiến chữ quốc ngữ”, Hoàng Tuệ, NXB Văn Hóa - Hà Nội 1961

- Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam - Cuôn I - Võ Long Tê - NXB Tư Duy, Sài Gòn 1965

- Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Quyển Thượng - Thanh Lãng - NXB Trình Bày, Sài Gòn 1967

- Biểu nhất lãm văn học cận đại - Thanh Lãng - NXB Tự Do, Sài Gòn1958

Nhìn chung qua nội dung các công trình trên, như chúng tôi dã trình bày,

về thân thế và sự nghiệp của Alexandre de Rhodes cũng được nhiều tác giả viết đứng dưới nhiều quan điểm và góc độ nhìn nhận vấn đề có khác biệt nhau Do vậy trong tập luận văn này, chủng tôi đã k ế thừa một số quan diểm của người đi trước

Trang 6

— 3 —

và đồng thời bổ sung thêm một số chi tiết trong khi nghiên cứu vân đề chứng tôi khám phá ra Tuy nhiên qua quá ưình tham khảo các tác phẩm kể trên và bài giảng về lịch sử cùng phương pháp nghiên cứu của thầy Đinh Kim Phúc, chúng tôi

đã nít ra nhiều bài học bổ ích và có cơ sở để khẳng định những quan điểm mà chúng tôi trình bày Và cùng ltìc chúng tôi cũng mạnh dạn đi vào khía cạnh “hội nhập văn hóạ Việt Nam “ của Alexandre de Rhodes, một vùng đất mà cho đến nay ít người đề cập đến

Mặc dầu đã đặt ra giới hạn chỉ ưình bày sơ lược sự nghiệp - thân thế và khía cạnh hội nhập văn hóa Việt Nam của Alexandre de Rhodes, chtíng tôi cũng nhận thấy những vấn đề thuộc phạm vi đề ra vẫn khó có thể giải quyết một cách triệt để vì nhiều lý do sau:

- Trước nhất là do số lượng tài liệu về vấn đề nêu trên rết phong phú và

đa dạng, k ế đó thời gian chuẩn bị luận văn của chứng tôi thì hạn hẹp nên do vậy những thiếu sót chủ quan nhất định không thể không tránh khỏi

- Tuy có rất nhiều khó khăn, chúng tôi cũng cố gắng hoàn thành đề tài ở

mức độ cao nhất Với tinh thần đó, chúng tôi chỉ có thể ưình bày tương đối hệ thông các vấn đề nêu ra, còn quan điểm để nhìn nhận vấn đề chứng tôi mong nhận sự đống góp ý kiến quý báu của Quý Thầy Cô và các bạn quan tâm đến vấn

đề đã nêu trong luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, trong tập luận văn này chúng tôi trình bày năm chương chia ra như sau:

- Chương I: Bối cảnh lịch sử Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 17

- Chương II; Sơ lược lịch sử truyền bá đạo Thiên Chúa vào Việt Nam từ giai đoạn đầu đến thời kỳ Alexandre de Rhodes vào Việt Nam (1624 - 1645)

- Chương III: Thân thế và sự nghiệp của Alexandre de Rhodes

- Chương IV: Việc học tiếng Việt và hoàn chỉnh chữ quốc ngữ thời kỳ phôi thai của Alexandre de Rhodes

- Chương V: Khía cạnh hội nhập văn hóa Việt Nam của Alexandre deRhodes

III PHƯƠNG PHẤP NGHIÊN c ử u VAN ĐÊ:

Để hoàn thành tập luận văn này, chúng tôi đã ra sức tham khảo và nghiên cứu vấn đề bằng phương pháp cụ thể và liên ngành qua các hệ thống đối chiếu, so sánh , để phát hiện những vấn đề mđi ở phạm vi nghiên cứu Bên cạnh sự tham khảo và sử dụng một phần tài liệu của những người đi trước như đã kể trên, trong tập luận văn này còn được thực hiện bằng những cuộc phỏng vấn, nói chuyện và tham dự một số các buổi thuyết trình về đề tài Alexandre de Rhodes được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 1995

Đề tài nghiên cứu này đã được hoàn thành, chúng tôi xin chân thành cảm

ơn Thầy Đinh Kim Phúc - Cao học Khoa Học Lịch sử - Giảng viên Khoa Đông Nam Á Học - Đại Học Mở - Bán Công TP Hồ Chí Minh đã động viên và hướng dẫn khoa học trong suốt thời gian nghiên cứu các vấn đề được dặt ra

Trang 7

Nơi đây, chúng tôi cũng xin cám ơn Giáo sư Khoa Trưởng Nguyễn Quốc Lộc dã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho chúng tồi đi tham quan Malacca - Malaysia để thu thập tài liệu cần thiết cho tập luận văn này.

Chứng tôi xin chân thành cảm ơn Linh mục Tiến sĩ Trương Bá cần, Giáo

sư Phạm Đức Dương, Giáo sư Nguyễn Tấn Đắc, Phó Tiến sĩ Lê Trung Hoa, Ban thủ thư Thư Viện Khoa Học - Xã Hội Thành phố Hồ Chí Minh, đã giúp dỡ chúng tôi nhiều tài liệu, bài giảng quý giá để hoàn thành tập luận văn Và chiíng tôi cũng xin cảm ơn Quý Thầy Cô trong Khoa Đông Nam Á Học dã trang bị cho chúng tôi sự hiểu biết ngày hôm nay và các bạn đồng học Chúng tôi, nơi đây, mong đợi sự đóng góp ý kiến của Quý Thầy, Cô và các bạn để công trình nghiên cứu trên đạt được kết quả tốt đẹp hơn

TP HCM, ngày 15 tháng 8 năm 1996

Trang 8

ONÍICIIỘN NVHJ

Trang 9

— 5 —

CHƯƠNG MỐT:

BỐI CẢNH VIỆT NAM VÀO GIỮA THẾ KỶ 16 VÀ GIỮA THẾ KỶ 17

Đầu thế kỷ XV, vua Thái Tổ nhà Hậu Lê, với sự hậu thuẩn mạnh mẽ và cương quyết của toàn dân, đã lập nên một sự nghiệp bất hủ trong sử sách là đánh đuổi được quân xâm lược cửa triều Minh ra khỏi bờ cõi, sau mười năm chiến đấu dầy hi sinh gian khổ

Từ Thái TỔ đến Thánh Tông, hùng khí của dân tộc Việt Nam mạnh như sóng cồn, nếu đem so sánh Việt Nam với các lân quốc Á Châu thì ta có thể tự hào rằng mình là một quốc gia cường thịnh bậc nhất ở Đông Nam Á về mọi phương diện

Văn tự, võ công rạng rỡ đến tột bực, cả vân đề cương vực cũng dưực mở rộng hơn bao giờ hết, nếu ta nhớ rằng dưới đời Hậu Lê biên giới Việt Nam đã đi sâu vào đất Champa Vua Lế Thánh Tông đã đánh đuổi quân Chiêm Thành đến Phan Lung rồi sau đó áp dụng chính sách “chia để trị” chia vương quốc Champa

ra thành ba tiểu quốc nhỏ, một gọi là Chiêm Thành, một là Nam Phan và một gọi

là Hóa Anh Riêng đất Trà Bàn, Đại Chiêm và c ổ Lũy được quy hợp lại inà tạo ra thành đạo Quảng Nam Chúng ta thật ra có thể nói rằng dưới đời Hồng Đức nước Việt Nam đã văn minh thịnh trị so ngang vđi các nước lđn ở Châu Âu thời ây

Nhưng thật đáng tiếc , đến hết đời vua Thánh Tông thì cái đà tiến hóa của dân tộc bị ngưng ưệ lại Lý do của sự ngừng tiến là bởi các vị vua k ế vị Thái Tổ, Thánh Tông, Hiền Tông đều nhỏ tuổi cả và như thế lại kém cả tài lẫn dức nên không những không thúc đẩy thêm được cái đà tiến hóa của dân tộc ta mà còn đi đến chỗ dật lùi rồi dần dần sa vào hố suy vong

Con cháu nhà Hậu Lê từ vua Tương Dực tới Chiêu Tông và Cung Hoàng

đã tỏ ra bất lực, vô tài do đó các đại thần tướng lĩnh tha hồ mà tranh quyền vị Chứng ta cũng biết rõ là từ giai doạn này trở đi mối loạn đã bắt đầu diễn ra Nếu ünh ra, thì từ vua Thái Tổ đến Cung Hoàng tức lức bắt đầu cường thịnh đến lúc khởi sự suy vong vừa đdng một thế kỷ (1428 - 1527) sau mười đời vua

Theo ý chúng tôi, khi nhà Hậu Lê mới dấy nghiệp, các lãnh tụ phong kiến đều vừa là quan liêu vừa là địa chủ Bấy giờ họ còn non nđt và biết e dè uy quyền của nhà vua được xây dựng trên những nguyên tắc thương dân thương nước, họ chưa dám tạo phản gây ra nhiều sự chinh chiến làm khổ cho nhân dân sau này Lý

do trước hết là quyển lợi cửa họ một phần do ân sũng của triều Lê ban cho, sau là dần dần do bóc lột nhân dân mà tạo thành Lúc dầu phú quý của họ do những cân nguyên chỉnh đáng rồi sau đó họ đi đến chỏ lạm quyền lạm thế Đến khi uy quyền của nhà vua sút đi thì uy quyền của họ lớn lên Ngoài ra giữa quan liêu và địa chủ càng đông thì mầm chia rẽ càng nhiều Rồi cơ hội đến khi nước Đại Việt từ cuối thế kỷ XV đã thành quốc gia rộng lớn, nhưng kinh tế phát triển không kịp, lãnh thổ bị chia rẽ quá nhiều vào các quan liêu, địa chủ, triều đình sau này hèn yếu quá kiểm soát không nổi họ, đưa đến việc họ ra sức bóc lột và áp chế nhân dân Chính quyền đã không giải quyết nổi quyền lợi của nhân dân nên nhân dân cũng trở thành thù nghịch với chính quyền Cái khổng khí chính trị nghẹt thỏ ây đã phát

Trang 10

— 6 —

sinh từ đời vua Uy Mục đến Chiêu Tông, hơn hai mươi năm ười mới sinh ra cuộc biến loạn ưên toàn lãnh thổ Việt Nam

1-MAC ĐĂNG DUNG CƯỚP NGỔI NIIẰ LẺ VẢ NAM BẮC TRIẺĨI:

Như chứng ta đã biết, nãm 1527, Mạc Đăng Dung lật đổ vua Cung Hoàng

và lên làm vua lấy niên hiệu là Minh Đức Mạc Đăng Dung ở ngôi dược ba năm thì theo lối họ Trần nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh (1530-1540) rồi về

ở Cổ Trai làm Thái Thượng Hoàng Tuy vậy Đăng Dung vẫn trực tiếp điều khiển quốc chính Họ Mạc vẫn theo đuổi những công việc, đường lối ưị nước của nhà Lê

và có nhiều thiện chí ưong việc trị dân giúp nước Trật tự được phục hồi dần, canh nông được khuyến khích, thi cử học hành được mỏ mang Nhà Mạc còn cho đức tiền sắt, tiền đồng để tiện dụng ưong việc mua bán Uy quyền nhà Mạc do đó thấu khắp cả Bắc Việt Trong khi đó các lực lượng đốí lập (công thần nhà Lê) bị dồn hết vào Tây Đô, Nghệ An, Thanh Hóa

Các cựu thần nhà Lê không mây người chịu phục; người thì lánh vào rừng núi, kẻ bỏ ưốn ra nước ngoài hoặc nổi lên đánh phá Trong đó các cựu thần không phục nhà Mạc bỏ ra nước ngoài có con của tương Nguyễn Hoằng Dụ (thời Lê Chiêu Tông) là Nguyễn Kim (hay Nguyễn Hoằng Kim) ưốn sang Ai Lao đirợc vua

Xạ Đẩu cho nương náu ỗ xứ cầm Châu, thuộc trấn Man Phủ tỉnh Thanh Hoá Tại

đây Kim lo tìm con cháu nhà Lê để dễ hiệu ưiệu các cựu thần và khôi phục lại sự nghiệp đã tan vỡ của dòng họ Lê cũng như của mình Năm Quý Tỵ (1532) Nguyễn Kim kiếm được người con út của Lê Chiêu Tông là Duy Ninh lập nên làm vua tức

Lê Trang Tông (1533-1548)

Trong việc mưu đồ đại sự, Nguyễn Kim đã dung nạp dưực một viên tướng tài giỏi là Trịnh Kiểm người xã Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Kim rết mến tài Trịnh Kiểm và gả con gái là Ngọc Bảo cho, để cùng nhau

lo việc” phò Lê diệt M ạc” Phe Nguyễn Kim đến năm Canh Tý (1540) đã có một lực lượng khá lớn tiến đánh Nghệ An, hai năm sau tiến đánh Thanh Hóa Năm

1543, Nguyễn Kim thu phục cả Tây đô (Thanh Hóa) bởi Tổng ưấn nhà Mạc là Dương Chấp Nhất ra hàng Theo Việt Nam sử lược việc Dương Chấp Nhất ra hàng

là mưu k ế của nhà Mạc vì đến năm Ất Tỵ (1545) khi tiến quân đến Yên Mô (Ninh Bình) thì Nguyễn Kim bị Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc chết

Khi Nguyễn Kim chết đi, con là Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng còn nhỏ, mọi quyền hành đều do tay Trịnh Kiểm nắm giữ Khi thấy cuộc Bắc tiến bất lợi vì cái chết của chủ tướng, Trịnh Kiểm nít quân về Thanh Hóa rồi lập Hành điện Ô đồn Vạn Đại (Thanh Hóa) Tại đây phe vua Lê Trang Tông bắt đầu có thanh thế

và nhiều nhân sĩ tìm đến giúp Bấy giờ Đại V iệ t(1) chia làm hai lực lượng đổì thứ, một ở miền Bắc từ Sơn Nam đổ ra thuộc ảnh hưởng của nhà Mạc gọi là Bắc ưiều, một từ Thanh Hóa trở vào là khu vực nhà Lê hay Nam triều Năm 1548 vua Trang Tông mất, Trung Tông lên thay Tám năm sau Trung Tông cũng mất, Trịnh Kiểm lập Anh Tông lên ngôi (1556-1573) Ở Bắc triều lúc ấy vào nãm Tân Dậu (1561)

(1) Nước ta dưới triều nhà Lê còn gọi Đại Việt, quốc hiệu Việt Nam bắt đầu có từ khi vua Gia Long lên ngôi

Trang 11

— 7

-Mạc Phức Nguyên qua đời con là -Mạc Mậu Hợp lên nôi ngôi Nói chung từ năm Quý Dậu (1572) đến năm Quý Mùi (1583), Nam Bắc triều đánh nhau trên mười năm bất phân thắng bại

Năm 1570, Trịnh Kiểm mất, hai con là Trịnh c ố i và Trịnh Tùng tranh quyền nhau, Trịnh Côi thất thế đầu hàng nhà Mạc Trịnh Tùng (1570-1623) từ dấy nắm cả quyền hành Vua Anh Tôn nghi ngờ mưu trừ Trịnh Tùng, bị Trịnh Tùng sát hại; Lê Thế Tông được lập lên thay (1573-1599) Trong mười năm Trịnh Tùng giữ thế thủ, Mạc Mậu Hợp (1562-1592) đem đại quân vào đánh nhưng khổng thắng nổi

Đến năm 1583, Trịnh Tùng thây lực lượng mình đủ mạnh, đổi thế thủ ra thế công, năm nào cũng cử binh mã ra đánh nhà Mạc Năm 1592, Trịnh Tùng thống lĩnh 50.000 quân Bắc tiến, đại thắng quân Mạc, hạ được kinh thành, giết Mạc Mậu Hợp; nhà Lê trùng hưng từ dây Con cháu nhà Mạc chạy lên Cao Bằng, nhờ thế lực của nhà Minh còn làm vua được ba đời nữa, đến 1667 mới mất hẳn

Dưới thời trùng hưng các vua Lê thật ra chỉ có hư vị, họ Trịnh kể từ Trịnh Tùng tự xưng làm Chúa, cha truyền con nối nắm quyền hành ở Bắc Hà Chúa Trịnh đặt ra Phủ liêu và Lục phiên để thay thế triều đình và Lục bộ trông coi việc nước, về kinh tế, Chúa Trịnh cho khai mỏ, đặt quan thuế, mở cảng Phố Hiến cho người ngoại quốc vào buôn bán Nhà Chúa còn mở trường võ bị, tổ chức thi võ, sai người viết Quốc sử, khắc bản in, lập ấn quán

Ĩl-CHỦA NGUYỄN VẢ SƯNGHIẺP Ở PHƯƠNG NAM:

Dòng họ Nguyễn khi Nguyễn Kim chết còn lại hai người con là Lang Quận Công Nguyễn Uông và Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng Trịnh Kiểm sợ cho địa vị độc tôn của mình bị lung lay nên ra tay trừ Nguyễn Uông trước Nguyễn Hoàng thấy thế tìm cách xa lánh người anh rễ của mình, không còn cách nào khác hơn là nhờ chị ruột là Ngọc Bảo(vỢ Trịnh Kiểm) vận động cho mình vào Thuận Hoá với chức vụ Trấn thủ (1) Theo Việt Sử Tân Biên dịp may của Nguyễn Hoàng

là vào lúc này Thuận Hóa vẫn bị người Chămpa quấy rôì, dù đất này đã thuộc về

ta từ một thế kỷ trước(2) Khi được Trịnh Kiểm chấp thuận, Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa với nhiệm vụ bình định, bảo vệ và thu thuế địa phương này, đồng thời Nguyễn Hoàng phải cộng tác vđi Tổng binh Quảng Nam để cùng giải quyết mọi sự đây(3)

Các sử sách chép về Nguyễn Hoàng đều có sự khen ngợi ông là người khôn ngoan, có tài tổ chức, biết cách cai trị dân nên được dân mến yêu Vùng Thuận-Quảng là nơi tụ họp rất nhiều hạng người mà thành phần xã hội rất phức tạp; những tay phiêu lun, tù đày, những người Chăm không hẳn thực lòng quy phục, Nguyễn Hoàng đã cảm hóa được hết bằng phương pháp cương nhu Chẳng bao lâu Thuận Hóa có chợ búa, phố phường làm ăn vui vẻ và trở thành inột đô thị được các nước xa gần (kể cả Tây phương) đến giao thương Dưới chế độ của ông,(1) Theo Thực lục, Liệt truyện và Cương Mục, Nguyễn Hoàng được phong chức Trân Tiết, theo Toàn thư là Trấn Thủ

(2) Phạm Văn Sơn - Việt Sử Tân Biên, Cuốn 3, trang 77

(3) Phạm Văn Sơn - sđd, trang 78

Trang 12

việc thuế má và sai dịch cũng rết nhẹ nhàng Do dó, Nguyễn Hoàng dược dân chúng mệnh danh là Chúa Tiên Và cũng nhờ những vụ lộn xộn, chinh chiến giữa hai họ Trịnh Mạc trên đây mà Nguyễn Hoàng được rảnh tay mở mang địa phương của mình về mọi mặt; chính trị, kinh tế, xã hội và quán sự Năm 1608, Chămpa xua quân vào đất Quảng Nam bị đánh lui Thừa liic đó Nguyễn Hoàng chiếm thêm của Chiêm Thành một phần đất, lập ra tỉnh Phú Yên ngày nay Thời gian yên ổn

từ 1572 đến 1627, họ Nguyễn xây dựng được khá nhiều cơ sở ở Nam Hà; họ

Nguyễn kiến thiết, bố phòng và xây dựng hậu phương vững chắc để mưu việc tranh bá đồ vương sau này Từ hòa hoãn đến ra mặt cầm cự và chiến đâu chống lại

họ Trịnh

Rồi đến cuộc Nam Bắc phân tranh, lấy sông Gianh làm biên giđi cho hai vùng Nam Bắc(1) Họ Nguyễn sau đó mới yên tâm đẩy sâu ngọn cờ Nam tiến vào đất Champa và Chân Lạp Kể từ 1627-1672 thì hai họ Trịnh Nguyễn giao chiến với nhau bảy lần cả thảy(2) khi thì Trịnh Nam chinh lúc thì Nguyễn Bắc tiến Nói chung thì cuộc chiến bất phân thắng bại giữa hai bên Miền Bắc thì hao binh rốn tướng, còn miền Nam có giữ vững được tình thế cũng vô cùng khó nhọc, gian lao

Đó là tình hình của nước Đại Việt khi những nhà truyền giáo tiên phong, thuộc nhiều quốc tịch khác nhau bước vào dãi đất này để truyền bá đạo Thiên Chứa từ tiền bán thế itỷ XVI

(1) Sông Gianh tức Linh Giang chảy qua tỉnh Quảng Bình Biên giới phía Bắc sông Gianh trở ra gọi là Đàng Ngoài và từ Nam sông Gianh trở vào gọi là Đàng Trong Kinh đô Đàng Ngoài là Thăng Long (Kẻ Chợ); còn Đàng Trong kinh dô tại Phú Xuân - Huế Nhà Nguyễn xem như mình là một quốc gia riêng, các Chúa Nguyễn định lại quan chế, thay đổi sắc phục, đổi cả phong tục trong dân gian dể cho khác với miền Bắc Đây là điểm liên quan đến văn hóa

(2) Bảy lần giao tranh theo thứ tự như sau: Đinh Mão (1627), Canh Ngọ (1634), Ất Hợi (1643), Mậu Tý (1648), Ất Mùi (1655), Tân Sửu (1661) và Nhâm Tí (1672) Trừ ra lần giao tranh lần thứ năm vào năm Ất Mùi (1655) là Nguyễn Bắc tiến, còn các lần còn lại là Trịnh Nam chinh

Trang 13

CHƯƠNG HAI:

S ơ LƯỢC LỊCH SỬ TRUYỀN BÁ ĐẠO THIÊN CHÚA TẠI VIỆT NAM

TỪ GIAI ĐOẠN ĐAU ĐEN THỜI KỲ ALEXANDRE DE RHODES

(1624 - 1645)

Thời đại phôi thai của đạo Thiên Chứa ở Việt Nam là một thời đại tối tăm

về phương diện lịch sử, tối tăm vì ngoài ra tên tuổi các thừa sai tiên khởi, chúng ta không còn biết xác đáng những hành động của họ trên đất nước Việt Nam

Các thừa sai đại đa sô" là người Bồ Đào Nha (Portugais) Khi nói đến việc giảng đạo của các thừa sai trên đất nước chúng ta, chúng ta nên biết rõ qua về môi liên lạc giữa Việt Nam và tìồ Đào Nha vào thế kỷ 16 Sở dĩ vai ưò của người Bồ Đào Nha được chúng tôi xem xét kỹ trong giai đoạn đầu của công cuộc truyền giáo là vì họ đã gây một ảnh hưởng lđn về luân lý và tôn giáo, ngôn ngữ họ dùng làm chuyển ngữ giữa các người ngoại quốc và người Việt Nam Những người Việt Nam thời đó đã chịu phép rửa tội theo đạo được dùng làm thông ngôn và mang tên

Bồ Đào Nha K ế đó vai trò của các dòng tu Phanxicô, Đa Minh và dòng Tên Đặc biệt là dòng Tên vì đây là dòng tu mà Alexandre de Rhodes gia nhập và phục vụ cho đến khi qua đời

L LIỀN LAC GIỮA VIẺT NAM VẢ B ồ ĐẢO NHA:

Vào thế kỷ 15 khi người Bồ Đào Nha và các dân tộc Châu Âu khác đổ xô vượt biển băng ngàn đến những nơi xa lạ đều có hai mục đích Hai mục dich ấy có thể nói tóm gọn lại trong mấy chữ “Hạt tiêu và các Linh hồn”(1) Chính vì lẽ đổ, người Bồ Đào Nha không những tìm đất xây dựng thị uường mua bán những sản phẩm, hàng hóa của Á Châu như lụa, vải, hạt tiêu, các cốc loại mà Âu Châu khan hiếm, nhưng họ còn lo giảng đạo đem các linh hồn trở về Chứa nữa

Dân tộc Bồ Đào Nha tuy nhỏ bé, nhưng vào thời ấy đã can đảm chặn đứng sức xâm lăng của các dân tộc Hồi Giáo lức bấy giờ đang như vũ bão tràn qua Bắc Phi, Châu Âu và các nước Á Châu nằm trên đường biển qua Đông Nam Á Người Bồ Đào Nha dã lần lượt chiếm lại những thành phố như Goa, Colombo, Malacca của người Hồi Giáo Và như thế từ thủ đô Lisbonne cho đến Nagasaki, người Bồ Đào Nha đã lập nên một dãy thành trì nối Tây Phương vổi Đông Phương(2)

Chúng ta biết rằng, phát triển địa lý là một cái mốc lịch sử tiêu biểu của thời cận đại, mở ra những triển vọng phát triển mới cho Phương Tây, ưong đó triển vọng truyền giáo đến các miền đất lạ là mục tiêu không kém phần quan trọng Điều đó đã được thể hiện ưong sự hên kết giữa Tòa Thánh La Mã với hai thế lực tư sản sớm phái triển là Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Giữa thế kỷ 15, do

áp lực của Bồ Đào Nha, Giáo hoàng Nicola V dã ra sắc chỉ Romanus Pontifex (8- 1-1455) giao vĩnh viễn cho Bồ Đào Nha quyền chinh phục và sở hữu các đất thực

(1) Plattner - “Quand r Europe cherchait 1’ Asie” - page 11 Dẫn theo Phan Phát Huồn - Việt Nam Giáo sử, trang 19

(2) Phan Phát Huồn - sđd, trang 20

Trang 14

10

dân cho đến vịnh Guinée và xa hơn nữa Từ sau sự phát hiện ra Châu Mỹ của Christophe Colomb, Tây Ban Nha không chấp nhận tình trạng trên đã yêu cầu Tòa Thánh La Mã phân xử Ở đây chúng ta thấy khi xảy ra tranh chấp giữa hai quốc gia, La Mã đã một thời đóng vai trò trọng tài quốc tế

Sau khi đã dàn xếp vđi triều đình hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha xong, Giáo hoàng Alexandre VI ra liền 3 sắc chỉ, trong đó quan trọng nhất là sắc chỉ Inter Caetera (4-5-1493) Hai sắc chỉ đầu qui định rõ ràng khu vực ảnh hưởng của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Còn sắc chỉ Inter Caetera vạch ra con dường phát triển cho hai nước, lấy căn cứ phía Tây cách quần đảo Acores 100 dặm làm ranh giới Những phần dất phía Tây thuộc quyền Tây Ban Nha và phía Đông thuộc về Bồ Đào Nha

Như thế bước vào thời cận đại, người Bồ đã đặt chân ỏ vùng Đông Nam Á tiến lên nhìn về Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản Thành phố Goa đã trở thành một xứ đạo vào năm 1534, nơi đây các giáo sĩ phương Tây sau khi trình diện và dược nhà vua Bồ cho phép, được phân bố'đi các nước ở phương Đông truyền giáo Chính trong hoàn cảnh đó, Malacca đã trở thành xứ đạo 1511 và Macao năm 1575(1) Các thừa sai đến Việt Nam hay các thương buôn Bồ phần đông từ Macao

mà đến Tại miền Nam, họ mở cửa hàng tại Hải Phô' (Failb) - Quảng Nam Còn tại miền Bắc, người Bồ cũng đến buôn bán từ lâu, nhưng họ không mỏ cửa hàng, chỉ người Hòa Lan mới được mở cửa hàng tại Phố Hiến - Hưng Yên

II CỐNG CUỐC TRI)YEN GIẢO TAI VIẾT NAM:

Như phần trên chúng tôi đã trình bày, khi các thừa sai Tây Phương đặt chân đến Việt Nam, đất nước chúng ta đang ở trong thời kỳ phân tranh Miền Bắc thuộc nhà Mạc (Bắc triều) và miền Nam từ khu vực Thanh Hóa trở xuống diuộc nhà Lê (Nam triều) Cuộc tranh chấp của hai bên đang đến hồi quyết liệt

A KHU VƯC NHẢ LỀ:

Ở miền Bắc, trong khu vực nhà Lê ( Nam triều) Khâm Định Việt sử có ghi tài liệu như sau: “Năm Nguyên Hòa Nguyên niên (1533) đời Lê Trang Tôn, có

một dương nhân tên là I-Ni-Khu đi đường biển lén vào giảng đạo Gia-Tô ờ làng

Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Chẩn và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy”(2) Đây là vị thừa sai thứ nhất được nói đến trong lịch sử Việt Nam Giáo sĩ I-Ni-Khu là người nước nào và thuộc dòng tu nào? Không có một sử liệu nào nói

rõ Có tác giả cho rằng ông là một linh mục dòng Đa Minh - Tây Ban Nha, nhưng cũng có tác giả khác nói I-Ni-Khu thuộc dòng Phan Xi Cô hoặc dòng Tên quốc tịch Bồ Đào Nha (3)

(1) Nguyễn Hữu Trọng - Les Origines du Clergé Vietnamien - Tinh Việt - Sài Gòn 1959, trang 50-60

(2) Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, XXXIII 6B

(3) Báo Tông Đồ, Sài Gòn 1949, số 14 trang 54 nói: I-NI-KHU là giáo sĩ dòng Tên Caratini Grandjean, trong Le Statut des Missions en Indochine, Hà Nội 1903 trang 24 cho rằng ông có thể thuộc dòng Đa Minh hay Phanxicô quốc tịch Bồ Đào Nha Một số tác giả khác cũng theo ý kiến này

Trang 15

Rất có thể I-Ni-Khu là một giáo sĩ dòng Phan Xi Cô Bồ Đào Nha, vì các

* giáo sĩ dòng này cũng như dòng Đa Minh đã bắt đầu giảng đạo ở Á Đông từ đầu

thế kỷ XVI, nhất là những giáo sĩ thuộc hai quốc tịch Bồ Đào Nha và Tây Ban

• Nha Còn giả thuyết cho rằng I-Ni-Khu thuộc dòng Tên khởng thể chấp nhận

được, vì thánh Ignatio sáng lập dòng Tên năm 1540, nghĩa là sau sự kiện dã xảy ra đến bảy năm Nói tóm lại, ngoài những chi tiết mà Khâm Định Việt Sử kể lại, chilng ta phải kết luận như sử gia Bonifacy rằng: “Người ta không biết gì hơn về giáo sĩ có tên gọi là I-Ni-Khu này” (1)

Theo sau giáo sĩ I-Ni-Khu, lịch sử có nói đến hai giáo sĩ Dòng Triều Alfonso da Costa và Juan Gonsalves là người Bồ Đào Nha, do Giám Mục Ma Cao

cữ sang triều đình nhà Lê, theo lời mời của công Chúa Chiêm, chị vua Lê Thế Tôn, làm nhiếp chính cai trị nước thay em còn nhỏ tuổi Hai nhà truyền giáo theo

sứ giả đến Vạn Lại hồi năm 1588, dược tiếp đón lịch sự và cho phép giảng đạo Nhưng năm sau, khi vua Lê Thế Tôn thân chính, hai Giáo sĩ bị ngược đãi và bị giam giữ cho đến cuối năm 1590 (2)

Một giáo sĩ người Tây Ban Nha - Ordonez de Zevallos, sau nhiều năm chu du thế giới, đã viết cuốn “Lịch sử cuộc chu du thiên hạ ” (Historia y viaje del mundo) Theo tác phẩm kể trên, thì Ordonez de Zevallos được vua Lê tiếp dãi tại triều đình và cho phép đi lại tự do Công Chúa Chiêm được giáo sĩ dạy đạo cho và rửa tội, đặt tên thánh là Maria, tức Mai Hoa Sau đó, Công Chúa khuyên được

- nhiều người khác theo dạo, tổ chức những công việc từ dũện, thiết lập nữ Tu viện

Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và làm bề trên tại Tu viện cho đến chết(3) Thấy ảnh hưởng của Ordonez de Zevallos ngày càng thêm lớn ra nên nhà Vua lo ngại

và ra lệnh trục xuất khỏi đất nhà Lê(4)

Cũng trong tác phẩm của mình, giáo sĩ Ordonez kể thêm chuyện rửa tội cho Nguyễn Hoàng (5), đặt tên Thánh là Gregori, cừng với 19 tướng tá, lễ nghi rửa tội(6) 7 được cử hành long trọng tại Nha Quan Thuế, cửa Thuận Hóa hồi 8 giờ sáng ngày 17-9-1591 Mây năm sau, tại kinh thành Vạn Lại nhà Lê, do ảnh hưởng cứa Công Chúa Mai Hoa, bà thân mẫu Chúa Nguyễn cùng với em trai và em gái của Chúa cũng được Linh mục Da Costa rửa tội, sau cùng là đến Thái hậu tức mẹ Công Chứa Mai Hoaơ)

(1) Bonifacy: Débuts du Christianisme en AnNam, trang 4 - Dẫn theo Bùi Đức Sinh - Lịch sử Giáo Hội Công Giáo Sài Gòn 1971, trang 309

(2) Bùi Đức Sinh - sđd, trang 310(3) Tu viện được lập tại An Trường, cô" đô của các vua Lê, trên tả ngạn sông Chu, phía dưới đập Bái Thượng - Thanh Hóa độ mấy cây số

(4) P.Ordonez Hictoria y viaje del mundo, Madrid 1691, trang 154-163 và 191B- 206B, dẫn theo Bùi Đức Sinh - sđd trang 310

(5) Nguyễn Hoàng đã vào đất Thuận Hóa lập nghiệp từ năm 1558, nhưng vẫn thần phục nhà Lê cho đến năm 1600 mới dứt hẳn

(6) Hình thức Linh mục đổ nước lên dầu người mới gia nhập đạo và đặt tên Thánh

- Dấu chỉ tượng trưng sạch tội Tổ Tông theo Thiên Chúa Giáo

(7) P.Ordonez - sđd, trang 206A-241

Trang 16

— 12—

Truyện của giáo sĩ Ordonez ưong tác phẩm của mình được nhiều người cho là hoang đường, nhất là truyện Nguyễn Hoàng và 19 Tướng tá chịu phép rửa tội theo đạo Thiên Chúa, và nhiều tác giả còn cho rằng Ordonez chưa hề bao giờ

» đặt chân lên đất Việt Nam(1) 2 3 Theo ý kiến của chúng tôi, không phải tất cả nhửng

chi tiết viết trong tác phẩm “Historia y viaje del mundo” của Ordonez đều trứng

cả đâu, nhưng dù sao cũng có một số truyện thật Chỉ vì giáo sĩ đã thêu dệt nên quá nhiều chi tiết trong dó khiến cho câu chuyện trở nên hoang đường Chẳng hạn chi tiết khi giáo sĩ đến Bắc Việt, khu vực nhà Lê, giáo sĩ đã không gặp được con cái của Vua Lê Anh Tông, trừ ra Hoàng tử Lê Thế Tông và chị của ông là bà Công Chúa Mai Hoa, vì Vua Lê Anh Tông cũng như các con cái đều bị Trịnh Tùng giết sạch Giả sử nếu giáo sĩ không đến Việt Nam thì khó lòng mà biết rõ các chi tiết như vậy Thêm vào nữa, một số các địa danh của đát nước Đại Việt được giáo sĩ ưình bày khá rõ ràng như tên cô' đô của các Vua nhà Lê tại An Trường, Thanh Hóa Việc phân chia nước Chiêm Thành ra làm 3 nước nhỏ là Nam Phan, Chiêm Thành và Hóa Anh cũng dược giáo sĩ nhắc dến, cùng với một số các phong tục tập quán của nước ta cũng được giáo sĩ mô tả khá đúng Phía Bắc An Trường cách độ hai cây số’ có một làng hoặc xóm gọi là xóm Da Tô - thuộc xã Phúc Lập hiện nay Đây là nơi mà vua đã cho Công Chúa Mai Hoa lập ra một làng đạo mà giáo sĩ ORDONEZ nói đến Gần làng có một chỗ là “Đền thờ”, người dân cũng không biết vì sao gọi như vậy Có lẽ đây là nơi đã xây nhà thờ hay nhà tu

» của công Chúa Mai Hoa? Gần đó có một giếng nước gọi là giếng Da Tô, có lẽ do

công Chúa cho đào lên nên dân chứng gọi như vậy để nhớ ơn Bà? Giáo sĩ PONCET còn cho nhiều chứng cớ để tỏ ra rằng việc bà cồng Chiía Mai Hoa theo đạo Thiên Chúa ở cố đô An Trường là có thật (2\

Theo Nguyễn Hữu Tâm trong một bài viết đăng trong tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử cho biết thêm một số chi tiết là khi Trịnh Tùng năm 1591 tiến quân ra Bắc với danh nghĩa “Phù Lê diệt M ạc” thì trong đoàn quân có hai Linh mục ALFONSO DA COSTA và JUAN GONSALVES SÁ với các bạn đồng hành của linh mục PEDRO ORDONEZ DE ZEVALEOS Ông còn cho biết thêm, năm 1590 chiếc tàu của linh mục này bị bão dạt vào bờ biển, ông đã được đưa đến yết kiến vua Lê Thế Tông tại An Trường - Thanh Hóa Tại dây ông dã rửa tội cho công Chúa Mai Hoa ( tục gọi là bà Chúa Chiêm Thành), chị gái vua Lê Thế Tông Và ngày 26-5-1591 linh mục ZEVALLOS đã bị trục xuất khỏi nước ta cùng các bạn đồng nghiệp khác

(1) Caiỉland - Essai sur les Origines du Christianisme au TonKin et dans les autres pays Annamites - Paris 1915, trang 144-154 - Bùi Đức Sinh - sđd trang 310

(2) Phan Phát Huồn - Việt Nam Giáo sử - Cứu Thế Tùng Thư - Sài Gòn 1958 trang

31 - Romanet du Cailỉaut -sđd trang 130(3) Nguyễn Hữu Tâm - Bước đầu tìm hiểu sự thâm nhập và phát triển của Dạo

Thiên Chúa ở Việt Nam qua biên niên sử (Thế kỷ XVI-cuối XVIII) - Tạp chí

nghiên cứu lịch sử số (1/2) - 1988 trang 20

Trang 17

— 13—

Qua các tài liệu trên có thể cho chúng ta đi dến kết quả là việc linh mục ZEVALLOS đến Việt Nam và việc công Chúa rửa tội theo đao cùng việc thành lập một dòng tu nữ tại An Trường - Thanh Hóa là có thể đúng sự thật Trên cơ sở

đó có thể cho rằng trong lịch sử truyền đạo Thiên Chtìa vào Việt Nam, những người được rửa tội theo đạo tại An Trường - Thanh Hóa là những tín dồ Ki Tô giáo đẩu tiên ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XVI Vì theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã cho biết ông ĐỖ Hưng Viễn người Thanh Hóa theo dạo Thiên Chúa dưới thời vua

Lê Anh Tôn(1\ Theo Phan Phát Huồn, căn cứ trên cuốn gia phả của ”hợ Đỗ, làng Bổng Trung huyện Vĩnh Lộc, Thanh H oá” thì Đỗ Hưng Viễn là con thứ hai cùa

một vị công thần dưới thời vua Lê Anh Tông (1556 - 1573) tên là Đỗ Biểu (2\

Như vậy ta có thể nói rằng, việc có một số tín đồ Ki Tô giáo, và dòng tu

nữ ở Thanh Hóa là những kết quả đầu tiên mà các giáo sĩ phương Tây đạt được khi dặt chân đến Việt Nam vào thời Lê-Mạc

B- KHU VƯC NHẢ MAC:

Cũng ở Bắc Hà nhưng thuộc khu vực nhà Mạc (Bắc ưiều), năm 1578 một phái đoàn được cử sang Ma Cao vận động xin mấy vị thừa sai người Bồ Đào Nha Lúc bấy giờ có nói đến tên linh mục PEDRO D ALFARO thuộc dòng Phan Xi Cô

và giáo sĩ GIOVANI-BATTISTA PESARO người Ý, nhung cả hai linh mục này không đến theo như lời yêu cầu của Mạc Mậu Hựp được, vì AFFARO bị đắm tàu

ở bờ biển Bình Định và chết tại đó còn linh mục PESARO thì trở về Châu Âu Theo Bùi Đức Sinh và Phan Phát Huồn thì sở dĩ Mạc Mậu Hợp mời gọi các tu sĩ thừa sai đến Việt Nam là vì ông muốn lôi kéo các người Bồ Đào Nha về phc ông

để ông có thể chống lại binh sĩ nhà Lê đang ngày càng trở nên hùng mạnh (3) Theo Nguyễn Hữu Tâm dù vào năm 1581, niên hiệu Diên Thành năm thứ tư đời vua Mạc Mậu Hợp, giáo sĩ DE TESSRO được phép của Mạc Mậu Hợp theo thuyền buôn UY Ma Cao đến giảng đạo ở Đàng N g o ài1 2 (4) 5

Sau đó ít lâu Mạc Mậu Hợp viết nhiều lá thư qua Ma Cao và Đức giám mục Ma Cao ngỏ ý nhờ các m viện ở Manila gởi các thừa sai qua Bắc Việt theo lời yêu cầu của vua nước này Vào năm 1583, niôn hiệu Diên Thành năm thứ 6 đời vua Mạc Mậu Hợp, có một giáo đoàn do linh mục Diego D Oropera dẫn đầu một chiếc thuyền ghé vào cửa biển thuộc vùng Quảng Yên ( Quảng Ninh) ngày 2-5-

1583 Trên thuyền có 3 linh mục và bốn thầy còn trong thời kỳ nhà tập Sau một thời gian truyền giáo (chắc chưa có kết quả gì ), giáo đoàn lại trở về Ma Cao Mạc Mậu Hợp cũng phái người đến gặp các thừa sai và mời về Thang Long nhưng thuyền bị bão đánh dạt vào đảo Hải Nam(ỉ)

(1) Ngo 51 Liên - Dại viẹt 5ử Ky toan thư - Bản dich của Mạc Bảo Thần - Tân Việt 1945 trang 106

(2) Phan Phát Huồn -sđd trang 29

(3) Bùi Đức Sinh -sdd trang 311 Phan Phát Huồn -sdd nang 26

(4) Nguyễn Hữu Tâm -tài liệu đã dẫn trang 20

(5) Phan Phát Huồn -sđd trang 27

Trang 18

— 14—

Hai năm sau cha Bartolomé Ruiz, lúc ấy 61 tuổi một mình đến Việt Nam Lần này ông đem theo một phụ nữ làm thông ngôn, phụ nữ này có lẽ là người Việt theo đạo khi ở Ma Cao Đến Thăng Long ông thuật lại chuyện đắm tàu năm trước, được vua tôi nhà Mạc tiếp đãi rất tử tế và cho phép giảng đạo Lúc đó người Bồ Đào Nha mới cất cho ngài cái nhà bằng gỗ, trong đó có phòng làm nhà nguyện dể làm việc thờ phượng Lời giảng và đời sống của linh mục rất được cảm tình của dân chring nhưng không ai xin theo đạo cả, ông chỉ rửa tội cho một cậu bé gần chết Năm 1586, linh mục Ruiz đưực gọi về Manila vì có lệnh gọi qua giảng đạo tại Nhật Bổn(1) 2

Năm 1580, tu viện Santa-Cruz ở Malacca cử hai nhà U'uyền giáo dòng Đa Minh Grégoire de la Moite người Pháp và Luiz de Fonseca người Bồ Đào Nha vào giảng đạo tại Chân Lạp và cho người Việt và người Chăm ở Quảng Nam nữa ( nơi thường xảy ra giao tranh giữa Chúa Nguyễn và vua Chiêm Thành về vấn đề đất đai)(2* Năm 1586, vua Chiêm trong cuộc giao tranh với Chứa Nguyễn đã bắt hai linh mục này và đến năm 1588, khi biết hai ông là thừa sai Thiên Chúa giáo liền

ra lệnh tử hình (3) Hai ông được ghi là nhưng người tử đạo đầu tiên trên đất Việt

IĨĨ- VIỀC THUYÊN GIẢO DO CẤC LĨNH MHC DỎNG TỀN T ổ CHỨC 11615-16391

Trước tiên chứng ta cần biết qua về tổ chức và các nguyên tắc của dòng Tên vì đây là dòng tu như chứng tôi đã trình bày linh mục Alexandre de Rhodes phục vụ cho đến khi qua đời Dòng Tên hay dòng Đức Chúa Giê-su do Ignace de Loyola lập ở tại Tây Ban Nha năm 1540 Theo quan niệm của ông, muốn dẩy lui các bè rối đang bành trướng, đang chống đối Giáo hội La Mã và muốn lôi kéo người ta theo dạo thì cần phải có một nền văn hóa khá cao Sau khi đỗ tiến sĩ tại Paris (1534), cũng năm đó (15-8), Ignace và 6 người bạn thề hứa dâng cả cuộc đời cho việc rao giảng Phúc ám cho những người chưa biết Chúa Dòng được Giáo hội công nhận năm 1540, vào thời ấy dòng đã có hơn 1000 giáo sĩ, 100 tu viện và 14 tỉnh Dòng Các giáo sĩ là những người thông thái về văn chương và khoa học Lúc các giáo sĩ dòng Tên đặt chân lên đất nước chung ta, là chính lúc nhà Trịnh làm Chúa ở Bắc, nhà Nguyên làm Chúa ở Trung Chúng ta sẽ tuần tự theo dõi công việc truyền giáo ở miền Trung trước rồi sau đó ở Bắc Hà

Như phần trên chúng tôi đã trình bày, từ 1555 Ma Cao đã trở thành nhượng địa của Bồ Đào Nha Các giáo đoàn trực thuộc Hoàng gia Bồ đều có trụ

sở, tu viện tại Ma Cao, và từ đây họ tỏa ra khắp vùng Đông Á để truyền giáo Hai

xứ truyền giáo mạnh mõ nhất ở vừng Đông Á là Trung Quốc và Nhật Bản Nhưng vào đầu thế kỷ XVII cụ thể là năm 1613 ,vua Dafusanna (Nhật) đã ra chiếu chi' câm đạo, trục xuất các thừa sai, triệt hạ giáo đường Các giáo sĩ dòng Tên phải bỏ Nhật trở lại Ma Cao và chờ đợi cơ hội thuận tiện trở lại Nhật Bản Để không mất

(1) Bùi Đức Sinh -Sđd, trang 311 và Nguyễn Hữu Tâm -tài liệu đã dẫn trang 20(2) Trần Trọng Kim - Việt Nam Sử lược - Sài Gòn 1954, trang 287-289

(3) Bùi Đức Sinh -sđd trang 313

Trang 19

ở Quảng Nam , số giáo dân lên khoảng 300 người (1\ Ngay trong năm 1615, các giáo sĩ nhanh chóng xúc tiến thành lập IIỘi truyền giáo xứ Đàng Trong Đây cũng

là tổ chức truyền giáo đầu tiên ở nước ta1 (2)

Từ khi Hội truyền giáo ở Đàng Trong dược thành lập dù công cuộc truyền đạo Thiên Chứa dược phát triển liên tục trong các năm k ế tiếp theo, nhiều giáo sĩ được cử sang Việt Nam Năm 1617, Ma Cao sai thêm hai linh mục Pina (Ý) và Bareto (Bồ) và thầy ượ sĩ Diaz (Bồ) sang giúp Buzomi Lãnh mục Pina cùng với hai thầy người Nhật ở lại Hải Phố, còn linh mục Busomi cùng với hai thầy Díaz và Augustin vào Bình Định theo lời mời của quan Trấn thủ Năm 1618 , Nam Hà dược thêm hai nhà truyền giáo mới: Marques ( Bồ lai Nhật) và Borri ( Ý) Từ năm

* 1618-1620 có 8 thừa sai dòng Tên hoạt dộng ở Nam Hà Riêng tại Hài Phố,

thương gia Nhật đến mỗi ngày thêm đông, nhiều liíc trên ngàn người Năm 1619, linh mục Marques rửa tội thêm cho 40 tân tòng và dựng tại đây một nguyện đường

cho Nhật kiều(3) 4

Tại Qui Nhơn, linh mục Buzomi đã để ỷ đến giới trí thức và quan lại, có

nhiều cuộc tranh luận, giảng thuyết về tôn giáo được tổ chxfc ở tư gia và đình làng

Đây cũng là một trong những tôn chỉ của dòng Tên: bao giờ cũng bắt dầu công

cuộc truyền giáo ở giới trí thức trước Tuy vậy các linh mục cũng không bỏ qua

dân thôn quê, vì nhiều kết quả đã thu lượm được trong giới này ngay từ khi công cuộc truyền giáo bắt đầu: nhiều họ đạo được thiết lập, lúc đầu với con số năm - sáu gia đình, vài ba chục tín đồ, rồi dần dần lên đến con sô' ngàn1'1*

Công việc truyền giáo đang tiến triển thì quan Trân thủ chết, trong giai đoạn này tại Bình Định có xảy ra một số tranh luận với một sô' nhà sư và người Hòa Lan theo Tin Lành Tuy vậy năm 1621, linh mục Buzomi cũng đã rửa tội thêm 172 người Năm 1620 linh mục Pina đưực phái đi Quảng Nam truyền giáo Năm 1622 linh mục Borri được gọi về Ma Cao, Bề trên dòng Tên đã sai sang thêm ba linh mục nữa là Fernander, Borges ( Bồ) và Leina (Ý) cùng với thầy dòng Roman Riti (Nhật) Linh mục Fernander ở lại Hải Phô' thế linh mục Marquez đi giũp linh mục Pina: còn Borges và Leina phải qua thời gian học tiếng và tập sự

» bên cạnh Buzomi ở Nước Mặn (Pulocambi-Bình Định) Công việc truyền giáo tại

(1) Bùi Đức Sinh -sdd trang 317(2) Nguyễn Hữu Tâm - tài liệu đã dẫn trang 21(3) Bartoli - Istoria della Compagnia di Giesu - Napoli 1859 trang 182 Dân theo Bùi Đức Sinh -sđd trang 317

(4) Bùi Đức Sinh -sđd trang 318

Trang 20

— 16—

Quảng Nam và Nước Mặn của Pina và Buzomi đạt dược rẫl nhiều kết quả khả quan, rất nhiều tín đồ đủ mọi tầng lớp, thành phần giai cấp gia nhập đạo

Từ khi Hội truyền giáo ở Đàng Trong dược thành lập thì công cuộc truyền

đạo Thiên Chứa được phát triển liên tục trong các năm kế tiếp theo Thây giáo dân mỗi ngày thêm đông, cuối năm 1624, cha fíề trên tinh dòng Gabriel de Mottos

đến thăm giáo đoàn xứ Nam, đem theo bốn nhà truyền giáo mới dó Ici Antonio

Fontes, Gaspar Luis (Bổ),Alexandre de Rhodes (Pháp), Girolamo Majorica (Y) và thầy giảng Meỉchior Ribero (Bồ) Ngoài ra còn có nhiều thầy giảng người Việt cộng tác, trong đó có quan nghè Phero (Không biết tên thật là gì chỉ biết tên

Thánh và chức vị trong các sách lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam)(t) chuyên

dạy tiếng Việt cho các thừa sai mới đến Tính ra chỉ trong vòng mười năm, từ 1615 đến 1625, số lượng các nhà truyền giáo dòng Tên lên đến 21 người Trong dớ có

17 linh mục, 4 thầy giảng thuộc nhiều quốc tịch; phần lớn là người Bồ Đào Nha, 1 người Pháp, 5 người Ý và 5 người Nhật

Năm 1625 các linh mục chia ra mỗi người hoạt động tại một khu vực

Linh mục Alexandre de Rhodes cộng tác với cha Pina ở Quảng Nam và Thuận

Hóa1 (2) Tại Dinh Cát linh mục Pina đã rửa tội cho một vương phi, lấy tên Thánh là Maria-Madalena, tức bà Maria Minh Đức Vương Thái Phi(3), bà là thú' phi của Chứa Nguyễn Hoàng và là mẹ của ông Iloàng Khê

Năm 1626, đoàn truyền giáo của các cha dòng Tên có sự thay đổi nhir sau: linh mục Pina bị chết đuối vào tháng 12 năm trước, Leina dã trở về Ma Cao, cha Bề hên Mattos hết nhiệm vụ cũng đi khỏi Nhận thấy việc truyền giáo ở Dàng Trong có nhiều thuận lợi, các giáo sĩ đã tính toán để đẩy mạnh công cuộc truyền giáo và gây cơ sở truyền đạo ra Đàng Ngoài Năm 1626, linh mục Baỉdỉnotti và một giáo sĩ người Nhật là Juiliana Pianỉ ra Đàng Ngoài để tìm hiểu tình hình, phục

vụ cho mục đích mở rộng việc ưuyền giáo Chúa Trịnh Tráng tiếp họ rất niềm nở Sau 7 tháng sống và điều tra ở Đàng Ngoài, các ông báo cáo với Bề trên tỉnh dòng tình hình thuận lợi cho công cuộc truyền giáo và do dó hai cha Đẩc Lộ và Marquez được lệnh lên xứ Bắc Năm 1626 số’ thừa sai dòng Tên còn lại 6 người nhưng bù lại có hai thừa sai người Nhật là Mica Machi và Matthias Machida, và

năm 1628 thêm linh mục B.Mattos và A.Torres (Bồ) Sổ' thừa sai ở trong Nam tuy

hơn ngoài Bắc, nhưng kết quả không dồi dào bằng Thây một tôn giáo đòi gạt bỏ

sự “Thờ crtng Tổ tiên”, nhà Chúa tỏ ra không bằng lòng, nhưng chưa dám di dấn

đổ máu cấm cách, vì Chúa Nguyễn còn cần đến người Bồ Đào Nha để dương đầu vđi Chúa Trịnh; chiến tranh Nam Bắc đã bắt đầu từ năm 1627 Đoàn truyền giáo

(1) Bùi Đức Sinh -sdd trang 319 Phan Phát Huồn -sđd trang 45

• (2) Linh mục Pina rất giỏi tiếng Việt Người đã hướng dẫn linh mục Alexandre de

Rhodes học tiếng trong thời gian hai cha cộng tác với nhau tại Quảng Nam và Huế Thanh Lãng - Biểu nhất lãm vãn học cận đại - Sài Gòn, 1958 trang 20-21.(3) Dinh Cát (Ái Tử) là Phủ Chúa bây giờ, thuộc đất Thuận Hóa, cách Quảng Trị ngày nay 10 cây số về phía Bắc

Trang 21

17

Nam Hà được chia ra hoạt động như sau: Linh mục Fernandez ở Quảng Nam- Quảng Ngãi, hai linh mục Porges và Luis ở Qui Nhơn và Phú Yên, Machi ở Hải Phố, cha Machida ỏ cửa Hàn vì các Ngài là người Nhật dễ dàng tiếp xúc với Nhật kiều tại nơi đây, lúc này cũng rất đông, hằng năm đến Việt Nam từ Nagasaki vì

có lệnh bách đạo của vua Nhật Do đó hằng năm họ đến Hải Phố để chịu một số

bí tích theo luật tôn giáo đã định Các lỉnh mục còn lại là Buzomi, Majorica, Fontes đi giảng đạo cho người Chiêm Thành, rồi sang Chân Lạp Hoạt động của cha Buzomi ở Chân Lạp không được kết quả bao nhiêu Năm 1634 cha trở về Macao rồi qua đời ở đấy Trấn thủ Quảng Nam dưới thời Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) là người rất ghét đạo Thiên Chúa, đã yêu cầu nhà Chúa cho trục xuất hết các thừa sai, chính ông gây rất nhiều khó khăn cho các nhà truyền giáo và đi đến giai đoạn đố máu sau này, khi linh mục Alexandre de Rhodes trở lại xứ Nam Hà ( 1640-1645 ) ' •

Ịn U Ũ H E BẠI HỌC MỜ ỈP H C n l

Ị t h ơ v Ĩ e ĨÌỊ

Trang 22

— 18

-CHƯƠNG BA:

TIỂU SỬ THÂN THẾ VÀ s ự NGHIỆP CỦA ALEXANDRE DE RHODES.

Trước khi vào chính vấn đề, chúng tồi xin sơ lược tiểu sử của Alexandre

de Rhodes Điều chứng tôi mong muốn là ghi lại ở đây cho cố thứ tự hơn và cũng mong muốn đống góp một số các chi tiết về tiểu sử của ông mà trong khi sưu tập tài liệu để viết luận văn chúng tôi khám phá ra

I TIỂU SỬ THẮN THẾ CỦA ALEXANDRE DE RHODES:

Giáo sĩ Alexandre de Rhodes ở Việt Nam quen gọi là Đắc Lộ, từ khoảng

Ỉ00 năm nay đã được nhiều sách báo nhắc đến Bởi vì giáo sĩ có liên hệ rất nhiều đến Giáo Hội Thiên Chúa Việt Nam về mặt truyền bá tin mừng, và vđi xã hội Việt Nam nói chung về mặt ngôn ngữ cũng như lịch sử Người ta sẽ còn phải nói nhiều đến giáo sĩ Đắc Lộ vì cố những mặt mđỉ chỉ được nhắc đến sơ sài, hoặc dã được bàn luận khá sổi nối, nhưng cần phải làm sáng tỏ hơn Nhà biên khảo Nguyễn Đình Khải cách đây 5 năm, trên báo Công Giáo và Dân Tộc đã nêu lại một chi tiết vể Alexandre de Rhodes với đầu đề: “Về năm sinh và ngày mất của Alexandre de Rhodes” Cuối bài báo, ông Nguyễn Đỉnh Khải đã viết như sau:

“Rất mong các nhà nghiên cứu sớm giúp làm sáng tỏ những chi tiết chưa đồng nhất này về một con người đã từng cố những đống góp to lớn cho Giáo hội và đất

nước Việt Nam Âu đó cũng là một cách thức đền ơn đáp nghĩa vậy’*1*.

Qua việc thu thập tài liệu, nghiên cứu đ ể viết luận văn, chứng tồi xin trình bày một số tư liệu lịch sử, hầu gốp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề nêu trên

Như chúng ta đã biết, giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã truyền giáo ở Đàng

Trong hai giai đoạn: 1624 - 1626, và 1640 - 1645, và Đàng Ngoài 1627 - 1630

Nguyên quán gia đình Alexandre de Rhodes ỏ tỉnh Aragon thuộc nước Tây Ban

Nha TỔ tiên Alexandre de Rhodes vốn là người gốc Do Thái, trở lại đạo Thiên Chúa Ông nội giáo sĩ đã rời Tây Ban Nha di cư đến Avignon từ giữa thế kỷ thứ XVI1 (2) Alexandre de Rhodes sinh tại Avignon(3) địa hạt Comtat Venaissin vào

(1) Nguyễn Đình Khải - về năm sinh và ngày mất của Alexandre de Rhodes - Báo Công Giáo và Dân Tộc số 798 ngày 17.3.1991 trang 15

(2) V.C.K.-Vài nét tiểu sử -Việt nam khảo cổ tập san -Số 2 -Bộ Quốc Gia Giáo Dục -Sài Gòn 1961, trang 24

(3) Năm 1348, Giáo hoàng Clemens VI đã mua đất Avignon do bà Jeane de Sicile bán, lức ngài trú ngụ tại đây Khi các Giáo hoàng trở về La Mã thì cố một Sứ thần Tòa Thánh cai trị Avignon Mãi đến ngày 4-9-1791 Avignon mổi tái sáp nhập vào nước Pháp _Nguồn tư liệu cửa Đỗ Quang Chính -Lịch sử chữ Quốc ngữ -Ra khơi - Sài Gòn 1972 trang 77

Trang 23

ngày 15-3-1593 quốc tịch Tòa thánh La Mã(1) Cha của Alexandre de Rhodes ỉà một nhà quý phái ở Avignon có tên là Bernadỉn II de Rhodes và có 8 người con Con cả là Jean (cùng cha khác mẹ với Đắc Lộ), tiến sĩ luật khoa, thứ hai là Đắc

Lộ, k ế đó là Suzanne, Georges, Gabrieỉle, Laure, Francois và Hélène Georges là

em cùng cha mẹ vđi Alexandre de Rhodes, bản thân cũng là một Linh mục dòng Tên tính dòng Lyon (Pháp)

(1) Trước đây Linh mục dòng Tên H Gourdin là một trong những tác giả kỳ cựu viết về Alexandre de Rhodes, trong lần tái bản cuốn “Hành trình và truyền giáo cửa Alexandre de Rhodes” năm 1884, ngay trang đầu phần dẫn nhập, ông cho biết Đắc Lộ sinh ngày 15-3-1591 Cố người cho rằng Gourdin đã dựa vào một tác giả danh tiếng và cũng là Lỉnh mục dòng Tên là Carlos Sommervogeỉ, tác giả 10 cuốn

“Thư viện dòng T ên” xuất bản khoảng 1890-1909 v ề sau các tác giả lếy lại ngày của Carlos và Gourdin mà không tra cứu gì thêm Ví dụ Maybon trong bài “Những

người Châu Âu ở Đàng Trong và Đàng Ngoài” đăng ở Revue Indochinoise tháng 7-1913, Maurice Duranot trong “Alexandre de Rhodes” đăng ở tập san của Hội

nghiên cứu Đông Dương (BSEI), tập 32 năm 1937, hoặc Bemard_Maitre trong bài

“Việt Nam - Iran: A Đắc Lộ 1660-1960” đăng trong tạp chí Etudes tháng 12-

1960 Các tác giả này đổu ghi năm sinh của Đắc Lộ là 1591 Linh mục Cadỉère trong bài “Những người Châu Âu đã trông thấy H uế xưa: Linh mục A Đắc Lộ ” đăng trong BAVH-1915 cũng thấy sự không ăn khớp giữa năm sinh này vđi số tuổi mà Đắc Lộ đã tự khai khi vào Tập viện dòng Tên năm 1612 Nhưng rồi Cadière cũng dựa vào Gourdin mà cho rằng A Đắc Lộ sinh năm 1591 Trên tượng đài tưởng niệm Đắc Lộ được dựng lên tại Hà Nội 1941, người ta cũng thấy ghi năm sinh 1591

Nhưng cũng có tác giả khác cho rằng năm sinh của Alexandre de Rhodes không phải là năm 1591 mà phải là trễ hơn, cụ thể như sau: Muốn biết sử liệu đầu tiên và chỉnh thức về năm sinh của Alexandre de Rhodes cần phải tím được sổ rửa tội của ông vì thời đó chưa có sđ khai sinh Tại Pháp mãi đến năm 1871, sổ rửa tội mđi hoàn toàn không còn hiệu lực dân luật Tài liệu Linh mục Đỗ Quang Chính cho biết năm 1968 ông đã đến tím kiếm sổ rửa tội của gia đình de Rhodes tại Viện Bảo Tàng Calvet và kho lưu trữ tĩnh Vaucluse Nhưng chỉ tìm được sổ rửa tội của hai người em, cồn của Alexandre de Rhodes và các người còn lại đều bị thất lạc Linh mục Đỗ Quang Chính còn cho biết thêm trong mấy năm trời đi tím kiếm tài liệu về lịch sử Giáo hội Việt Nam tại Lyon, Paris, Amsterdam, Madrid, Lisbon, Roma , cũng vẫn chưa được thấy tư liệu nào ghi chép trong thời gian từ 1593-

1660 về ngày tháng và năm sinh của Alexandre de Rhodes k ể cả những tác phẩm

cửa chính ông (Xin xem tiếp trang kế)

Trang 24

20—

Alexandre de Rhodes học tiểu học và trung học tại Avignon và vào năm

1612 ông được nhận vào dòng Tên tại La vào ngày 14-4 ý muốn đi Đông

Á truyền giáo Tại đây ông học về thần học và toán học, nhờ đó sau này ông gây

được nhiều uy tín với vua quan và dân chứng các xứ mà ồng đến truyền giáo

Vì vậy chứng tôi dựa vào những tài liệu đáng tin cậy nhất của I.inh mục Đỗ Quang Chính khi ngài du học tại Pháp và trình luận vân tiến sĩ về Alexandre de Rhodes tại Paris Các tài liệu này được đăng trên báo Công giáo và Dân tộc số 899 ngày 21-3-1993 v ề năm sinh của Alexandre de Rhodes có hai tư liệu cổ xưa nhất Trước nhất là “Sổ giữ đồ tùy thân của nhà Tập Dòng Tên St.André du Quirinaỉ năm 1612 (tại Roma)” Trong sổ này ghi rõ ngày 14-4-1612 Alexandre de Rhodes vào nhà Tập, ở dưới là chữ ký của Alexandre de Rhodes Dòng đầu của trang sể này (tất cả là 14 dòng chữ thưa) còn ghi rõ tập sinh de Rhodes khoảng 19 tuổi:

“Alexandre de Rhodes Francesse d’ anni 19 in cữca venne a S.Andrea li 14 aprile” Mặc dầu số tuổi của Alexandre de Rhodes vào tháng 4-1612 ghi ưên đây chưa được chính xác (in circa: vào khoảng) nhưng có thể hiểu được là Alexandre

de Rhodes sinh vào năm 1593, nhất là khi so sánh với tư liệu thứ hai liền đây chủng ta cổ thể khẳng định những điều đã được minh xác trên Tư liệu này là một bức thư của chính de Rhodes viết vào năm 1617, khi giáo sĩ de Rhodes bắt đầu năm thần học thứ tư, ông viết một bức thư dài 67 dòng chữ, bằng tiếng Latin, gửi lên Linh mục Mutius Vitelleschi, bề ưên Tổng quyền Dòng Tên, xin đi truyền giáo tại Đông Á (trước đó de Rhodes đã viết hai thư lên vị Bề trên này cũng vì vấn đề ưên) Mấy dòng cuối cùng của bức thư, giáo sĩ thưa rõ ràng: “Con là người Avignon, là dân của Đức Giáo Hoàng, con có sức khỏe tốt, con bắt đầu vào tuổi

25 và bắt đầu vào năm thứ tư Thần học (Avenionensis enim sum et Summo Pontifici subtitus commoda etiam utor vaỉetudine, 25 iam coepi aetatis annum quartumque Theologici cursus) Cách tính tuổi thời ấy theo Giáo luât, tức là phải

đủ 365 ngày mđi được một tuổi Theo bức thư trên tác giả nói là: bắt đầu vào tuổi

25, tức là de Rhodes đã trọn 24 tuổi và đang ở mấy tháng đầu cửa tuổi 25 Trong bức thư này tác giả không đề ngày tháng như hai thư trước, nhưng nhờ việc tác giả ghi thêm: “và bắt đầu vào năm thứ tư Thần h ọc” Đây cũng chính là năm học cuối cùng trước khi thụ phong Lỉnh mục, là niên khốa 1617-1618 Vậy bắt đầu năm thứ

tư Thần học của Giáo sĩ de Rhodes là vào tháng 10/1617 Tính từ đó ngược lên, chúng ta sẽ thấy được Alexandre de Rhodes sinh vào những tháng đầu năm 1593 Còn về ngày tháng sinh, các tài liệu 1593-1660 không ghi gì cả sử gia Diogo Barbosa Machado người Bồ Đào Nha là người đầu tiên ghi ngày tháng sinh của Alexandre de Rhodes là 15-3 trong bộ thư tịch đồ sộ của ông gồm bốn cuốn khổ lổn tại Lisbon từ 1741-1749 Sau đó Sommervogel (tài liệu trên) cũng ghi như vậy Như thế chúng ta tạm đi đến kết luận là năm sinh của giáo sĩ Alexandre de Rhodes là vào năm 1593, còn ngày tháng thì chưa úm được bằng cớ rõ ràng như năm sinh nhưng chắc chắn là trước tháng 9/1593: Vậy chứng ta có thể nói là Alexandre de Rhodes sinh năm 1593 và có lẽ vào ngày 15-3

Trang 25

21

Hai năm sau ngày 15-4-1614, Alexandre de Rhodes tuyên khấn, ông đã viết bức thư thứ nhất lên Bề Trên Tổng Quyền xin đi truyền giáo Ba năm sau, ông lại viết thư thỉnh nguyện, trong đố ông nối rõ hơn đối tượng ồng mong muốn

- được phục vụ: “Từ hai năm nay, con cảm thấy bị thu hút bởi một khát vọng lớn lao

là được mang ơn cứu độ đến cho người Nhật Bản, người Trung Quốc hay bất cứ dân ngoại nào khác.”(1) Chưa được chấp nhận, Alexandre de Rhodes phải viết thư van nài lần thứ ba Thư khổng để ngày tháng, nhưng được xác định là vào mùa thu năm 1617 Vào năm 1618 ông được chịu chức Linh mục và vào Lễ Phục sinh năm

đó, ước nguyện cửa ông mới được chuẩn nhận, địa chỉ truyền giáo là Nhật Bản

Trước khi lên đường truyền giáo, Alexandre de Rhodes được yết kiến Đức Giáo Hoàng Phaolô 5 và nhận phép lành từ tay Ngài Tháng 10-1618, Alexandre de Rhodes rời Roma Do sự phân chia lãnh thổ thời đố theo sắc chỉ Inter Caetera như phần trên chúng tôi dã trình bày, các thừa sai muấn đến Viễn Đông đều phải xuất phát từ Lisbonne, Bổ Đào Nha nên Đắc Lộ cũng phải đến đó (1-1619) Ngày 4-4-1619 cùng với năm giáo sĩ dòng Tên khác, ông lên tàu mang tên “Thánh nữ T êrêsa” và bắt đầu cuộc hành trình Ngày 20-7-1619 tàu đến mũi Hảo Vọng và ngày 9-10-1619 tàu cặp bến Goa (Ấn Độ)

II NHỮNG KINH NGHIÊM đXu TIÊN v ầ TRUYEN GĨẤO:

Điểm đến đầu tiên của chuyến đi là Nhật Bản, nhưng như chứng tôi trình bày nước Nhật lúc ấy đang cấm đạo gay gắt nên Bề Trên ra lệnh cho Alexandre

de Rhodes phải chờ ở Goa Ta cũng nên biết qua vào đầu thế kỷ 17, Goa là một

trong những hải cảng lớn của Châu Á, nhượng địa của Bồ Đào Nha trên đất Ân

Độ, dân số khoảng 225.000 người mà 3/4 là Thiên Chứa Giáo Có một đoàn giáo sĩ

dưới quyển một Tổng Giám Mục, vị này cai quản hết mọi giáo dân ở miền này

mãi cho đến tận Trung Quốc Có rết nhiều tu viện đẹp tại nơi này Dòng Tên có

ba nhiệm sở ỉđn tại dó Công tác đầu tiên của ông tại đây là học tiếng Canarine (An) và đỉ tìm các trẻ con mồ côi, săn sốc chứng, đưa vào các trại giành riêng để dạy giáo lý, cho tới khi chứng trưởng thành để chọn theo phán đoán riêng của mình

Trong những tháng đầu tiên ỏ Goa, Alexandre de Rhodes đã cảm nhận được những kỉnh nghiệm dầu tiên về truyền giáo Ông đã rất bất bình với hai sai lầm mà các thừa sai Tây Phương Ỉ I Ỉ C đố phạm phải Một là thiếu lòng bác ái chân thành: các thừa sai rất quan tâm đến các người ngoại đạo và các dự tòng, nhưng một khi đã rửa tội được cho họ, các giáo sĩ thừa sai lại bỏ rơi họ, khổng còn quan tâm đến họ nữa.(2) Alexandre de Rhodes cho rằng tình bác ái đó có hậu ý và chỉ là một phương tiện chinh phục Hai là sự thiếu tôn trọng phong tục địa phương Alexandre de Rhodes thấy rằng mọi người An Độ theo đạo đều phải từ bỏ nhiều

(1) Dẫn theo Đình Khải - Báo Công Giáo Dân Tộc - số 798 ngày 15-3-1991 trang 12

(2) Alexandre de Rhodes, Hành trình và truyền giáo - Bản dịch Việt ngữ của Hồng Nhuệ - Tủ sách Đại Kết - 1993 - hang 16

Trang 26

— 2 2 —

tập tục cổ truyền của họ, ăn mặc khác đổng bào của mình Trong “Hành trình và

* truyền giáo” ông viết: “Hơn nữa, khi họ trở lại đạo, người ta bắt họ phải cởi y

phục xứ sở, y phục của tất cả lương dân Khổng thể tưởng tượng được, lương dân

- rất bất bình Tôi không thể hiểu tại sao người ta lại đòi họ một điều mà Chúa

chúng ta cũng không đòi hỏi”*1* Theo ông điều đó tạo ra sự cách ly giữa người Ấn với nhau và gây nên sự nghi ngại với đạo mới Mấy năm sau khi đến Macao, Alexandre de Rhodes đã kịch liệt phản đối những quyết định vô lý và độc đoấn của một số vị thừa sai Tây Phương bắt buộc người Trung Quốc theo đạo phải cắt tóc ngắn, vì theo ông: “Tin mừng (Phúc Âm) đòi buộc họ gạt bỏ sai lầm khỏi tâm trí, chứ không phải bỏ mđ tóc trên đầu”1 (2)

Khi sống một thời gian ngắn để dưỡng bệnh vđi một linh mục người Pháp tên Etiene Crucius tại một hòn đảo gần Goa, tên hòn đảo này là Salsète, Alexandre de Rhodes cũng đã học hỏi thêm được nhiều kinh nghiệm khác (Chúng ta nhớ rằng lúc này giáo sĩ mđi ra trường được một năm, và cũng chỉ được

26 tuổi) Kinh nghiệm quan trọng nhất khỉ ở đảo Salsète đố là tầm quan trọng và

hiệu quả của việc dừng tiếng địa phương cũng như việc dừng các hình thức văn hốa bình dân, nhất là thơ, nhạc, các nghi lễ cổ truyền để dễ dàng truyền bá đạo đến cho người khác(3)

Tất cả những cảm nhận đầu tiên này của Alexandre de Rhodes đều rất có ích cho ông trong việc truyền giáo tại Việt Nam Bởi lý do là từ các kinh nghiệm truyền giáo tại Goa, Saỉsète và Macao đã hằn sâu vào tâm trí ông và giúp ông dễ dàng áp dụng những biện pháp chúng tôi tạm gọi là “uyển chuyển” trong việc rao giảng đạo Thiên Chúa tại Đàng Trong và Đàng Ngoài sau này Nhất là việc bắt buộc phải dừng tiếng địa phương để truyền giảng Tin Mừng cho người bản xứ, diều mà sau này khi vừa đặt chân lên đất Đại Việt (Đàng Trong) là ổng đẫ gấp rút

áp dụng và chỉ một thời gian ngắn (6 tháng) là ổng đã cố thể giảng đạo và giải tội bằng tiếng Việt một cách thành thạo rổi(4)

m ALEXANDRE DE RHODES VẢ V1ẺC TRUYầN GIẢO TAI VIÊT NAM

(1624-1645):

Sau hai năm rưỡi chờ đợi tại Goa, ngày 12-4-1622, Alexandre de Rhodes lên tàu để đi Nhật Bản Ngày 28-7, ông đến Malacca và do là đang mùa bão nên ổng phải dừng chân lại đây một thời gian cho đến 4-1623 mới đáp tàu đi Macao và đến đây vào ngày 29-5-1623 Tại đây ông biết được tình hình cấm đạo tại Nhật Bản chẳng những không giảm bớt mà còn khốc hệt hơn nên các thừa sai không thể đến đố dược, kể cả đến trong bí mật Như trong phần hai chứng tồi đã trình bày, vì để tránh mất thời giờ và lúc ấy thấy tình hình phía Nam ( Đàng Trong ) rất thuận lợi cho việc truyền đạo, do đố Alexandre de Rhodes được cử đến xứ Nam

hợp lực với các giáo sĩ dòng Tên đã cố mặt ở đó.

(1) Alexandre de Rhodes - sđd - trang 16(2) Alexandre de Rhodes - sđd - trang 16(3) Alexandre de Rhodes - sđd - trang 19 và 20(4) Đỗ Quang Chính - Lịch sử chữ Quốc Ngữ 1620-1659, Ra Khơi - Sài Gòn 1972, trang 79

Trang 27

2 3

-A- ĐẾN ĐẢNG TRONG:

Tháng 12-1624 cùng với 4 giáo sĩ khác, Alexandre de Rhodes rời Ma Cao

và đến cửa Hàn ( Đà Nẵng ), sau 19 ngày đi biển ông được phân công về Thanh Chiêm, nằm cách Hội An bảy cây số về phía Tây Đây là nhiệm sở thứ ba của các giáo sĩ dòng Tên ở phía Nam, hai nhiệm sở kia là Hội An (1615) và Nước Mặn (1623), lúc này dưới thời Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635 ) Vừa đến nơi, việc đầu tiên của Alexandre de Rhodes là học tiếng Việt Sau bốn tháng ông

dã cố thể giải tội và sau sáu tháng ông cố thể giảng bằng tiếng bản xứ Trong một năm rưỡi sống ở đây, hoạt động truyền giáo của ông chưa có gì đặc biệt ngoài việc hợp tác với cha Francois de Pina, rửa tội cho bà Minh Đức Vương Thái Phi, tiết phụ cuối cùng của Chúa Nguyễn Hoàng và là dì ghẻ của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên dang cầm quyền năm 1625(1)

B- RA ĐẢNG NGOẢI - THẢNH LẮP GIẢO ĐOẢN x ứ BẮC:

Như trong chương hai chứng tôi đã trình bày, vào ngày 7-3-1626, hai giáo

sĩ dòng Tên trong đó có cha Julien Baldinottỉ, đến xứ Bắc và được Chứa Trịnh Tráng tiếp đón nồng nhiệt Cho rằng tình hình ở đây rất thuận lợi để mở đầu cho công việc truyền giáo, cha J.Baldinotti đã trình cho Tổng quyền dòng Tên ở xứ Nam dể xin Ngài cử một thừa sai thạo tiếng Việt ra xứ Bắc hoạt động Cha Mattos chấp thuận và gởi thư báo cho linh mục Baldinotti biết Chính việc thư từ qua lại này- điều bị cấm ngặt thời đó ở hai miền- đã làm Chúa Trịnh Tráng nghi ngờ cha J.Baldinotti là do thám cho xứ Nam Từ đó các giáo sĩ dòng Tên bị canh phòng nghiêm ngặt và chi được rời xứ Bắc vào ngặy 18-8-1626 sau khi đã tuyên thệ trung thành với Chúa Trịnh Tráng Do dó trong sáu tháng hoạt động ở xứ Bắc, lỉnh mục J.Baldinotti không thể làm được gì cả ngoài việc rửa tội cho bốn em nhỏ sắp chết(2) 3

Vì không thể đỉ thẳng từ Nam ra Bắc được nên Bề trên Tỉnh dòng ra lệnh Alexandre de Rhodes trở về Ma Cao ( 7-1626 ) Từ đây, ngày 12-7-1627, ông lên tàu cùng vđi linh mục Pierre Marquez người Nhật và là trưdng nhóm Tàu cập bến cửa Bạng, Thanh Hóa vào đứng ngày lễ Kính Thánh Gỉuse 19-3-1627 Hai Lỉnh mục bắt đầu giảng đạo ngay vùng này Chĩ sau vài ngày, đã có hai người xin theo đạo, cùng với cả gia đình họ Trong vòng hai tuần, hai thừa sai dòng Tên đã rửa tội cho 32 người, trong đó có con một vị quan, một ông đồ nho và một vị pháp sư Vào ngày thứ sáu tuần Thánh, Alexandre de Rhodes đã tổ chức một cuộc rước thánh giá từ làng lên đỉnh đồi cao nhất trong vùng và cắm lại đó Hai tháng sau, Chúa Trịnh trên đường đi đánh Chúa Nguyễn trở về thấy thánh giá, Chúa bèn cho mời hai Linh mục đến Dịp này Alexandre de Rhodes đã dâng tặng Chúa Trịnh Tráng một cái đồng hồ Chúa Trịnh cho mời hai linh mục về Thăng Long Tại đây, Chứa xây cất cho các cha một ngôi nhà gần Phủ Liêu, và cho phép giảng đạo tự do(ĩ>

(1) Alexandre de Rhodes - sđd, trang 74

(2) Đình Khải - tài liệu đã dẫn

(3) Bùi Đức Sinh - sđd - trang 321

Trang 28

24—

Dân chúng tới nghe giảng rất đông, nhiều nhân vật trong triều đình và Phủ Liêu cũng đến học đạo; bà chị ruột của Chúa Trịnh xin rửa tội mang tên thánh

là Catarina, sau này bà còn khuyên được 17 người quí tộc khác theo đạo Cho đến

* cuối năm 1627 hai linh mục đã rửa tội được 1200 người, năm 1628: 2.000 người và

năm 1629: trên 3.500 người(1)

Đ ể có người cộng tác, linh mục Aỉexandre de Rhodes đã nghĩ đến hội thầy giảng mà kinh nghiệm cho thấy những cộng sự viên này rất cần thiết và hữu ích Những người được tuyển chọn trong số các tín đồ ưu tứ và tự nguyện phục vụ cộng đoàn Các thầy giảng đã trở nên trụ cột cho cộng đoàn và là nền móng cho các chủng viện sau này Chính trong số họ, những linh mục bản xứ đầu tiên đã được tuyển chọn và phong chức Ngoài ra ông còn thực hiện một hình thức truyền giáo mà sau này ta gọi là “tông đồ giáo dân” Chính nhờ các thầy giảng và các tông đổ giáo dân này mà giáo đoàn xứ Bắc đã đứng vững và khổng ngừng phát triển ngay cả khi khổng có các thừa sai

c , f í j à T & X ỨJ jỊẮ £ lVào năm 1628, Chúa Trịnh Tráng bắt được một lãnh tụ phản loạn, dưới quyền của Mạc Kính Khoan, người tự xưng là Vua Cao Bằng Để thoát án tử hình, người này đã khai ra một âm mưu của người Tây dương - ám chỉ Đắc Lộ - là kẻ đã

từ lâu thông đồng với xứ Nam và loạn quân họ Mạc Mặc dầu đây là một chuyện hoàn toàn bịa đặt, nhưng lại là cái cđ trực tiếp của chiếu chỉ cấm đạo ngày 28-5-

* 1628(2) 3 Ngoài cái cđ trực tiếp này còn nhiều nguyên nhân khác đưa đến việc cấm

đạo Từ những chuyện “đời thường” như vấn đề đa thê, những chuyện hiểu lệch lạc giáo lý Thiên Chúa Giáo đến những chuyện lđn lao hơn như là vấn đề xung khắc giữa hai nền văn hóa Một sế giáo dân xóa bỏ ảnh tượng bụt thần mà họ sùng bái trước khi theo đạo, điều này làm xức phạm đến tình cảm tổn giáo của lương dân Ngoài ra cồn sự thất vọng cùa Chứa Trịnh Tráng trong quan hệ buôn bán với người Bồ Đào Nha vì họ quá ít lui tđi xứ Bắc Thêm vào đó còn có gương của Nhật Bản đang triệt để cấm đạo, cũng thúc giục Chúa Trịnh Tráng hành xử như v ậy /3*

Ngay sau khi có sắc chỉ cấm đạo, Alexandre de Rhodes và p Marquez bị đặt dưới sự canh gác của quân lính và vào tháng 3-1629, Alexandre de Rhodes bị dẫn độ lên thuyền để tống khứ vào Nam Vì chưa có tàu Bồ Đào Nha đến, nên Chúa cho hai nhà truyền giáo vào Nghệ An chờ ngày ra đi Ở đây được tám tháng thì tàu Bồ Đào Nha đến, trên tàu cổ linh mục Gaspar Amaraỉ Sau ít ngày, tàu buôn được gọi lên Thăng Long, các linh mục cũng tháp tùng theo Mặc dầu tránh xuất đầu lộ diện nhưng Chúa Trịnh Tráng cũng khổng chấp nhận sự hiện diện của

họ nữa Do đó vào tháng 5-1630, hai linh mục phải từ biệt xứ Bắc để khổng bao

“ giờ trở lại đây nữa Sau ba năm truyền giấo, đặt nền móng cho giáo hội xứ Bắc

(1) Chương trình dạy giáo lý của Aỉexandre de Rltodes được ghi trong cuốn

“Phép giảng 8 ngày” - xuất bản tại Roma 1651 - trang 95(2) Đình Khải - tài liệu đã dẫn - trang 13

(3) Bùi Đức Sinh - sđd - trang 322

Trang 29

— 2 5 —

vđi con số trên 7.000 giáo dân(1) Khi ra đi Alexandre de Rhodes mang theo hai bức thư của giáo đoàn này, một gởi lên Đức Giáo Hoàng Urbano 8, và một gởi đến Bề Trên Tổng Quyền dòng Tên Mutius Vitelleschi(2) 3

D, TRỜ LAI XỨ ĐẰNG TRONG:

Từ khi giã từ xứ Bắc, Alexandre de Rhodes trở về Macao và làm giáo sư dạy Thần học tại đây khoảng 10 năm Đến năm 1640 theo lệnh của Bề Trên dòng Tên lúc ấy là Antonio Rulien, giáo sĩ Đắc Lộ một mình trở về Trung Việt Sau 4 ngày ông đến được Cửa Hàn (Đà Nẵng) lúc ấy vào tháng 2-1640, Sãi Vương đã mất từ 1636 và Nguyễn Phúc Loan tức Công Thượng Vương lên k ế vị Nhưng tình hlnh không có gì thay đổi cả, chỉ có cách đối xử của Công Thượng Vương đối với Thiên Chứa Giáo trở nên cay nghiệt hơn Biết thế, Alexandre de Rhodes trốn ở Hải Phố và được ông thị trưởng người Nhật che chở Ông này đưa Alexandre de Rhodes đến triều đình, tại đây ổng đã dâng nhiều lễ vật lên Chúa vì vậy Chúa đã đổi lòng Tuy vậy đến tháng 9-1640 trấn thủ Quảng Nam vẫn bắt ép các linh mục rời khỏi nước Aỉexandre de Rhodes lại trở về Macao, trên một chiếc tàu nhỏ mà chính ngài lái lấy

Nhưng khổng ngã lòng, tháng 12- 1640 Alexandre de Rhodes và linh mục Mattos lại trở về Cửa Hàn Cũng vào thời kỳ này, nhà các người đạo Thiên Chứa

bị lục soát, các ảnh tượng bị tịch thâu và đem đi đốt hết, nhiều tín đồ bị đánh đập<3>

Trong khoảng thời gian này linh mục Đắc Lộ đi thăm giáo dân ở tỉnh Quảng Nam, sau đó ông đi vào Phú Yên và Qui Nhơn Tại dây trên 1.000 người chịu phép rửa tội Trong khi ấy linh mục Mattos hoạt động ở Thuận Hóa và Quảng Bình Nhưng tháng 7-1641, hai nhà truyền giáo lại nhận được lệnh rời khỏi Đàng Trong, Lần này, trước khi về Macao, linh mục Đắc Lộ ghé qua Maniỉa, Philippine

Cuối tháng giêng năm 1642, Linh mục Đắc Lộ trở lại xứ Nam lần thứ ba, đến Hải Phố, rồi lên Kim Long (Huế) biếu Chúa Thượng một chiếc đồng hồ, đựợc giữ lại ở phủ Chúa, ban ngày linh mục dạy Chúa toán học, ban đêm dạy giáo lý cho dân Nhưng không được lâu, giáo sĩ phải ra khỏi Huế, xuống cửa Hàn ưốn tránh nay đây mai đố Đặc biệt trong thời gian này, giáo sĩ đã tạo ra nhiều thầy giảng, trong đó có thầy Anrê- Phú Yên Sau hơn một năm lén lút hoạt động, người

Bồ Đào Nha đến Hải Phố khuyên Ngài nên từ bỏ Trung Việt để về Ma Cao, để năm sau sẽ trở lại đem theo lễ vật hiến Chúa để xin được tự do truyền đạo, như vậy có lợi hơn Trưóc khi xuống tàu ra đi, ngày 31 - 7 - 1643, giáo sĩ đã làm lễ tuyên hứa của mười thầy giảng người Việt

Vào tháng 4-1644, Alexandre de Rhodes trở lại xứ Nam lần thứ tư với nhiều lễ vật, nhưng vẫn khổng được Chúa cho quyền tự do giảng đạo mà còn có lệnh phải rời khỏi nước Tháng 9 năm đó, giáo sĩ xuống tàu Bồ Đào Nha để mọi

(1) Bùi Đức Sinh - sđd - trang 323

(2) Đình Khải - tài liệu đã dẫn - trang 13

(3) Alexandre de Rhodes - Hành ưình và truyền giáo - NXB Đại Kết - 1993 - trang 127

Trang 30

— 2 6

-người tín ông đi thật, giáo dân cũng phao tín rằng giáo sĩ đã “về Tây”, nhưng thật

ra chuyến tàu đó đã đưa ông trở về Qui Nhơn Hồi ấy ở Quảng Nam, trấn thủ Quảng Nam bách đạo dữ dội, ông cho truy tầm các thầy giảng Tháng 7-1644,

*• tíiầy giảng AnRê bị bắt và chịu trảm quyết Khi ấy có linh mục Alexandre de

Rhodes bên cạnh, chính ông đã đem thủ cếp của thầy AnRê về Ma C aộ Năm sau đến lượt hai thầy giảng khác là Pagnatíô và Vincentê tử đạọ

Sau một thời gian hoạt động ở Qui Nhơn, cha Đắc Lộ ra Quảng Bình là tỉnh giáp ranh với Đàng Ngoàị Các giáo dân ở Bố Chinh (bên kia biên giới) là những giáo dân ông đã rửa tội 16 năm về trước, cử đại diện xin ông đến trong xứ đạo của họ Nhưng muốn đến đó phải vượt qua lữy Đồng Hđi là một việc vô cùng bất tiện Điều này chẳng những có hại cho giáo sĩ mà còn có hại cho các linh mục khác sau nàỵ Vì lý do đó khiến ông phải khước từ lời mời của các bổn đạo xứ Bắc

Tháng giêng năm 1645, một chiếc tàu Tây Ban Nha bị bão đánh dạt vàọ cửa Hàn Trên tàu có một số cha dòng Phan Xi Cô và 4 nữ tu sĩ người Tây Ban Nhạ Dịp này giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã đến gặp, sau đố tất cả linh mục và

nữ tu được Chứa mời về Kim Long ( H uế ) Sau khi gặp các nữ tu tại cửa Hàn, linh mục Alexandre de Rhodes đi về Huế, và từ Huế đi ra Quảng Bình lần nữa; Trên đường Ngài gặp chiến thuyền của Chúa Nguyễn đang đi tuần ở bờ biển Ông bị bắt với 9 người tùy tùng Theo lệnh của Chúa, giáo sĩ cùng vđi đoàn tùy tùng bị

» điệu về triều đình Lần này Chứa nhất quyết xử tử giáo sĩ, nhưng may nhờ có

quan Thái phó ngăn cản nên Chúa không ra lệnh hành q u y ế t, chỉ ra lệnh trục xuất

ra khỏi nước

Bị giam tại Hải Phố tại một ngôi nhà ở hải cảng chờ tàu Bồ Đào Nha đến

và không cho ai gặp mặt Ngày 3-7-16451 (2) 3, một vị quan Việt Nam bước lên tàu

Bồ Đào Nha và đọc chỉ dụ cửa Chứa trục xuất linh mục Alexandre de Rhodes ra khôi Đàng Trong Trong chỉ dụ ấy cũng cho biết thuyền trưởng nào lén đưa giáo sĩ đến Việt Nam thuyền trưởng ấy cũng bị chém đầụ Alexandre de Rhodes đã vĩnh biệt xứ Nam để không bao giờ trở lại nữă3)

E- GIAI ĐOAN CUỐI ĐỜI CỦA ALEXANDRE DE RHODES 1

Như vậy tính ra thời gian Alexandre de Rhodes ở Việt Nam là khoảng 8

năm rưỡi ( số năm d không liên tục )(4) Cuối năm 1645 ông lên đường trở về Châu(1) Alexandre de Rhodes -sđd trang 148 - Bùi Đức Sinh -sđd, trang 324 cho rằng Anrê là người Việt Nam đầu tiên chịu tử vì đạo

(2) Bùi Đức Sinh -sđd viết là ngày 7-3-1645 trang 325(3) Alexandre de Rhodes -sđd -trang 198, ông viết: “Đó là vào ngày mồng 3 tháng

■» 7 năm 1645, thân xác tôi rời bỏ Đàng Trong nhưng linh hồn tôi thì khổng, cả Đàng

Ngoài cũng khổng kém Thực ra cả hồn cả xác tôi đều ở cả hai nơi và tổi khổng

nghĩ tôi có thể rời bỏ mãi được”

(4) Giáo sư Hoàng Tuệ - Tuổi trẻ Chủ nhật 31-1-1993 cho rằng Alexandre de

Rhodes ở Việt Nam khoảng 6 năm nhưng liên tục là 3 năm - Lịch sử Việt Nam,

Hà Nội 1971 cho là 30 nămT s ổ tay Văn Hóa, Hà Nội 1978 viết là 7 năm, Lịch sử Việt Nam quyển 2 - Hà Nội 1985 cho là 17 năm

Trang 31

27

Âu Ngày 20-12-1645, ông qua Malacca lần thứ hai, tạt vào Jacquetra, ở đây ông

bị người Hòa Lan thuộc Tin lành bắt giam, tịch thu các giấy tờ, sau đó họ trả lại đủ

và trục xuất Alexandre de Rhodes đi nhờ tàu người Anh đến Surat, sau đó đến

* cửa biển Ormus, vùng Vịnh Ở đây, ỏng lên đất liền qua Ba Tư đến Armenie rồi

lấy tàu về Ý Ngày 27-6-1648 ông đến Rôma sau ba năm rưỡi đường trường

Cuối năm đó, ông đã bái yết Giáo hoàng Innocente X (1644-1655) trình bày tất cả tình hình ở Đông Phương, đặt biệt là hai xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài Ông đã xin với Đức Giáo hoàng đặt mấy vị Giám Mục và đào luyện hàng giáo sĩ

“bản quốc” Nhưng đề nghị của ông chưa thể thực hiện ngay được vì còn rất nhiều khó khăn lúc ấy chưa khắc phục được Đặc biệt trong đó là sự cản trở quyết liệt của Hoàng gia Bồ Đào Nha (lúc này tuy đã suy yếu về kinh tế lẫn quân sự nhưng thế lực tại Tòa thánh vẫn còn mạnh) đòi nắm giữ mọi ảnh hưởng ở Đông

Phương theo tinh thần sấc lệnh Inter Caetera mà chúng tôi đã trình bày ở ưên

Cho đến lúc ấy, Giáo hoàng vẫn chưa hủy bỏ sắc lệnh chấm dứt quyền “bảo trợ” của Hoàng gia Bổ Đào Nha tại Đổng phương

Đến sau, Đức Giáo hoàng muốn cử chính ông làm Giám Mục nhưng ông

đã từ chối chỉ xin được tiếp tục đi giảng đạo Cuối năm 1654, mặc dù đã ngoài 60 tuổi, Alexandre de Rhodes còn lên đường đi giảng đạo ở Ba Tư ( Iran ngày nay) thêm 6 năm nữa Và ông từ trần tại Ispahan (cựu Kinh đô của Iran ) vào năm

1660 Hiện nay mộ của ông cũng còn tại nơi đây (***) (Xin xem chú thích trang sau)

IV- ALEXANDRE DE RHODES VỚI CỔNG VĨẺC XUẤT BẢN CẤC TẤC PHẨM QUỐC NGĨ~/ v ả l í c h s ử VIẺT NAM:

Như chứng ta đã biết sau khi về Roma ( 1649-1652), Alexandre de Rhodes đã cho in những tác phẩm chính của ổng tại đây Chùng tôi xin sắp xếp những tác phẩm có hên quan đến chữ Quốc ngữ trước và sau đó những tác phẩm còn lại:

1- Cuốn giáo lý Latin và Quốc ngữ đối chiếu, nhan đề: Catechismus pro ijs qui volunt suscipere Baptismum in octo dies divisus - Phép rửa tội tám ngày cho kẻ muấn (muốn ) chịu phép rửa tội mà beào (vào) đạo thánh Đức Chũa Blời (ười) Sách được ấn hành tại Roma năm 1651 (1)

2- Cuốn tự điển Việt-BỒ-La nhan đề: ’’Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum”, in tại Roma năm 1651, gần 500 ưang

3- Cuốn Văn phạm Việt Ngữ đầu tiên, nhan đề: ’’Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio”, gồm tám chương ngắn nói rõ về nguyên tắc phiên âm của tiếng Việt Cuốn này đóng chung vđi cuốn tự điển nói ưên - xuất bản cùng năm song có số ưang riêng

4- Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài ’’Histore du Royaume du Tonkin” bằng tiếng Ý năm 1650, tiếng Pháp 1651, và tiếng Latin 1652

* (1) Đã dịch sang tiếng Thái Lan, sách Voyages et Missions tái bản tại Paris năm

1854, ưang 6 có nói:” Cuốn giáo lỷ này được ông Laurent, con của ông Barkalor, cựu thủ tướng của vua Thái Lan dịch ra tiếng Thái Lan, vào khoảng cuối đời vua Louis XIV” - Võ Long Tê - Lịch sử văn học công giáo Việt Nam - cuốn 1 - Sài gòn 1965

Trang 32

Nhưng Giám mục Henri Chapoulie trong cuốn” về nguồn gốc của một giáo hội Roma và các đoàn truyền giáo ở Đông phương thế kỷ 17'“ xuất bản năm

1943 lại ghi là' 5-11-1660 Linh mục Nguyễn Hữu Trọng trong tác phẩm ”Les Origines du Clergé Vietnamien” xuất bản năm 1959 và Linh mục Đỗ Quang Chính trong tác phẩm nêu trên đều theo ngày này Riêng ông Duưent, Giám đốc trường Viễn Đông Bác c ổ Hà Nội lại cho rằng Alexandre de Rhodes mất vào năm 1669, không xác định ngày tháng

Và theo tài liệu mà linh mục Đỗ Quang Chính có được do linh mục Joseph De Hergne, nhà sử học và là người quản thủ kho lưu trữ tĩnh dòng Tên tại Paris cung cấp Tài liệu này là một bức thư, dài 151 dòng, do Amé Chezaud, linh mục dòng Tên viết rõ về căn bệnh, giờ, ngày, tháng , năm mà Alexandre de Rhodes qua đời tại Ispahan, vể lễ an táng giáo sĩ mà chính Chazaud chứng kiến từ đầu đến cuối Bức thư này viết tại Ispahan ngày 11-11-1660, gởi cho linh mục Giám Tỉnh dòng Tên ở Pháp là Jacques Renault, ngoài bao thơ còn đề rõ là nhờ linh mục Georges de Rhodes ( em ruột của Alexandre de Rhodes, linh mục dòng Tên, dạy thần học tại Lyon) chuyển cho linh mục Jacques Renault Bức thư này ở trong kho lưu trữ tỉnh dòng Tên Paris , dặt tại Chantilly, về nội dung của bức thư này thì đầu thư A.Chezaud viết:” Xin thông báo cho cha biết về sự từ trần của cha Alexandre de Rhodes tại đây ( Ispahan) ngày 5 tháng Novembre năm nay (1660) Theo A.Chazaud thì giáo sĩ Alexandre de Rhodes từ trần vào đêm thứ sáu

Từ dòng 30-33 của bức thư còn ghi rõ giờ vị giáo sĩ này qua đời:” Từ hai giờ trưa (ngày 5-11-1660) cha bắt đầu một giấc ngủ mà khi ấy chúng tôi nghĩ là bổ ích, vì xem ra giấc ngủ khá ngon, đằng khác bắt mạch thì xem đây khổng phải là mạch của người sắp chết Tuy nhiên trạng thái lắng dịu đó lại đưa cha đến cái chết tám giờ sau.” Hai dòng cuối thơ tác giả đề: A Ispahan le ll.nov.l660 Kỷ tên Amé Chezaud s J

Đỗ Quang Chính - Báo Công giáo và Dân tộc - trang 19-24 - s ố 899 ngày 21-3-1993

Thiết nghĩ chẳng cần nói thêm gì hơn, vì tài liệu ghi rất rõ ràng Do đó chứng ta cố thể kết luận là linh mục Alexandre de Rhodes qua đời vào khoảng 10 giờ đêm ngày 5-11-1660 tại Ispahan ( cựu Kinh đô cửa Iran )

Trang 33

— 2 9 —

7- La glorieuse mort d André catéchiste de la Cochichine qui a verse song sang pour la quelle de Jésus Christ en cette Nouvelle Eglise ”Cái chết vinh quang của thầy giảng André ở xứ Đàng Trong, người dầu tiên đổ máu vì Chúa Jêsu Ki tổ tại giáo hội tân lập này” Paris 16S3

8- Somaire des divers voyages et mission apostolique du R.p Alexandre

de Rhodes de la Companie de Jesu à la Chine à Roma, depuis r année 1618 jusques à r année 1635, Paris 1653 “ Sơ lược những cuộc hành trình và truyền giáo của cha Alexandre de Rhodes thuộc dòng Tên tại Trung Quốc và các xứ Viễn Đông, với cuộc trở về Trung Quốc đến Roma, từ năm 1618 đến năm 1653.”

Được biết rằng những tác phẩm của Alexandre de Rhodes in tại Roma, đều dưới sự bảo trợ và cho phép của Thánh bộ truyền giáo Roma Các cuốn sách này là những công trình vô giá vì chẳng những cống hiến cho chữ Quốc ngữ một hình thức xác định, một địa vị vững chắc mà còn là những viên đá đầu tiên của ngữ học, văn học truyền giáo vào Việt Nam, đây là những tài liệu quí giá về cả hai phương diện quốc sử và giáo sử nữa

Trang 34

30

CHƯƠNG ĨV:

THỜI KỲ PHÔI THAI CỦA ALEXANDRE DE RHODES

Trong các vấn đề thuộc phạm vi văn học Việt Nam, chúng tôi thiết nghĩ khổng có vến đề nào thông thường và quen biết bằng vấn dề thiết lập chữ quốc ngữ, hay lối viết Việt ngữ theo mẫu tự Latin Bàn về việc thành lập chữ quốc ngữ, các tác giả đều đi tới một kết luận chung nhất này: nhiều người chứ khổng phải một mình giáo sĩ Đắc Lộ đã sáng chế ra thứ chữ viết theo mẫu tự Roma hay Việt ngữ phiên âm, nói đứng ra đây là một công trình sáng tác của tập thể mà trong đó công lao của Alexandre de Rhodes là to tát hơn cả

Thật vậy, sử gia Ch.B.Maybon, đã công nhận việc thành lập chữ quốc ngữ là một công cuộc chung, trong đó phải k ể nhiều đến các giáo sĩ thuộc nhiều quốc tịch khác nhau chứ khổng riêng gì các giáo sĩ Bồ Đào Nha(1) 2, Trong bộ Việt Nam văn học sử yếu, ông Dương Quảng Hàm có viết: “ Việc sáng tác chữ quốc ngữ chắc là một công cuộc chung của nhiều người, trong đố cố cả các giáo sĩ người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp Lan Tây Nhưng người có công nhất là

CỐ A Lịch Sơn Đắc Lộ, vì chính ông là người đầu tiên dem in những sách bằng chữ quốc ngữ Thứ nhất là cuốn tự điển khiến cho người sau có tài liệu mà học và kê cứu”{2) Giáo sư Đào Duy Anh cũng cùng ý tưởng như trên khi ông viết: “ Xưa kia Việt ngữ vôn viết bằng chữ Nôm, nhưng từ khi phép học đổi mđi thì Việt ngữ lại viết bằng một thứ chữ mới gọi là chữ quốc ngữ Thứ chữ này nguyên do các nhà truyền giáo sư Ki Tô đặt ra Vào khoảng thế kỷ XVII, khi các nhà ấy mới sang nước ta, thì có lẽ mỗi người tự lấy tự mẫu của nước mình mà đặt ra một lối chữ riêng để dịch tiếng bản xứ cho tiện việc giảng dạy tín đồ Các lối chữ riêng ấy, sau do hai nhà truyền giáo sư người Bồ Đào Nha, rồi sau đến cố A Lịch Sơn Đắc

Lộ người Pháp tổ chức lại thành một thứ chữ thông dụng chung trong truyền giáo hội, tức là thủy tổ của chữ quốc ngữ ngày nay ”(3)

Lê Thành Khôi trong bộ “Lịch sử và Văn hóa Việt Nam” cho rằng việc thành lập chữ quốc ngữ đã bắt đầu chuẩn bị do các giáo sĩ người Ý, nhất là người

Bổ Đào Nha, tỷ như giáo sĩ Gaspar d’ Amaral và Antonio Barbosa, nhưng người hoàn tất chính là giáo sĩ Đắc Lộ(4)

Các tác giả chúng tôi vừa nêu trên đây đã đồng thanh công nhận nguồn gốc chung của chữ quốc ngữ là một công trình tập thể được tiến hành qua nhiều giai đoạn Và đồng thời các tác giả nêu trên cũng đồng ỷ rằng giáo sĩ Alexandre

de Rhodes là người hoàn tất cho công việc sáng tác chữ quấc ngữ thời kỳ đầu tiên

(1) Ch.B.Maybon, Histoire moderne du pays d ’Annam, Paris 1919, trang 36

(2) Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sừ Yếu, Sài Gòn 1972, trang 182-183(3) Đào Duy Anh, Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Sài Gòn 1951, trang 270

(4) Lê Thành Khôi, Le Vietnam, Histoire et Civilisation, Paris 1955, trang 292

Trang 35

31—

Thực ra còn một khía cạnh nữa của công việc mà các tác giả trên chưa đề cập đến Đó là có một số ý kiến cho rằng giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã dựa trên nguyên tắc phiên âm chữ Nhật hay Romaji của các linh mục Dòng Tên trước

đổ, và hoàn chỉnh nó để tạo ra chữ quốc ngữ sau này Việc làm này Đắc Lộ đã thực hiện khi ông ở Hội An (Đà Nấng) cùng lúc với một số linh mục Dòng Tên, người Nhật cũng ỏ địa phương này để truyền giáo(1> Hai ông Huard và Durand cũng đồng ý kiến trên và còn nói rõ tên người Nhật đầu tiên đã phiên âm tiếng Nhật là Yajiro, tòng giáo vào năm 1548 Từ đó các nhà truyền giáo đã dùng thứ chữ Romaji này Bởi thế hai ông đã kết luận “ từ việc phiên âm tiếng Nhật đến

La Mã hóa Việt ngữ chỉ còn có một bước”1 (2)

Gần đây giáo sư Hoàng Tuệ trong một bài viết cho rằng việc làm ra chữ quốc ngữ có sự đóng góp của tín đổ bản xứ, và ông dưa ra lời trích dẫn trong tập hổi ký của Alexandre de Rhodes có nhắc đến một tín đồ cực kỵ thông minh đã giúp ông rất nhiều trong việc phát âm các từ, phân biệt các thanh Ông cũng cho rằng đã có việc hỉnh thành thời đố những phương án Latin hóa chữ Hán, chữ Nhật của các giáo sĩ phương Tây Và ông đi đến kết luận rằng việc chữ quốc ngữ do ai làm ra vẫn còn là “ một câu hỏi chưa có lời đáp thật rõ ”(3)

Qua những tài liệu chúng tỏi đã trình bày phần trên, chúng ta nhận thấy rằng ngoài một số tác giả công nhận rằng nguồn gốc chung của chữ quốc ngữ là một công trình tập thể của các giáo sĩ phương Tây thuộc nhiều quốc tịch mà phần hoàn tất là công lao của giáo sĩ Alexandre de Rhodes Ngoài ra như chúng ta cũng nhận thấy còn nhiều khuynh hướng khác như từ chữ quốc ngữ Nhật, chữ Hán Latin hóa, đến chữ Việt phiên âm, hoặc vấn đề tác giả của chữ quốc ngữ là ai hiện nay chưa được jgiải đáp

Vậy căn cứ vào những kết luận của đa số các tác giả và dựa theo những khảo cứu mà chúng tôi tìm được trong khi viết luận văn, chứng tôi xin trình bày chương này thành hai phần Trong phần thứ nhất, chúng tôi sẽ trình bày ý tưởng: việc thành lập chữ quốc ngữ là một sự nghiệp chung của nhiều người, và trong phần thứ hai chúng tôi sẽ dành trọn cho công cuộc học và hoàn chỉnh chữ quốc ngữ của giáo sĩ Alexandre de Rhodes trong thời kỳ phôi thai

L V 1 ỀC THẢNH LẮP CHỮ ouốc NGỮ: MỔT NGHIỆP CHUNG

Chúng ta biết rằng, việc phiên âm tiếng bản địa là công cuộc của các giáo sĩ thừa sai đi truyền đạo tại miền Á Đông Mục đích việc phiên âm này là một mục đích thực tiễn và tỏn giáo bởi vì để có thể giảng dạy cho người bản xứ và

để tránh học chữ Nho, chữ Hán, chữ Nôm phiền phức, các thừa sai phải học tiếng của người bản xứ bằng cách dùng mẫu tự Latin để phiên âm

(1) Bernard, Pour la compréhension de r Indochine et de r Occident, Paris 1950, trang 19 Dẫn theo Nguyễn Khắc Xuyên - Đắc Lộ với chữ quốc ngữ , Sài Gòn

Trang 36

32—

A TAI NHẮT BẢN:

Sau tác phẩm của Yajino, nhà in của các giáo sĩ dòng Tên đã cho xuất bản các sách bằng chữ Nhật được La Mã hóa gọi là Romaji M ột loại sách tôn giáo đã được phát hành ngay từ 1592 ( nghĩa là trước khi Alexandre de Rhodes cho in các sách của ông bằng quốc ngữ tại Roma) Trong số các sách này, người ta nhận thấy một cuốn giáo lý (Docưina Iesus), một cuốn từ điển La-Bồ-Nhật (Dỉctionaríum Latino- Lusitanicum ac Japonicum) ấn hành năm 1595 Thực ra, trong thời kỳ này đang khi các giáo sĩ cho in các sách bằng Romaji thì cũng xuất bàn các sách bằng chữ Nhật-Hán văn Điều này tương tự như tại Việt Nam sau này, trong khỉ hình thành chữ quốc ngữ thì các sách cũng còn được biên soạn bằng chữ Nôm

Những sách thuộc lớp đầu tiên này dược in tại Nhật Bản Nhưng hơn 30 năm sau, nghĩa là vào năm 1632, tại Thánh Bộ Truyền Giáo Roma, một loại sách thứ hai đã được ấn hành để dùng vào việc truyền giáo tại Nhật Các sách này bằng chữ Nhật phiên âm của giáo sĩ Didaco Loỉlado dòng Đa Minh: cuổn “ Phương pháp cáo tội và xét mình”, cuốn “Văn phạm tiếng Nhật” và cuốn “ Từ điển tiếng Nhật” Ngoài ra còn một số sách khác do các giáo sĩ dòng Tên tại Nhật, hoặc dòng Đa Minh tại Philippines biên soạn(1)

Như vậy, theo ý kiến chứng tôi, trước khi giáo sĩ Alexandre de Rhodes sang Việt Nam và trong khi ông ở Việt Nam, người ta đã dùng những sách bằng chữ Nhật phiên âm Hơn nữa, khổng những dùng tại Nhật hoặc ở Macao mà còn dùng chính trên đất nước Đại Việt như tại FaiFo( Đà Nẵng) là nơi có nhiều giáo dân Nhật Bổn di cư như phần ưên chúng tôi đã trình bày Chính bản thân giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã được chỉ định đi truyền giáo tại Nhật, song vì nước Nhật cấm đạo mà ông được chuyển đến Việt Nam Nhưng chúng tôi thiết nghĩ rằng chữ Nhật là thứ chữ đa âm và khổng có các thanh riêng biệt như tiếng Trung Hoa nên phần ảnh hưdng này đối với giáo sĩ Alexandre de Rhodes cũng hạn chế Trái lại, ảnh hưởng cửa chữ Tàu phiên âm mới thật là điều đáng xem xét, nếu thật nó đã ảnh hưởng tới giáo sĩ Alexandre de Rhodes

B TAI TRUNG QUỐC:

Công cuộc phiên âm Hoa ngữ đã được hai giáo sĩ dòng Tên là Ruggieni

và Ricci khởi thảo vào năm 1584- 1588 Đó là cuốn Tự Điển Bồ Đào Nha- Trung Hoa Người ta nhận thấy rằng trong cuốn này các tác giả mới chỉ phiên âm mà thôi, chứ chưa có các dấu hiệu để ghi các thanh, một yếu tố tối ư quan trọng trong thứ tiếng độc âm như Hoa ngữ Đến năm 1598, Ricci và Cattaneo, một người giỏi

về âm nhạc bắt đầu phân biệt các thanh và sáng chế ra những ký hiệu để ghi các thanh Đổng thời hai ổng đã soạn một tập ngữ vựng đầy đủ hơn tự điển Các thanh

(1) Nguyễn Khắc Xuyên - Chung quanh vấn đề thành lập chữ quốc ngữ - Văn hoá nguyệt san- số 39 (1959) trang 167- 177

Trang 37

3 3

-đại khái được biên soạn như sau:

Bình thượng : gạch ngangBình hạ : dấu âThượng thanh: dấu huyềnKhứ thanh : dấu sắcNhập thanh : dấu á

Đến năm 1605, giáo sĩ Ricci cho phát hành tại Bắc Kinh một cuốn giáo lý vắn tắt bằng hình ảnh Trong cuốn này, bên cạnh chữ Hán có ghi tự mẫu Latin với đầy đủ các thanh Đặc biệt là Ricci phiên âm theo tiếng Bồ Đào Nha Điều này theo chứng tôi sẽ gúíp chúng ta hiểu những giai đoạn thành lập chữ quốc ngữ sau này Bởi vì các giáo sĩ người Ý đã phiên âm theo lối Ý, trước khi có sự ấn định theo cách thức phát âm theo lối Bồ ngữ là tiếng thông dụng thời ấy Và chúng ta cũng dễ dàng nhận biết rằng một khi sáng chế ra cách ghi chép các âm và các thanh trong Hoa ngữ, thì công cuộc Latin hoá kể như hoàn thành.(1)

Do đó, đến năm 1626, một giáo sĩ dòng Tên người Pháp là Trigault đã cho phát hành bộ sách vĩ đại là “ Âm vận kinh toàn thư” gồm 699 trang hai mặt, khổ 16 X 26 Trong sách này tác giả đã xếp các chữ Hán theo tự mẫu phát âm Latin Ngoài việc kê cứu theo các tiếng đồng âm và nguyên âm, tác giả còn phân biệt hai giọng đọc mềm và cứng, về các thanh, tác giả theo giông như Ricci, riêng

về hai chữ nguyên âm o u, chứng ta thấy có nhiều kỷ hiệu đặc biệt, kiểu như

o, ơ , Ô và u, Ư của Việt ngữ Bộ âm vận kinh này sau 5 năm đã tái bản tại Trung Hoa chứng tỏ sự thành công và phổ cập của nó, ít ra là trong các giáo đoàn và nhất là đoàn thể giáo sĩ thừa sai truyền đ ạ o (2)

Xét về ảnh hưởng những công cuộc phiên âm Hoa ngữ này đối với giáo sĩ Alexandre de Rhodes chúng tôi chưa dám quả quyết một cách tích cực Cho nên

về vấn đề này chúng tôi có thể nói rằng công cuộc thành lập chữ quốc ngữ đã nằm ừong vị trí chung của thời đại do ý hướng chung của một số người Những người này gồm các giáo sĩ thuộc nhiều quốc tịch khác nhau đi truyền đạo tại Nhật

và Trung Hoa và miền Đông Nam Á Các ông đã góp sức phiên âm tiếng bản xứ ngõ hầu cho công việc truyền giáo được xúc tiến một cách đắc lực hơn

Riêng về Hoa ngữ, chúng tôi thấy có một bước tiến bộ hơn, đó là việc sáng chế ra các ký hiệu để ghi các thanh Tiếng Việt là một thứ tiếng có các thanh tương tự như tiếng Trung hoa Hơn nữa, Việt ngữ có đến 6 thanh, chứ không phải 5 thanh như trên chứng tôi đã trình bày Do vậy, một khi người ta đã tìm ra những dấu riêng biệt để chỉ các thanh thì trong Việt ngữ sự thực hiện cũng sẽ không xa

Ở đây chứng tôi chỉ mới nhận thấy những sự kiện, còn về ảnh hưởng của

nó đối với Alexanđre de Rhodes như thế nào, đến nay chúng tôi cũng vẫn chưa tìm được tài liệu nào cố liên quan đến vấn đề trên

(1) Nguyễn Khắc Xuyên- v ấ n đề chữ quốc ngữ Trung hoa hay vân đề phiên âm Hoa ngữ cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII- Văn hóa nguyệt san số 43 ( 1959), trang 991 -996 và số 44(1959) trang 1150-1155

(2) Nguyễn Khắc Xuyên- Đắc Lộ với chữ quốc ngữ - Khảo cổ tập san- số 2(1961)-

Bộ Quốc Gia Giáo Dục Sài Gòn, trang 86

Trang 38

34

c TAI VĨẺT NAM:

Khi các giáo sĩ nước ngoài đến Việt Nam vào cuối thế kỷ XVI và đầu thế

kỷ XVII, các ông đã dùng đến mẫu tự Latin để ghi chép các danh hiệu thuộc về

• nơi, về người của xứ ta Theo chúng tôi nghĩ, để học tiếng nước ta, các ông cũng

dừng chữ Latin để ghi chép Nhưng trong buổi đầu, chl ỉà công việc cá nhân và để tiện dùng riêng cho cá nhân Chẳng hạn nếu ỉà người Ý thì phiên âm theo tiếng Ý,

là người Tây Ban Nha thi theo tiếng Tây Ban Nha , người Bồ Đào Nha thì theotiếng Bồ Đào Nha Giai đoạn đầu chúng ta cố thể nối là chưa có một tôn chỉchung, chưa theo một đường lối thống nhất với những quy luật xác đáng

Theo sự khảo cứu của chúng tôi trong khi sưu tầm tài liệu để viết luận văn, thì tài liệu cổ nhất về tình trạng chữ quốc ngữ hồi phôi thai là tài liệu của

giáo sĩ Christoforo Borri, người Ý Ông đến truyền giáo ở Đàng Trong từ năm

1618 đến năm 1621 Năm 1631 ông cho xuất bản ở Roma một tác phẩm mang tên:

“ Tường trình về giáo khu miền Nam” (1) Trong sách này chứng ta gặp nhiều chữ quốc ngữ cổ rải rác như

1 Danh từ chung: SAYC, CHIU (sách, chữ)- SAYC, KIM (sách kinh)- CHIA (chữ)- OMGNE (ông nghè)- ONSAIJ (ông sãi)- NƯOCCMAN (nước mặn)-

MA (ma)- MAQUI, MACO (ma quỉ, ma cỏ)- BUA CHIUUA (Vua Chúa) - KEMOI (Kẻ mọi)-ONSAI (ông sãi)

2 Danh từ địa lý: CHIAMPA (Chăm)- GACCIAM (Kẻ Chăm)- QUAMGUYA (Quảng Nghĩa)- SINNUA (Thuận Hóa)- QUIGNIN (Qui Nhơn)

3 Cả một câu ngắn hoặc dài: DÀ, DÈN, LÙT (đã đến lụt)- SO N MOCAU (xin một cái) DA, AN, NUA, DA, AN, HET (đã ăn nữa, đã ăn hết)- TUI CIAM BIET (tôi chẳng biết)- ONSAIJ DI LAY (ông sãi đi lại)- CON GNOO MUON BAU TLOM LAOM HOALAOM CHIAM ? (con nhỏ muốn vào trong lòng Hòa Lan chăng ?)- MUON BAU DAU CHRISTIAM CHIAM ? (muốn vào đạo Christiam chăng ?)

Do những văn kiện trên, ta có thể nhận thấy mấy điểm sau:

ỉ) Chưa cố kỷ hiệu để ghi các thanh, nghĩa là chưa cố các dấu VI dụ: lụt thì viết “lut”, cỏ thì viết “co” Căn cứ vào một ít tiếng thì hình như buổi đầu các giáo sĩ dùng một số chữ phụ để thay cho các dấu như DOU (đói)- MOCAU (một cái) GNOO (nhỏ)- SAU (sãi)

2) Những nguyên âm cấu tạo chữ Quốc ngữ hồi đầu giông như tiếng Ý hoặc Bổ là A, E, I, o, u Nghĩa là thiếu các nguyên âm Â, Ả, Ê, Ô, ơ, ư Ví dụ:

“muốn” thì viết “muon”, “mặn“ thì viết “man”

(1) Toàn bộ tựa đề của tác phẩm này là “Relatione della nuova missione delli p.p della Compagnia de Giesu al Reguo della medesima Compagnia, che fu uno de prime ch’entrono in delto Reguo Alia Santita di N.Sig Urbano p.p Ottavo In Roma, 1631” Đỗ Quang Chính - Lịch sử chữ quốc ngữ - Sài Gòn 1972 ưang 29,30 cho rằng tuy sách in 1631 nhưng phải hiểu những chữ quốc ngữ Borri viết là vào năm 1620-1621, vì Borri bỏ Đàng Trong hoàn toàn vào năm 1621 về Châu Âu luôn

Trang 39

3) Những phụ âm cấu tạo chữ quốc ngữ hồi đầu chưa có phụ âm đơn Đ (đói viết là doij), phụ âm X (X viết sc như scin mocaij = xin một cái), phụ âm V (V viết b như bau = vào) Nhiều phụ âm kép xem ra hãy còn thiếu CH, GH, NH,

TR Nhưng bù ỉạỉ có nhiều phụ âm mà sau này khổng dùng nữa như GN thay cho

NH, hay NGH như ngoo (nhỏ), omgne (ông nghè), TL thay cho TR như TLOM (trong)

4) Do Borri viết ở miền Nam và giáo sĩ ctìng lưu tại miền Nam nên nhiều chữ có màu sắc địa phương rõ rệt như “nhơn” viết là “gnin”

“tôi” thì viết là “tui”

5) Vì Borri là người Ý, nên cách phiên âm có khuynh hướng ngã theo tiếng Ý Ví dụ NH được viết là GN như “gnin”, “gno”, X dược viết là sc như

“scin” thay vì “xin”, CH được viết là c như “ciam” thay vì “chăng” Tuy nhiên trong đó, tương đôi tiếng Bồ Đào Nha vẫn vượt trội hơn Ví dụ các chữ Chiampa, Chiu (chữ), Chia (chi), Bua Chiuua (vua Chúa), chiam (chăng) đều là lối phiên âm

Bổ Đào Nha : phụ âm kép CH trong tiếng Ý đọc cứng như ta đọc chữ K, còn CH trong tiếng Bồ đọc như CH trong tiếng Pháp Có thể người Ý dừng chính âm thanh

Bổ dể phiên âm tiếng Việt bởi vì như chúng ta đã biết tiếng Bồ được coi là tiếng nói chính thức của các nhà truyền giáo vào thời ấy

Đ ể kết luận, chúng ta có thể thấy rằng, căn cứ vào ít tài liệu rời rạc của Christoforo Borri, chữ quốc ngữ hồi đầu chưa có dấu và cách phiên âm cũng chứa

cố gì là nhất luật, cùng một tiếng mà cố thể phiên âm hai ba cách khác nhau

Một tài liệu thứ hai cho phép chúng ta biết về tình trạng chữ quốc ngữ năm 1645 (sáu năm trước khi xuất bản những bộ sách của Đắc Lộ 1651) Tài liệu này là biên bản của 36 giáo sĩ Dòng Tên tranh luận nhau về công thức rửa tội Cái được gọi là biên bản ấy có 8 trang viết tay bằng tiếng Bồ Đào Nha(1) Đại khái có những câu sau đây:

- Nơi trang 1: Tail rữa mầi nhân danh Cha, ùa con, ùa Spirito Santo

- Nơi trang 2: Tail rữa mầi - Tail lấy tên - Tail lẫy tên Chúa - Tốt lên, tốt danh, tốt sáng - Danh Cha cả sáng

- Nơi trang 3: Tail lẫy một tên Cha và Con và danh spirito Santo rửa

m ầ’i’ - Blai có ba hồn bảy vía - Chúa Blờy ba ngôy

- Nơi trang 4: Nhẫn danh cha ùa danh con ùa danh Spữito Santo

- Nơi trang 7: Sóư (sống) - Cha ruột con ruột

Bằng vào những lối viết này ta có nhận xét sau:

1) Đã có các ký hiệu rõ rệt để ghi các thanh chứ không như trong Borri:

- Đủ năm dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng

(1) Thanh Lãng - Những chặng đường của chữ viết quốc ngữ - Tạp chí Đại Học số 1(19) - H uế 1961, hang 11 cho rằng văn kiện này hoặc đã được sao lại, hoặc viết vào 1654 Tuy nhiên ông cũng nói là có thể coi nó như một bằng chứng về chữ quốc ngữ hồi 1645 Đỗ Quang Chính trong “Lịch sử chữ quốc ngữ” ưang 68 cho biết tài liệu này hiện đang lưu trữ tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã dưới ký hiệu ARSI, JS.80, f.35r 38v

Trang 40

— 3 6 —

- Thêm dấu “tréma” đánh trên các chữ U , i, y

- Thêm dấu: ă, â, ơ, ô, ư, ê.

2) Các nguyên âm có đủ: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư

3) Các nguyên âm kép thì có: au, ưa, â ’i \ â ’y’, ua, ai, ia, ơ’y’, ô ’y ’, oư,

uô Trong số 11 nguyên âm kép này có 5 nguyên âin kép rồi đây sẽ mất di là â ’i’,

â ’y \ ơ’y , ô ’y’, oư

4) Các phụ âm kép: Ở đây chúng ta đã thấy có một sự tiến bộ, Nh đã thay thế hoàn toàn cho Gn, Ch thay cho Ci, Ng thay cho Mgn, BI vẫn còn dùng Phiên

âm ở đây theo chúng tôi nhận thấy là phiên âm Bồ Đào Nha, chứ không theo tiếng Ý

5) Cách phiên âm còn thua kém giáo sĩ Alexandre de Rhodes, chẳng hạn chưa phân biệt vần au với ao cho nên Tao viết là Tau, Mày viết là Mầi, Blời viết

là Blờy, Ngôi viết là Ngỏy

6) Vần Ong viết là Oũ ( soũ, sống )

7) Chữ “lấy” thì Alexandre de Rhodes viết là ‘lấy ” nhưng thường viết là

“lếy ”, còn tài liệu này viết là “lấy ”, tức là dư cái dấu ’’trém a”

Nói chung nếu tài liệu trên đây mà sao chép nguyên văn biên bản cuộc hội thảo năm 1645, thì đó quả thực là một tài liệu quí giá cho ta biết tình trạng chữ quốc ngữ trước giai đoạn giáo sĩ Alexandre de Rhodes

So sánh chung ta thấy nó khuyết điểm hơn chữ quốc ngữ của A.de Rhodes Ví dụ như các chữ Tau, mầi, Blờy, ngôy đến đời Alexandre de Rhodes

đã viết là Tao, mày, blời, ngôi Nhưng nói chung là chữ quốc ngữ đã tương đôi hình thành, tương tự như trong các tác phẩm của giáo sĩ Alexandre de Rhodes năm

1651 Như thế là chữ quốc ngữ đã có các dấu để ghi các thanh như ưên chứng tôi

đã trình bày Và hơn thế, cách phiên âm đã ngã hẳn về cách đọc tiếng Bồ Đào Nha Sau cùng các nguyên âm ô, ư, ê, a cững đã có mặt Chữ Đ hẳn cũng có bởi văn kiện dùng chữ D trong giọng mềm như “danh “ chẳng hạn, thì dĩ nhiên phải

có một thứ chữ khác, khác với D để chỉ Đ

Tài liệu thứ ba được soạn thảo năm 1648 nội dung ghi tên 14 người công giáo Việt Nam đổng ý về mô thức rửa tội đã ghi tài liệu 1645 (1) Sau đây là nội dung những chữ quốc ngữ:

- Nơi trang 76 rv: nhơn danh cha, ùa con, ùa Spừito Santo

- Nơi trang 76 v: Đức Chúa Blờy sinh ra chín đđng thiên thần là cũôn cũốc Đức Chúa Blờy

- Nơi trang 77 v: nhơn nhít danh cha

- Nơi trang 80 v: một nam, một nữ

(1) Đỗ Quang Chính - sđd, trang 74 cho biết tài liệu này hiện lưu trữ tại Văn khố

Dòng Tên ở La Mã Tài liệu gồm 8 trang rưỡi (từ số 76r đến 80v), viết chữ cở trung bình, khổ 16 x 29 cm, khổng rõ soạn thảo ở đâu và ai là tác giả Tên các

giáo hữu Việt Nam được ghi bằng ba thứ chữ Nôm, quốc ngữ và Latin

Ngày đăng: 07/01/2022, 20:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm