GIỚI HẠN ĐỀ TÀI Myanmar là một trong những quốc gia đa tộc của khu vực Đông Nam Á với hơn 50 tộc người, nên trong bài này em chỉ trình bày một phần về đời sống kinh tế, tổ chức chính t
Trang 12633
| BO GIAO DUC VA DAO TAO
- ĐẠI HỌC MỞ BÁN CÔNG - THÀNH PHO HO CH{ MINH
KHOA DONG NAM A HOC
TYCO NGUYEN THI HONG PHUC
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU
CÁC ĐÂN TỘC CỦA MYANMAR
(LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á) | (KHÓA 1993 - 1997) :
TRƯỜM4 0JI Đột LẺ TP,teh
THU VIEN
HUGNG DAN KHOA HOC
GS NGUYEN QUOC LOC
"THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2
\ - Qua tời gian nghiên cứu 0à tđu thập tài liệu để làm Bài luận van tt | tgliệp, em đã được sự giúp đở uà chỉ bảo tận tâm của Giáo sư i
%(guuễn Quốc Lộc Đến trau em đã đồn thành xong Đài luận Uăn của
minh, Em xin chan thành cẩm on:
Giáo Sư Nguyễn Quốc Lộc - 'Trưởng Khoa Dong Nam A hoc - 7 mơng Dai Hoc Me Ban Cong Tp Hd Chi Minh
Tat cd qu} thdy cd Khoa Dong Nam A học đã tận tít truyền đạt Kiếm
thức cđo em trong thoi gian em theo hoc tai triding
SéNgoai Vu vd Thong Tan Xa Viét Nam đã cung cdp cho em nhitng tw
fiéu quy bau
Dong thoi tdi cling xin cdm on tất cả các ban học đã giúp đở 0à trao đối
Kiến thức để tơi làm tốt Bài luận uăn này
Sink vién
Nguyén Thi Hong Phiic
Trang 3II Lịch sử nghiên cứu vấn để cccccccrrkkeirrr.rirrrrrrrrre 1
IH Phương pháp nghiên cứu LH HT g0 1000750990085 2 _ IV Giới hạn đề tài 2.412 01.0.1111 2
Chương I ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐẤT NƯỚC MYANMAR 3
IL.Thuéc ngit hé Tay Thái G0000 0 190801999 1010000409 0 th Và 23
Đân tộc Shan 1912313122141117.T111211-.1 T111 ĐTTTRTSEEEEEEEEEESTCEEERE 32 HHỊ Thuộc ngữ hệMôn - Khmer(Austro-AsiafiC) 24 Dân tộc Palaung - - «cọ tt 000 11000 11 000 kh nhờ 24 Chương II KINH TẾ VÀ TỔ CHỨC XÃ HỘI - CHÍNH TRỊ
CÁC DẦN TỘC CỦA MYANMAR -.«- 27
A - Thuộc DJ4:8;7# t;1,1-08./(74 8888 meee 27
I Dân tộc IMIiẾN c9 9.9.9 TT 101 008060800890648008090090 27 4 1 27 2.76 chifc x hOi - Chitth tric 29
II Dân tộc AKhiá c co eee nen 11611sssse „H999 09000 0900.0000000 06069 9910590000 086 29 8i 8.1 29
Trang 42 Tổ chức xã hội - chính trị - sec ©xeerxeerrxtrrerrrxertrketrrsrre 40
Chương IV VĂN HÓA CÁC TỘC NGƯỜI CỦA MYANMAR 41
A Thuộc ngữ hệ Tạng - Miễn .cSĂceceKekeerrsrsrrrree 41
L Dân tộc MIẾT HH HT T0 0 8080040403006000100E 41
1 H6n nhéin va gia inh o 51
2 LE HO Le sscssssessssecssssccsssecsssccessessnesesecsssesesecsseessaeeesases 52
E8 0 52
4 Tôn giáo tÍn nEgƯỠN - sọ nọ 0 1000 03 0 53
5, Nghệ thuẬT Lọ ng 0.00 009.10 53
_IV Dân tộc KachÌn co cv 99 1106693 9e 53
1 Hôn nhân và gia đình Nha ve 53
ky 0 54
4, Tôn giáo tín ngưỡng . «sec re Ác ti ng khen 55
V Dan t6c Karen oo 56
Trang 5VI Dân tộc LLiSU ó5 sssvs+YA9E+kSEEExeEEtEkeEEktETAnrksnsrsersesrserssee 58
1 Hôn nhân và gia đình - -< cv ng ng tre 58
"j0 —- HT TH TH TT ng 1000 59 E8 1 sesesseessessuessaessusssessssssseesesss 59
4 TOn gido tin NQUGNG 59
5 Nghé thuateccccccccccsssssssesseccecssesssesseesseesseesstesseessvssesanesseesseeseveseesees ÔÖ
B Thuộc ngữ hệ Tày - Thái ccccccccccccteseeerrrressrrrrveescrrceoÔD
Dân tộc 0 sassssasecsscacenssoessees 60
1 Hôn nhân và gia “nh ‹ 31v 9 BH HH Hưng 60
3 Tang lễ ¬ Ô.ÔỎ sesseventens 61
4 Tôn giáo tín ngưỡng . -s- sscs+essrksrsrekesersererxrrrrsrerrrererrsrseecỔ |
7 ẽ 61
6 Ma thuật sesevssseed Joe ssaceusasansssesceuevessananssnsnnsssssesenusassasssnsesseseees 61
~~ Œ, Thuộc ngữ hệ Môn -Khmer (AUStVO-ASIALIC) ceccccssssecensccessnneeesessonees 62
Phần phụ lục :
Trang 6_ Luận văn tốt nghiệp
DAN NHAP
I LY DO CHON DE TAI
Ngày nay Đông Nam Á được xem là khu vực phát triển năng động nhất thế giới
Là khu vực có nhiều tiểm năng về tài nguyên thiên nhiên, nguồn năng lực, vị trí địa lý và Đông Nam Á ngày càng git vị trí quan trọng ở khu vực Châu Á - Thái Binh Dương Điều này đòi hỏi các quốc gia trong khu vực cần phải có sự hợp tác, phối hợp
tổ chức để khai thác các thế mạnh của nhau Nhiều thập niên qua, hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đều đã vượt qua thời kỳ khủng hoảng về kinh tế để đi vào thời kỳ mới cùng với nền kinh tế hướng ngoại, chung sống hòa bình, hữu nghị và hợp tác Khi các cuộc tiếp xúc và giao lưu ngày càng nhộn nhịp thì chúng ta không mấy khó khăn
để hội nhập Ai cũng dễ nhận thấy rằng trong vốn kiến thức của người Đông Nam Á
thiếu hẳn sự hiểu biết về các quốc gia láng giểng trong cùng khu vực Trong khi đó
các quốc gia này đều sinh ra và lớn lên giữa lòng Đông Nam Á, có chung một cội nguồn văn hóa tộc người, một quá trình lịch sử đang cùng được xây dựng, một khu vực
hòa bình và hợp tác trong xu thế khu vực hóa - toàn cầu hóa
Trong thập niên 90, một xu thế mới được hình thành ở khu vực Đông Nam Á là hoàn thành hội nhập 10 quốc gia để chuẩn bị bước vào thế kỷ 21, nhanh chóng thoát
- ra khỏi tình trạng kém phát triển, để trở thành những nước công nghiệp hóa và hiện
đại hóa Đặc biệt gần đây, Myanmar và Lào đã trở thành thành viên thứ 8 và thứ 9 của Asean, điều này thu hút được sự chú ý của giới quan tâm trong và ngoài nước Do
đó, hơn bao giờ hết, việc tìm hiểu về các nước láng giểng ở khu vực này đang là yêu
cầu cần thiết cho chúng ta, vì chỉ có sự hiểu biết lẫn nhau mới có thể dẫn đến niềm tin cho sự phát triển bển vững của bất kỳ các mối quan hệ nào -
Để có sự hợp tác và phát triển toàn vững các mối quan hệ đó, chúng ta cần phải
tìm hiểu về đất nước và con người của quốc gia mà ta hợp tác: Những phong tục tập
quán cũng như văn hóa xã hội Myanmar là quốc gia có diện tích lớn nhất ở Đông
Nam Á lục địa, có nền kinh tế bắt đầu khởi sắc sau hơn 30 năm đóng cửa tự lực và
hướng nội VỀ ngoại giao Myanmar còn là một trong những nước có sáng kiến triệu tập hội nghị Bandung và sáng lập phong trào không liên kết (mặc dù Myanmar đã rút
ra phong trào này vào năm 1974) và đã có quan hệ hữu nghị tốt đẹp với Việt Nam kể
từ khi độc lập đến nay (1948)
Vì vậy việc nghiên cứu đất nước và con người Myanmar sẽ góp phần thúc đẩy
mối quan hệ hợp tác với Việt Nam và các nước Đông Nam Á nhằm xây dựng một
- Đồng Nam Á hòa bình, hữu nghị và hợp tác phát triển,
Trang |
Trang 7Luận văn tốt nghiệp
II LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Từ trước đến nay ở nước ta chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên về dân
tộc học Myanmar Những tài liệu về Myanmar rất hạn chế, chủ yếu để cập sơ lược về
các vấn để kinh tế, chính trị của Myanmar Hầu như không có tài liệu chuyên sâu về
văn hóa dân tộc của nước này.Tiêu biểu một số sách viết về Manmar như “Đất nước chùa vàng “ của Vũ Quang Thiện xuất bản năm 1989, “Miến Điện” của Nguyễn Bích Liên, xuất bản năm 1968 Ngoài ra, gần đây có một số bài viết về Myanmar trên một số báo và tạp chí
Về phía nước ngoài, chủ yếu là tài liệu viết bằng tiếng Anh Trong đó có một số sách đáng chú ý như : Burma:the land and the people của R.Talbot Kelly xuất bản tại
Tokyo 1910, Burma: Literature, Historiography, Cholarship language của Hlape,Xuất bản tại Singapore 1985, Burma của Saw Myat Yin xuất bản tại Kuala Lumpua 1990
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Là một công trình nghiên cứu về dân tộc học nhưng do em không có điều kiệnđể
khảo sát trực tiếp các dân tộc ở Myanmar, nên phương pháp được sử dụng chủ yếu là: tổng hợp tư liệu thành văn
IV GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Myanmar là một trong những quốc gia đa tộc của khu vực Đông Nam Á với hơn
50 tộc người, nên trong bài này em chỉ trình bày một phần về đời sống kinh tế, tổ chức
chính trị - xã hội và văn hóa của, một số tộc người chiếm đa số ở Myanmar Trong đó
có dân tộc Miến là dân tộc chủ thể chiếm 71,3% dân số cả nước, ngoài ra còn có tộc
người Chin, Kachin, Karen, Lisu, Palaung và Shan Mặt dù với một vài dân tộc trên
đây nhưng nó cũng có thể đại diện cho Myanmar
Luận văn này chia thành 4 chương:
Chương I: Đại cương về đất nước Myarunar
Chương II: Thành phần các tộc người của Myanmar
Chương III: Kinh tế và tổ chức xã hội - chính trị các tộc người của Myanmar
Chương TỰ: Văn hóa các tộc ngubi cia Myanmar
Trang 2
Trang 8Luận văn tốt nghiệp
CHUONG I
DAI CUONG VE BAT NUGC MYANMAR |
I DIEU KIEN TỰ NHIÊN
Myanmar là một quốc gia có diện tích lớn nhất ở Đông Nam Á lục địa Với điện tích 678.563 km? nằm ở phía Tây Bắc bán đảo Đông Dưỡng Toàn bộ Myanmar nằm trong giới hạn từ 108 đến 25° vĩ độ Bắc và từ 920 đến 101 kinh độ Đông Phía Bắc và Đông Bắc giáp với Trung Quốc, phía Tây Bắc giáp Ấn Độ và Bangladesh, phía Đông giáp Lào, phía Đông Nam giáp Thái Lan, phía Nam và Tây N Nam giáp biển Adaman và vịnh Bengal
Về địa hình
Myanmar được chia làm 4 khu vực chính :
- Khu vực núi phía Bắc và phía Tây có độ cao trung bình từ 1830m đến 6100m.Với dãy Arakan hiểm trở nằm dọc theo vịnh Bengal
- Khu vực cao nguyên ở phía Đông có độ cao trung bình là 910m, "phần phía Nam của cao nguyên trải đài xuống khu vực Tenasserim nằm đọc theo phần Đông Nam của bán đảo Malay
- Khu vực trung tâm Myanmar được bao bọc bởi hai con sông lớn là Salween (dài 2816km) là con sông dài nhất nước ở phía Đông và sông Irrawaddy dai 2170km va 'phụ lưu của nólà sông Childwin ở phía Tây
- Khu vực đồng bằng Châu thổ và thung lũng thấp có diện tích 25900km, nằm ở
hạ nguồn sông Irrawaddy và Sittang, là một trong những vựa lúa lớn nhất thế giới
Myanmar có khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Do ở Myanmar có những dãy núi ở phía Tây, phía Bắc và phía Đông đã ảnh hưởng tới sự phân bố mưa và Myanmar có chiều dài từ Bắc xuống Nam, làm cho cdc miền của đất nước có khí hậu khác nhau Song đặc trưng vẫn là khí hậu gió mùa Mỗi năm chia thành 3 mùa :
Mùa khô nóng có gió thay đổi ( từ tháng 3 đến tháng 5)
Mùa mưa do gió Tây Nam thổi từ vịnh Bengal và gây mưa ( từ tháng 6 đến tháng 10)
Mùa khô hanh có gió mùa Đồng Bắc ( từ tháng 11 đến tháng 2)
Sông ngòi
Ở miền Đông Nam là một dai mién bién hẹp, dài 500 đặm, một bộ phận cấu
thành bán đảo Mã Lai Miền đất này Myanmar có bờ biển dài 3200km nên nghề đánh
cá rất phát triển Dòng sông Irrawaddy dài 2170km chảy từ Bắc xuống Nam đổ ra biển
Trang 3
Trang 9Luận văn tốt nghiệp
Andaman là trung tâm của đời sống và kinh tế của đất nước Sông này tạo nên một
vùng Châu thổ rộng 240km và dài 290km rất phù hợp cho việc trồng lúa Hai con sông
là Chindwin va Salween cũng đóng vai trò trong việc phát triển đất nước Con sông Salween dai nhất nước ( 2816km) là mạch máu trong hoạt động về chuyển gỗ
Động thực vật
Thực vật và động vật ở Myanmar rất phong phú và đa dạng Là đất nước có -
2/3 diện tích là đổi núi nhưng không có núi cao hiểm trở Trong đó có nhiều gỗ quí đặc biệt là gỗ tếch, là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gỗ tếch Ngoài rá còn có rừng tre, rừng cây cọ phát triển ở các khu vực đầm lây, ao hồ Ở rừng già nguyên
thủy còn có nhiều động vật quí hiếm như tê giác, voi, hổ, báo, các loại gấu, beo, chó rừng và khi ( có tới 12 loài )
Ul DÂN CƯ
Nếu như ở Ân Độ, người di cư tới qua các con đường trên miền núi phía Tây Bắc -
thì ở Myanmar, các con sông chảy theo hướng Bắc Nam ( ba con sông kể trên ) là con đường tự nhiên cho dân cư Trung Á tràn xuống các vùng đồng bằng Myanmar Một khi đã tới được vùng đồng bằng này thì họ có thể tránh được sự đe doa bên ngoài nhờ các dãy núi tự nhiên bao bọc xung quanh
Sự hòa trộn của những hoàn cảnh địa lý nói trên đã tạo nên 42 triệu người với nhiều sắc tộc khác nhau Theo dự đoán đến năm 2000, Myanmar có khoảng 48,8 triệu
người Mật độ dân số hiện là 61 ,6 người/km
Cũng giống như các nước khác ở Đông Nani Á, Myanmar là nước có nhiều tộc TgƯỜI trong đó người Miến là dân tộc chủ thể chiếm 71 3%, Con lại là các cộng đồng thiểu số khác Ngoài ra còn có cộng đồng người Hoa, người Ấn người Bangladesh và Pakistan
Về ngôn ngữ
Vì là quốc gia có nhiều tộc người nên có nhiều ngôn ngữ khác nhau (hơn 100
ngôn ngữ ) Tiếng Miến có quan hệ với tiếng Trung Quốc và Tây Tạng và là ngôn ngữ quốc gia chính
Về tôn giáo tín ngưỡng
Hiến pháp Myanmar đẩm bảo quyển tự do tín ngưỡng Người Myanmar, là cong |
đồng đông đảo nhất, hầu hết là tín đổ Phật Giáo và cư ngụ tập trung hai bên bờ sông
Irrawaddy ở miển Trung Myanmar Cộng đồng người Hoa thì có sự pha trộn hỗn hợp giữa Phật Giáo Tiểu Thừa, Lão Giáo, Khổng Giáo và thờ cúng tổ tiên Người Ấn theo
Ấn giáo, người Pakistan theo Héi giáo, người Chin, Karen theo Thiên Chúa giáo
IU LICH SU
Myanmar xưa kia là địa bàn cư trú của những tộc người khác nhau, ở đó lập nên
những quốc gia sơ kỳ với những diễn biến thăng trầm khác nhau Tộc người đến
Myanmar sớm nhất là người Môn Người Môn vào Hạ Miến qua đường sông Sittang
Tran g4
Trang 10Luận văn tốt nghiệp
và Salween vào khoảng lúc Thiên Chúa Việc xuất hiện các “ quốc gia “ nhỏ bé của người Môn trên đãi đồng bằng nhỏ hẹp giữa 2 con sông Sittang và Salween và ở Thaton, một hải cảng phía Nam Myanmar cùng với các bộ lạc Pyu ở miền Trung và người Miến ở phía Bắc Đến thế kỷ IX nổi bật lên trong số các quốc gia Mồn là quốc gia ở cửa sông Irrawaddy mà người Trung Hoa gol là Di Thần, các nhà buôn A Rap va
Ba Tư gọi là nước Môn cũng có vai trò quan trọng Do chưa phát triển hoàn chỉnh các quốc gia này sớm bị già cỗi và vào thế kỷ IX, X, XI, đã đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt bởi các quốc gia ở phía Bắc ( Nam chiếu ) phía Đông ( ĂngKo ) Lúc này người Miến cũng đã bắt đầu di dân vào lãnh thổ các quốc gia của người Pyu suy tàn Người Miến tiếp xúc với người Trung Quốc và đã học được cách đánh trận, thuật cưỡi ngựa, cày
“
cay
-1 Vương quốc Myanmar đầu tiên
Qua nhiều cuộc tranh chấp trong suốt 2 thế kỷ cho sự tổn tại của vương triểu Pagan Anawrahta là vua đâu tiên sáng lập ra vương triểu Pagan ( 1044 - 1287 ) thống nhất Ông bắt đầu mở những cuộc chính phục, mở mang lãnh thổ và đã thu phục các quốc gia láng giểng như Thaton, Arakan và các bộ lạc miễn núi để thống nhất đất
nước Thời kỳ này Phật giáo phát triển mạnh mẽ với hàng ngàn công trình kiến trúc, nghệ thuật Phật giáo được xây dựng và phát triển của nền kinh tế Vương triểu Pagan chấm dứt vào năm 1287 bắt đầu thời kỳ nội chiến chia cắt đất nước
2, Vương quốc thứ hai của Myanmar
Vào nữa đầu thế kỷ XVI vương quốc Toungoo ( 1531 - 1752 ) đã trở thành vương quốc hùng mạnh nhất Myanmar và là triểu đại tái lập sự thống nhất đất nước Dưới
sự chỉ huy của vua Tabinshehti ( 1531 - 1551 ), do thừa hưởng một vương quốc giàu có
và anh hùng đã liên tiếp mở các cuộc chính phục nhằm thống nhất Myanmar Nhưng
do thảm hại ở trận Siam và Arakan đã làm cho Toungoo suy yếu và ông bị người Môn nổi ¡Liên giết chết
Bayinnaung, em ré 1a người kế vị ( 1551 - 1581 ) đã thiết lập nên một đế chế rộng lớn chưa từng có trong lịch sử gồm Chiêng Mai, _Ayuthia, Lạng Xang Những cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức và những cuộc xung đột trong nội bộ giai cấp thống trị đã làm cho đế quốc Bayinnnaung sụp dé |
Trong thời Toungoo, kinh đô có khi đặt ở Toungoo (miền Trung sông Sittang), có khi đặt ở Pegu nhưng đến năm 1635 đã dời đô về Ava Trong gần suốt thế kỷ XVI Nhìn chung vương quốc Myanmar trong thời kỳ này đã phát triển một cách ổn định và thịnh vượng
3 Triều đai cuối cùng của Myanmar ( 1752 - 1885 )
Năm 1752 Alaungpaya bằng một loạt chiến dịch thắng lợi, đánh thắng quân
Môn, lập ra một triểu đại mới là Konbaungset Đây là triểu đại cuối cùng của
Myanmar Triểu đại này có công lớn đối với dân tộc qua cuộc kháng chiến anh dũng đánh tan nhiều đạo quân xâm lược Mãn Thanh vào năm 1769 và có ý thức trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước Sau 3 cuộc chiến với Anh, Myanmar đã trở thành thuộc
địa của Anh Cuộc chiến Anh-Miến thứ nhất vào năm 1824, Anh đã chiếm Arakan và
_ Trang 5
Trang 11Luận văn tốt nghiệp
Tenasserim Lần thứ 2 vào năm 1854, Anh chiếm Pegu Nam 1885, Anh chiếm phần
lãnh thổ còn lại của Myanmar Thời ky này, vị vụa cuối cùng của Myanmar, Thibaw phải sống lưu vong ở Ấn Độ Myanmar lúc bấy giờ bị nhập thành một tỉnh của Ấn Độ
thuộc Anh và SỰ Cai trị này kéo dài tới năm 1937,
4 Sự thống trị của Anh (1886 - 1947 )
Những cuộc nổi day đầu tiên của chủ nghĩa dân tộc nổ ra cùng với sự ra đời của
Hiệp hội Phật tử những người trẻ tuổi (YMBA ) năm 1906 Sau chiến tranh thế giới
thứ nhất, Anh buộc phải trả cho Ấn Độ một chút quyển tự trị khi các cuộc cải cách
Montagu Chelmsrd được phác thảo
Bị Anh khủng bố, lãnh tụ Thakin, Aungsan trốn đi tìm kiếm sự giúp đỡ của
những người cộng sản Trung Quốc nhưng lại bị Nhật bắt Thakin đồng ý hợp tác với
Nhật và Aung San cùng với “30 anh hùng“ của ông (rong đó có Nu và Newin) được Nhật Bản đào tạo trong cuộc đấu tranh du kích, Tháng12- 1941 quân giải phóng
Myanmar do Aung San lãnh đạo cùng với người Nhật đã áp đảo được quân Anh ở
5 Từ khi độc lap dén năm 1992
Thời kỳ cầm quyền của chính phủ Unu ( 1948 - 1962 ) đã xây dựng và phát
triển đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa Nhưng khi giành được độc lập, cuộc
tranh giành quyển lực đã nhanh chóng xói mòn uy tín của các chính Đẳng Thứ nhất _ cuộc chiến tranh đã tàn phá kinh tế của Myanmar Thứ hai, ban lãnh đạo mới phải đối đầu với vấn để sắc tộc - một đi sản của chính quyền Anh để lại Người Myanmar không xóa bỏ được những bất đồng vốn có trong các cộng đồng thiểu số, Người Karen
trong quân nổi dậy Unu biến đạo phật thành quốc giáo, làm trầm trọng thêm những
Trang 12Luận văn tốt nghiệp
mâu thuẩn giữa người Karen theo Cơ Đốc giáo và Kachin Thêm vào đó là những bất
đồng trong nội bộ đảng Nhưng bất đồng này trở nên trầm trọng vào thời điểm năm
1958 và cuối cùng đã làm tê liệt hoạt động chính phủ Unu buộc phải dựa vào tướng
Newin tim kiếm sự ủng hộ và chính phủ tạm quyền 18 tháng của Newin đã khôi phục
được trật tự và đảm bảo tự do và tổ chức thành công cuộc bầu cử công bằng vào năm
1960 Tuy nhiên các vấn để xung đột sắc tộc những khó khăn về kinh tế và mất ổn định chính trị trong Đảng cuối cùng và đã tạo cơ hội cho Newin trở lại nắm quyển
bằng cuộc đảo chính vào ngày 2/ 3/ 1962 Chính phủ mới do hội đồng Cách Mạng đứng đầu đi theo con đường Xã Hội Chủ Nghĩa
Năm 1974 hiến pháp mới đã được công bố sau một cuộc trưng cầu dân ý và
quốc gia được đổi tên là Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Miến Điện và đẳng cương lĩnh Xã Hội Chủ Nghĩa Miến Điện giữ quyển lãnh đạo duy nhất trong nước Theo qui định của hiến pháp, chính quyền dân sự được thay thế chính quyền quân sự
Do mâu thuẩn giữa các đảng phái, các dân tộc, tôn giáo với chính phủ ngày
càng lớn đã đưa đất nước vào tình trạng hỗn loạn Tuy nhiên chính phủ Newin đã chủ
trương thực hiện chương trình hòa giải dân tộc nhưng vẫn chưa giải quyết được những
đòi hỏi của lực lượng chống đối
Ngày 18 9 1988 quân đội dưới sự lãnh đạo của tướng Saw Maung đã giành
quyển lực trong một cuộc “đảo chính giả “ và thành lập hội đồng khôi phục trật tự và
luật pháp nhà nước ( SLORC ) Tướng Saw Maung trở thành người đứng đầu nhà nước
Chính quyển mới một lần nữa do quân đội nắm giữ Cũng trong thời gian này Aung
San Suu Kyi (con gái của vị anh hùng dân tộc - Aung San) trở nên nổi tiếng và thành lập liên đoàn dân tộc vì đân chủ ( NLD ) ngày 24 9 1988 đã trở thành tổng thư ký của liên đoàn này
Năm 1989 quốc gia một lần nữa đổi tên thành Liên Bang Myanmar ( Union of Myanmar ) và tuyên bố không theo con đường Xã Hội Chủ Nghĩa
Hội đồng khôi phục trật tự và luật pháp ( SLORC ) trong nhiều năm qua kể từ khi lên nắm quyền đã cố gắng củng cố quyền lực trên phạm vi toàn đất nước SLORC
đã chế ngự thành công phe đối lập và đang ngày càng có triển vọng tiến gần tới sự công nhận của quốc tế
Hiện nay thể chế chính trị của Myanmar là độc tài
quốếc gia là tướng Than Shwe
Bang Kachin (thi phu Myitkyina )
Bang Karen ( thủ phủ Pa-an )
Trang 7
Trang 13Luận văn tốt nghiệp
Bang Karenni (hoặc Kayah ) (thủ phủ Loikaw) BangMon ( thủ phủ Moulmein ) |
Bang Shan (thi phd Taunggyi)
Trang 14Luận văn tốt nghiệp
_CHƯƠNGHL THÀNH PHAN TOC NGUOI CUA MYANMAR
Ở các quốc © gia ở Đông Nam Á lục địa bản đổ ngôn ngữ của các dan tộc rất phức
tạp Liên Bang Myanmar có khoảng từ 30 đến 50 tộc người Các dân tộc ở Myanmar được chia làm 3 nhóm chính như sau :
Nhóm Tạng-Miến thuộc ngữ hệ Hán- -Tạng gồm các tộc người : Người Miến và tiền Miến Karen, Kachin, Naga, Nu, Lisu, Lahu, Akha : Nhóm ngữ hệ Tày “Thai có tộc người Shan, Lự, lào - Cùng nói ngôn ngữ này có người Khun
Nhóm ngữ hệ Môn - Khmer hay Austro - Asiatic có dân tộc Môn, Palaung, Wa,
Người Miến nói tiếng Miến (ngôn ngữ Tạng - Miến) và sống ở vùng trung tâm
đồng bằng của Myanmar Vào năm 1989 Liên Bang Miến Điện đổi tên thành Liên Bang Myanmar “Burman” là tên những người vùng này, trong khidé “Burmese” 4m chi là ngôn ngữ và văn hóa của những người vùng này và các công dân khác của
Myanmar Hầu hết người Miến đều là người trung thành với đạo Phật
Trung Quốc và Ấn Độ và cũng là biên giới của Thái Lan Vùng trung tâm đồng bằng được hình thành bởi sông Irrawaddy và sông Salween, là quê hương của người Miến Trong khi đó làng đổi xung quanh đồng bằng là nơi cư trú của người Karen,
Kachin, Chin, Shan và một vài bộ tộc nhỏ hơn Khí hậu bị ảnh hưởng bởi gió mùa và
mùa mưa kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10, tiếp theo là mùa lạnh và sau đó khoảng
tháng 4 hoặc tháng 5 là mùa nóng hoặc khô
- Năm 1992 dân số của Myanmar ước tính khoảng 42 triệu: người Theo phong điểu tra dân số, số liệu điều tra gần đây nhất ( 1988) khoảng 3 triệu Mức tăng dân số trung bình hàng năm là 3% Người nói tiếng Miến chiếm khoảng 71,3% tổng dân ‹ số quốc gia
Tiếng Miến là một phần ngôn ngữ Tạng-Miến Phân họ của Hán-Tạng Họ Tạng-Miến bao gồm Kachin, Chin, và nhiều bộ tộc ở biên giới Trung Quốc; Tai (nhiều ngôn ngữ địa phương khác nhau ở bang Shan) và một số ngôn ngữ Ấn Độ ở biên giới phía Tây cũng được nói ở Myanmar
Người Miến di cư từ Vân Nam vào phía Nam cùng với một vài nhóm văn hóa và
ngôn ngữ khác có cách đây hơn 3000 năm Người Môn, Tai, Miến (có số dân vượt
T1, rang 9
Trang 15Luận văn tốt nghiệp
vật linh Phật giáo Đại Thừa, Mật Giáo, Bà La Môn Giáo dẫn dan bj dao thải và loại
bỏ Đế chế này kéo đài hơn hai thế kỷ thì bị diệt vong - - -
Việc Kublai Khan xâm chiếm Vân Nam và phần đất cuối cùng của Đông Nam Á
đã làm cho ngôi vua không còn vững chắc, và sau khi thủ đô Payan bị sụp đổ, các chức vương đặt dưới sự thay đổi của các nhà thống trị người Môn, Tai, Miến đã nắm
quyền cai trị ở nhiều vùng trong nước Triều đại mới của người Môn được đặt ở Pegu
sau đó đã chuyển đến Ava
Việc buôn bán với người Châu Âu và những vụ tranh giành biên giới đã dẫn đến
ba cuộc chiến Anh-Miến Ngôi vua bị lật để và vị vua cuối cùng, Thibaw, bị đày sang _Ấn Độ, dưới quyền của Anh Miến Điện lúc này trở thành một tỉnh của Ấn Độ, Hạ Miến trở thành một trong những nơi xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới trong khi đó gỗ -
tếch, Rubi, và các sản phẩm khác tiếp tục vào thị trường thế giới
Việc phân công lao động là do người Châu Âu nắm giữ trong ngành kinh tế và
chính trị Nền kinh tế xuất khẩu này bị đao động bởi sự khủng hoảng kinh tế thế giới
vào những năm 1930 Với những giai đoạn khó khăn cùng với tỉnh thần yêu nước đã
dẫn đến cuộc nổi loạn Saya San, nhưng đã bị Anh ngăn chặn
_ Chiến tranh thế giới thứ hai Nhật đã chiếm đóng ở Myanmar và thừa nhận
Myanmar độc lập chỉ trên danh nghĩa Nhật huấn luyện “ 30 anh hùng “ trở thành những người dẫn đầu quân đội trong phong trào độc lập được sọ! là “ Thakin “ Năm
1948 Myanmar giành được độc lập và cố gắng xây dựng quốếc gia đã bị tàn phá bởi chiến tranh
Những người theo chit trương phân lập bị khuấy động bởi sự bất ổn về dân tộc từ những phong trào độc lập chính trị giữa những người Karen (KNDO) và nhiều Đẳng,
và có nhiều nhóm nổi dậy khác như là cuộc chiến về chính trị giữa những người Thakin và những thủ lĩnh người Miến khác Các anh hùng của phong trào độc lập, Aung San và các thành viên trong nội cát của ông đã bị ám sát bởi phe đối lập trước
khi đất nước độc lập Unu được bầu là thủ tướng nhưng những bất hòa về chính trị vẫn còn tiếp tục, những rắc rối về chủ trương phân lập, phe nổi dậy Người dẫn đâu Chính phủ tạm thời hay quân đội dưới sự lãnh đạo của Newin, giữ vai trò chính trong việc bảo vệ chính phủ Unu tái đắc cử Nhưng năm 1962 Myanmar ở trong tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, quân đội do tướng Newin lãnh đạo đã tiến hành cuộc đảo chánh
và chính phủ do Newin đứng đầu đã lãnh đạo quốc gia, mặc dù cuộc bầu cử gần đây
đã trao quyển hành cho một đẳng đối lập
Làng là nơi định cư chiếm đa số nhất Hơn 65.000 ngôi làng đã tạo cho Myanmar
là quốc gia có nhiều nông thôn Có 3 loại làng: O Thuong Mién, làng được bao bọc
Tran g 10
Trang 16Luận văn tốt nghiệp
bởi hàng rào cọc nhọn hoặc hàng rào Lối rào và lối ra phải qua cổng làng nhiệm vụ
của hàng rào cọc nhọn và hàng rào là bảo vệ làng Tuy nhiên có những cụm làng mà không cần hàng rào Những làng này không có quy luật và thường có ít các công trình xây dựng công cộng Sự khác nhau chính giữa các ngôi nhà là có một tầng hoặc hai tầng Tu viện luôn luôn được xây bên ngoài khu vực làng
Những cánh đồng thì ở xa làng, thường thì không phải đi xa lắm Những ngôi
nhà thì được xây Ở vườn cây trái Loại định cư thứ ba là những làng nằm dọc theo các con đường hay bờ sông Thành phố thì được thấy ở gần hay trên các dòng sông chính
Đó là hệ thống kênh trung tâm dùng để tưới tiêu và là mạng lưới giao thông.Yangon ( được đổi thành Rangoon ) hiện nay là thành phố chính của Myanmar và cũng là thủ đô
của Myanmar Mandalay là quê hương của các vua thời trước và cũng là thủ đô văn
hóa
2 Dân tộc Akha
Tên đồng nghĩa: Ahka/ Aka / Akka ; Aini / Hani / Houni / Woni ; Edaw, Ikaw /
Ikho / Kaw, Kha, Kho / Khako / Khoko nhủ
Akha liên quan đến những từ như “ Aykayza “ nghĩa là “ người Akha “ Ở Myanmar và Thái Lan, những người nói tiếng Tai gọi họ là “ Ekaw “ ( Ikaw/ Ikho)
- hoặc đơn giản là “ Kaw “ Người Akha coi những thuật ngữ này là xúc phạm “ Ko ”là
từ mà người Tai sử dụng ở Lào, thường bắt đâu bằng từ “Kha” nghĩa là nô lệ Người
Trung Quốc coi Akha như là Aini hoặc những người có liên quan như “Hani” ( một nhóm dân tộc thiểu số hính thức ) Những tư liệu từ thời kỳ thuộc địa phương Tây đã
sử dụng nhiều tên của dân tộc thiểu số như thế này nhưng những văn bản mang tính
khoa học hiện đại thì xem chúng mang tính dân tộc học
Người Akha sống trong những ngôi làng nằm rãi rác cùng với những nhóm dân tộc thiểu số khác trên những dãy núi nằm phía Tây Nam của Trung Quốc, phía Đông của Myanmar và phía Bắc Thái Lan và Bắc Việt Nam Vùng này là một bộ phận của
Châu Á gió mùa, từ tháng 4 đến tháng 8 có khí hậu ẩm ướt và sau đó là mùa khô
Số liệu dân số của Akha không đây đủ và không chính xác nhưng theo ước tính
tổng số dân cư có hơn 430.000 bao gồm 150.000 người ở Trung Quốc, 80.000 người ở
Myanmar ; 59.000 ở Lào, 10.000 ở Việt Nam và 34.541 ở Thái Lan (1988) Ở những
quốc gia này, dân tộc Akha là dân tộc thiểu số, sống gần những người định cư trong
thung lũng nói tiếng Tai (ví dụ: Lue, Shan, Thái,Lào ) Trong những thập niên gần đây, người Akha đã di chuyển xuống những vùng trung tâm thành thị
Những người Akha gọi là “ Avkavdaw” nghĩa là ngôn ngữ Akha Ngôn ngữ Akha
là ngôn ngữ thuộc giọng âm, thuộc nhóm ngôn ngữ Sino-Tibetan Nói chung ngôn ngữ học phân loại Akha vào nhóm Lolo phía Nam, trong nhánh Lolo-Miến Những ngôn
ngữ địa phương tổn tại nhiều nhất là Ieuugoev, được sử dụng ở phía Đông Myanmar và
không dễ hiểu so với những nhóm Akha khác Những từ vay mượn luôn bắt nguồn từ
ngôn ngữ Tai, thường là những thuật ngữ về kỹ thuật và chính trị chẳng hạn như “già
Trang 11
Trang 17Luận văn tốt nghiệp
làng” và “xe tải” Người Akha không có hệ thống chữ viết mang tính bản xứ, nhưng những nhà truyền giáo đạo Cơ Đốc đã phát triển nhiều chữ viết dựa trên tiếng Tai và tiếng LaTinh Việc nói và viết của người Akha phần lớn phụ thuộc vào người Cơ Đốc
giáo
Theo truyền khẩu địa phương thuật lại cuộc đi trú của người Akha tiến về hướng Nam vượt qua nhiều con sông và sống định cư 3 phia Bắc Những nhà nghiên cứu đồng tình quan điểm với người Akha là họ có nguồn gốc ở Trung Quốc Tuy nhiên họ cũng không đồng ý rằng qué hương nguyên tổ của người Akha là những vùng đất ở biên giới Tibê hay những vùng xa xôi Ở phía Đông và phía Nam của tỉnh Vân Nam, hau hét người 'Akha sống định cư ở phía Bắc i
Su tổn tại của những mối quan hệ được thiết lập với “hoàng tử” Shan của nước Kengtung nói lên rằng người Akha đã định cư ở phía Đông Myanmar trong cùng thập
núi với một con lộ nằm ở giữa Những con hẻm nhỏ hơn chạy dọc nối kết những
khoảng đất được rào của các hộ gia đình, khoảng đất bao gồm những hộ gia đình lớn
có thể có thêm nhiều tip lểu khác nữa ˆ
Những ngôi nhà truyền thống được dựng lên bằng gỗ, tre, tranh Nhà gồm 2 loại:
“loại thấp” được dựng ngay trên đất, “loại cao” là loại nhà sàn được dựng trên cây cột cao Người ta biết về người Akha với những khác biệt bên trong của gia đình giữa bên nam và bên nữ, cũng như là sự khác biệt giữa những ngôi làng: và những cánh rừng xung quanh Sự khác biệt này không còn tổn tại trong những ngôi nhà của người Cơ Đốc giáo
Mỗi người con sẽ được đặt một tên theo dòng dõi, trong cái tên ấy âm tiết cuối
của tên người cha sẽ được đặt làm âm tiết đầu của tên người con và sau đó một âm tiết khác sẽ được thêm vào
.Hệ thống đặt tên nối kết theo dòng họ của người cha là của dòng họ Tạng -
Miến là cách để nhớ về người cha và sự liên kết giữa cha với con Người ta nói rằng
một người đàn ông phải biết gia phả của dòng họ mình ít nhất 60 thế hệ và cả tên của các vị thần trước người đàn ô ông đẫu tiên
Thuật ngữ về dòng tộc là điều căn bản là sự khác biệt giữa dong đõi người cha,
người gã vợ và người lấy vợ Trong cuộc sống hàng ngày những thuật ngữ về dòng đõi được sử dụng cho địa chỉ thỉnh thoảng được theo sau bởi một tên
Trang 12
Trang 18Luận văn tốt nghiệp
3 Dân tộc Chin
Các tên gọi khác : Cuci, Khyang, Khyeng, Kookie, Kukie
Mac dù các cư dân nói tiếng Chin xét chung không có một tên thống nhất cho mình, nhưng các nhóm của họ dùng các từ dường như là biến dị của một từ Zo (yo, Sho) như ở La1zo, Mizo, Hyou, Asho Theo nhà nghiên cứu Lehman, chữ Zo có nghĩa
là “kém văn, minh”, trái với chữ “vai” nghĩa là “văn minh” và để ám chỉ đến người
Miến Tên này trong tiếng Anh chiết từ chữ “Chin” trong tiếng Miến viết là “Khyang”
từ này nghĩa là “bạn” và theo ông Luce có lẽ cũng muốn chỉ đến người Chin cùng được ghi lại là Khyang hay Khlang từ hồi thế kỷ 13 sau công nguyên Khyang vẫn còn _ được sử dụng cho người “Chin” ở Arakan và Chi Hagong Từ Khyang trong tiếng Anh xưa rõ ràng là có dính dáng với Khyang và Chin Trong tiếng Anh tên Chin được chỉ định cho những người này khi họ được nối đến trong bối cảnh Myanmar lúc đó Tuy vậy, quan hệ đầu tiên của người Anh lại từ phía Ấn Độ và trong bối cảnh này họ được goi la Kookie hay Cuci, tién than cia chi’ Kuki ngay nay Ti 2 cdi tén nay đã nay sinh hợp từ Kuki - Chin “Kuki” duc coi như từ chung và tổng quát nhất đối với tộc người này ở Ấn Độ và Đông Pakistan và do ở Tnức tổng, quát của nó nên nó cũng tương
- Người Chin chiếm phần nhiều khu vực phía Tây Myanmar và biên giới phía Đồng Pakistan và Ấn Độ khoảng 25° 30’ Bac va phía Nam Họ trãi dài về phía Nam đến dãy Arakan vào khoảng 182 Bắc Một số khác sống ở thung lãng Irrawaddy của
Myanmar từ khoảng 18°-20° Bac
\ Ngoại trừ thung lũng Manipur, đất sinh cư của người Chin là núi Các rặng núi chạy theo hướng bắc nam chạy đến cực Nam của dãy Arakan Dù là các núi cao tới 9,000 feet nhưng người Chin chỉ định | cư nhìn chung vào khoảng t từ 3.000-7.000 feet Khí hậu nhiệt đới gió mùa :
Theo tài liệu điểu tra dân số năm 1951, các người nói tiếng Chin ở Ấn khoảng 821.000( là ở Assam, Manipur và Tripura) Người Chin ở Pakistan ước tính khoảng 350.000 người Theo tài liệu điểu tra dân số năm 1931 thì người Chin ở Miến có
khoảng 344.000 người, 53% sống trên vùng lãnh thổ của “ vùng phân chia đặc biệt” Trong các nhóm được liệt kê vào cuộc điều tra dân số năm 1931, người Chin” không
đặc trưng “ ở thung lũng Irrawaddy khoang 55.000, người Khami ở phía Bắc Arakhan
và phía nam “ phân chia đặc biệt” khoảng 31.000 người Chinbok ở vùng phía Nam khoảng 20000 người các nhóm còn lại thì đân số quá nhỏ
Các ngôn ngữ của người Chin là (Tibeto - Burman) Tạng-Miến và nhà nghiên
cứu Gierson đã đặt vào nhóm Kuki-Chin bao gồm 2 nhóm nhỏ : nhóm ngôn ngữ Chin
và Meithei (Meithei bao gồm các nhóm bắc, trung, Kaki cũ và Nam) Mặc dù các mục
đích ngữ âm không được nhắc đến mà sự phân biệt giữa người Chin và Naga đã có
trước, bao gồm phân lớn các ngôn ngữ Naga trong phân nói về ngôn ngữ Kuki của
- việc phân các tiếng của người Miến Điều này cũng có thể là các đường phân giới
được chấp nhận về văn hóa vào khoảng 25°31’ Bac sé khéng được ap dung dé phan chia ngôn ngữ
- Trang 13
Trang 19Luận văn tốt nghiệp
Có lẽ người Chin đã ở vùng Hạ Miến về phía đông, vùng phân chia vào khoảng
giữa thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên Việc di chuyển sau này về phía Tây, về
vùng rừng núi là hậu quả của việc đánh nhau giữa người Miến và người Shan vào đầu
thế kỷ 16 Mặc dù đã không tìm ra dấu tích nào của việc ghi lại cuộc chiến của người
Shan và người Miến, ngoại trừ với việc gọi là việc buôn bán nô lệ một cách êm đẹp
Người Miến đã không xâm nhập vào thung lũng Chindwin Đạo Hindu được đưa vào thung lãng Manipur vào đầu thế kỷ 18, kết quả là đã có một cộng đồng người Chin
Phả lệ của người Chin vô tín ngưỡng ở miền núi có thể đã kéo đài từ tận đầu thế
kỷ 17, nhưng người Chin miễn núi đã có liên lạc với người Tây Phương và chính xác
là váo năm 1780 Các mối quan hệ này phát triển rất chậm và rộng rãi khi người Chin tấn công các khu vực hoa lợi Ava ở phía Đông Bengal và Arakan Với việc sát nhập vương quốc Miến năm 1885, người Anh đã chạm mặt với người Chin với toàn thể lực Trong những năm 1890 họ đã làm các cuộc viễn chỉnh đến các miễn núi của người _ Chin từ Miến, Arakan, Bengal và cả Assam Các cuộc tự vệ võ trang về phía người
Chin cũng tiếp tục đến 1918 Tiếp theo là việc tự quản lý là tuyển mộ binh lính, lao
động, được mở rộng dần dần ở các vùng núi của vùng Lushai phía Nam, điều này đã
thành công trước thế chiến thứ 2, và ở miền Nam khu phân chia thì trể hơn nhưng chưa
hết chiến tranh Thế giới thứ 2 Các nhà thừa sai Tin Lành bắt đầu hoạt động ở cả hai
phía biên giới Bengal-Myanmar vào cuối thế kỷ 19 Sau ngày độc lập 1948, Myanmar
đã thành lập khu phân chia đặc biệt cho người Chin, bao gồm các khu đổi núi của người Chín trước đây Arakan và vùng đổi nứi miền Pakoku Người Chin đã có liên hệ
và ở dưới sức ảnh hưởng của người Ấn và người Miến trong thời gian rất lâu ( chủ yếu
là người Bengal và Assam ) Ảnh hưởng của người Meithei lớn nhất là ở người Ấn và qua họ ảnh hưởng đó mở ra với các nhóm nhỏ của người Chin quanh vùng Manipur Ảnh hưởng của người Miến rất mạnh không chỉ trong vùng biên giới của Myanmar
ngày nay mà còn với người Chin ở Ấn Độ và Pakistan về phía Tây khu phân chia
Một số nhóm người Chin xây làng trên các đỉnh núi, một số khác lại thích ở trên
các triển đốc cao nhưng lại ở dưới đỉnh Các loại định cư có từ các làng lớn ở tập trung của người Lushai đến các ngôi nhà nằm rãi rác, cô lập giữa các núi đổi của người Chin
ở Manipur Trước đây người Chin ở vùng núi đã bao bọc làng của họ bằng hàng rào
cọc và các nhà khối ở ngoài cổng Người Bắc Chin rất hiếm khi rời chỗ; theo tập tục là
Ở cách nhau 7 đặm cho từng chỗ Làng lớn nhất ở vùng trung nam, khu phụ chia của
người Haka có tới 300 nhà Các làng của người Nam Chin thì cách nhau xa hơn và ít cố
định hơn Có một khoảng rộng cho việc cúng bái chung và gần đó là nhà của ông trưởng làng và nhà của các thành viên trong hội đồng cùng các cư dân giàu có trong
làng : CC `
Nhà của người Nam Chin chi ding tre va mây để xây nhà mặc dù đây đó vẫn có
nhà bằng ván gỗ và tường gạch Mái nhà thường thì bằng rơm Nhà của người Chin trừ
những người ở vùng xa phía Bắc khu phân chia thì thường xây nhà trên các cọc ( nhà sàn ) Sàn cao chừng hai mét Cấu trúc nhà thay đổi theo các nhóm khác nhau, nhưng
cơ bản là có một hiên, một phòng chính để nấu nướng và một phòng sau đành cho
việc ngủ nghĩ Mỗi phòng đều có lò sưởi Vật dụng bao gồm rỗ, mâm, nổi niều, dụng
Trang 20Luận văn tố! nghiệp
cụ nông nghiệp và đồ dùng máy móc và se chỉ Nhà người Chin lợp tranh, cột dựng bằng những thân cây to, vách và sàn làm bằng gỗ tấm
Người Chin theo phụ hệ Các nhóm đòng họ của người Chin thì có bà con về phía cha và tính theo phụ hệ Người Chin ở phía Bắc dòng đõi được xếp theo địa vị của người mẹ, ở miền Nam thì không phải như vậy Các dòng họ nhỏ thì được tập _ trung hóa ở một hoặc hai làng hay là một phường của một làng lớn gồm nhiều phường Những họ hàng đã được tập trung hóa này thường có tên Bà con bao gồm ‹ cả một hệ
\
dòng tộc và dòng dõi được tìm thấy ở những người Meithei
Gọi tên của một dòng họ đã được các nhà nghiên cứu đưa ra các gọi tên bằng tiếng Haka :
| “Tên đông nghĩa : Dashan, Jinghpaw, Khangm, Sunghpo, Theibaw |
Từ Kachm có từ chữ Jinghpaw “ Gakyen” có nghĩa là “ đất đỏ”, một vùng đất
thung lũng của 2 nhánh sông thuộc thượng lưu sông Irrawaddy với sức tập trung lớn
nhất của các thử lĩnh xưa đầy quyền lực Kachin có liên quan tới nhóm người nói ngôn ngữ Tạng - Miến Những người chính của nhóm này là Jinghpaw, ngôn ngữ của họ là
ngôn ngữ franca ( thứ ngôn ngữ để hiểu nhau ) mà họ gọi là “ Jinghpaw Waupaung Amyu Ni” ( Jinghpaw và những người quan hệ ) Singhpo là đồng ho Hukawng ở phía
Bắc Ấn Độ có quan hệ gân với những người thủ lĩnh Ahim ở Assam từ thế kỷ 13
-_ Người Miến gọi họ là “ Theibaw”, “ Khang” là tên mà người Shan dùng để gọi, người Kachin và “ Dashan” là tên người Trung Quốc gọi họ Kachin bao gồm Maru, Atsi (Kachin ở Vân Nam ) Lashi và những người nói ngôn ngữ Rawang của nhóm Nung Lashi, Atsi và Maru được gọi là Maru Dangbaw ( nhánh Maru ) 6 Jinghpaw
Ving Kachin 6 Myanmar trai dai vé hướng Đông tỉnh Vân Nam Trung Quốc, hướng Nam hướng vào vùng Shan của Myanmar và hướng Bắc hướng vào Assam Những đường biên giới của lãnh thổ Kachin ở giữa 23 và 289 v ï độ Bac, 96° va 99° vi
độ Đông Những người Kachin có xu hướng sống ở phía Đông và từng phần trung tâm Atsi, Lashi và Maru hầu hết được tìm thấy ở các phan ( ving ) doc theo biên gIỚI
Tenia 15
Trang 21Luận văn tốt 1agliệp
Vùng núi thô SƠ bị cắt ngang bởi những vùng thung lũng hẹp Những vùng này cũng có người Shan, người Miến và người Kachin mà họ bị ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Kachin Ở phía Bắc có những đỉnh núi cao 5000m nhưng việc định cư của TƯười Kachin là khoảng từ 1200đến 1900m Hai thành phố quan trọng của bang Kachin Ở Myanmar là MyitKyina và Bhamo ở độ cao 330m Ở những đỉnh núi cao thường có tuyết rơi Mùa mưa bắt đầu từ giữa tháng 6 đến tháng 10, lượng mưa trung bình từ 190 đến 254cm Trong những tháng mùa đông có chút gió mùa để giữ rừng già, được màu xanh và thực vật, thức ăn hoang đã có thể được gia tang
Không có những báo cáo dân số chính xác vào những thập niên gần đây Ở Ở Myanmar Theo dự đoán, năm 1950 ước tính tổng dân số Kachin có lẽ là hơn 1 triệu người bao gồm ở Vân Nam có hơn 100000 người và Ấn Độ khoảng 1000 người Mật
độ dân số phân bố không đòng đều, khoảng nữa đân số của lãnh thổ hiện nay ở bang Kachin và hơn 1⁄4 tất cả người Kachin sống ở phía Bắc của bang Shan
Tất cả những ngôn ngữ Kachin đều có nguồn gốc từ Tang- -Miến như Jinghpaw
và những tiếng địa phương khác ( ở miễn Nam, Sinli là ngôn ngữ chính tiêu biểu của
các trường ở các thành phố Phamo và Myitkyina; Mungun ở Assam; Gauri ( Hkauri ) ở phía đông và Hkaku ở Tây Bắc ( được coi là vùng đất đỏ ) đã trở thành ngôn ngữ độc
lập Trong khi đó Maru Dangbau là một nhánh ngôn ngữ LoLo trong nhánh LoLo- Miến thì Nung ít được sử dụng trong thành phần Tạng- -Miến -
Trung Quốc có nhiều để cập về người Kachin 6 Van Nam vao thé ky 19 Trong
cuốn sử biên niên có những sự việc liên quan không rõ ràng về những người Singhpo
của vương triểu Ahom ở Assam đến đâu thế kỷ 13 Trong khi đó nhà nghiên cứu
Lehman cho rằng nguồn gốc Kachin là những lãnh địa của vùng đất đỏ, trở thành
phạm vi chỉnh phục của các nhà buôn bán Tây Tạng từ vùng Putao Tuy nhiên những
điểm gồc lịch sử đầu tiên bắt đầu từ cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 Sự trãi rộng này
đã kết hợp với sự mở rộng dân tộc của dân tộc nói tiếng Shan -Tai ở những thung lũng
trong vùng và những dân tộc có liên quan, quan hệ với Kachin Trong phần từ vựng Tinghpaw có sự vay mượn ngôn ngữ Shan nhiều hơn các ngôn ngữ khác Hầu hết dân
tộc học bắt đầu từ những công việc của các nhà truyền giáo đạo Tin Lành từ Mỹ và Thiên Chúa Giáo từ Châu Âu Họ đã bắt đẫu công việc ở Bhama vào cuối thế kỷ 19 rồi sau đó tiến tới vùng Kachin của bang Shan rồi tiến vào phía Bắc để đến Myitkyina
Sự mở rộng lãnh địa định cư của người Kachin về hướng Đông và hướng Nam thì khi
- đó người Kachin luôn bám sát người Trung Quốc về sự phát triển các xe cẩu hàng trên
đất liền và đặc biệt là sự mạnh mẽ về thuốc phiện, từ đó đã dẫn theo hệ thống chính
trị của Gumlao ( Gumlao nghĩa là những nhà quí tộc gây phiến loạn ) tiếp theo là sự xâm nhập chính trị Người Kachin đã mang theo sự phát triển giàu có từ việc buôn
bán, đánh thuế vào những đổ đạc trên xe tải hàng, vì thế đã dẫn tới sự đương đầu giữa người Shan, người Kachin và khoảng cách của các công quốc Kachin Nó còn chỉ ra
được sự phát triển quyền lực chính trị tương tự như thời kỳ trước ở vùng “ đất đồ “ Trong cuộc chiến Anh-Miến lần thứ 3 vào năm 1885, trong khi Anh có ý định chiếm
Mandalay thi Kachin cố lợi dụng, thời kỳ sụp đổ của Hoàng gia Myanmar và nghĩ rằng
Anh sẽ thất bại ở Mandalay, khi đó họ sẽ là người đầu tiên chiếm Mandalay Trong suốt thời kỳ Đế quốc Anh ở Myanmar và Ấn Độ, hầu hết người Kachin là người quản
Trang 22Luan van tot nghiép
lý vùng biên giới Những vùng tam giác, phía Bắc từ Myitkyina, giữa 2 nhánh sông
của Irrawady không được quản lý cho đến khi Nhật chiếm đóng vào năm 1942 Từ khi
Myanmar giành lại độc lập từ năm 1948 thì bang Kachin là thành viên của Liên Bang Myanmar lúc đó và trong thời gian trước khi cuộc đảo chánh quân đội (1962) tổng
thống được bầu là Sama Duma Sinwa Nawng, thủ lĩnh của Kachin Tuy nhiên, trong
cuộc đảo chính, người Kachin là yếu tố chính trong việc nổi dậy của nhiều dân tộc chống lại chính phủ Myanmar khắp các vùng miễn núi của biên giới Myanmar, Trung Quốc, Thái Lan, đã dẫn đến việc mở rộng những cộng đồng Kachin vào phía Bắc Thái Lan - :
Hầu hết làng của người Kachin đều nằm trên núi cao, ở địa thế có lợi về phòng thủ, tầm quan sát rộng, tạo được thế chủ động trong trường hợp bị tấn công
Những làng Kachin theo truyền thống có ít hơn 100 hộ và có những làng lớn hơn
tổn tại bảo vệ, che chở nhưng nhu cầu công nghiệp đã dẫn tới sự phân đoạn của làng
Trước kia nhiều nhà được làm bằng những cây cọc ở lối ra vào có rào xung quanh Có
3 kiểu nhà trong vùng :
Nhà đơn của những thủ lĩnh, người nấm quyển ở những vùng đất rộng, nhiều làng mạc thường dài 30m, rộng 1Om, thường tọa lạc trên những thểm đất cao trên núi
Vì gia súc được coi là tài sản riêng nên họ không nuôi chúng trong nhà chung Ở một
số nơi định cư của các nhà tiên phong Gumlao đi trước có một số nhà chung dài với
cấu trúc phức tạp, thì hoàn toàn tách biệt với các hộ cá nhân và gia súc cũng được nuôi
riềng Chính những căn nhà dài này là tượng trưng sự hợp tác tự nhiên của luật Gumlao
| Những người Kachin còn lại tiếp tục sống trong những căn hộ cá nhân Nguồn nước là một thành phần nguy cấp trong làng, nhưng ở những làng lớn có mục đích bảo
vệ tốt thì thường tránh xa nguồn nước Hầu hết các làng phải đi xuyên qua những khu rừng nhỏ đầy linh thiêng được đánh dấu u bằng những đến miếu, nơi các đợt cúng bái thường được tổ chức
Một kiểu nhà khác còn tổn tại đến ngày nay là kiểu nhà kho, những cột, xà nhà làm bằng gỗ, sàn nhà và vách được đan bằng tre, nứa, mái nhà được lợp bằng tre, cỏ Những công việc trong nhànhư đan, Xây gạo thì được làm ở đầu hồi nhô ra ở trên cửa nhà, còn bên dưới để giữ thú Bên trong nhà được ngăn đọc ra, bên trái gồm những phòng ngủ, bên phải để nấu ăn, nơi để đổ và là nơi giải trí, Phần cuối của căn nhà là
nơi của những tâm hồn người chết mà chưa về mảnh đất thứ ba Trước nhà là bàn thờ
VỚI nhiều đổ cúng được đặt trên một cọc hình X Trên nóc nhà của những nhà quí tộc thường được trang trí như hình một cặp sừng Bên trong những cây cột cũng được chạm khắc để biểu hiện sự thịnh vượng Ngoài ra, còn có một đầu trâu làm vật cúng vào thời điểm cất nhà Nhà của người Kachin có hai lối đi : lối đi chính phía trước dành cho cả chủ lẫn khách và lối đi phụ phía sau dành riêng cho chủ
Nguồn gốc Kachin thì không thể biết Có nhiều bộ tộc trao đổi với nhau bằng tên bộ tộc với những ngôn ngữ khác nhau Có 5 bộ quí tộc bắt nguồn từ những người
con trai của Wahkyet-Wa - người con trai út trong số những tổ tiên của người Shan,
Trang 23Luận văn tốt nghiệp
Trung Quốc và các dân tộc khác Những người anh em này là con cháu của Ningawn-
Wa mà ông là con trưởng của thần Madai Những bộ tộc quí tộc trước kia là Marip, Lahtaw, Lahpai, N’Hkum và Maran Chúng được chia ra thành những dòng dõi chính :
và đặc biệt cho tới khi luật kết hôn với người ngoại đạo được ứng dụng, mặc dù theo
lý thuyết các bộ tộc được quyển kết hôn với người ngoại đạo Ở một số vùng, kiểu lập
gia đình được gọi là “hkaw wang magam” thì rất bình thường, nó cho phép việc cưới xen vào trong dòng dõi nằm trong bốn đời Trong những trường hợp nhự vậy, việc lập gia đình 4 đời chỉ xảy ra riêng trong dong: dõi đó và tiếp tục xảy ra
Theo Jinghpaw, người vợ không có địa vị trong dòng dõi và bộ tộc bên ì chồng Nhưng ở Gauri thì ngược lại và điều khác biệt này tương đương với những khác biệt trong việc tự do ly dị và lấy lại tình nhân bằng cách chỉ trả
5, Dân tộc Karen -
“Các tên gọi khác: Kareang, Kariang, Karieng, Kagin, Yang
Theo lịch sử từ của Myanmar được viết “Karen” có thể bắt nguồn từ chữ-
“Kayin” nó nói đến một nhóm người đặt trưng ở mạn Đông Myanmar và mạn Tây của
Thái Lan Việc hình thành “Karen” trong thực tế bao gồm nhiều nhóm phụ khác nhau, mỗi nhóm có ngôn ngữ riêng của nó và có tên riêng, Sgaw và Skaw liên hệ đến
những ngôn ngữ trên như “Prakenyaw”” Thuật ngữ Pwo nói về chúng là “Phlong hay
Kê phlong” Người Miến xác nhận Sgaw và Kariang để chỉ đến Pwo Họ chỉ là những
người sống chủ yếu ở miền Nam của Sgaw Từ Karen có thể được đưa từ Myanmar
đến Thái Lan là do những nhà.truyền giáo Thuật ngữ “White Karen” đã được xác nhận là người Karen thuộc Cơ Đốc giáo của vùng đổi Sgaw Các nhóm phụ quan trọng khác bao gồm Kayah và Pa-O Trước khi Myanmar độc lập, thuật ngữ của người Miến
để chỉ Kayah là “Kayin-ni” mà từ điểm này là” Karenni”, tiếng Anh là Red Karen Những nhà nguyên cứu đã đánh dấu các giới hạn của việc nhận diện, xác minh người Karen ở thời kỳ đầu tiên dựa trên căn bản là ngôn ngữ và tên, việc chú Lý để nhận diện người Karen đó TA st su kết hợp giữa nhiều điểm : ngôn ngữ, tổ chức chính tri,
xã hội tôn giáo và văn hóa Số dân nói tiếng Karen trong bộ tộc này có thể khác nhau
Những điểm lợi thế về chính trị, xã hội được coi là nổi bật hơn trong bản sắc của
người Karen, hơn là phân biệt các dân tộc thiểu số Một số bản viết đương thời để hỏi
về nơi chốn của người Karen quan trọng hơn tín ngưỡng của người Karen, trong việc phân biệt về ngôn ngữ của họ như là một điểm văn hóa hơn là họ nghiên cứu trên phân Diệt ngôn ngữ
Cho đến giữa thế kỷ 18 người Karen sống chủ yếu ở các vùng đổi núi của phía
Đông Myanmar, nơi đó có nhiều đổi núi chạy dọc theo những thung lũng trải dài từ
Bắc đến Nam, từ dãy Bilauletang và Drawma, dọc theo hệ thống sông Salween đến các vùng cao nguyên của Shan Ngày nay, người Karen cư trú ở cả Myanmar và Thái
Lan trong lãnh thổ khu vực 10° và 21 vĩ độ Bắc và giữa 94° và 101! vĩ độ Đông Việc định cư của Karen được phát hiện theo chiều dài của Tenasserim vào cao nguyên Shan
từ 10” Bắc kéo đài đến 21? Bắc Hầu hết người Karen sống ở Myanmar, cả trên cánh đồng lúa ở vùng thấp và các-vùng đổi núi Họ sống với cư dân ở đồng bằng Irrawaddy
Trang 18
Trang 24Luận văn tốt nghiệp
5,
thuộc khu trung tâm và ở những thung lũng Irrawaddy và Sittang, từ bờ biển đến
khoảng 19° vĩ độ Bắc và ở khu vực Tenasserim Các ngôi làng Karen nằm ở ba môi trường vật lý phân biệt : thứ nhất là các đồng bằng ở vùng đất thấp của Irrawaddy, Sittang va cdc déng bang Salween và bờ biển Tenasserim, thứ hai là Degu Yoma là
một day đổi giữa Irrawaddy va Sittang, thứ ba là vùng cao nguyên Shan
Karen là “bộ tộc” thiểu số lớn nhất ở cả Myanmar và Thái Lan Mặc dù cuộc điều tra dân số mới đây ở Myanmar chưa thực hiện được, nhưng dân số của họ ước
khoảng hơn 3 triệu người so với số liệu điều tra dân số năm 1931 là 1.350.000 người Khoảng 1/3 dân số Karen ở Myanmar sống tại khu vực hành chính hoặc bang Karen Người Karen Sgaw với dân số hơn một triệu, định cư trên các vùng núi của bang Karen, vùng cao Shan và một số ít hơn ở ở vùng châu thé Irrawaddy va Sittang Người Karen Pwo (khoảng 750.000) sống chủ yếu ở vùng Irrawaddy Người Pa-O sống phần
lớn ở vùng Tây.Nam của bang Shan Người Kayah hoặc Red Karen với khoảng 75.000 người hầu như sống toàn bộ ở bang Kayah, một bang nhỏ nhất ở Myanmar Các hoàn cảnh chính trị và kinh tế đêu gây ảnh hưởng đến vấn để nhân khẩu Từ đầu những năm 1980 từ 10.000 đến 20.000 người Karen từ Myanmar đã đến sống trong các trại tị
nạn ở Thái Lan Ngoài Myanmar và Thái Lan còn có một cộng đồng người Karen nhập cư tại Bakersfield, California
Một vài nghiên cứu vé ngôn ngữ Karen đã được thực hiện trong một thời gian
_ gần đây, có nhiều mối liên quan trong nhóm ngôn ngữ Karen, mac dù nó được công
nhận rộng rãi rằng trong nhóm gốc thuộc Hán-Tạng, tất cả các nhóm phụ ngôn:-ngữ
- Karen có liên hệ với nhau Pwo và Pa-O hình thành 1 nhóm, với Sgaw và những ngồn
ngữ có liên quan hình thành một nhóm khác Có rất nhiều cuộc tranh luận về ngôn
ngữ Karen Có nhóm cho rằng Karen rơi vào nhóm Tạng-Miến Nhóm khác cho rằng Karen là sự khác biệt Hán-Tạng hay Karen có một liên hệ ngôn ngữ với tiếng Thái
Và quan điểm chung nhất là ngôn ngữ Karen là một nhóm nhánh của họ ngôn ngữ _Tạng-Miến
Những ngày tháng đầu tiên sơ khai của người Karen còn là một vấn đề bàn cãi, _ đã có rất nhiều giả thiết liên quan đến cuộc di cư của họ |
Người Karen bắt nguồn ở phía Bắc, có thể trên những đồng bằng ở vùng cao của
trung tâm châu Á và có thể sau người Môn nhưng trước người Miến, người Thái và
người Shan đã đi đến Myanmar và Thái Lan bấy giờ Nền kinh tế đốn rừng, phát rẫy chỉ cho thấy sự thích nghi ban đầu của cuộc sống ở trên núi 8 thế kỷ sau cồng nguyên,
những ghi chép cho thấy đề cập đến Cakraw ở trung tâm Myanmar, những người đã
được nối kết với người Sgaw hiện đại Thế kỷ 17, những người Thái để cập đến Kariang nhưng sự nhận điện của họ không rõ ràng Cuối thế kỷ 18, những người nói
tiếng Karen đầu tiên sống trên những đổi núi phía Nam của vùng Shan và phía Đông
của Myanmar Họ phát triển mối quan hệ với các nền văn hóa đạo Phật xung quanh
của người Shan, Người Miến và người Môn là những người đã chinh phục người
Karen Trong suốt thời kỳ nổi loạn giữa Myanmar, Vân Nam và các vương quốc Siam
.Ở nữa sau của thế kỷ 18 thì người Karen với những bản làng của họ nằm dọc theo các
tuyến quân sự Nhiều người Karen định cư ở những vùng đất thấp và mối quan hệ của
Trang 19
Trang 25Luận văn tốt nghiệp
họ với người Miến và người Thái (Siam) đã dẫn đếm sự áp bức trong tâm tay của những người đầy quyền lực Các nhóm -Karen đã có những nổ lực và đã có những thất bại với mục đích tự trị và ngay cả việc chuyển định tôn giáo và chính trị
Những người Karen đỏ hay Kayah đã sáng lập sự lãnh đạo ma diéu này đã giúp
nó tổn tại từ những thập niên đầu của thế kỷ 19 đến sự kết thúc của chính quyển cai trị Anh Quốc Những nhà truyền giáo Mỹ và Anh đã đến Myanmar sau việc sát nhập của người Anh với vùng hạ Miến Nhiều người Karen đã gia nhập vào Cơ Đốc giáo,
đã có một mối quan hệ khác biệt với người Anh, dựa trên những sở thích về chính trị
và tôn giáo được chia sẻ Trước thế chiến thứ hai, họ đã đại diện cho cộng đồng hợp pháp người Miến Hoạt động của những nhà truyền giáo Cơ Đốc là yếu tố quan trọng nhất trong sự trỗi đậy của chủ nghĩa quốc gia Karen qua sự phát triển về trường học, truyền thống văn hóa Karen - Trong chiến tranh, người Karen vẫn luôn trung thành với người Anh sau sự xâm chiếm của Nhật Bản, vấn để “ác cảm” ngày một gia tăng giữa người Karen và người Miến, những người bị đẩy lài bởi người Nhật Sau chiến tranh Anh quốc chuẩn bị cho Myanmar độc lập, khối đoàn kết quốc gia Karen đã thắng cử việc tự trị, nhưng sau khi Aung San bị ám sát vào năm 1947 làm cho hy vọng của Karen về sự độc lập bị tan vỡ Từ khi Myanmar độc lập vào năm 1948, mối liền
hệ của người Karen với Myanmar là hình thức chính trị đầu tiên Những bang Karenni
cũ trở thành bang Kayah Vào năm 1952, chính phủ Myanmar đã sáng lập bang Karen với thủ phủ là Pa-an
Những bản làng Karen bao gồm nhà cửa và kho thóc Đối với người Karen vùng Cao gồm 23 ngôi nhà trong một bản làng Ở vùng cao và vùng thấp của những bản làng Pwo - Karen thì đòng họ gia tộc lập thành những ngôi nhà Thực tế này xuất phát
từ ngôi nhà đài truyền thống c của Karen
Lịch sử việc định cư của Karen chỉ rằng việc quan trọng của ngôi làng như một cộng đồng, đôi khi vị trí của bản làng bị thay đổi nhưng họ vẫn g1ữ tên bản làng và nét riêng của nó
Đơn vị tiêu biểu của bản làng là nhà gồm khoảng 5 đến 7 thành viên Trong thập niên 20 của thế kỷ 20 đã mô tả những ngồi làng mà được cư trú từ 20-30 gia đình Cả nhà dài và nhà riêng lẻ ở những ngôi làng trên đổi được làm từ tre, đôi khi bằng ván (gỗ), nhà lợp bằng mái tranh và cân được tu bổ lại chỗ mới trong vài năm sau đó Những ngôi nhà trên thung lũng cao rất chắc được làm từ gỗ, cây và xây tường bằng những tấm ván, mặc dù thỉnh thoảng họ dùng tre Ngày nay, mái tranh lợp hàng năm đang được thay thế bằng những tấm tôn Ở những đồng bằng, các bản làng của Karen
ở Myanmar thì việc làm nhà đựa theo kiểu mẫu của người Miến vùng đất thấp Từ xưa đến nay, hầu hết nhà của người Karen ở Myanmar và Thái Lan là nhà sàn với mục đích là để bảo vệ và phòng tránh lũ lụt và thú: hoang, và là chỗ nấp cho thú nuôi trong
Cố nhiều tranh luận liên: quan đến hệ thống đòng tộc của Karen, Hé thong nay mang tính nổi bật nhất như một hệ thống song phương với mẫu hệ Một số người có liên quan mẫu hệ tham giá vào một số lễ nghĩ hướng \ về thần linh, tổ tiên Người đứng đầu là người phụ nữ lớn thổi nhất
Trane 20
Trang 26Luận văn tốt nghiệp
Hệ thống song phương của người Karen không mang lại một nhóm dòng dõi
nhưng là một bộ phận trong mối quan hệ xã hội Mẫu hệ nói cách khác chỉ cho thấy sự nối kết gia phả của một người đối với các thân tích của người mẹ Một người đàn ông:
.Karen và một người phụ nữ liên hệ trực tiếp với nhau qua một cặp chị em không lập
gia đình vì họ là thành viên có cùng mẫu hệ Mặc dù một người đàn ông trong mắc
xích dòng tộc họ có thể lập gia đình
Thuật ngữ học về dòng dõi Karen hoàn toàn giống các nhóm phụ khác Một
người được coi công bằng với anh bố, mẹ (cậu, chú) đối với ông bà nội và ông bà cố người đàn ông cùng tổ tiên được đối xử công bằng và cả người nữ cũng vậy Có nhiều thuật ngữ riêng biệt cho các thế hệ, việc đối xử công bằng các trẻ con trong mỗi thế
hệ Ego gọi anh chị em chỉ bằng thuật ngữ theo thứ tự được sinh ra Ego công bằng với tất cả các-anh em họ, nhưng có thể thêm một hoặc hai tiền tố vào để phân biệt với người dưng Con của họ công bằng với các anh em họ của chúng Thứ tự khi sinh ra
cũng rất quan trọng, nhưng thường chỉ được sử dụng trong thế hệ lên hoặc xuống thứ nhất
_Năm 1989 ước lượng có khoảng 481 000 người Lisu 3 Trung Quốc, 250.000 người Lisu ở Myanmar, khoảng 480 000 ở Thái Lan và vài trăm người ở Ấn Độ
Tiếng Lisu nằm trong nhóm LoLo của họ ngồn ngữ Tạng- -Miến (Tibeto-Burman)
có quan hệ gần với tiếng Lahu, Akha,Yi với nhiều từ mượn của người Vân Nam Hầu
hết người Lisu đều nói trôi chảy được vài thứ tiếng, đặc biệt là Vân Nam, Lahu, Shan, Yuan (Bắc Thái Lan) và Akha Cũng có loại chữ viết đo các nhà truyền giáo người Anh và người Trung Quốc sáng tạo ra, nhưng chúng ít được sử dụng Vài người Lisu có
khả năng đọc và viết tiếng Thái hay tiếng Trung Quốc ¬"
_ Có truyền thống cho rằng nguồn gốc của họ bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng Người Lisu được nhắc đến giữa "các dân man đi phía Nam” vào những buổi đầu lịch sử Trung Quốc và các sử biên niên như Manshu Người Trung Quốc coi họ như một
nhánh nhỏ cửa người Hán cân phải được bình định và đồng hóa Điều này giải thích
cho một các tên rất xúc phạm được đặt cho họ và giải thích hai khuynh hướng thấy rõ trong quan hệ Sino-Lisu: một mặt là sự cùng tổn tại hòa bình, trao đổi văn hóa, thương
Trang 21
Trang 27Luận ăn tốt nghiệp
mại, cưới xin Mặt khác là chiến tranh, các cuộc đột kích, bắt cóc, cướp giật, nô lệ, đàn
áp, nổi loạn Người Trung Quốếc đổi muối, sắt, bạc và thực phẩm lấy sáp ong, mật gấu, sừng nai, đa, được thảo và ván hòm Ở các vùng định cư của người Trung Quốc ˆ
như Tengych và về phía Nam, người Lsu bị đánh thuế, lao dộng khổ sai và được chỉ
định làm chỉ huy (tussu) và nhân viên của triểu đình (Tunuu) có lẽ là vào đầu nhà
Hán
~ Sau khi nhà nước dân chủ nhân dân Trung Hoa ra đời, các đơn vị quân đội và cán bộ chính phủ điều hành khu vực của người Lisu và và khu tự trị Nuchiang Lisu Sự bãi bỏ chế độ nô lệ, cải cách ruộng đất, bỏ các loại nợ được ra pháp lệnh năm 1956 Ảnh hưởng của người Trung Quốc đến nền văn hóa Lisu đáng kể là trước năm 1969, bằng chứng là sự chấm dứt hẳn việc trồng thuốc phiện, giới thiệu và mở rộng việc tăng canh, bón phân, tưới nước, đắp đê, các dụng cụ mới, cầu đường, trung tâm y tế,
trường học, đa dạng hóa kinh tế, các tổ chức cứu trợ hỗ tương, hợp tác xã và sự phát
triển về ý thức chính trị trong cán bộ người Lisu, binh lính và các Đảng cộng sản
Sự di trú của người Lsu phía Nam và phía Đông vào Myanmar, Ấn Độ, Thái
Lan, chắc có liên quan đến việc trồng cây thuốc phiện và mối quan hệ ngày càng xấu '
đi với Trung Quốc vào thế kỷ 19 Các biện pháp bình định của người Trung Quốc vào
cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 làm cho việc cư trú của người Lisu sang Myanmar sau
đó Thái Lan và Ấn Độ Người Lisu rat thich nghi với việc học ngoại ngữ cũng như cách sống của những người xung quanh rất nhanh Đặc biệt một số người ở Myanmar
và Thái Lan đã cưới người Trung Quốc, Lahu, Kachin, nhận ra được sự tương đồng hư cấu của các thị tộc Lisu và dòng giống với các người của các nhóm thiểu số lân cận Người Trung Quốc ở các cửa hàng, các chuyến buôn trong các làng của người Lisu và
họ đã làm chủ các chợ địa phương Người Lisu cũng đã phục vụ trong quân đội Anh- Miến, quân đội giải phóng dân tộc các nhà truyền giáo Công giáo và Phật giáo không mấy thành công VỚI người Lisu
Ngoại trừ các làng mạc ở thung lũng đã hội nhập văn hóa sâu đậm ở Trung Quốc
và Thái Lan, các làng của người Lisu nằm trên các sườn đổi từ 1300-3000m VỊ trí như
vậy cần phải có đủ nước, nước thường đựng trong các ống tre vì sống quá gần nguồn
nước sẽ bị các con ma quấy phá Sự chia cắt với các nhóm thiểu số mà người Lisu
không có thiện cảm lắm, đất trồng trọt tốt và nguồn lao động sẽ là những điều đáng
quan tâm ở các làng định cư Thái Có một sự lưu chuyển về dân số trong các làng của
người Lisu cá nhân, gia đình và các nhóm hay thay đổi nơi 3
Kích cỡ của làng thay đổi từ 5 đến hơn 150 nhà, trung bình ở Thái Lan là 26 nhà
Cái lều cho thần làng chiếm chỗ cao nhất và các nhà bên dưới quay mặt về hướng con suối gần nhất, cửa chính phải mở về phía đưới sườn đổi Nhà cửa có thể xây trên cọc
hoặc sát đất, việc này là do ảnh hưởng của người Trung Quốc Tường và sàn bằng tre chẻ, mái rơm Một cái thùng có chứa đất dùng cho việc nấu nướng Nơi ở ngủ cho các cặp vợ chồng là ở các góc nhà, một góc cho con gái chưa chồng và cho con trai chưa
vợ được ngủ ở sàn của gian nhà chính Thú vật được nuôi ở dưới nhà hay các c chuồng
Trano 22
Trang 28
Luận văn tốt nghiệp
Người Lisu chia ra thành nhiều thị tộc hay nhóm chung họ hàng có tính tổ tông, ngoại hôn với các nhóm phi địa phương hóa, khá phân Diệt 1 với niềm tin tôn giáo, lễ _ lộc, tinh thần của bộ tộc và sự sắp đặt ban thờ tổ tiên
Zo được đặt theo sau tên cây và tên động vật t như bya(ong mat), dzuh(kiểu mạch) Một Zo nào đó được xác định là thị tộc của người Trung Quốc phân biệt với thị tộc thật của người Lisu: Cang, cu, ‘ho, il, tao, tsdo, wang, wu va yang Mac di mét Zo không có một tổ chức thích hợp, chưa bao giờ là một đơn vị và trên lý thuyết thì bình đẳng trong vị trí với các Zo khác, các khả năng thù hận giữa các thị tộc, mâu thuẩn địa
vị Sự kết tội phù thủy chống lại thị tộc luôn luôn có Người ta tìm kiếm đồng minh, láng giểng và đám đồng từ các c thành viền Zo
Cae tên riêng của họ hàng người Lisu dùng các tên riêng của họ Hauwian, điều này phản ánh tầm quan trọng của sự khác biệt giữa các thế hệ
II THUỘC NGỮ HỆ TÀY-THÁI
tiếng Shan có nghĩa xấu Người Trung Quốc gọi tộc Shan sống ở phía Nam Trung Quốc là “Dai” hoặc “Pai-I” Có một số nhóm Tai khác nhau sống ở vùng này(Nam
Trung) gồm Tai Lu, giống như Bắc Thái; Tai mao giống như 'Tai Long mà họ tự coi
mình là”Tai Nu” (Bắc Tai) hoặc “Tai Khe” (Tai Trung Quốc) Một số ở Kengtung,
Myanmar tự nhận là “Tai Khun”
Tộc Shan trãi rộng ở các thung lũng miền núi ở phía Nam Trung Quốc, phía Đông Myanmar (bang Shan) và phía Bắc Thái Lan Phần còn lại của Châu A gió mùa,
có một mùa khô hanh (nóng) từ tháng 2 đến tháng 6, mới bắt đầu có mưa Nó kéo dài đến tháng 1O hoặc 11 sau đó là mùa lạnh đến tháng 2 Ở những vùng cao của Myanmar và phía Bắc Trung Quốc còn có sương lạnh
Những cuộc điều tra dân số hầu như vô nghĩa: Theo báo cáo từ các cuộc điều tra dân số của Anh năm 1931 dân số tối thiểu là 1,3 triệu dân Shan ở Myanmar Những con số về điều tra dân SỐ của Thái Lan không có dân số của Shan bởi vì hầu hết họ là công dân Thái Lan
‘Trane 23
Trang 29Luận văn tốt nghiệp
về mặt ngôn ngữ, người Shan nói tiếng Thái có liên hệ với tiếng Miến và tiếng Lào Tai Long, Tai Mao, Tai Khun, và Tai Lu đều có chữ viết khác nhau Tai Long thì giống chữ Miến, Tai Mao thì một phần giống Tai Long, Tai Khun và Tai Lu thì giống |
Bắc Thái Chữ viết này chủ yếu dùng trong các văn bản tôn giáo và các sử biên niên
của tòa án Hầu hết mọi người đàn ông đều tập đọc và tập viết khi được nhận làm tín
đồ hoặc tu sĩ, nhưng cũng có một số phụ nữ học đọc và viết
Tộc Shan di tan khỏi Nam Trung Quốc khoảng năm 1000 sau công nguyên sau
đó thành lập nhiều bang nhỏ ở miền núi phía Bắc Myanmar Các “ông hoàng” Shan cũng dính líu vào hoạt động chính trị của vùng này, phải nộp cống cho Myanmar Trung Quốc và Chiêng Mai qua nhiều thời kỳ Sau khi Anh chiếm Myanmar, đa số các bang Shan vẫn nộp cống cho Myanmar mặc đù càng ngày nhiều bang ở phía Đông thiết lập tình hữu nghị với Chiêng Mai và trung ương Thái Lan Lúc này có 18 bang chính được các “ông hoàng” lãnh đạo có 25 bang khác do các quan chức bé hơn nắm quyền Trong suốt thơi kỳ thuộc Anh, các bang của Shan bi cai tri gián tiếp qua những
“ông hoàng” quyền hành Cũng trong thời gian này biên giới được vạch ra một cách
chính thức để tách biệt dân Shan ở Thái Lan khỏi dân Shan ở Myanmar Vào ngày Myanmar độc lập, các bang của Shan được thống nhất thành “liên bang Shan” Từ thập niên 50, người Shan ở Myanmar đã tiến hành một cuộc giao chiến quân sự để
giành quyển kiểm soát vùng này Mục đích của họ là lập một bang thống nhất để được
gia nhập với một bang đã bị thay đổi của | Myanmar Dân Shan ở Thái Lan không tham chiến trong vụ này
_— Các làng mạc của Shan tập trung khoảng 10 đến 500 hộ hose nhiéu hon
Quan hệ dong tộc là mối quan hệ 2 bên Quan hệ họ hàng không phải là nguyên tắc tổ chức trong xã hội Shan Họ chấp nhận một phạm vi rộng về họ hàng đối với dòng họ ‘ của họ cũng như với những ai đối xử với họ như là có họ hàng
Những thuật ngữ về họ hàng phân biệt rõ những liên quan về tuổi tác và giới
tính khác với những từ chỉ anh em ruột thịt và anh em của cha hoặc mẹ Những từ chỉ':
quan hệ họ hàng chủ yếu được dùng để xưng hô bởi vì người Shan không gọi tên người khác mà không có một “từ xưng hô” hoặc tước hiệu đi kèm Cho dù khi dùng tước hiệu như “thay” hoặc” sư phụ » người ta vẫn thêm một từ quan hệ vào trước
II THUỘC NGỮ HỆ MÔN-KHMER (AUSTRO-ASIATCO)
Đân tộc Palaung
Các tên gọi khác: Dang, Humai, Kunloi, Laeng, Palong, Raang, Rumai
Trong khi cái tên Palaung nguyên nghĩa tiếng Miến thì người Palaung tự gol mình là”Ta-ang” cùng với nhiều biến dạng phương ngữ của các tên này Người Shan gỌI họ là ”Palong” hay”Kunloi” (người núi) Cái tên “Rumai” hay ”Humai” thỉnh thoảng cũng được đặt cho người Palaung nhưng thực chất là chỉ định đặt biệt cho một nhóm phụ trong dân tộc của họ
Người Palaung được tìm thấy 8 các bang- Shan c của vùng , Trung Bong Myanmar ma phan đông là ở bang Taungpeng (khoảng 239 Bắc và 979 Đông) Họ > cling có mặt 3 cdc
Trang 24
Trang 30Luận văn tốt nghiệp
bang phụ cận như Hsipaw, phía Bắc và phía Nam Hseuwi, Mongmit, phía Nam bang
Kengtung Người Palaung cũng được tìm thấy ở miền Nam bang Kachin va miền Viễn
Đông Nam Vân Nam, Trung Quốc Họ chiếm một vùng ở độ cao 2000m, chia cắt bởi -
những thung lũng hẹp Đặc trưng là khí hậu Đông Nam Á gió mùa
Chưa có số lượng chính xác về dân số của người Palaung ở Myanmar nhưng năm
1931 tổng đân số Palaungước tính khoảng 140.000 người
Sự phân loại ngôn ngữ chính xác cho người Palaung vẫn chưa làm được Tuy vậy cũng có thể tiếp nhận là các phương ngữ đa dạng của ngôn ngữ Palaung thuộc nhóm Môn-Khmer trong họ Austroasiatic Trong văn học, Người Palaung thường được ghép với người Wa, một nhóm nói tiếng Môn-Khmer ở miền Thượng Bắc và họ được trích
dẫn như một nhóm đơn lễ Palaung-Wa và dường như không có sự phân nhánh nào giữa họ Tuy vậy các nhà nghiên cứu cũng cho rằng cả hai nhóm không nhận thấy bất
kỳ sự phân nhánh nào
Có lẽ người Palaung định cư trước người Shan và người Kachin trong vùng trung
tâm phía Đông và phía Đông Bắc Myanmar Trong suốt thế kỷ 19, Taung peng, nơi
tập trung chính trị của người Palaung, sự thống trị của người Shan ở kế bên, và mối quan hệ giữa họ và chính quyền Miến còn ở ngoài lể hơn Dù có quan hệ phụ thuộc
và buôn bán với người Miến, nhưng ảnh hưởng văn hóa lớn nhất đối với người Palaung là người Shan Mặc dù có nhiều từ mượn tiếng Miến trong tiếng Palaung nhưng tiếng của người Shan là ngôn ngữ viết của người Palaung và là ngôn ngữ chung
không chỉ cho người Palaung, người Shan, người Kachin và các nhóm phụ cận mà còn
giữa các nhóm phương ngữ người Palaung nữa
Vài tài liệu sử ký của người Palaung còn giữ lại được viết bằng tiếng Shan và hầu hết các người lớn tuổi Palaung đều nói được tiếng Shan Tuy nhiên, vì các nhóm dân tộc nhỏ, họ rất bảo thủ và cố gắng nổ lực công khai để bảo tổn các đặc trưng văn hóa của họ, điều này cũng có nghĩa là người Palaung cũng chỉ thay đổi tương đối ít
trong vòng 60 năm qua
Người Palaung sống tại các làng nhỏ tọa lạc trên các đỉnh đổi hay trên các triển
đổi Các làng có cỡ từ 2 đến 50 nhà, nhưng trung bình là 10 nha Nha 6 doc hai bên
đường cái Ở các làng lớn hơn các nhà bổ sung nằm trên triển hướng xuống dưới đổi
Trung tâm của làng bao gồm các khu vực chợ, một nhà cư trú cho khách, một tu viện
và một công trình xây dựng để các tượng Phật Ngoài ra còn có một kho thóc và một
miếu thờ hổn Các làng trước đây còn có một hàng rào để bảo vệ Nó đóng cửa vào
ban đêm và vài nơi còn đán bùa hay kinh phật để trừ bệnh tật Cũng có các nhà phụ ở
trong vườn trà, chúng được sử dụng vào mùa hái trà khi hầu hết dân làng đi làm thêm
để hái trà và sử lý trà Các nhà được đặt trên cọc có chiểu cao thay đổi từ 3 đến 12
feet tùy triển đổi, khung, sàn, tường ngoài và vách ngăn thường bằng tre, hay nếu ai
có điều kiện thì làm bằng ván gỗ Mái nhà lòc xòe ra đất vài feet, thường thì làm bằng nhau Bên đưới nhà là hàng rào để nuôi gia súc Các nhà có chiểu dài từ 9 đến
24m, tùy theo số gia đình sống chung Ở các vùng của người Palaung ở Taung peng, một hay tối đa là bai gia đình trong một nhà (ở phía Nam Trung Quốc có từ 3-6 gia
đình sống chung) Các nhà một gia đình, các mái hiên của mỗi bên nhà được dùng làm
Trang 25
Trang 31Luận văn tốt nghiệp
cửa và các công việc bếp núc Ở các nhà hai gia đình, mỗi bên riêng trổ cửa riêng chơ
mỗi gia đình Các phòng phụ nhỏ hơn dùng để ngủ và chứa đồ đạc Phòng trước và
phòng ngủ đều có chỗ nhóm lửa nhưng thường thì không trang trí gì
Người Palaung đặt tên nhóm bao gồm một nhóm dân lớn trong một vùng kế cận nhau Mặc dù có báo cáo là các làng của nhiều tộc khác nhau ở cạnh nhau và thành viên của các tộc sống phân tán trong các làng Các tộc khác nhau về phương ngữ có rất nhiều luật tục khác như luật cưới xin, sự tìm hiểu, thủ tục hôn nhân, đặt tên và
trang phục của phụ nữ Tuy nhiên vẫn chưa có các thông tin nhiều về dòng tộc
T rang 26
Trang 32_ Luận văn tốt nghiệp
CHUONG Ill KINH TE VÀ TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI
CÁC TỘC NGƯỜI CỦA MYANMAR
'A THUÔC NGỮ HỆ TANG - MIẾN
1 Kinh tế
a Những hoạt động kinh tế
Hoạt động kinh tế của người Miến được chi phối bởi nền văn hóa lúa nước Hầu
hết các vụ mùa giờ đây bị cạn kiệt Nền công nghiệp xuất khẩu bị co lại dưới sự tập
trung kiểm soát của quân đội Ở vùng cao các loại lúa được trồng phổ biến ở vùng
Thượng Miến và ở những vùng đổi núi thì công nghiệp cắt đốt được áp dụng Lúa
được sẩy bằng cách tung lên trong một cái nia hoặc lắc cái nia đã được ráp sẵn ở sân
Họ trồng nhiều loại lúa và để phân biệt chúng, người ta dựa vào ngày lúa chín Những
người nông dân thường trồng một lượng nhỏ lúa (gạo) dẻo cho những mục đích đặc
biệt Người Miến trồng nhiều loại hoa màu và cây ăn quả như đưa, các loại đậu, khoai,
cà chua, cà nâu, hành tỏi, ớt chuối, xoài và cam quít Những loại này được trồng ở vườn nhà, tất cả được tưới bằng nước giếng Ở những vùng đất khô có sự chuyển hóa đáng kể trong mỗi mùa để được phù hợp từng vùng như cây bông, cây thuốc lá, cây đậu, ớt, cây hành, vừng, bắp và cây kê Gần các thị trấn thì có các khu chuyên về nghề trồng rau cải và hoa
-Câu cá, săn bắn, hái lượm:
Cá muối hay các hình thức chế biến của cá nhảo và sốt cá là các món ăn không
thể thiếu của người Miến Nông dân bắt tá ở các ao, suối hay ở những cánh đồng
nhưng các loại cá chế biến hay cá tươi được mua ở chợ Cá được đánh bắt bằng các móc câu và các sợi dây, các loại lưỡi câu khác nhau Việc săn bắn không mấy quan
trọng, nó vừa là nguồn thực phẩm và cũng là một môn thể thao Họ thường săn bắn
` các loại hươu, heo rừng và chim .Họ sử dụng súng hay các loại bẫy để săn thú Thực phẩm được dùng trong bữa ăn được hái ở trong rừng hay vườn nhà hay trên đồng
Gia súc và trâu được nuối để kéo cày và là công cụ trên đồng Việc nuôi gia cầm, vịt để ăn thịt và bán thì bị giới hạn Có lẽ vì theo đạo Phật nên hạn chế \ việc sát
sinh Ở các thị trấn, ngựa được dùng để kéo xe
-Thực phẩm và nước uống:-
_ Có 2 bữa ăn chính trong một ngày Khoảng từ 9 giờ sáng và khoảng 5 giờ chiều Giống như người Việt Nam món ăn chính là cơm Cơm được ăn với canh cải cá thịt hầm, một hay nhiều món càri, thật ra canh cải thỉnh thoảng được bổ sung thay cá hay thịt, rau xà lách và những gia vị như ớt, cá nhão Luộc hay chiên bằng dầu mè hay dầu
Trang 27
Trang 33Luận ăn tốt nghiệp ©
đậu là phương thức phổ biến để chuẩn bị bữa ăn Thịt thường được sử dụng trong bữa
ăn là thịt heo.và thịt gà Hầu hết người Miến ăn cá, và họ không thích ăn cá biển Họ thích ăn trứng và ít khi ăn những sản phẩm có sữa Gạo đẻo được nấu vào mùa gặt như
một bữa ăn thân mật cho những người xuống đồng hoặc được dùng để chế biến các
loại bánh mứt Suốt một ngày, một kỳ trung bình sẽ ăn vài bữa ăn nhẹ như bánh ngọt,
đậu hoặc của người bán hàng rong trong làng hay ở chợ Cả đàn ông và phụ nữ đều
hút thuốc lá và nhiều loại thuốc cổ truyển khác và họ bắt đầu hút khi đã lớn tuổi,
khách của làng thì sẽ luôn được mời ăn cau, uống trà, rượu
Hầu hết các làng đều có một thợ mộc và một thợ rèn, có nhiều người trở thành
thợ đóng xe bò (ngựa), làm và sữa chữa những loại dao lớn cũng như những dụng cụ
nhỏ hơn khác Nhiều nghề thủ công như ép dâu, làm tranh lợp nhà, làm chiếu bện để làm tường nhà hoặc sàn nhà Nghề làm rỗ, may vá, chặt cây đốt than làm mức và bún
gạo lên men hoặc những việc bán thời gian và toàn thời gian của người nông dân Có
nhiều làng làm dé gốm, sơn mài, dù, dệt (mặc đù ngày nay đã có những sản phẩm nội
địa hay công nghiệp máy móc nước ngoài) Đánh bắt cá và chế biến cá Một số nghề đòi hỏi làm bởi nhiều người và mất nhiều thời gian như nghề vàng bạc, tìm kiếm đồng
thau nghề thợ nể, làm đổ gỗ, nghề tiện đục đá, vê và dát ngọc và các ngành nghề -
khác Ngoài ra còn có khai thác các giếng dầu ở Trung Miến Việc khai thác đá, đá vôi, chiết xuất và xử lý quặng là điều không đáng kể trong cộng đồng người Miến
c Buén ban
Với sự chuyển hóa của từng -vùng trong nông nghiệp và các nghành chế biến cá,
nghề thủ công, thương mại là một phần quan trọng trong nên kinh tế của Myanmar
Ngoài việc buôn bán trong nước, Vài thế kỷ gần đây, người Miến đã có mối giao dịch thương mại với các nước làng giéng như Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Campuchia Việc buôn bán được thực hiện ở các chợ trong làng và thị trấn Ở các hội chợ, các lễ hội chùa chiển Sau đó tập trung tất cả những sản phẩm nông nghiệp đó cho lên tàu để phân phát cho những người môi giới và những người bán lẽ Ở những làng lớn hơn và những thị trấn cũng có những người bán hàng rong thường là phụ nữ, họ sẽ bán những
sản phẩm ngay trong làng họ hay dùng những sản phẩm của nhà họ hay chị ta mua ở chợ nhưng không có nghĩa là chỉ có họ điều khiển kinh doanh Việc buôn bán của
người phụ nữ chỉ là việc phụ trong vai trò gia đình của họ
d Phân công lao động
Đàn ông chuẩn bị đất để trông và gieo lúa Đàn bà cấy lúa Cả đàn ông và đàn
bà đều gặt lúa Đập lúa là công việc của đàn ông và sẩy thóc được làm bởi đàn bà và đàn ông Việc đệt vải và may quần áo là công việc của phụ nữ, cũng như việc dọn, rửa chén và chuẩn bị thức ăn, mặc dù người đàn ông chia công việc chuẩn bị thức ăn
vào những dịp lễ hội Những người công nhân làm nghề kim hoàn, nghề đếo đá hay
gỗ là của đàn ông nhưng nghề gốm, nghề đan rỗ, được làm cả hai phía Buôn bán lưu động hoặc ở các chợ thì cả hai đều làm Vận chuyển hàng hóa bằng tàu và bằng xe bò
là nghề của giới nam -
Trang 28
Trang 34Luận văn tốt nghiệp
H DAN TOC AKHA
1 Kinh tế |
a Những hoạt động kinh tế
Thức ăn chính yếu của người Akha là cơm Người Akha bón phân bằng cách đốt
và cắt cây lúa Lúa gạo phụ thuộc lượng mưa và độ ẩm Rau quả gồm các loại bí ngô, đậu bap cải, tất cả được trồng trên những cánh đồng lứa Ngô, ớt, đậu nành, vải sợi được trồng ở những cánh đồng khác Nơi nào có lượng nước có sẳn và đủ thì người Akha làm những cánh đồng tưới bằng lưỡng nước có sẵn Trong thế kỷ vừa qua, sợi tơ -_ và cây thuốc phiện là những vụ mùa trao đổi chính yếu, gần đây hơn còn trao đổi cả
ớt, đậu nành,bắp cải, cà chua Những văn bản truyền khẩu để cập đến việc người Akha đi xuống những vùng đất thấp, đồng bằng để mua muối và sắt Những mặt hàng này vẫn còn tìm thấy trong những chợ ở các thung lũng cùng với các hàng hóa tiêu dùng khác Việc thu nhập các loại trái cây hoang dại, nấm và các cây ăn được đóng gop vao nguồn cung cấp thức ăn cho người Akha Trong việc săn bắn súng được thay thế cung nỏ, ngoài ra còn làm nhiều bẫy thú Người Akha dùng lưới và bẫy để bắt cá
Heo, ga, vit, dê, bò và trâu nước cũng được nuôi
b Mỹ thuật công nghiệp
Người Akha làm đũa và các vật dụng khác trong gia đình từ cây tre Nhiều loại
16 được đan từ tre và mây Gần đây hầu hết quần áo được làm từ sợi tơ, được quay ở nhà và vài được nhuộm bằng thuốc nhuộm chàm ( có màu xanh thẫm) Những màu thêu và trang sức trên áo của người đàn ông và phụ nữ là nét độc đáo của nhóm người
- Akha chẳng.hạn như những chiếc nón tuyệt vời của người phụ nữ được trang điểm bằng các đổ trang sức bằng bạc, hạt cườm và lông khỉ Người Akha rất giỏi về lĩnh vực này
Mỗi ngôi làng truyền thống phải có ít nhất một thợ rèn để rèn những cái đao
bằng sắt, những cái cuốc và những dụng cụ khác Thợ bạc thì rất hiếm Người Akha tham gia làm công ở các vùng cao nguyên và đồng bằng
Trang 29
Trang 35Luận văn tốt nghiệp
Ắ Buôn bán
Một hay nhiều gia đình trong n một làng có thể mở một cửa hiệu trong nhà của họ,
để buôn bán gồm thuốc lá và dầu lửa Thương gia va những người ở đồng bằng hay Ở cao nguyên ở Vân Nam Trung Quốc, họ đến mua gia câm và trao đổi hàng hóa hoặc bán mền và các hàng hóa khác Ở vùng cao nguyên, nhiều con đường được mở ra, các thương gia đến các bản làng của người Akha bằng xe tải nhiều hơn là đi bộ
d Phân công lao động -
Săn bắn là hoạt động biểu tưởng để chứng tổ nổ lực của nam giới còn việc trồng
trọt lứa gạo đều được cả hai phái làm, mặc dù tiêu biểu là hoạt động của phái nữ Công việc sửa soạn cơm nước là của phụ nữ nhưng các ông thường nấu trong các buổi tiệc lớn Đan, đệt và may vá cũng đều là hoạt động của phái nữ Sự phân biệt lao động mang tính cách giới tính này được lưu truyền trong tôn giáo của người Akha
2 Tổ chức xã hội - chính trị
a Tổ chức xã hội |
Không có tình trạng phân biệt giai cấp, các tầng lớp xã hội Akha là một xã hội bình đẳng Sự nối kết của dong đõi người cha và việc lập gia đình hình thành nền tẳng của xã hội nối kết các cộng, đồng Akha Tuổi tác liên quan mạnh mẽ đến tổ chức xã hội, những người lớn tuổi luôn được tôn trọng Làng là một đơn vị xã hội, nền tảng mà các thành viên của nó tổ chức việc trồng trọt và các nghi thức xã hội khác
b Tổ chức chính trị
Theo truyền khẩu nói về các “ông hoàng” ở các vùng thị trấn thì việc tổ chức chính trị thuộc các bản vẫn cứ vắng mặt Một sự cư trú không thể thành lập nếu như không có người đứng đầu bản làng Ngôi nhà của già làng được xây đầu tiên Việc này được làm theo truyền thống và phải được các cụ già phê chuẩn Trong suốt thế kỷ vừa qua và những thập niên đầu của thế kỷ này, các cộng đồng người Akha thỉnh thoảng mang một sổ ảnh hướng của các “ông hoàng” vùng đồng bằng
Những người đứng đầu bản làng chịu trách nhiệm trông coi một ngôi làng riêng biệt hoặc một vài bản làng, họ được các “ông hoàng” này bầu lên Trong khi đó người lãnh đạo bản làng theo truyền thống chịu trách nhiệm về việc buôn bán trong các bộ lạc, còn người đứng: đầu bản làng tạm thời giữ một hệ thống quản lý hành chính quốc gia hiện đại
Trang 30
Trang 36Luận văn tốt nghiệp
một ngành kinh tế bên trong địa phương là nền kinh tế tổn tại dựa trên nông nghiệp
- và một ngành kinh tế bên ngoài là buôn bán với người miền núi
Vụ mùa chính của người Meithe1 là lúa, một vụ một năm trên ruộng tưới nước
được canh tác kỹ Giữa các người Chin ở phía Bắc Myanmar, bắp được trồng trên các
ruộng bậc thang là vụ mùa chính Giữa các người Chin ở phía Nam, Lushai va Lekher
ở Ấn Độ gạo được canh tác ở ruộng bậc thang Tuy vậy vẫn có vài nhóm người Chin trồng lúa nước ở các vùng thung lũng Vụ mùa phụ của người Chin phía Bắc còn có kê
và gạo được sử dụng chủ yếu trong các lễ hội Họ cũng trồng thêm rau, củ, bầu bí, mía
và khoai mỡ, khoai môn, hành ngò, bông vải và thuốc lá Chuối, hành tỏi, ớt và cây
thuốc nhuộm chàm được trồng trong vườn nhà
.- Ñgười Chin định cư ở làng cách nương ray khoảng 8 dam 'Chúng được phát quang vào mùa lạnh, đốt vào khoảng tháng 3-4, xới lên bằng cuốc và gieo hạt bằng
- đài Mỗi nhà làm từ 3 đến 6 mẫu Ruộng tốt nhất đối với người Chin phía Bắc có thể
sử dụng được 3-4 năm, việc bỏ hoang từ 7-9 năm Các ruộng xấu hơn thì canh tác một năm và có thể phải dành 40 năm để khôi phục Người Chin phía Nam dùng ray trong
vòng một năm và bỏ hoang 12 năm
Nghề cá và săn thú là những tín hữu đạo Hindu Người Chin miền rất thích nghỉ
nghề cá, cả từng cá nhân hay cả nhóm Họ bắt cá bằng bẫy, lưới và dao chọt, bằng cái
dờ và thuốc cá ở các đập nước săn bắn là một thể thao phổ: biến và đóng vai trò có ý nghĩa trong các hoạt động lễ hội của người Chin Người Chin có thể săn một mình (với _ chó) hay theo toán, sử dụng súng, cung tên để săn chim, sóc hoặc dùng ná Các dụng
cụ săn bắn khác là bẫy sập, bẫy hầm Họ săn rất nhiều thú, nhưng voi, tê giác, và bò
- rừng thì không tìm thấy ở lãnh thổ người Chin Họ nhặt lá dại, măng non, khoai củ dùng làm thức ăn chay Ngoài ra, còn nhặt sáp ong để bán ra ngoài
Người Chin miển núi trổng bông vải rồi thu hoạch, kéo sợi, đệt bằng cửi và
nhuộm Nghề gốm thì sử dụng cdi vé va cdi đe Ngoài ra còn có nghề kim hoàn, nghề
chế tạo kim loại đúc chuông và đồng thau bằng qui trình khép kín Rất nhiều loại rổ, mâm và sàn, đệm đều làm từ tre và mây Dây thừng được chế tạo bởi một số loại cây
Để dùng gỗ gồm các vật dụng trong nhà Sơn được dùng để trang trí nhà cửa, không _ có nghề làm da hay lông thú Đổ mỹ nghệ của người Meithei đa dạng hơn Vải được
dệt trên máy dệt; nghề mộc rất công phu bằng gỗ hay ngà, kim loại quý và làm khóa
e Buôn bán
Việc buôn bán với từng nhóm người Chin miễn núi có khuynh hướng thay đổi
cùng với độ tiếp cận của nó đối với các nhóm khác hay với thị trường bên ngoài, đặc biệt việc mở rộng buôn bán thành cửa hàng thì bây giờ mới có Ở các đổi núi mặc do việc chuyên nghiệp hóa nghề nghiệp ở mức cá nhân hay cộng đồng đã có nhưng việc mua bán hàng hóa ở mức độ lớn bao gồm cả những sản phẩm của phương Tây được Myanmar nhập vào Theo truyền thống, người duy nhất chuyên biệt hóa theo nông
nghiệp hoàn toàn là chỉ có thợ rèn Một số làng chuyên về nghề kim loại, gốm, đệt
¡ Ở đó không có chợ, hàng hóa lưu thông qua trung gian các con buôn đường dài,
Trang 31
Trang 37Luận văn tốt nghiệp
chuyển nhượng của cải của cô dâu hay cướp bóc trong thời chiến.Thật khó mà nhận ra
được là việc mua bán với các nên văn hóa lân cận đã cân bằng như thế nào trước khi :
có sự xâm chiếm của người Anh Xuất khẩu hàng hóa dường như không có giới hạn
'Tầm quan trọng của mậu dịch đối với người Chin miễn núi là sự thiếu vắng của một
nên kinh tế tổn tại hoàn chỉnh được giá bởi tất cả hàng hóa kim loại cuối cùng lại dựa
vào nguồn cung cấp nhập khẩu (mua vào) Ngoại trừ con mithan (chỉ dùng cho việc cúng tế) và một loại vải, tất cả những thứ đồ quan trọng trong việc cúng bái đều phải
Đàn ông va dan ba Chin đều tham gia đều nhau về công việc trừ ra chỉ có đàn ông đi săn; làm nghề rèn Một vài khuynh hướng phân chia lao động có thể kể đến như phụ nữ giả và xẩy thóc, lấy nước và củi và làm đổ gốm Đàn ông xây nhà, làm rỗ
rá và buôn bán ngoài khu vực người Chin Cả hai phái đều đi rẫy nương và thu hoạch
vụ mùa cả hai đều nấu nướng hàng ngày là công việc của phụ nữ Một số nhóm đàn - ông không đệt vải trong khi vài nhóm khác cả hai phái đều có thể làm việc này
2 Tổ chức xã hội - chính tri
Riêng những người Meithei nói tiếng Chin vốn dã có một nhà nước truyền
thống Tổ chức Manipurmà đứng đầu là một vị raja dường như là có quan hệ chặt chẽ,
mật thiết với quân đội và có một cơ cấu giống như một chế độ phong kiến dựa trên quyển lực cá nhân hơn là sự tổn tại thuộc địa Việc thành lập những tổ chức chính trị chuẩn mực cho làng xã của người Chin ở phía nam Myanmar đường như đã bị quên lãng Thật ra, những vùng trong cùng một làng có thể xây ra chiến tranh với những vùng khác mà thường thì không có cơ quan chính trị mở rộng ở làng xã Mỗi người ở mỗi khu định cư hay khu vực đảm đương như một vị lãnh đạo trong việc triệu tập các
vị trưởng tộc và lão làng trong các mục đích tư pháp và đưa ra quyết định có liên quan đến chu kỳ của nông nghiệp Một số người Chin ở phía Bắc thì có ông chủ tịch và
trưởng làng, một số khác thì được hội đồng làng và một số người được bầu lãnh
đạo.Theo ông Lehman, chức trưởng làng thì được thừa kế ở các dòng dõi quý tộc và
có quyền lực trong làng đó và là người chủ làng quản lý cả vùng dat ay |
Vv DAN TOC KACHIN
1, Kinh tế
a Những hoạt động kinh tế
Theo truyền thống tất cả những người Kachin đểu là nông dân, không có một nghề đặc biệt nào chính thức Những nơi nào có sự xâm phạm của người Kachin thì nơi đó có nông trại.Vụ mùa chính yếu ở đó là lúa Cuốc cán ngắn và xà beng là những dụng cụ bơi xới đất còn dụng cụ gặt hái là dao và liém Vào mùa lạnh, bắp, vừng (mè), kê kiểu mạch, thuốc lá và nhiều loại bí khác được trồng ở hướng Đông, r: rau quả thì trồng vườn nhà Ngoài ra còn trồng bông và thuốc phiện
Trang 32
Trang 38Luận văn tốt nghiệp
Săn bắt cá bằng bẫy và thuốc nổ thì phổ biến nhưng không tiết kiệm được Còn săn thú bằng bẫy, cung tên, súng thì đặc biệt phổ biến vào mùa lạnh giữa tháng 12 và
tháng 2 Những gia súc được nuôi như trâu, bò, heo, chó không ăn mà để làm đồ cúng Ngoài ra ngựa và chó săn cũng được nuôi
-b Mỹ thuật công nghiệp
Hầu hết để kim loại xuất phát từ người Shan và người Trung Quốc, nhưng một số
vùng phía Bắc thì các quặng mỏ đã được phát hiện bởi một số dòng dõi thợ rèn Mặc
dù đổ gốm phổ biến đầy dãy nhưng không có báo cáo nào từ những lò đồ gốm Tre, _trúc, rơm được sử dụng để đan những tấm thẩm, giỏ và vách nhà Còn những đổ gỗ chạm khắc thì không được phát triển lắm Bằng những khung cửi, phụ nữ đã tạo ra những tấm vải thêu với những mẫu mã rất đẹp và tỉ mi
d Sự phân chia lao động
Dan 6ng don đẹp vườn tược, săn bắn và đảm nhiệm những vai trò chính trong tôn
giáo và chính trị Phụ nữ có nhiệm vụ trồng tỉa, gặt hái, vận chuyển và đập lúa Cả
đàn ông và đàn bà đều nấu ăn, pha chế rượu từ gạo và đưa ra chợ để kiếm dư
2 Tổ chức xã hội - chính tri
_a, Tổ chức xã hội |
'Tổ chức xã hội của người Kachin tuỳ thuộc vào việc định cư và hôn nhân gia
đình Cả hai vấn để này đều liên quan đến tổ chức xã hội của họ
-b Tổ chức chính trị
- Khi nói về tổ chức chính trị thì có nhiều cách để nói Những thủ lĩnh Gumchying
Gumtsa là những người gương mẫu, là nền tảng cho kiểu tổ chức chính trị này ở vùng đất đỏ Quyền lực của họ bắt nguồn từ sự độc quyền của các cha sở về những truyện 'huyển thoại, những chuyên gia về nghỉ thức, nghi lễ Người có thể nắm bắt được
những tâm trạng mà con người có thể chiếm đóng Cộng đồng Gumlao phản đối về
những nguyên tắc thừa hưởng của các thủ lĩnh Người ta tin rằng tất cả những nhà quý tộc trong một cộng đồng th đều ngang nhau nghĩa là tất cả những hộ gia đình đều có người đứng ra bảo lãnh những buổi tiệc và đồ cúng có giá trị cần thiết Điều này được
‘coi lA sai trái khi gọi là hệ thống dân chủ bởi vì nguyên tắc của nó sẽ được nối rộng và xuất phát từ các nhà quý tộc Một người đàn ông Gumlao được gọ1 là magam đã cho mình là một nhà quý tộc mặc dù ông ta không phải là thủ lĩnh Vì ông ta dựa vào ý kiến của mình là người con trai không được thừa hưởng cũng có thể có được sự giàu có
và có lãnh địa, để tự cho mình là một thủ lĩnh Gumchying Gumtsa và một kỳ công sẽ đảm bảo được chổ đứng cho ông ta là thủ lĩnh có đầy quyền thế Nhưng trước hết ông
Trang 33
Trang 39Luận văn tốt nghiệp
ta phải bỏ hết những yêu cầu, yêu sách về địa vị trong khi chờ đợi những lễ nghi bảo
dam
- Khi thủ lĩnh Kachin có liên hệ gần gũi với người Shan thì họ trở nên gidng mét -
“công tử” Shan hơn vì đã nắm quyển lãnh thổ Shan hoặc thèm muốn chính trị trong
vùng, Chính vì thế mà ông ta đã chú tâm vào công việc của mình hơn và bỏ rơi những hoạt động của Kachin Một người như vậy gọi là “Gumtsa Duwa”, thủ lĩnh Gumtsa
Gumtsawing Gumtsa có quyền lực độc tài trong làng và duy trì để làm hài lòng những người tổ tiên Kachin đã giữ lại nhưng đã để lại một sự không liên kết với tôn tỉ
quyền lực Kachin, xuất phát từ những luật kế thừa, chịu trách nhiệm bảo trợ và không
một nền kinh tế thị trường và trao đổi Trong những thế hệ vừa qua, người Karen trên
đổi hầu hết chỉ trồng lúa Những cánh đồng lúa thường được tốt và trồng lại vào đầu
mùa ẩm Ngoài ra còn trồng trà, trồng rau, khoai mỡ, cà chua ngọt và các loại trái cây Những người Karen sống ở đồi vẫn còn săn bắn để lấy thúc ăn, bẫy chim, nai và heo rừng Việc hái lượm là một nguồn cung cấp lương thực quan trọng hơn việc săn
bắn Phụ nữ và trẻ con có thể thu nhặt rễ cây, lá, măng non, hái lượm võ cây cho việc
chế thuốc Cả người Karen ở đổi núi và đổng bằng đều câu cá để bán và tiêu thụ
Người Karen đồng bằng bắt chước kỹ thuật của người Miến Người Karen ở đổi núi nói chung phải trữ nước cho trâu, bò,heo,gà và chó Trâu nước sử dụng trong việc sản
xuất lúa nước, bò dùng để kéo xe Đôi khi nuôi trâu bò để bán lấy lời Theo truyền
thống, heo được dùng trong các buổi lễ như đám cưới, đám ma Ngày nay heo vẫn sử
dụng với mục đích này Ở những vùng đổi núi của Thái chúng được nuôi để bán cho người Thái Người Karen đồng bằng theo Phật giáo còn người Karen theo Cơ Đốc giáo nuôi heo, gà để tiêu thụ và bán
b Mỹ thuật công nghiệp
Dệt là công việc của phụ nữ, cả người Karen đổi núi và đồng bằng đều dệt trong nhà, nhưng ở người Karen đổi núi họ sử dụng khung cửi bằng dây đai, trong khi đó Karen đồng bằng sử dụng cả khung cửi dây đai và khung cửi cố định của người Miến
Nhuộm được rút ra từ cây và khoáng sản, nhuộm mang nhiều nét truyền thống trong sự muôn vẽ của màu sắc Những sản phẩm gồm áo, mền, balô đeo vai với giá
cao được dệt trong những mẫu trang trí và hình tượng đặc biệt của người Karen Người Karen bán vải sợi, những sản phẩm rừng, các thú vật nuôi trong nhà cho người Miến,
và người Môn để đổi lấy gạo, đổ sành sứ, muối Người Karen ở đổi buôn bán trong
Trang 34
Trang 40Luận văn tốt nghiệp
_ các chợ của người Miến người Shan và người Thái Trong khi đó người Karen ở đồng bằng tham gia vào nền kinh tế của Miến
c Phân công lao động _
Phụ nữ lượm thức ăn lấy thuốc, củi và tham gia vào việc bắt cá, nuôi heo, gà,
xách nước, lo nấu cơm, làm rượu, trồng cây vải sợi Đàn ông săn bắn, chăm sóc trâu
bò, cày cấy Câu cá, may vá, gặt hái cả hai phái đều làm được '
2 Tổ chức xã hội - chính tri
a Tổ chức xã hội
Theo truyền thống người Karen, tổ chức xã hội dựa trên đơn vị cư trú dòng tộc làng xã Nhiều trung tâm được nối kết qua mẫu hệ và sự cư trú thuộc mẫu hệ để hình thành các múi gia phả: Cấu trúc bản làng hình thành một hoặc nhiều dòng tộc được liên kết bởi việc lập gia đình và dòng đõi Làng bản có thể phân ra thành một hoặc
nhiều phần riêng biệt để hình thành các làng con Điều này mang lại cho một bản làng
là sự chia dòng đõi và sự nối kết thiêng liêng Ít hoặc nhiều các liên hiệp bản làng có
mối liên quan sẽ tạo một nhóm mới Mỗi nhóm gồm "bốn đơn vị cư trú, các hộ gia đình, làng bản, liên hiệp làng bản, chức năng kinh tế Lễ dong dõi đòi hỏi sự có mặt của tất cả con cháu và các nhóm thuộc mẫu hệ, không đặt vấn để đến việc họ sống làng nào Nói chung xã hội Karen không phân tang lớp mặc dù địa vị xã hội phụ thuộc vào sự giàu có và xã hội
Dân tộc thiểu số Karen mặc dù với sự đa dang c của sinh thái và địa lý, sự khác biệt xã hội và văn hóa, hay sự khác biệt to lớn giữa người mù chữ và người có học,
giữa những người theo thuyết vạn vật hữu linh và đạo Phật, Tin lành và Thiên Chúa
giáo thì dường như nó giữ lại chính nó trong bối cảnh của những nhóm xã hội cai tri
b Tổ chức chính trị ị
Làng là đơn vị chính trị quan trọng nhất Đứng đầu là một trưởng làng hay một
người đứng đầu và một hội đồng gồm: những người lớn tuổi nhất Sự cai trị thuộc quyền phái nam Theo truyền thống người trưởng phải có khả năng về thế tục và tôn giáo uy quyền của ông ấy dựa vào sự uy tín của mình khi làm nhiệm vụ Như là sự nối
kết thân thiết giữa các thần làng ông ấy được trao quyền hành mà nhân danh bản làng
Ngày nay quyền lực bản làng tổn tại trong những bối cảnh của quyền lực người Thái, người Miến và Kaw Hooles với những tổ chức chính trị của riêng nó Đối với dân làng,
họ phải trả lời đến những vấn để liên quan đến tội phạm, hôn nhân, sinh nở, tử
VI DÂN TỘC LISU
1 Kinh tế
a Các hoạt động kinh tế
Hầu hết người Lisu làm nghề nông 'Ở các vùng phía Bắc khu định cư của họ trồng ngô, lúa nước, lúa mạch kê Kiểu mạch cũng được canh tác Ở các nơi cao hơn,
lúa tưới nước-được trồng ở các thêm thung lũng Ở Myanmar và Thái Lan được trồng ở
- nơi thấp hơn, ngô và thuốc phiện ở nơi cao hơn, có thể trồng chung hay ở các ruộng
Trang 35