cong tác thanh: tra, kiểm tra, các yếu tố tác động đến rủi ro trong kê khai nộp thuế của DN, đặc biệt là nghiên cứu sâu về các nhân tố nội sinh tác động đến rủi ro trong kê khai nộp thuế
Trang 1
BO GIAO DUC VA DAO TAO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH
6.8 chem NGUYEN SON
PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG KÊ KHAI NỘP THUÉ TẠI CỤC THUE THANH PHO HO CHi MINH
Trang 2- iii - TOM TAT
Nghiên cứu đề tài “Phân tích rủi ro trong kê khai nộp thuế tại Cục Thuế
thành phố Hồ Chí Minh” với mục tiêu là xác định, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro trong kê khai nộp thuế của các DN trên địa bàn Cục Thuế TP.HCM
“Trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm, cơ sở lý thuyết về thuế, về rủi ro, rủi ro
về thuế, kỹ thuật quản lý rủi rỡ trong cong tác thanh: tra, kiểm tra, các yếu tố tác động đến rủi ro trong kê khai nộp thuế của DN, đặc biệt là nghiên cứu sâu về các nhân tố nội sinh tác động đến rủi ro trong kê khai nộp thuế của DN, các nghiên cứu trước đây trong và ngoài nước có liên quan và sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để nghiên cứu đề tài này
Nghiên cứu này đề cập các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro trong kê khai nộp
thuế của DN, chủ yếu là các yếu tố nội sinh của DN Mô hình hồi quy được sử dụng
là mô hình hồi quy Binary logistic với biến phụ thuộc nhị phân mang hai giá trị là 1: cho tình trạng có rủi ro, và 0: cho tình trạng không rủi ro của DN
: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các doanh nghiệp thuộc phòng, Kiểm tra thuế số 1 và phòng Kiểm tra thuế số 2 quản lý từ nguồn cơ sở dữ liệu Cục Thuế
TP.HCM Số lượng doanh nghiệp thực hiện kê khai nộp thuế tại phòng Kiểm tra
thuế số 1 và phòng Kiểm tra thuế số 2 có khoảng 4.500 doanh nghiệp Sau khi xử lý
số liệu tác giả chỉ chọn mẫu với 3.282 DN là các DN đang hoạt động SXKD
Kết quả hồi quy logit và kiểm định xác định được 13 yếu tố có ý nghĩa và tác
động đến rủi ro trong kê khai nộp thuế của DN từ 17 biến, trong đó các biến có các
biến có tác động thuận chiều với rủi ro kê khai nộp thuế:Tỷ lệ Giá vốn hàng bán/
Doanh thu thuần, Tỷ lệ Chỉ phí lãi vay/Nợ vay, Tỷ lệ khấu hao bình quân, Quan hệ
liên kết, Thuế TNDN phát sinh, Chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn quy định,
Doanh thu, Tổng số thuế phải nộp; và các biến có tác động nghịch chiều đối với rủi
ro kê khai nộp thuế: Hệ số khả năng thanh toán nhanh, Tỷ lệ Lợi nhuận sau thuế/
Doanh thu thuần, Biến động của tỷ lệ Thuế TNDN phát sinh/ Doanh thu giữa các năm, Biến động của tỷ lệ Thuế GTGT phát sinh/ Doanh thu hàng hoá dịch vụ bán ra
Trang 3-iv-
giữa các năm, Phân loại doanh nghiệp theo loại hình kinh tế với vốn chủ sở hữu là
đầu tư nước ngoài
Bên cạnh có những hạn chế như chưa đề cập đến những yếu tố tác động khác
của chính sách thuế, không đưa các biến ngoại sinh vào mô hình và còn một số biến
liên quan hoạt động kinh doanh khác cũng chưa đưa vào mô hình trong quá trình nghiên cứu đề tài này Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm vững chắc, sử dụng phương pháp định lượng trên mẫu
đữ liệu lớn và khá toàn diện đối với hoạt động kê khai nộp thuế của DN trên địa bàn TP.HCM, nên đây là tài liệu tham khảo có giá trị và cũng mong muốn đóng góp làm
cơ sở cho các cán bộ ngành Thuế tiếp tục nghiên cứu đề xuất và hoạch định cơ chế,
chính sách, giải pháp cụ thể, khả thi trong việc xây dựng Bộ Tiêu chí để đánh giá
các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro trong kê khai nộp thuế của DN góp phân tối ưu hóa việc sử dụng nguồn nhân lực, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế, tăng cường số thu cho Ngân sách Nhà nước, tạo sự cạnh tranh lành mạnh, công
bằng giữa các DN và nâng cao tính tuân thủ của DN.
Trang 4
Danh mục từ Viết tắt -¿ cnrrEktkkrerrrirrrrrrrrrriiirirrrrrrrriririiiirriee ix Chung 1: GIOT THIEU .sssssssssssssssesesseesssssessennsnnnnnnnnnnnnnnnnensnsnssssnnsnssnssnsnnnnnns 1
1.1 Tính cấp thiết đề tài - tt 1
1.2 Câu hỏi nghiên cứu: . -+ecceesereerrerrrrterrerererer
1.3 Mục tiêu nghiên cứu -++e++
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.7 Kết cấu của luận văn
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Khái niệm và phân loại thu:
2.1.1 Khái niệm về thuế ccc++++s+ttrtttttrttrirrrriirirriiiiriie § 2.1.2 Phân loại thuế ccccceeeceeereeeererrrrrrriiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiie §
2.2 Lý thuyết về sự không chắc chắn csccxccrtirertrrrrrrrrrrrrrirrrrree 9
2.2.1 Khái niệm rủi rO -cs+ssersrrtsrrertttrirrirrriieirirdie 9
- 2.2.2 Lý thuyết về sự không chắc chắn cc«cccceeeerererrrxee 10
2.3 Rủi ro trong kê khai nộp thuế
2.3.1 Khái niệm rủi ro về thuế:
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro kê khai nộp thuế
2.4.1 Các yếu tố liên quan đến tình hình tài chính
Trang 5-vi-
2.4.2 Các yếu tố liên quan đến tinh hinh SXKD
2.4.3 Khả năng thanh toán của doanh nghiệp
2.4.4 Các yếu tố liên quan đến hiệu quả kinh doanh - 19
2.4.5 Các yếu tố liên quan đến giao dịch liên kế -sccceceercer 21
2.4.6 Các yếu tố khác liên quan đến tình hình kinh doanh 21
2.5 Các nghiên cứu trước về hành vi tuân thủ thuế -+ 28
2.6 Nghiên cứu của Tổng.cục Thuế ¬ 30
2.7 Mô hình nghiên cứu đề nghị 22s tteetrrrrrrrrrererrrrr 32
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU -. -+++++++eeee 36
3.1 Phương pháp nghiên cứu -. c+sseereerrreerrrerrrirrrrrrrrrrrrrrrier 36
3.2 Mô hình nghiên cứu -c+ccvvcvcectrtttrtttkrkrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrer 37
3.2.1 Mô hình nghiên cứu : ++c+rertetersrrrrereeerrrierierrrrrrier 37 3.2.2 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
3.3 Dữ liệu nghiên cứu . c+-+zcexeeeerer
3.3.1 Cách lấy dữ liệu nghiên cứu
3.3.2 Mẫu nghiên cứu
3.3.3 Cách xử lý số liệu
Chương 4: PHÂN TÍCH KÉT QU,
4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình
4.2 Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến của mô hình 55
4.2.1 Kiểm định sự tương quan -ss©vse2cceereerxerrrrrrrree 55
4.2.2 Kiểm định đa công tuyến của mô hình . -++ $6 4.3 Kết quả hồi quy . -c-cccerrrrtrrrrrrrttiirrrrriiiirirririiiiirrriiiierr 56
` 4.3.1 Kiểm định mô hình -ccccc2+tc+ttttttttrttrtttrrrrrrrrirrrrie 56
4.3.1.1 Kiểm định tổng thể mô hình . .-. -cc-cc> 56
4.3.1.2 Kiểm định khả năng giải thích của mô hình 57
4.3.1.3 Kiểm định ý nghĩa các chỉ số hồi quy - 57
4.3.2 Phân tích kết quả
4.3.2.1 Các biến có ý nghĩa trong mô hình
Trang 6- vii -
4.3.2.2 Các biến không có ý nghĩa trong mô hình
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH
5.1 Kết luận
5.2 Gợi ý chính sách -cccecceerrrtrrrtttttrriiiiiiirrriiirirrrriirrirrrrie 71 5.3 Hạn chế của đề tài -ccccceerrriirriiiiiiiiiiiiiiiiiiiirrrrrirriiiirinin
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 7Biểu đồ 3:4: Phân loại các DN theo thành phần kinh tế -++ 47
Trang 8CAC CHU VIET TAT
“Thỏa thuận giá trước
Báo cáo tài chính
Cơ quan thuế Doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân
Đầu tư nước ngoài Đối tượng nộp thuế
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
“Tổng sản phẩm quốc nội
Giá trị gia tăng
: Người nộp thuế Ngân sách nhà nước
Té chức hợp tác kinh tế và phát triển
Sản xuất, kinh doanh
Thu nhập chịu thuế
Thu nhập doanh nghiệp
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 9
Chuong 1
GIOI THIEU
Trong chuong nay trinh bay ly do chon đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu của đề tài nhằm cung cấp những vấn đề mang tính tổng quát về đề tài nghiên cứu
Qua hai cuộc cải cách thuế, đã hình thành được một hệ thống chính sách thuế
bao quát hết được hầu hết các nguồn thu của đất nước và luôn được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện kịp thời với tình hình phát triển của đốt nước, đã trở thành công cụ của Đảng và Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo hướng khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Hệ thống chính sách thuế được sửa đổi bỗ sung và hoàn thiện đã bao quát
các nguồn thu, tiếp tục khẳng định thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà
"nước, đảm bảo tỷ lệ động viên hợp lý về thuế và phí, lệ phí vào Ngân sách Nhà
nước (NSNN), đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước và đảm bảo nguồn tài chính cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước Quy mô thu NSNN giai đoạn 2006 - 2010 tang 2 lần so với giai đoạn 2001 - 2005
Tỷ lệ động viên thu NSNN đạt 23% GDP so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đặt ra là 21 - 22% GDP, trong đó động viên từ thuế và phí vào NSNN
bình quân đạt 22% GDP so với mục tiêu chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm
2010 đạt 20 - 21% GDP Tốc độ tăng thu từ thuế và phí, lệ phí vào NSNN bình quân hàng năm đạt 19,6% (Tổng cục Thuế, 201 1a)
Chiến lược cải cách hệ thống thuế 2011 - 2020 xác định mục tiêu huy động
thu NSNN trong 5 năm đầu (2011-2015) có thể duy trì ở tỷ lệ khoảng 23-24% GDP,
trong đó tỷ lệ động viên từ thuế, phí và lệ phí khoảng 22-23% GDP; tốc độ tăng trưởng số thu thuế, phí và lệ phí bình quân hàng năm đạt từ 16-18%/năm Trong 5
năm kế tiếp (2016 - 2020), tỷ lệ huy động thu NSNN và tỷ lệ động viên từ thuế, phí
Trang 10và lệ phí trên GDP ở mức hợp ly theo hướng giảm mức động viên về thuế trên một
đơn vị hàng hoá, địch vụ để khuyến khích cạnh tranh, tích tụ vốn cho sản xuất kinh
doanh (Bộ Tài chính, 2011)
Do chính sách khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế của Đảng và Nhà nước, hàng năm sẽ có thêm hàng chục vạn doanh nghiệp và hộ kinh doanh ra đời Quy mô kinh doanh của doanh nghiệp ngày một lớn, không còn bó hẹp trong một địa phương mà ngày càng quốc gia hóa, toàn cầu,hóa; hoạt động kinh doanh doanh nghiệp ngày càng đa dạng Ngoài ra, với chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế
đối với một số ngành nghề cần khuyến khích đầu tư của Nhà nước tác động làm
tăng nhanh số lượng, quy mô đối tượng nộp thuế và làm cho công tác quản lý thuế càng thêm khó khăn, phức tạp Cụ thể, tổng số doanh nghiệp đang hoạt động sản
xuất kinh doanh đến cuối năm 2010 là 430.000 doanh nghiệp, gấp 2,7 lần so với
năm 2006; số vốn các doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giai đoạn 2006 - 2010
cao gấp 6 lần so với 5 năm trước (Tổng cục Thuế, 201 1a)
Hiện nay, cơ chế quản lý của ngành thuế là người nộp thuế tự khai, tự tính,
tự nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước; cơ quan thuế thức hiện chức năng tuyên
truyền, hướng dẫn, hỗ trợ người nộp thuế để nâng cao tính tuân thủ, tự giác chấp hành các nghĩa vụ thuế theo quy định pháp luật, đồng thời tăng cường chức năng thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, chống thất thu Ngân sách Nhà nước Thực hiện
cơ chế này cho phép cải thiện mối quan hệ giữa cơ quan thuế với các doanh nghiệp, là một phần chiến lược đổi mới quản lý thuế theo cách tiếp cận thân thiện
đối với đối tượng nộp thuế nhằm cải thiện hiệu lực và hiệu quả quản lý thuế Cơ
chế Tự khai, tự nộp thuế tập trung nguồn lực vào các kỹ năng quản lý, đổi mới thủ
tực quản lý thuế, áp dụng công nghệ thông tỉn trong quản lý thuế như kê khai điện
tử, sử dụng hệ thống phần mềm quản lý mới như thanh tra, kiểm tra thuế theo phương thức rủi ro
Tuy nhiên, do khối lượng công việc tăng nhanh, đối tượng nộp thuế ngày càng tăng nhanh số lượng và quy mô, trong khi đó do định biên về biên chế nên số
Trang 11lượng cán bộ công chức tăng rất ít, đòi hỏi ngành thuế phải đẩy mạnh cải cách để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao
Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn tại tại cuộc họp về công tác
thanh tra, kiểm tra thuế đã chỉ đạo định hướng công tác thanh tra, kiểm tra giai đoạn
2011 - 2015 như sau: “Chuyển đổi cơ chế quản lý theo phương thức doanh nghiệp
tự khai, tự nộp thì công tác thanh tra, kiểm tra phải trên cơ sở thực hiện quản lý rủi ro; tăng cường công nghệ thông tin; tập trung thúc đây việc xây dựng và sử dụng
cơ sở dữ liệu người nộp thuế và sử dụng cơ sở dữ liệu người nộp thuế một cách hiệu
quả” (Tổng cục Thuế, 20104) :
Trong thời gian qua, để ngăn chặn các hành vi gian lận thuế, chống thất thu ngân sách, đảm bảo công bằng về nghĩa vụ nộp thuế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh đã
chú trọng đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra tại Cục Thuế TP.HCM từ năm 2005-
2011 được ghi nhận như sau: „
Biểu 1.1: Thống kê kết quả thanh tra, kiểm tra người nộp thuế
Số doanh Số doanh Tỷ lệ số cuộc
nghiệp nghiệp được thanh tra, Bình quân số truy
STT Chitiêu đang thychiénthanh kiểmtraSố thu và phạthồ sơ
quản lý tra kiểm tra doanh nghiệp (đồng) đầu năm trong năm quản lý
Nguôn: Cục Thuê TP.HCM (Năm 2005 — 2011)
Kết quả của công tác thanh tra, kiểm tra trong thời gian tại qua Cục Thuế TP.HCM phần nào đã đạt yêu cầu là góp phan nang cao tính tuân thủ của người nộp thuế và tăng thu cho Ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả công
Trang 12tác vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu được yêu cầu quản lý của ngành là phải đảm
bảo số cuộc thanh tra, kiểm tra đạt tỷ lệ 20%/Số doanh nghiệp đang quản lý, chưa
sử dụng hết nguồn nhân lực Đối tượng được chọn thanh tra, kiểm tra thường là chủ
quan của công chức thuế, chưa khoa học nên dễ bị bỏ sót đối tượng, bỏ sót nguồn
thu
Để đảm bảo tối ưu hóa việc sử dụng nguồn nhân lực, chọn lọc đối tượng có
trọng tâm, trọng điểm, khách quan hơn, tạo sự công bằng giữa các doanh nghiệp và nâng cao tính tuân thủ của doanh nghiệp, đảm bảo tăng cường số thu cho Ngân sách
Nhà nước đòi hỏi công tác chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra cần xây dựng trên
nguyên tác thống nhất, phương pháp chọn khoa học tức là chọn các đối tượng nộp
thuế có nhiều rủi ro trong kê khai nộp thuế, trong chấp hành pháp luật thuế từ đó tạo điều kiện quản lý tốt đối tượng nộp thuế và nâng cao hiệu quả công tác thanh kiểm tra Để có cơ sở trong việc ra quyết định trong việc chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra tại
Cục Thuế TP.HCM nói chung và tại phòng Thanh tra thuế số 1 nói riêng tôi mạnh dạn chọn
đề tài: “Phân tích rủi ro trong kê khai nộp thuế tại Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh” làm Luận văn tốt nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách nêu trên
1.2 Câu hỏi nghiên cứu:
Đề tài tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
1 Các yếu tố nào ảnh hưởng đến rủi ro kê khai thuế?
2 Đo lường mức độ ảnh hưởng đến rủi ro kê khai thuế như thế nào?
1.3 Mục tiêu nghiên cứu:
Để trả lời các câu hỏi trên, đề tài cần tập trung vào các mục tiêu nghiên cứu
Sau:
- Phân tích các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến kê khai thuế
- Ðo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đó trong kê khai thuế
- Từ kết quả nghiên cứu đề xuất các giải pháp dé hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác phân tích, đánh giá các yếu 16 rủi ro trong kê khai nộp thuế của doanh nghiệp
Trang 131.4 Pham vi va déi twong nghién ciru:
Đối tượng dược thực hiện để tiến hành nghiên cứu trong luận văn này là các
doanh nghiệp thực hiện kê khai và nộp thuế tại phòng Kiểm tra thuế số 1 và phòng Kiểm tra thuế số 2 thuộc văn phòng Cục Thuế TP.HCM
Dữ liệu dùng trong nghiên cứu bao gồm: Nguồn đữ liệu thứ cấp có được từ nguồn cơ sở dữ liệu nội bộ ngành thuế, chủ yếu là của văn phòng Cục Thuế
TP.HCM; Nguồn dữ liệu khác từ Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thống kê TP.HCM
để xác định thêm thông tin về vốn góp, tỷ lệ bình quân ngành và nguồn đữ liệu thu
thập từ kết quả các cuộc thanh tra, kiểm tra thuế Số lượng doanh nghiệp thực hiện
kê khai nộp thuế tại phòng Kiểm tra thuế số 1 và phòng Kiểm tra thuế số 2 có khoảng 4.500 doanh nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ chọn các mẫu nghiên cứu là các DN còn đang hoạt động SXKD, số mẫu thực hiện nghiên cứu là 3.282 doanh nghiệp
1.5 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện theo 2 phương pháp: nghiên cứu thống kê mô tả
và nghiên cứu định lượng sử dụng phân tích hồi quy
e Phương pháp thống kê mô tả:
Sau khi tổng hợp các số liệu thứ cấp từ 3.282 DN sẽ được thống kê, kết hợp
phân tích nhằm đưa ra những đánh giá định tính về mức độ, xu hướng, tính chất và mối quan hệ giữa các biến số Phương pháp này sử dụng phần mềm hỗ trợ Excel (với 3.282 mẫu được chọn lọc từ khoảng 4.500 doanh nghiệp đang hoạt động trên
địa bàn TP HCM)
e Phương pháp phân tích hồi quy:
Dùng mô hình hồi quy và phần mềm chuyên dụng SPSS để phân tích rủi ro trong kê khai thuế tại Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) Áp dụng
phương pháp phân tích bằng mô hình hồi quy được sử dụng là mô hình hồi quy Binary logistic (gọi tắt là mô hình logit) Ước lượng hàm hồi quy với biến phụ thuộc là rủi ro hay không rủi ro trong kê khai nộp thuế của các DN trên địa bàn TP.HCM và các biến độc lập là những nhân tố có thể có ảnh hưởng đến rủi ro trong
Trang 14kê khai nộp thuế của các DN trên địa bàn TP.HCM thuộc các nhóm như: Chi số về
khả năng thanh toán, Chỉ số về chỉ phí, Chỉ số về lợi nhuận, Chỉ số quan hệ liên kết, Chỉ số biến động thuế, Đánh giá về tuân thủ khai thuế, tính thuế, Đánh giá về quy
mô của DN, Đánh giá về loại hình DN
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: -
Cơ chế tự khai tự nộp hiện nay, bên cạnh những đối tượng nộp thuế
(ĐTNT) thực hiện chấp hành tốt nghĩa vụ về thuế, cũng không ít các đối
tượng lợi dụng cơ chế này để trốn thuế, gian lận thuế Cơ quan thuế theo mô hình chức năng thực hiện Luật Quản lý thuế, Luật thanh tra và quá trình cải cách hành chính thuế, việc xác định các đối tượng nộp thuế có vi phạm pháp luật về thuế phải trên cơ sở đánh giá, phân tích rủi ro ĐTNT theo như: tình hình kê khai thuế, mức độ tuân thủ về nộp thuế, hiệu quả sản xuất kinh doanh, để từ đó xây dựng kế hoạch, thanh tra, kiểm tra, chuẩn bị nội dung thanh tra, kiểm tra cho
phù hợp và đảm bảo thanh tra, kiểm tra đúng đối tượng nộp thuế có vi phạm Nhằm tạo sự công bằng cho người nộp thuế và tăng nguồn thu thuế trong tương
lai
1.7 Kết cầu luận văn:
Luận văn bao gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu nhằm giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm các nội dung: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối
tượng và phạm vi của đề tài, thiết kế nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận, trình bày về cơ sở lý luận, các nghiên cứu trước, các mô hình nghiên cứu có liên quan để từ đó làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên
cứu ban đầu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trình bày về thiết kế nghiên cứu Nội dung chủ yếu của chương này là nêu lên phương pháp nghiên cứu, mẫu nghiên cứu, các thức thực hiện thu thập và phân tích dữ liệu Đồng thời cũng trình bày kết quả
nghiên cứu sơ bộ từ đó tiến hành điều chỉnh mô hình nghiên cứu đề xuất trong
Trang 15chương 2 thành mô hình nghiên cứu chính thức Bên cạnh đó, tiến hành điều chỉnh thang đo và giả thuyết nghiên cứu
Chương 4: Phân tích kết quả, trình bày các kết quả nghiên cứu đạt được để
giải quyết, trả lời các câu hỏi, mục tiêu nghiên cứu và cuối cùng là kiểm định các
giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra -
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị, trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu và
đề xuất một số giải pháp Đồng thời, trong chương này dũng nêu lên hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 16Chuong 2
CO SO LY LUAN
Nội dung chương 2 tập trung trình bày các khái niệm, các dé tài và mô hình nghiên cứu trước đây để từ đó làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, cũng như thiết kế thang đo những nhóm biển tác động đến rủi ro kê khai nộp thuế cho nghiên cứu này ‘
2.1 Khái niệm và phân loại thuế:
2.1.1 Khái niệm về thuế:
Theo Đại học Luật TP.HCM (2009), Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển
của Nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng
để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình Tùy vào bản chất của Nhà nước và cách thức Nhà nước sử dụng mà các nhà kinh tế có quan điểm khác nhau về thuế
Theo khái niệm được sử dụng phổ biến, thuế là một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của Nhà nước đối với các tổ chức và cá nhân nhằm trang trải mọi chỉ phí vì lợi ích chung Nộp Thuế là một nghĩa vụ xã hội; công dân không
có quyền trốn và không được quyền đòi hỏi đối giá trực tiếp Số tiền thuế phải nộp không tuỳ thuộc vào hàng hóa và dịch vụ công do Chính phủ cung cấp mà tùy thuộc vào khả năng thụ thuế Do vậy, hai đặc trưng của thuế thường được nhắc đến: tính cưỡng chế và tính không hoàn trả trực tiếp và đối giá
2.1.2 Phân loại thuế:
Theo Đại học Luật TP.HCM (2009), để phục vụ cho các mục tiêu quản lý
hay nghiên cứu khác nhau, việc phân loại hệ thống thuế được thực hiện theo các
tiêu thức khác nhau Một vài cách phân loại thường thấy, như:
- Phân loại theo đối tượng của Thuế, hệ thống thuế bao gồm ba loại: Thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, là loại thuế đánh vào thu nhập của người tiêu dùng Số thu của chúng phụ thuộc vào tổng mức tiêu dùng xã hội, tức là phụ thuộc vào GDP/người, tâm lý
Trang 17tiêu dùng, trạng thái phát triển kinh tế Sự gia tăng của chúng phản ánh sự tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng; thuế đánh vào thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập
cá nhân Sự gia tăng của sắc thuế thu nhập phản ánh nền kinh tế phát triển theo chiều sâu; thuế đánh vào tài sản như thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế tài nguyên
- Phân loại theo tính chất kinh tế, hệ thống thuế của một quốc gia bao gồm thuế gián thu và thuế trực thu Thuế gián thu là loại thuế gián tiếp thu vào thu nhập của người tiêu dùng thông qua hoạt động của cơ sở kinh doanh Cơ sở kinh doanh
kê khai và nộp thuế cho ngân sách Nhà nước (NSNN) nhưng gánh nặng về thuế
được chuyển vào người tiêu dùng, chuyển bao nhiêu vào người tiêu dùng là tùy thuộc độ co giãn của đường cung và đường cầu về một mặt hàng cụ thể Thuế trực thu là loại thuế mà đối tượng nộp thuế trích một phần thu nhập của chính mình để nộp cho Nhà nước Người chịu thuế căn cứ thu nhập đạt được kê khai nộp trực tiếp vào NSNN Nếu thuế gián thu có nhược điểm là thuận lợi cho người có thu nhập cao thì thuế trực thu góp phần sửa chữa một phần nhược điểm đó Các nước phát triển thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn, các nước đang phát triển thuế gián thu chiếm
tỷ trọng lớn hơn thuế trực thu Ở nước ta, chính sách thuế đang dần dần được điều
chỉnh theo hướng tăng tỷ trọng thuế trực thu
- Phân loại theo mỗi tương quan với thu nhập, hệ thông thuế gồm ba loại
thuế lũy tiến, thuế tỷ lệ và thuế lũy thoái Thuế lũy tiến là sắc thuế có tỷ lệ thu ngày
càng tăng theo thu nhập chịu thuế Thuế tỷ lệ là sắc thuế mà thuế suất không thay đổi Thuế lũy thoái là sắc thuế mà tỷ lệ thu giảm dần khi thu nhập chịu thuế tăng
lên
> 2.2 Ly thuyết về sự không chắc chắn:
2.2.1 Khái niệm rủi ro:
Rủi ro là một khái niệm có nhiều quan điểm định nghĩa khác nhau, theo Viện tiêu chuẩn Anh quốc (2002), định nghĩa rủi ro là sự kết hợp khả năng xảy ra của
một sự kiện và hệ quả của nó Trong tất cả các hoạt động luôn tiềm ẩn khả năng xảy
ra các sự kiện và hệ quả Hệ quả của rủi ro tạo thành các cơ hội có lợi (tích cực)
Trang 18Từ quan điểm nêu trên, có thể khái niệm rủi ro như sau:
+ Rủi ro là một sự kiện bình thường không thể tránh được trong cuộc sống
hàng ngày
+ Rủi ro là một sự kiện có thể xảy ra làm ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực đến mục tiêu hoạt động của tổ chức, cá nhân
+ Hiểu biết về rủi ro và kiểm soát rủi ro là một phần quan trọng trong cuộc
sống nhằm tránh tổn thất, đạt được lợi ích và tăng thu nhập
2.2.2 Lý thuyết về sự không chắc chắn:
Theo Vũ Thành Tự Anh (2005), Sự kiện không chắc chắn là sự kiện có thể nhiều kết cục trong đó có thể tính toán được xác suất xảy ra của mỗi kết cục Trong các tình huống may rủi (hay mạo hiểm), chúng ta có thể tính được xác suất xảy ra của các kết cục Ngược lại, trong tình huống bất định, chúng ta không thể tính được xác suất này Có hai hai loại xác suất: khách quan và chủ quan Xác suất khách quan (chủ quan) là xác suất trong đó chúng ta có thể (không thể) sử dụng các phương pháp xác suất và thống kê để tính toán xác suất Đối với xác suất chủ quan người ra quyết định phải phán đoán, và tất nhiên là các phán đoán chủ quan này phụ thuộc vào kinh nghiệm, tri thức, thông tin, khả năng phân tích và xử lý thông tin v.v của người
ra quyết định Một hệ quả tất yếu là xác suất chủ quan thường khác nhau
¬ Bản tính của con người là thường ưa những gì chắc chắn và đồng thời muốn tránh những điều may rủi và bất trắc Tuy nhiên, trong đời sống hàng ngày, chúng ta đối diện với rất nhiều tình huống ra quyết định trong đó chúng ta không biết chắc kết cục của các tình huống ấy là như thế nào Để ra những quyết định như vậy, hiển nhiên một yêu cầu đặt ra là đo lường mức độ may rủi của các lựa chọn, và trên cơ
sở đó chọn phương án có độ may rủi thấp nhất (với các điều kiện khác như nhau)
Trang 19¬
Một trong những thước đo đo lường sự hấp dẫn của trò chơi may rủi là giá trị
kỳ vọng của phần thu nhập tăng thêm so với khi không tham gia trò chơi, hay một
cuộc kinh doanh, hay lợi ích tăng thêm khi thoả dụng một vấn đề mong muốn
Trong lý thuyết xác suất và thống kê, giá trị trung bình này được gọi là giá trị kỳ vọng và được định nghĩa như sau: -
~ Giú trị kỳ vọng của một tình huống là bình quân gia quyền giá trị của các kết cục có thể xảy ra, trong đó trọng, số (hay quyền số) fa xác suất xảy ra của mỗi kết cục , :
Công thức tính giá trị kỳ vọng: X =piX†p¿Xz†psXạ† †Dn Xa
trong dé Xj, X2, X3, ., Xn ld các giá trị có thể (kết cục) của đại lượng ngẫu nhiên
X, va py, P›; Pa, -› Da là các xác suất tương ứng
Một ví dụ dễ nhận thấy đó là khi tham gia bảo hiểm , Một công ty bảo hiểm
kinh doanh có lãi là nhờ vào 2 điều kiện quan trọng: (1) người bảo hiểm sợ và muốn
tránh rủi ro và do đó chấp nhận trả một khoản phí vượt trội so với khoản phí bảo
hiểm công bằng ; va (ii) có nhiều người cùng muốn mua bảo hiểm vì khi ấy quy luật
số lớn phát huy tác dụng Nếu có nhiều khách hàng thì công ty sẽ tính được xác suất
một cách chính xác hơn, và nhờ đó có thể tính biểu giá bảo hiểm sao cho có lợi
nhuận Hơn nữa, khi có nhiều khách hàng, chỉ phí cố định phân bổ cho mỗi khách hàng cũng sẽ nhỏ hơn Và tuỳ mỗi khách hàng, mỗi cá nhân có mức độ ghét may rủi khác nhau Con người ta mong muốn gánh chịu rủi ro ở những mức độ khác nhau Một số người ghét rủi ro, số khác thích mạo hiểm, và những người khác thì trung lập Nếu một người thích có một mức thu nhập nhất định cho trước hơn là một công việc rủi ro có thu nhập kỳ vọng như nhau, thì người đó được coi là người ghét rủi ro (một người như vậy sẽ có độ thỏa dụng biên theo thu nhập giảm dần)
Trang 20-12-
Độ thõa dụng [:
Thu nhập
Gihét rủi ro là thái độ phổ biến nhất đối với rủi ro Để thấy được mọi người
trong mọi lúc đều ghét rủi ro, cần lưu ý rằng, người ta thường mua bảo hiểm để đề phòng hàng loạt các kiểu rủi ro Và hầu hết mọi người không chỉ mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm ôtô, mà còn tìm những nghề nghiệp có đồng
lương tương đối én định
Như vậy, trong cuộc sống con người thường phải đối diện với những tình huống không chắc chắn (rủi ro) và trong nền kinh tế cũng như các hoạt động kinh tế cũng gắng liền với quy luật khách quan vốn có của nó, tồn tại giữa 2 vấn đề có thể xảy ra, không xảy ra, hoặc chắc chắn và không chắc chắn, rủi ro hay không rủi ro
Lý thuyết này được áp dụng cho nghiên cứu này để có thể tính toán xác suất rủi ro trong kê khai nộp thuế có thể xảy ra của DN trên địa bàn TP.HCM
2.3 Rủi ro trong kê khai nộp thuế (tuân thủ thuế):
2.3.1 Khái niệm rủi ro về thuế:
Theo Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (2009), khái niệm rủi ro về
thuế được hiểu như sau: Bất cứ hoạt động nào cũng chứa dựng trong đó những rủi
ro tiềm ẩn Ví dụ: hoạt động tự nhiên như mưa bão có thé gây ngập úng, nắng dai
ngày có thể gây hạn hán trong sản xuất nông nghiệp; hoạt động của máy móc, thiết
bị đang vận hành có thể bị hư hỏng ngừng hoạt động; hoạt động của con người khi điều khiển phương tiện giao thông có thể gây tai nạn giao thông; hoạt động quản lý của con người như sự phá sản của một công ty đa quốc gia có thể dẫn đến sự phá sản của nhiều công ty ở các quốc gia khác nhau, gây khủng hoảng tài chính ở nhiều
Trang 21"-13-
nước; hoạt động quản lý thuế như việc áp dụng một chính sách thuế phức tạp không bao quát hết nguồn thu dẫn đến khó thực hiện và thất thu thuế,
Công ty Emst & Young định nghĩa rủi ro về thuế như sau: Bắt cứ sự kiện,
hành động hay không hành động nào về chiến lược thuế, hoạt động kinh doanh, báo
cáo tài chính hay vấn đề tuân thủ luật pháp làm ảnh hưởng có hại đến tình hình thuế hay tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, hoặc dẫn đến bị phạt, phải nộp thêm
thuế, ảnh hưởng đến uy tín, mất cơ hội kinh doanh hoặc <6 ảnh hưởng đến báo cáo
tài chính (Báo Kinh tế Việt Nam, 2008), ,
2.3.2 Rúi ro trong kê khai nộp thuế (tuân thủ thuô):
Andreoni va ctg (1998) cho rằng việc tuân thủ thuế nên được định nghĩa là
sự sẵn lòng của người nộp thuế, sự chấp hành pháp luật về thuế để có được trạng thái cân bằng nền kinh tế của một quốc gia
Kirchler (2007) đưa ra một định nghĩa đơn giản, tuân thủ thuế là sự sẵn lòng nộp thuế của người nộp thuế
Một định nghĩa rộng hơn của việc tuân thủ thuế, được xác định bởi Song và
Yarbrough (1978) hoạt động của hệ thống thuế Hoa kỳ chủ yếu dựa vào tự đánh giá
và tuân thủ tự nguyện, có thé đo quan điểm cho rằng, tuân thủ thuế cần được xác
định như khả năng của người nộp thuế và sẵn sàng thực hiện theo pháp luật thuế
được xác định bởi đạo đức, môi trường pháp lý và yếu tố tình huống khác tại một
thời gian, địa điểm cụ thể
Tương tự như vậy, tuân thủ thuế cũng được xác định bởi một số cơ quan thuế
như khả năng và sự sẵn sàng của người nộp thuế thực hiện theo quy định của pháp luật thuế, kê khai thu nhập chính xác trong mỗi năm và nộp thuế đúng han (IRS,
2009; ATO, 2009 va IRB, 2006)
Việc tuân thủ thuế là hành vi của người nộp tờ khai thuế, kê khai tất cả thu
nhập chịu thuế chính xác và thanh toán tất cả các loại thuế phải nộp trong thời hạn
quy định mà không cần phải chờ đợi, theo dõi hành động từ cơ quan có thẩm quyền
(Singh, 2003)
Trang 22-14-
Quan điểm rộng hơn của việc tuân thủ thuế đòi hỏi một mức độ trung thực,
kiến thức về thuế đầy đủ và khả năng sử dụng kiến thức này kịp thời, chính xác, để
hồ sơ có thể chuẩn bị đầy đủ hoàn thuế và các giấy tờ liên quan về thuế Singh và Bhupalan (2001), McBarnet (2001) đề nghị tuân thủ thuế nên được nhìn nhận trong
ba cách: (i) Tuan thủ một cách tuyệt đối là người nộp thuế tự nguyện nộp thuế mà không có khiếu nại; (ii) Tuân thủ có điều kiện là miễn cưỡng nộp thuế; (ii) Tuân thủ có tính sáng tạo bằng cách thể hiện khả năng có thể áp dụng các quy định trong
luật thuế để xác định lại thu nhập, chỉ phí chịu thuế
Theo Ủy ban các vấn đề về thuế, OECD (2004) rủi ro tuân thủ trong kê khai nộp thuế là những rủi ro bắt nguồn từ việc NNT không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ pháp luật về thuế và nếu vi phạm sẽ gây thất thu cho ngân sách nhà
nước, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội Có bốn loại nghĩa vụ mà NNT phải thực
hiện là: Đăng ký thuế; Nộp tờ khai và nộp các thông tin cần thiết liên quan đến thuế
đúng thời hạn; Báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp với việc lưu giữ
số sách); Nộp thuế đúng hạn và đúng số thuế phải nộp
Nếu NNT không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ bắt kỳ một trong bốn
nghĩa vụ trên thì có thể coi là không tuân thủ trong kê khai nộp thuế
Theo Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (2009), rủi ro trong kê khai
nộp thuế có thể có là sai sót hoặc gian lận đẫn đến hậu quả là số thuế phải nộp trên
tờ khai không đúng với số thuế lẽ ra DN phải nộp Dưới góc độ đánh giá rủi ro trong kê khai nộp thuế, chúng ta tập trung vào các hành vi làm giảm số thuế phải nộp
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro kê khai nộp thuế:
-_2.4.1 Các yếu tô liên quan đến tình hình tài chính:
Theo Bộ Tài chính (2002), Các yếu tố có liên quan trực tiếp tới việc xác định
và đánh giá tình hình tài chính là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu Những yếu tố này được định nghĩa như sau:
~ Tài sản: Là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai
Trang 23'-15-
Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chỉ ra
Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản được thê hiện trong các trường hợp, như: Được sử dụng một cách đơn lẻ hoặc kết hợp với các tài sản khác trong sản xuất sản phẩm để bán hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng; Để bán hoặc trao đổi lấy tài sản khác; Để thanh toán các khoản nợ phải trả; Để phân phối cho các chủ
Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc,
thiết bị, vật tư, hàng hoá hoặc không thể hiện đưới hình thái vật chất như bản quyền,
bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền
kiểm soát của doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc các sự kiện đã qua, như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng Các giao dịch hoặc các sự kiện dự kiến sẽ phát sinh trong tương lai không làm tăng tài sản Thông thường khi các khoản chỉ phí phát sinh sẽ tạo ra tài sản Đối với các khoản chỉ phí không tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai thì không tạo ra tài sản; Hoặc có trường hợp không phát sinh chỉ phí nhưng vẫn tạo ra tài sản, như vốn góp, tài sản được cấp, được biếu tặng
Trong lĩnh vực thuế, một số sai lệch liên quan đến chỉ tiêu tài sản có thể ảnh hưởng đến rủi ro trong kê khai nộp thuế của DN như: khai khống chỉ phí hoặc khai
thấp doanh thu làm giảm tài sản
- Nợ phải trả: Là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình
>_ Nợ phải trả xác định nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp khi doanh nghiệp nhận về một tài sản, tham gia một cam kết hoặc phát sinh các nghĩa vụ pháp lý Việc thanh toán các nghĩa vụ hiện tại có thể được thực hiện bằng nhiều cách, như:
- Trả bằng tiền; Trả bằng tài sản khác; Cung cấp dịch vụ; Thay thế nghĩa vụ này bằng
nghĩa vụ khác; Chuyển đổi nghĩa vụ nợ phải trả thành vốn chủ sở hữu.
Trang 24'-16-
Nợ phải trả phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua, như mua hàng hoá
chưa trả tiền, sử dụng dịch vụ chưa thanh toán, vay nợ, cam kết bảo hành hàng hoá,
cam kết nghĩa vụ hợp đồng, phải trả nhân viên, thuế phải nộp, phải trả khác
Trong lĩnh vực thuế, một số sai lệch liên quan đến chỉ tiêu nợ phải trả có thể ảnh hưởng đến rủi ro trong kê khai nộp thuế của DN như: khai khống chỉ phí thông qua việc khai khống nợ phải trả, giảm tài sản thông qua các khoản lỗ, che đấu lợi nhuận bằng cách khai khống nợ phải trả :
- Vấn chủ sở hữu: Là giá trị vốn, của doanh nghiệp, được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị Tài sản của doanh nghiệp trừ (-) Nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu được phản ảnh trong Bảng cân đối kế toán, gồm: Vốn của
các nhà đầu tư có thể là vốn của chủ doanh nghiệp, vốn góp, vốn cổ phần, vốn Nhà
nước; Thặng dư vốn cổ phần là chênh lệch giữa mệnh giá cổ phiếu với giá thực tế
phát hành; Lợi nhuận giữ lại là lợi nhuận sau thuế giữ lại để tích luỹ bổ sung vốn;
Các quỹ như quỹ dự trữ, quỹ dự phòng, quỹ đầu tư phát triển; Lợi nhuận chưa phân
phối là lợi nhuận sau thuế chưa chia cho chủ sở hữu hoặc chưa trích lập các quỹ;
Chênh lệch tỷ giá, gồm: Chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng
và Chênh lệch tỷ giá phát sinh khi doanh nghiệp ở trong nước hợp nhất báo cáo tài chính của các hoạt động ở nước ngoài sử dụng đơn vị tiền tệ kế toán khác với đơn
vị tiền tệ kế toán của doanh nghiệp báo cáo; Chênh lệch đánh giá lại tài sản là chênh
lệch giữa giá trị ghi số của tài sản với giá trị đánh giá lại tài sản khi có quyết định
của Nhà nước, hoặc khi đưa tài sản đi góp vốn liên doanh, cổ phần
Khi xác định các khoản mục trong các yếu tố của báo cáo tài chính phải chú
ý đến hình thức sở hữu và nội dung kinh tế của chúng Trong một số trường hợp, tài
sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng căn cứ vào nội dung kinh tế của tài sản thì được phản ảnh trong các yếu tố của báo cáo tài chính Ví dụ, trường hợp thuê tài chính, hình thức và nội dung kinh tế là việc doanh nghiệp đi thuê thu
được lợi ích kinh tế từ việc sử dụng tài sản thuê đối với phần lớn thời gian sử dụng
hữu ích của tài sản, đổi lại doanh nghiệp đi thuê có nghĩa vụ phải trả một khoản tiền xấp xỉ với giá trị hợp lý của tài sản và các chi phí tài chính có liên quan Nghiệp vụ
Trang 25‘-17-
thuê tài chính làm phát sinh khoản mục "Tài sản" và khoản mục "Nợ phải trả" trong
Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp đi thuê
Trong lĩnh vực thuế, một số sai lệch liên quan đến chỉ tiêu vốn chủ sở hữu có
thể ảnh hưởng đến rủi ro trong kê khai nộp thuế của DN như: khai khống chỉ phí
thông qua việc khai khống nợ phải trả, giảm tài sản thông qua các khoản lỗ, che dấu lợi nhuận bằng cách khai khống nợ phải trả
2.4.2 Các yếu tô liên quan đến tình hình sản xuất kinh doanh:
Theo Bộ Tài chính (2002), Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận
là Doanh thu, thu nhập khác và Chi phí Doanh thu, thu nhập khác, Chỉ phí và Lợi nhuận là các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
Các yếu tố Doanh thu, thu nhập khác và Chỉ phí được định nghĩa như sau:
- Doanh thu và thu nhập khác: Là tỗng giá trị các lợi ích kinh tế doanh
nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ
sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cô đông hoặc chủ sở hữu
Doanh thu phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của
doanh nghiệp và thường bao gồm: Doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch
vụ, tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia Thu nhập khác bao gồm các khoản thu nhập phát sinh từ các hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu,
như: thu từ thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, thu tiền phạt khách hàng do vi
phạm hợp đồng,
Trong lĩnh vực thuế, Doanh thu của DN sẽ trang trải tiền lương cho công nhân; các khoản chỉ phí cố định, các khoản phải nộp vào ngân sách nhà nước, do vậy doanh thu là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thông qua khả năng nộp thuế, nếu các yếu tố chỉ phí khác không thay đổi thì doanh thu tăng đồng nghĩa với lợi nhuận của doanh nghiệp tăng Một số sai lệch liên quan đến chỉ tiêu doanh thu và thu nhập khác có thể ảnh hưởng đến rủi ro trong kê khai nộp
Trang 26‘- 18 -
thuế của DN như: khai không đúng lợi nhuận dé giảm số thuế TNDN phải nộp
thông qua việc khai thiếu doanh thu và các khoản thu nhập khác
~ Chỉ phí: Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán
dưới hình thức các khoản tiền chỉ ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các
khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho
cỗ đông hoặc chủ sở hữu
Chỉ phí bao gồm các chỉ phí sản xuất, kinh doanh, phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của, doanh nghiệp và các chi phí khác Chỉ phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, như: giá vốn hang bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chỉ phí lãi tiền vay, và những chỉ phí liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền, Những chỉ phí này phát sinh dưới dang tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc,
giá vốn hàng bán cao hơn thực tế để làm giảm số thuế TNDN phải nộp
2.4.3 Khả năng thanh toán của doanh nghiệp:
Nguyễn Ngọc Quang (2011), khả năng thanh toán của doanh nghiệp là một trong nhữnh nội dung thể hiện rõ nét chất lượng hoạt động tài chính của doanh
nghiệp Nếu hoạt động tài chính diễn ra thuận lợi, lành mạnh, có chất lượng cao,
doanh nghiệp sẽ bảo đảm đủ và thừa khả năng thanh toán Ngược lại, nếu hoạt động tài chính diễn ra không thuận lợi, chất lượng hoạt động tài chính thấp, doanh nghiệp
sẽ không bảo đảm được khả năng thanh toán các khoản nợ Thức tế cho thấy, nếu
khả năng thanh toán của doanh nghiệp không bảo đảm, chắc chắn doanh nghiệp sẽ
Trang 27:19-
gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động tài chính cũng như hoạt động kinh doanh, thậm chí doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng phá sản
Trong lĩnh vực thuế, một số sai lệch liên quan đến chỉ tiêu khả năng thanh
toán có thể ảnh hưởng đến rủi ro trong kê khai nộp thuế của DN như: khai thiếu doanh thu thông qua việc che dấu, khai thiếu hoặc không khai các khoản thu được bằng tiền và các khoản tương đương bằng tiền
2.4.4 Cúc yễu tỗ liên quan đến hiệu quả kinh doanh:
Nguyễn Ngọc Quang (2011), hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất Hiệu quả kinh doanh còn thể hiện sự vận dụng kéo léo của các nhà quả trị doanh nghiệp giữa lý luận và thực tế nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, công nhân để nâng cao lợi nhuận Vậy hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực, tài chính của doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất -
- Kết quả kinh doanh là những chỉ tiêu tài chính phản ánh quy mô về các họa
động, ví dụ sản lương tiêu thụ, doanh thu bán hàng, lợi nhuận sau thuế Các chỉ tiêu kết quả kinh doanh cũng thường chia thành 2 nhóm: Các chỉ tiêu phản ánh kết quả phía trước của doanh nghiệp như sản lượng, sản phẩm sản xuất, doanh thu bán hàng Các chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng của doanh nghiệp như lợi nhuận
trước thuế, lợi nhuận sau thuế
- Hiệu quả kinh doanh đó là chỉ tiêu phản ánh chất lượng của hoạt động trong các điều kiện sẵn có để đạt được các mục tiêu tối ưu Hiệu quả kinh doanh cũng thường được chia thành 2 nhóm: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh phía trước thường phản ánh sức sản xuất của vốn, tài sản như số vồng quay hàng tồn kho, số vòng quay tài sản Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh cuối cùng thường là các chỉ tiêu phảm ánh tỷ suất sinh lời như ROA, ROE, ROS
Thông thường các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh cao thì các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng cao Các chỉ tiêu phản ánh kết quả, hiệu quả
Trang 28~20-
kinh doanh phía trước cao thì các chỉ tiêu phản ánh kết quả, hiệu quả kinh doanh cuối cùng cũng cao Nhưng trong một số trường hợp cụ thể lại không tuân thủ quy luật này Do vậy các nhà quản trị kinh doanh muốn các chỉ tiêu kết quả, hiệu quả kinh doanh cuối cùng tối ưu cần phải đưa ra các biện pháp nâng cao kết quả, hiệu quả kinh doanh phía trước trong các điều kiện sẵn có của doanh nghiệp
Trong lĩnh vực thuế, một số sai lệch liên quan đến các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh có thể ảnh hưởng đến rủi ro trong kê khai nộp thuế của DN như: kê khai
thiếu lợi nhuận bằng các thủ thuật để không ảnh hưởng đến tổng tài sản, hiệu quả sử dụng vốn, tài sản không cao bằng cách khai thấp lợi nhuận thông qua việc khai
thiếu doanh thu, khai khống chỉ phí
Tỷ suất lợi nhuận ròng trên tổng tai san (ROA):
Hệ số này bằng tổng lợi nhuận của DN chia cho tổng tài sản của DN Hệ số này cho biết khả năng tạo ra lợi nhuận của tài sản, một đồng vốn đầu tư sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản
của DN là tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ DN
1ÿ suất sinh lời của doanh thu (ROS):
ROS thể hiện tỷ lệ thu hồi lợi nhuận trên doanh số bán được ROS là tỷ lệ phan trăm của mỗi đồng doanh thu sẽ đóng góp vào lợi nhuận ROS được tính bằng
cách lấy tổng lợi nhuận ròng chia cho doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao chứng,
tỏ hiệu quả sử dụng chỉ phí càng tốt Đó là nhân tố giúp nhà quản trị mở rộng thi trường, tăng doanh thu Chỉ tiêu này thấp nhà quản trị cần tăng cường kiểm soát chỉ
phí của các bộ phận
Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vẫn chủ sở hữu (ROE):
ROE là là tỷ lệ phần trăm của mỗi đồng vốn đầu tư sẽ đóng góp vào lợi nhuận Chỉ tiêu này cao thường giúp cho các nhà quản trị có thể đi huy động vốn mới trên thị trường tài chính để tài trợ cho sự tăng trưởng của DN Ngược lại chỉ
tiêu này nhỏ và vốn chủ sở hữu đưới mức vốn điều lệ thì hiệu quả kinh doanh thấp,
DN sẽ khó khăn trong việc thu hút vốn
Trang 29*21-
2.4.5 Cúc yếu tô liên quan đến giao dịch liên kết:
Theo tài liệu hướng dẫn của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, OECD
(2010), “giá chuyển nhượng (transfer pricing) là giá hàng hóa, dịch vụ hoặc tài sản
vô hình mà một công ty xác định khi bán cho công ty con hoặc công ty liên kết
Theo Mayanh (2005), Chuyển giá - Transfer pricing được hiểu là hành vi
thực hiện bởi các chủ thể kinh doanh nhằm thay đổi giá của hàng hóa, dịch vụ, tài
sản so với giá thị trường trong giao dịch của các bên liên kết
Giao dịch liên kết là các giao dịch phát sinh giữa hai doanh nghiệp được xem
là liên kết với nhau
Khoản 4 Điều 3 Thông tư 66/2010/TT-BTC đã định nghĩa chỉ tiết các bên được coi là có quan hệ liên kết khi: Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư đưới mọi hình thức vào bên kia; Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức của một bên khác; Các bên cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào một bên khác
Chuyển giá là một hành vi được sắp đặt thực hiện bởi các chủ thể kinh doanh
có mối quan hệ liên kết nhằm làm thay đổi mức giá trong quan hệ giao dịch mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, vốn, tài sản (hoặc bất kỳ đối tượng nào của giao địch) có sự khác biệt so với giá thị trường
Theo Nguyễn Văn Phụng (2011), động cơ của việc chuyển giá, không gì khác chính là lợi nhuận sau thuế của hoạt động kinh doanh xét trên phương diện tổng thể Vì mục tiêu của chuyển giá là nhằm tối đa hóa lợi nhuận sau thuế của một tập đoàn, công ty đa quốc gia hay nhóm công ty có mối liên hệ liên kết trên cơ sở giảm thiểu nghĩa vụ thuế Đối với người nộp thuế và cơ quan thuế thì giá chuyển nhượng có ý nghĩa quan trọng bởi vì giá chuyển nhượng quyết định phần lớn thu
nhập và chỉ phí dẫn đến kết quả là giảm thu nhập chịu thuế của một số doanh
nghiệp liên kết Sự khác biệt trong chính sách thuế giữa các quốc gia là cơ sở để các
Trang 30-22-
nhóm liên kết hoạch định về giá làm sao để tối đa hóa lợi nhuận trong các công ty
đa quốc gia và tối thiểu hóa thuế TNDN bằng cách chuyển lợi nhuận sang các nước
có thuế suất thấp, thuế suất bằng không, hoặc trong phạm vi một quốc gia thì chuyển lợi nhuận từ các bên không được ưu đãi sang bên được ưu đãi (OECD,
Chuyển giá được hiểu là "việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa,
dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc
gia trên toàn cầu” Thông qua hoạt động chuyển giá, các công ty đa quốc gia có nhiều
chỉ nhánh đặt tại nhiều quốc gia khác nhau thực hiện việc mua bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ với nhau sẽ thực hiện ý đồ trốn tránh việc nộp thuế TNDN tại các quốc
gia có thuế suất cao Các hoạt động này có thể chứa đựng trong đó là các hoạt động
“chuyển giá”, giá cả của hàng hóa dịch vụ trong các nghiệp vụ chuyển giao này được tính theo một xu hướng chủ quan mà không hề dựa trên chỉ phí thực tế tạo nên sản
phẩm hay dịch vụ được cung cấp Giá giao dịch giữa các bên liên kết là cơ sở để
xem xét hành vi chuyển giá Chuyển giá thông qua việc mua bán nguyên vật liệu sản
xuất, bán thành phẩm hay thành phẩm, máy móc thiết bị, tài sản vô hình Các công
ty con của các công ty đa quốc gia có trụ sở tại các quốc gia có thuế suất thuế TNDN cao sẽ mua vào các nguyên vật liệu, bán thành phẩm hay thành phẩm, máy móc thiết
bị, tài sản vô hình với giá cao và bán ra cho công ty mẹ với giá thấp nhằm tối thiểu
hóa thuế TNDN Giá mua vào và giá bán ra của các công ty con do công ty mẹ chỉ định nhằm tối thiểu hóa thu nhập phải nộp thuế Mục đích cuối cùng của hoạt động
chuyển giá là tối đa hóa lợi nhuận của các công ty đa quốc gia bằng cách tối thiểu hóa
thuếthu nhập doanh nghiệp mà các công ty con phải nộp tại các nước được đầu tư
Với chính sách mở cửa, thu hút đầu tư, các DN đầu tư nước ngoài đã trở thành một phần tích cực trong các thành phần kinh tế đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Tuy nhiên, một số DN đã lợi dụng chính sách của Nhà nước trong việc ưu đãi đầu tư, khuyến khích sản xuất kinh doanh và xuất khẩu để tránh
thuế, trốn thuế thông qua hoạt động chuyển giá với số lượng và quy mô mở rộng,
Trang 31-~23-
hành vi phức tạp gây khó khăn cho cơ quan quản lý thuế và thất thoát cho NSNN
Đây cũng là hành vi mà cơ quan thuế không đễ gì đối phó được, đặc biệt là hành vi
chuyển giá quốc tế ,
Thời gian qua, tình trang các DN có dấu hiệu chuyển giá, đặc biệt là các DN
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gây thất thu NSNN mà còn ảnh hướng
đến chính sách thu hút đầu tư nước ngoài; tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh,
cạnh tranh không bình đẳng giữa các DN với nhau; tig bước thôn tính các DN trong nước trong liên doanh, liên kết; tăng nhập siêu và tiềm ân những nguy cơ bat
ổn xã hội (do báo cáo lỗ nên tìm cách không nâng lương, thưởng cho công nhân, dẫn đến các cuộc đình công, bãi công)
Theo Tổng cục Thuế (2011c), một trong những nguyên nhân làm tăng nguy
cơ chuyển giá tại Việt Nam đó là chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Chính sách ưu đãi thuế TNDN cho các nhà đầu tư nước ngoài và cả nhà đầu tư
trong nước theo vùng và ngành đã tạo ra sự chênh lệch thuế TNDN giữa các khu
vực trong nước và giữa trong nước với các nước và vùng lãnh thổ khác Việc tạo ra
sự chênh lệch thuế suất giữa doanh nghiệp trong và doanh nghiệp ngoài nước; giữa doanh nghiệp được hưởng ưu đãi và doanh nghiệp không được hưởng ưu đãi đã tạo tiền đề để các doanh nghiệp bắt đầu coi trọng việc xác định giá chuyển giao nhằm
tối đa hoá lợi nhuận
Hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp còn thực hiện "tỉnh vi" với các hình thức như: Xác định giá chuyển giao nhằm thôn tính bên liên doanh trong các doanh nghiệp liên doanh, một bên Việt Nam và một bên nước ngoài cùng góp vốn
để thành lập pháp nhân mới, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; Xác định giá chuyển giao nhằm thu hồi vốn đầu tư về nước để tránh rủi ro trong một thị trường phát triển không ổn định
Các DN EDI thực hiện chuyển giá thông qua các hình thức sau:
- Chuyển giá thông qua góp vốn đầu tư: Lợi dụng chính sách thông thoáng về thu hút đầu tư của Việt Nam theo hướng phát huy lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên đất đai và nhân công, đồng thời nắm bắt được hạn chế của Việt Nam về
Trang 32-24-
nguồn lực tài chính và khả năng thẩm định giá trị TSCĐ, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thông qua việc góp vốn bằng dây chuyền máy móc, thiết bị đặc thù được định giá cao hơn nhiều so với giá trị thực tế Việc nâng khống giá trị
vốn góp sẽ đem đến một số lợi ích kinh tế cho nhà đầu tư nước ngoài như:
+ Nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển một phần lợi ích kinh tế ngược trở lại
cho mình thông qua việc trích khấu khao TSCĐ và phân chia lợi nhuận trên tỷ lệ vốn góp.gây thiệt hại cho nhà nước và bên liên doanh Việt Nam
+ Nâng giá trị vốn góp cao hơn sọ với thực tế có thể giúp nhà ĐTNN chiếm
tỷ trọng vốn cao hơn so với bên liên doanh Việt Nam, từ đó nắm quyền kiểm soát
và điều hành doanh nghiệp theo mục đích của mình, thực hiện chuyển giá gây thua
16 trién miên khiến doanh nghiệp Việt Nam không còn đủ tiềm lực tài chính để tiếp
tục hoạt động sản xuất kinh doanh, phải bán lại phần vốn góp cho nhà ĐTNN và liên doanh trở thành doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN
- Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ: Đây là hành vi chuyển giá
thông qua việc các công ty nước ngoài chuyển giao công nghệ sản xuất kinh doanh cho bên liên kết tại Việt Nam và thu tiền bản quyền Chuyển giao công nghệ là loại hình chuyển giao tài sản vô hình, việc định giá đối với loại tài sản này rất khó khăn
và mang tính đặc thù Lợi dụng đặc tính này, doanh nghiệp liên kết ở nước ngoài thường tính phí bản quyền rất cao đối với công ty ĐTNN tại Việt Nam khiến cho chi phi đầu vào bi đây lên cao, kết quả sản xuất kinh doanh thua lỗ, liên doanh Việt Nam chịu thiệt hại, còn khoản phí bản quyền được trả cho bên nước ngoài
- Chuyển giá thông qua chuyển giao nguyên vật liệu, hàng hoá: Hành vi chuyển giá thông qua chuyển giao nguyên vật liệu, hàng hoá là hành vi chuyển giá tương đối phổ biến tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam trong những năm qua, đặc biệt là các doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN, diễn ra tại một số ngành nghề chính như: may mặc, da giày, chế biến lương thực, thực phẩm, Hiện nay, thuế suất thuế TNDN của Việt Nam là tương đối cao (trước kia là 32%, sau giảm xuống còn 28% và hiện nay là 25%) so với một số quốc gia trên thế giới Xuất phát
từ chênh lệch thuế suất thuế TNDN giữa Việt Nam với các quốc gia khác, để tối
Trang 33-25-
thiểu hoá nghĩa vụ thuế của cả hệ thống tập đoàn, công ty mẹ tại nước ngoài đã chỉ
phối đến giá chuyển giao nguyên vật liệu, hàng hoá giữa công ty con tại Việt Nam
với các bên liên kết theo hướng chuyển lợi nhuận từ Việt Nam về công ty liên kết
tại quốc gia có thuế suất thuế TNDN thấp hơn Việt Nam thông qua đẩy giá mua
nguyên vật liệu đầu vào cao hơn giá thị trường và hạ giá bán sản phẩm thấp hơn giá
thị trường
- Chuyển giá thông qua cung, cấp dịch vụ: Việc cug cấp dịch vụ giữa công
ty mẹ với các công ty trong nội bộ tập đoàn và giữa các công ty trong nội bộ tập đoàn với nhau thường rất khó định giá và khó xác định có thực sự phát sinh hay không Lợi dụng đặc tính này, trong những năm qua, một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vốn vào Việt Nam thực hiện hành vi cung cấp các dịch vụ quản lý và hỗ trợ quản lý cho cả tập đoàn (dịch vụ kế toán, tài chính, tư vấn, quản lý tài sản, ), tính giá dịch vụ ở mức cao để chuyển lợi nhuận từ công ty con tại Việt Nam sang công
ty mẹ nhằm tối thiểu hoá nghĩa vụ thuế của công ty con tại Việt Nam
- Chuyển giá thông qua chỉ trả lãi vay vốn sản xuất kinh doanh: Một trong
những hành vi tương đối phổ biến của các doanh nghiệp ĐTNN nhằm tránh nghĩa
vụ thuế TNDN tại Việt Nam trong thời gian qua là thực hiện chuyển giá thông qua
hình thức vay vốn từ bên liên kết và trả lãi suất vay vốn với mức rất cao Với phương thức này, lợi nhuận từ doanh nghiệp ĐTNN tại Việt Nam đã được chuyển sang cho bên liên kết tại nước ngoài có thuế suất thuế TNDN thấp hơn thuế suất
thuế TNDN tại Việt Nam, qua đó, tối thiểu hoá nghĩa vụ thuế của cả tập đoàn Hành
vi này thường xảy ra tại các ngành nghề sản xuất kinh doanh có sử dụng vốn lớn
như: khai thác mỏ; sản xuất, lắp ráp các phương tiện van tai,
¬ Đáng lo ngại hơn là hành vi chuyển giá nhằm tối thiểu nghĩa vụ thuế TNDN không chỉ diễn ra tại các doanh nghiệp FDI, mà còn giữa các bên liên kết trong nội địa Việt Nam do các tập đoàn kinh tế trong nước hoặc thậm chí được thực hiện bởi các công ty là các chủ thể kinh tế độc lập song chủ sở hữu của chúng lại có mối quan hệ thân nhân với nhau lợi dụng chính sách ưu đãi của Nhà nước Chẳng hạn như thành lập một số công ty con hoạt động trong những lĩnh vực và địa bàn khác
Trang 34-26-
nhau, trong đó có những lĩnh vực, địa bàn được ưu đãi thuế TNDN, từ đó tìm cách chuyển lợi nhuận trước thuế từ doanh nghiệp không được ưu đãi thuế sang doanh
nghiệp liên kết được ưu đãi thuế, hoặc chuyển lợi nhuận trước thuế từ doanh nghiệp
có lãi sang doanh nghiệp bị lỗ thông qua giá chuyển giao sản phẩm và cung cấp dịch vụ giữa các bên để giảm thiểu nghĩa vụ thuế tổng hợp của cả tập đoàn hoặc
nhóm công ty có cùng lợi ích Đã có trường hợp các công ty có mối quan hệ liên kết
mua bán lòng vòng trong nội bộ để tạo kết quả kinh doanh tốt cho doanh nghiệp
ˆ chuẩn bị lên sàn chứng khoán, phát hành ob phiếu ra công chúng
Chính vì vậy, tình hình chuyển giá đã và đang là một thực trạng đáng báo động ở Việt Nam hiện nay Trước tình hình đó, một trong những yêu cầu đặt ra là, công tác quản lý thuế phải có những thay đổi để phù hợp hơn với các chuẩn mực, thông lệ và cam kết quốc tế, góp phần tăng cường các biện pháp quản lý, kiểm soát nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia về quyền thu thuế
Trong lĩnh vực thuế, một số sai lệch liên quan đến các chỉ tiêu giao dịch liên
kết có thể ảnh hưởng đến rủi ro trong kê khai nộp thuế của DN như: kê khai tăng chỉ
phí đầu vào hoặc giảm doanh thu ban ra cho cdc DN liên kết để tối thiểu hóa thuế
TNDN phải nộp; chuyển thu nhập từ DN liên kết không được hưởng ưu đãi hoặc ưu
đãi với tỉ lệ thấp hơn sang DN liên kết được hưởng ưu đãi cao hơn, chuyển thu nhập
từ DN này sang DN chuẩn bị lên sàn chứng khoán hoăc phát hành cỗ phiếu ra công
chúng
2.4.6 Các yếu tỗ khác liên quan đến tình hình hoạt động kinh doanh:
Số thuế phải nộp: bằng nghiên cứu thực nghiệm của Friedland và ctg (1987),
cho thấy rằng người ta ít tuân thủ khi mức thuế cao Singh (2003) va Somasundram
(2005) tuyên bố rằng từ khi hình thành cơ chế tự khai tự nộp, tuân thủ thuế trở
thành một vấn đề quan trọng trong hệ thống thuế, theo quan điểm này cho thấy tổng
số thuế phải nộp phụ thuộc nhiều vào mức độ tuân thủ thuế Cơ quan thuế sẽ kiểm tra hình thức kê khai của doanh nghiệp để phát hiện việc không tuân thủ thuế
Cơ chế quản lý của ngành thuế là người nộp thuế tự khai, tự tính, tự nộp thuế
vào Ngân sách Nhà nước Số thuế TNDN phải nộp, quy mô, tình hình hoạt động
Trang 35=27-
kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh và ghi nhận trên tờ khai quyết toán
thuế TNDN hàng năm và báo cáo tài chính nộp cho cơ quan thuế
Trong Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 quy định: Căn cứ tính thuế TNDN là thu nhập tính thuế và thuế suất Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế
được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ
được kết chuyên từ các năm trước
Thu nhập chịu thuế bằng doanh thu trừ các khoản chi được trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh cộng thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được ở ngoài Việt
Nam Các chỉ tiêu tài chính thể hiện trên tờ khai quyết toán thuế TNDN hàng năm
và báo cáo tài chính bao gồm: doanh thu, chỉ phí lãi vay, chỉ phí đầu tư tài sản cố
định, quy mô tổng tài sản ảnh hưởng đến thuế TNDN phải nộp
Trong Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 quy định: Thuế GTGT là
thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ
sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế
và thuế suất Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng gồm phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
- Ngành nghề hoạt động SXKD của DN: theo kết quả kiểm tra tình hình tuân thủ pháp luật về thuế trong những năm qua xét thấy các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại thường có xu hướng tuân thủ thuế kém hơn các ngành khác, do hiện nay các hình thức thanh toán tại Việt Nam đối với hoạt động thương
mại khó có thể kiểm soát hết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của doanh nghiệp do
đa số các doanh nghiệp chủ yếu sử dụng tiền mặt trong thanh toán Do vậy, ngành
nghề kinh doanh cũng ảnh hưởng ít nhiều đến rủi ro trong kê khai nộp thuế Thực
hiện kinh doanh theo đúng ngành nghề giúp cơ quan quản lý dễ kiểm soát các hoạt
động của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm phát hiện những gian dối trong việc thực hiện nghĩa vụ với NSNN
Ngoài ra, chỉ tiêu loại hình kinh tế của DN cũng là những đặc trưng của DN
được đưa ra phân tích dưới góc độ ảnh hưởng đến rủi ro trong kê khai nộp thuế của
DN
Trang 36-28-
2.5 Các nghiên cứu trước về hành vi tuân thủ thuế:
Theo Chau và Leung (2009) một đánh giá quan trọng về mô hình của Fisher
và các cộng sự năm 1992 được thực hiện bằng cách biến đổi mô hình một nghiên cứu tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người nộp thuế Theo mô hình
của Fisher và các cộng sự thực hiện xem xét toàn diện các tài liệu về tuân thủ thuế
xác định được 14 yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế, các yếu tố này được phân thành bốn nhóm yếu tố chính bao gồm nhóm yếu tố về chủ doanh nghiệp, thời
điểm không tuân thủ, thái độ và nhận thức và cấu trúc hệ thống thuế
Mô hình của Chau và Leung (2009), biến đỗi từ mô hình của Fisher và
các cộng sự (1992):
Thời điểm không tuân thủ
Mức thu nhập, nguôn thu nhập,
ngành nghề ®————I
Các biến về © chủ doanh nghiệp:
Tuổi, giới tính, trình
độ học vấn
Cấu trúc / Hệ thống thuế '| Sự phức tạp của hệ thống thuế Hành vi tuân thũ
Khả năng phát hiện và xử phạt $#—*|_ của người nộp thuế
đa dạng của hành vi không tuân thủ của các doanh nghiệp được quan tâm nhiều hơn, điều này có ý nghĩa đáng kể về tính công bằng giữa cá nhân và doanh nghiệp, ngoài các yếu tố của mô hình Eisher các yếu tố về văn hóa như chuẩn mực xã hội và
Trang 37thủ thuế bao gồm xác suất bị kiểm toán, nhận thức về chỉ tiêu chính phủ, nhận thức
về công, bằng và bình đẳng, hình phạt, hạn chế về tài chính, sự thay đổi chính sách hiện hành của chính phủ, các tổ chức liên quan, vai trò của cơ quan thuế và kiến
thức thuế Kết quả khảo sát thu được từ, 1073 người được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng sáu đến tháng tám năm 2007 cho thấy rằng kiến thức thuế có tác
động đáng kế về việc tuân thủ thuế mặc dù mức độ kiến thức thuế thay đổi đáng kể
trong số những người trả lời Kết quả cũng chỉ ra rằng việc tuân thủ thuế bị ảnh
hưởng đặc biệt bởi xác suất được kiểm toán, nhận thức của chỉ tiêu chính phủ, hình
phạt, khó khăn tài chính cá nhân
Mô hình hồi quy của Mohd và Ahmad (2011):
TCDIR; = a+ BiProbAuditi + j;GovSpemd; + P3Equity; + ByPenalty;
+ B;FinCons; + BgChanges; + ByGroup; + BsRole; + BoTnTotal; + BipGender; + BuIncome;+ BrAge+ Bi3Educ; + B;4Course;+ B;sAudited; + ¢;
Trong đó:
(TCDIRi) Mức độ ảnh hưởng của các biến đến hành vi tuân thủ thuế; (ProbAuditi) Xác suất được kiểm toán; (GovSpemdi) Sự nhận thức về chỉ tiêu của
Chính phủ; (Equityi) Nhận thức về sự công bằng và hợp ly; (Penaltyi) Mức phạt và
cưỡng chế; (FinConsi) Hạn chế của tài chính cá nhân; (Changesi) Thay đổi chính sách của chính phủ; (Groupi) Khu vực nghiên cứu; (Roleï) Vài trò của cơ quan thuế;
(TnTotali) Mức độ hiểu biết về thuế; Và một số biến về nhân khẩu
Alabede và các tác giả (2011) nghiên cứu ảnh hưởng của tình trạng tài chính
lên các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế ở Nigeria Nghiên cứu này mở
rộng mô hình tuân thủ thuế của Fischer bằng cách kết hợp các yếu tố về dân tộc,
chất lượng dịch vụ về thuế, chất lượng quản lý công và các điều kiện tài chính của
người nộp thuế, kết quả hồi quy cho thấy sự hiện diện của tình hình tài chính như
Trang 38~30-
yếu tố điều tiết trong mô hình Fischer miêu tả rõ ràng hơn về hành vi tuân thủ về thuế ở Nigeria Ngoài ra nghiên cứu này còn cho thấy tình hình tài chính ảnh hưởng tương đối lớn đến mối quan hệ giữa thu nhập và hành vi tuân thủ thuế
Mô hình hồi quy của Alabede và các tác giả (2011):
Tax Compliance = Øạ + /¡Tax System Structure + /Ø;Attitude to Tax Evasion + /;Income Source + Ïncome Level +⁄Ø;Occupation + ØTax System Structure *Financial Condition '+ Ø;Attitude *Einancial Condition + Bslncome Source *Financial Condition + foIncome Level *Financial
Condition + #;,Occupation Financial Condition
Kasipillai và Jabar (2006) nghiên cứu thái độ và hành vi tuân thủ thuế giữa giới tính và các nhóm sắc tộc tại Malaysia, được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 153 người nộp thuế trong khoảng thời gian hai tháng đầu năm
2003 Kết quả phân tích hồi quy cho thấy giới tính, trình độ học vấn và tình hình khai thuế có ý nghĩa thống kê là yếu tố quyết định trực tiếp đến thái độ tuân thủ thuế
và hành vi không tuân thủ thuế
2.6 Nghiên cứu của Tổng cục Thuế:
Theo Tổng cục Thuế (2011b), để hỗ trợ cho công tác thanh tra, kiểm tra Tổng cục Thuế thí điểm xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá rủi ro về thuế áp dụng tại 6 đơn vị là: Thanh tra Tổng cục Thuế, Cục Thuế Thành phố Hà Nội, Cục Thuế Thành
phố Hồ Chí Minh, Cục Thuế tỉnh Bình Dương, Cục Thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,
Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh Bộ tiêu chí này bao gồm 16 chỉ tiêu với 5 nhóm, cụ thể như sau: (1) Đánh giá về tuân thủ khai thuế, tính thuế gồm 1 tiêu chí, (2) Phân loại doanh nghiệp theo loại hình kinh tế gồm 1 tiêu chí, (3) Đánh giá sự biến động về kê
khai giữa các năm gồm 2 tiêu chí, (4) Đánh giá về tình hình tài chính gồm 10 tiêu
chí, (5) Lịch sử thanh tra của NNT gồm 2 tiêu chí
Từng tiêu chí được gán điểm rủi ro theo thang điểm từ 1 đến 4 và sử dụng phần mềm Excel để cộng điểm rủi ro cho từng ĐTNT Các đối tượng được chọn
Trang 39-31-
vào kế hoạch thanh tra dựa trên mức điểm rủi ro từ cao đến thấp và nguồn lực của
bộ phận thanh tra, kiểm tra :
- Qua nghiên “cứu mơ hình đánh giá đánh giá rủi ro về thuế, tác giả nhận thấy nghiên cứu của Tổng cục TÌ huế cịn một số hạn chế như sau:
- Vấn đề quy mơ DN đã được xem xét trong quy trình nhưng chỉ là một tiêu thức để lựa chọn hơn là một sự phân luồng ngay từ đầu để quản lý
- Cơ sở dữ liệu chủ yếu là các thơng tin từ Tờ khạ quyết tốn thuế thu nhập
doanh nghiệp (trong đĩ bao gồm dữ liệu từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh)
của một số năm gần đây Dữ liệu về các báo cáo tài chính khác cũng như kết quả
thanh tra, kiểm tra thuế trong quá khứ chưa được chuẩn hĩa và số hĩa đề cĩ thể liên kết với thơng tỉn tài chính nhằm thực hiện việc phân tích thống kê Nên một số tiêu
chí khơng cĩ số liệu để phân tích
- Hệ thống lựa chọn trên cơ sở phân tích đang ứng dụng phương pháp cho điểm dựa trên nguyên tắc nội suy trong tổng thể cùng kỳ, cùng ngành, cùng quy mơ Chưa so sánh với dữ liệu chuẩn cũng như mơ hình đánh giá rủi ro vì chưa cĩ các
thơng số này Ngồi ra, thơng tin về ngành nghề SXKD của DN chưa đúng với thực
tế nên dẫn tới tỷ lệ bình quân ngành chưa chính xác
- Hệ thống chỉ tiêu thiếu các chỉ tiêu dựa trên Bảng cân đối kế tốn nên khả
năng tầm sốt rủi ro bị hạn chế Điều này xuất phát từ dữ liệu trên Tờ khai quyết tốn thuế TNDN được số hĩa chỉ bao gồm thơng tin về kết quả kinh doanh và xác định thu nhập chịu thuế Một số chỉ tiêu được đặt ra nhưng hệ thống cơ sở dữ liệu
của ngành thuế cịn thiếu nên ảnh hưởng đến việc phân tích, đánh giá
- Hệ thống các tiêu chí chưa cĩ chỉ tiêu đánh giá các DN kinh doanh đa
ngành nghề, DN chế xuất và đặc biệt là DN cĩ quan hệ liên kết Đây là đối tượng
mà ngành thuế cần tập trung quản lý thuế nĩi chung và trong cơng tác thanh tra, kiểm tra nĩi riêng để thực hiện tốt cơng tác chống chuyển giá giữa các DN cĩ giao dịch liên kết và đảm bảo tăng thu cho NSNN
- Việc cho điểm rủi ro, đánh giá rủi ro cịn sử dụng phương pháp thủ cơng, chưa khoa học, chưa sử dụng các mơ hình đánh giá rủi ro dựa trên kỹ thuật phân
Trang 40-32-
tích thống kê nên chưa đánh giá được tác động của từng chỉ tiêu có thể ảnh hưởng
đến rủi ro trong việc kê khai nộp thuế của DN
Tóm lại, hệ thống tiêu chí trên phù hợp với đặc điểm của hệ thống quản lý
thuế hiện tại (thiếu cơ sở đữ liệu, các phần mềm lựa chọn còn ở mức ban đầu và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin thấp ) nhưng còn đơn giản và thiếu sót Do
đó, khả năng ứng dụng và thực tiễn còn khó khăn vì:
- Khả năng lựa chọn đối tượng có rủi ro sai lệch thuế thì rất hạn chế Điều này dẫn đến việc kiểm tra, thanh tra không mang lại kết quả, nghĩa là không phát hiện hoặc chỉ phát hiện được những sai lệch thuế không quan trọng Một mặt, sẽ
làm tốn kém chỉ phí cơ hội cho công tác kiểm tra, thanh tra; mặt khác sẽ không có
tác dụng thúc đẩy sự tuân thủ
- Vé lau dài, hệ thống chỉ tiêu phân tích dựa trên quá trình cho điểm với số
lượng chỉ tiêu ít và đơn giản như trên sẽ dễ đàng bị đối phó bởi các DN có ý định né tránh việc kiểm tra, thanh tra thuế
- Hệ thống chỉ tiêu phân tích hoàn toàn dựa trên tính nội suy mà không có chỉ tiêu phản hồi từ các kết quả kiểm tra thực tế sẽ không thể cung cấp dữ liệu để đánh
giá, cải tiến các chỉ tiêu
2.7 Mô hình nghiên cứu đề nghị:
Trên cơ sở lý thuyết, các lý thuyết về sự không chắc chắn và rủi ro kê khai
nộp thuế, dựa theo các nghiên cứu trước và nghiên cứu kiểm soát rủi ro tuân thủ của
Tổng cục Thuế và nghiên cứu thực tế về phân tích đánh giá ảnh hưởng các yếu tố
đến rủi ro kê khai nộp thuế của doanh nghiệp tại TP.HCM, Người viết đề xuất mô hình nghiên cứu phân tích tương quan về mức độ rủi ro kê khai thuế của DN dựa trên các tiêu chí nội sinh mà nghiên cứu của Tổng cục thuế đã đưa ra như: Hệ số khả năng toán nhanh, Tỷ lệ giá vốn hàng bán/ doanh thu thuần, Tỷ lệ lợi nhuận sau
thuế/ doanh thu thuần, Tỷ lệ lợi nhuận trước thuế / vốn chủ sở hữu, Biến động của
tỷ lệ Thuế TNDN phát sinh/ Doanh thu giữa các năm, Biến động của tỷ lệ Thuế
GTGT phát sinh/ doanh thu hàng hoá dịch vụ bán ra giữa các năm, , Số thuế truy
thu tuyệt đối của kỳ thanh tra gần nhất, Chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn