1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN LUẬT DÂN SỰ ÁP DỤNG TẬP QUÁN TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

12 194 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 201,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập quán khi được nhà nước thừa nhận là một loại nguồn của pháp luật thì việc áp dụng tập quán cũng được hiểu là áp dụng pháp luật, do đó, việc áp dụng cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính pháp lý, tránh tùy tiện trong việc áp dụng. Vấn đề đặt ra là, có phải tất cả các tập quán tồn tại trong xã hội đều được coi là nguồn của pháp luật không và việc áp dụng tập quán trong điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ dân sự nói riêng phải tuân theo những nguyên tắc nào? Xuất phát từ nhận thức đó, em lựa chọn vấn đề: “Áp dụng tập quán trong pháp luật dân sự Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu cho tiểu luận kết thúc học phần. Bài viết tìm cách trả lời các câu hỏi trên thông qua việc làm rõ khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc áp dụng của tập quán…, đồng thời phân tích các nguyên tắc của việc áp dụng tập quán đó.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN

SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ

ÁP DỤNG TẬP QUÁN TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Tập quán là một loại quy tắc xử sự có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của con người Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, tập quán đã ra đời nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội từ trước khi có nhà nước, pháp luật

và cho đến ngày nay nó vẫn còn tồn tại Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của tập quản trong việc giữ gìn trật tự xã hội, kể từ khi ra đời, nhà nước đã lựa chọn những tập quán phù hợp với ý chí giai cấp thống trị để nâng lên thành pháp luật Trên thế giới cũng đã có nhiều quốc gia thừa nhận tập quán làm nguồn của pháp luật

Ở Việt Nam trước đây, do nhiều nguyên nhân có cả chủ quan và khách quan, trong một vài giai đoạn lịch sử, nhà nước ta không thừa nhận tập quán là một loại nguồn của pháp luật Nhưng hiện nay, bên cạnh văn bản quy phạm pháp luật với vai trò là nguồn chủ yếu thì tập quán đã được coi là nguồn bổ trợ Trong nỗ lực đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, phù hợp, khả thi thì sự thừa nhận tập quán có vai trò vô cùng quan trọng Trên bình diện các lĩnh vực luật khác nói chung và lĩnh vực dân sự nói riêng, một số tập quản đã được sự thừa nhận và đảm bảo thực hiện từ phía Nhà nước, chúng được gọi là tập quán pháp

Việc áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc dân sự là hoạt động có cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn, nó phù hợp với yêu cầu của hội nhập quốc tế, làm cho hệ thống pháp luật thực sự có tính mở và năng động Nhưng cho đến nay lại chưa có một

cơ chế đồng bộ, khoa học để các quy định pháp luật về áp dụng tập quán được đảm bảo thực thi trên thực tiễn nhằm tạo sự thuận lợi cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong giải quyết các tranh chấp dân sự, đảm bảo các bản án, quyết định dân sự luôn được tuyên có căn cứ, đúng pháp luật

Tập quán khi được nhà nước thừa nhận là một loại nguồn của pháp luật thì việc

áp dụng tập quán cũng được hiểu là áp dụng pháp luật, do đó, việc áp dụng cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính pháp lý, tránh tùy tiện trong việc áp dụng Vấn đề đặt ra là, có phải tất cả các tập quán tồn tại trong xã hội đều được coi là nguồn của pháp luật không và việc áp dụng tập quán trong điều chỉnh các quan

hệ xã hội nói chung, quan hệ dân sự nói riêng phải tuân theo những nguyên tắc nào? Xuất phát từ nhận thức đó, em lựa chọn vấn đề: “Áp dụng tập quán trong pháp luật dân

sự Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu cho tiểu luận kết thúc học phần Bài viết tìm cách trả lời các câu hỏi trên thông qua việc làm rõ khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc áp dụng của tập quán…, đồng thời phân tích các nguyên tắc của việc áp dụng tập quán đó

Kết cấu bài tiểu luận gồm 5 nội dung chính sau:

Phần 1: Cơ sở lý luận

Phần 2: Nguyên tắc, điều kiện áp dụng tập quán theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 Phần 3: Thực trạng việc áp dụng tập quán trong pháp luật dân sự Việt Nam

Phấn 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm áp dụng tập quán trong pháp luật dân sự Việt Nam

Trang 4

Phần 5: Kết luận

PHẦN I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP QUÁN VÀ TẬP QUÁN PHÁP 1.1 Cơ sở lý luận :

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tập quán

Tập quán là một thuật ngữ có nhiều cách hiểu và nhiều cách tiếp cận

Góc độ ngôn ngữ phổ thông, tập quán là thói quen hình thành đã lâu trong đời

sống và được mọi người tuân theo

Góc độ pháp lý, thuật ngữ tập quán chưa được định nghĩa trong các văn bản luật.

Tuy nhiên, có thể hiểu khái niệm tập quán như sau: tập quán là quy tắc xử sự được hình thành trên cơ sở thói quen, có nội dung rõ ràng, được thừa nhận trong đời sống xã hội của một cộng đồng người, được cộng đồng nơi tập quán đó tồn tại lấy làm chuẩn mực để thực hiện, điều chỉnh, đánh giá hành vi của các thành viên trong cộng đồng Những nội dung nghiên cứu tiếp theo em cũng sẽ đề cập đến tập quán từ góc độ này và theo khái niệm nêu trên

1.1.2 Đặc điểm của tập quán

Tập quán là một loại quy tắc xử sự tồn tại bên cạnh nhiều loại quy tắc xử sự khác trong đời sống xã hội như đạo đức, pháp luật song tập quán luôn có những điểm khác biệt so với những loại quy tắc này

Điểm khác biệt đó được thể hiện qua các đặc điểm sau:

Thứ nhất, tập quán không mang tính quyền lực nhà nước Không giống như pháp

luật, quá trình hình thành tập quán và nội dung các tập quán không chịu sự chỉ đạo hay

áp đặt từ nhà nước Trong nội bộ cộng đồng thì tập quán được hình thành một cách tự phát như một nhu cầu tất yếu không thể thiếu để duy trì trật tự và ổn định của cộng đồng đó Tập quán không phản ánh ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một tầng lớp trong xã hội mà nó phản ánh ý chí của toàn thể cộng đồng, nhằm ổn định trật tự có lợi cho toàn bộ các thành viên Họ chấp nhận tập quán một cách đương nhiên với lòng tin

về tính chính xác, công bằng của các quy tắc xử sự này Một giai cấp, tầng lớp nào đó

sẽ không thể coi tập quán là công cụ để duy trì địa vị thống trị trong xã hội

Thứ hai, tập quán mang tính cộng đồng Tập quán là sản phẩm của quá trình tích

lũy các kinh nghiệm trong đời sống và xã hội, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế

hệ khác vì thế nó tồn tại lâu bền, gần gũi với lối sống và tâm lý, dường như ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người và trở thành tiêu chuẩn cho hành vi ứng xử của các thành viên trong cộng đồng Các quy tắc tập quán thường được họ thực hiện một cách tự giác, tự nguyện, không ép buộc

Thứ ba, tập quán có tính đa dạng Tập quán hình thành, tồn tại gắn liền với hoạt

động của con người trên các lĩnh vực khác nhau và nó có mặt trong mọi giai đoạn phát triển của xã hội loài người Quy tắc xử sự này hình thành luôn gắn với một cộng đồng dân cư nhằm mang lại lợi ích riêng cho từng cộng đồng, mà mỗi một cộng đồng lại có các điều kiện kinh tế – xã hội, môi trường văn hóa khác nhau, hướng đến các lợi ích cũng khác nhau, do vậy, tập quán của họ hẳn cũng phải khác nhau, điều đó làm nên

Trang 5

tính đa dạng Chính sự tồn tại hết sức phong phú của tập quán trong đời sống xã hội là điều kiện tiên quyết cho việc áp dụng tập quán trong điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng

Thứ tư, tập quán mang tính linh hoạt Tập quán là kết quả của quá trình hình

thành và phát triển lâu dài trong đời sống xã hội, chủ yếu thông qua thực hành xã hội,

do vậy, tập quán thường mang tính ổn định, khó thay đổi Tuy nhiên, với tư cách là một loại công cụ để quản lý và điều hành xã hội thì tập quán luôn gắn bó phù hợp với điều kiện thực tiễn Vì vậy, tập quán có khả năng tự biến đổi linh hoạt để thích ứng với

sự phát triển của thực tế cuộc sống Tính linh hoạt cũng chính là cơ sở quan trọng tạo nên giá trị sử dụng lâu bền của tập quán

PHẦN II NGUYÊN TẮC, ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG TẬP QUÁN THEO QUY ĐỊNH CỦA

BỘ LUẬT DÂN SỰ 2.1 Điều kiện áp dụng tập quán

Việc áp dụng tập quán bao gồm bốn điều kiện dưới đây:

1 Có phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự.

2 Pháp luật không quy định riêng và các bên không thoả thuận.

3 Phải có tập quán được áp dụng trong một địa phương, vùng, miền

4 Tập quán không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái với đạo

đức xã hội

Nội dung “nguyên tắc áp dụng tập quán” tiếp theo đây sẽ làm cụ thể hơn bốn điều kiện nêu trên

2.2 Nguyên tắc áp dụng tập quán

Tập quán tồn tại trong thực tế cuộc sống vô cùng phong phú, đa dạng nhưng không phải bất cứ tập quán nào cũng được nhà nước thừa nhận với tư cách là nguồn của pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ dân sự nói riêng

Để được thừa nhận áp dụng với tư cách là nguồn của pháp luật, tập quán phải đảm bảo những điều kiện nhất định và việc áp dụng nó cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính pháp lý và tránh sự tùy tiện trong quá trình áp dụng Nguyên tắc áp dụng tập quán theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 là những tư tưởng cơ bản chỉ đạo hoạt động áp dụng tập quán trong điều chỉnh các quan hệ dân sự Những nguyên tắc này được quy định cụ thể tại Điều 5 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

“ 1 Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân

sự

Trang 6

2 Trường hợp các bên không có thoả thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này”

Như vậy, theo điều luật trên thì tập quán chỉ được thừa nhận áp dụng để điều chỉnh các quan hệ dân sự với tư cách là một nguồn luật khi đảm bảo các điều kiện sau đây:

2.1.1 Tập quán phải rõ ràng để xác định được quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ dân sự:

Một tập quán để được nhà nước thừa nhận áp dụng thì tập quán đó phải mang tính quy phạm, là mô hình chuẩn mực cho hành vi ứng xử của các chủ thể tham gia các quan hệ dân sự Nói cách khác, tập quán phải là quy tắc xử sự chung mang tính khuôn mẫu, là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của các bên tham gia vào quan hệ dân sự mà tập quán đó điều chỉnh

Tính rõ ràng của tập quán được xem xét dưới hai khía cạnh:

Một là, tập quán phải có nguồn gốc rõ ràng, phải xác định được tập quán đó thuộc

lĩnh vực nào của đời sống dân sự hoặc vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư nào Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, đây không chỉ là căn cứ để lựa chọn tập quán áp dụng mà còn là giải pháp để giải quyết những tình huống tranh chấp trong quá trình áp

dụng tập quán Ví dụ, khoản 2 Điều 29 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ Trường hợp cha đẻ, mẹ

đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thoả thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn” Như

vậy, khi căn cứ vào tiêu chí này sẽ xác định được tập quán cần áp dụng cũng như giải quyết được vấn đề xung đột trong áp dụng tập quán

Hai là, tập quán phải có nội dung rõ ràng, nội dung của tập quán phải chứa đựng

các quy tắc xử sự cụ thể để các chủ thể liên quan có thể hiểu và thực hiện được; hoặc nếu họ không phải là người thực hiện thì họ cũng có thể đánh giá được tính phù hợp hay không phù hợp tập quán từ những hành vi của người khác Với những tập quán có nội dung không rõ ràng thì không được thừa nhận áp dụng để điều chỉnh các quan hệ dân sự với tư cách là một nguồn luật, bởi lẽ, nếu áp dụng một tập quán có nội dung không rõ ràng thì các bên trong quan hệ dân sự không thể hoặc rất khó có thể xác định được quyền và nghĩa vụ, điều này có thể dẫn đến việc các bên không thể thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của mình, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu lực, hiệu quả của quan hệ đó, hơn nữa, trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì các chủ thể có liên quan khác cũng rất khó để đánh giá tính phù hợp hay không phù hợp tập quán khiến cho việc giải quyết vụ việc trở nên khó khăn, phức tạp hơn

2.1.2 Tập quán phải là thói quen được hình thành, thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong đời sống xã hội:

Tập quán là thói quen được hình thành từ cuộc sống, là kết quả của quá trình trải nghiệm của các thành viên trong cộng đồng Hình thức tồn tại chủ yếu của tập quán là thông qua thực hành xã hội mà lưu truyền từ đời này sang đời khác Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, thói quen xử sự của một cá nhân không được cộng đồng thừa nhận và

Trang 7

áp dụng rộng rãi thì không phải là tập quán Ví dụ, một người có thói quen uống cà phê vào mỗi buổi sáng, thói quen này không phải là tập quán vì nó chỉ là thói quen của riêng người đó và không được cộng đồng thừa nhận

Tập quán có thể là tập quán trong nước hoặc tập quán quốc tế Tập quán quốc tế

là những tập quán được hình thành và có giá trị điều chỉnh các quan hệ xã hội trên phạm vi lãnh thổ của nhiều quốc gia, để được thừa nhận là nguồn của pháp luật thì tập quán đó phải được các chủ thể của luật quốc tế thừa nhận áp dụng Ngoài ra, tập quán được áp dụng phải tồn tại một cách rõ ràng, công khai, phổ biến vào thời điểm áp dụng

và có tính liên tục, các chủ thể có liên quan phải nhận biết được sự tồn tại của tập quán

đó Các chủ thể đương nhiên không thể áp dụng một tập quán mà bản thân họ cũng không thể xác định, nhận biết được sự có hay không tồn tại của nó trong thực tiễn Thêm vào đó, một tập quán mặc dù đã từng được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong đời sống xã hội nhưng đã bị mai một và không còn được áp dụng phổ biến nữa thì tập quán đó cũng không được thừa nhận áp dụng để điều chỉnh các quan hệ dân sự ở thời điểm xảy ra tranh chấp

2.1.3 Tập quán được áp dụng trong trường hợp các bên không có thoả thuận và pháp luật không quy định:

Dân sự thuộc lĩnh vực luật tư, vì vậy, một nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

là tôn trọng sự tự do, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận của các bên tham gia quan hệ, đương nhiên sự thỏa thuận đó phải đảm bảo không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Bộ luật dân sự 2015:

“Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán” Theo Bộ luật dân sự 2015 thì đã có sự ưu tiên thừa nhận thỏa thuận

của các bên hơn trong việc thiết lập, thực hiện các quan hệ dân sự so với việc áp dụng các quy định pháp luật

Theo em, sự thay đổi này là phù hợp với bản chất của quan hệ dân sự, nó đảm bảo tốt hơn quyền tự do, tự nguyện trong xác lập quan hệ dân sự Bộ luật dân sự 2015 mặc dù đã có sự thay đổi tích cực hơn khi quy định về trường hợp áp dụng tập quán, tuy nhiên, Bộ luật này vẫn chưa khắc phục được những hạn chế của các Bộ luật dân sự trước đó khi vẫn chỉ đưa ra quy định mang tính nguyên tắc về việc thừa nhận áp dụng tập quán mà chưa làm rõ nhiều vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng Chẳng hạn, có phải mọi trường hợp “các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định” thì tập quán đương nhiên được áp dụng không hay chỉ áp dụng tập quán trong một số trường hợp nhất định? Khi có tranh chấp dân sự xảy ra cần có sự can thiệp của nhà nước mà các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định, lúc đó, các cơ quan có thẩm quyền không áp dụng tập quán để giải quyết thì có được không? Hay trường hợp các bên đương sự cư trú ở các địa phương khác nhau thì lựa chọn tập quán của bên nào để áp dụng, các bên có được lựa chọn áp dụng tập quán của địa phương khác để điều chỉnh chính quan hệ dân sự của mình không? Về thẩm quyền lựa chọn tập quán để áp dụng là quyền của cơ quan giải quyết tranh chấp hay quyền của các bên đương sự? Để việc áp dụng tập quán được thuận tiện và hiệu quả thì các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự 2015 nên quy định cụ thể hơn về những vấn đề này

Trang 8

2.1.4 Tập quán được áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự:

Nguyên tắc cơ bản của pháp luật là nền tảng, là sợ chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hệ thống pháp luât Áp dụng tập quán được nhà nước thừa nhận cũng chính là áp dụng pháp luật, vì vậy, việc áp dụng tập quán phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật được xác định là công cụ quan trọng nhất trong việc đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển ổn định, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, mọi hoạt động của các chủ thể trong xã hội đều phải tuân thủ pháp luật Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định cụ thể tại Điều 3 Bộ luật dân sự 2015 Theo

đó, việc áp dụng tập quán trong lĩnh vực dân sự phải đáp ứng các điều kiện: Tập quán được áp dụng phải đảm bảo cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ

lý do nào để phân biệt đối xử Các quy định tập quán không đảm bảo điều kiện này thì

sẽ không được phép áp dụng Chẳng hạn, tập quán phạt vạ khi vợ, chồng ly hôn, tập quán chỉ để lại thừa kế cho con gái, hay tập quán nếu nhà trai không có tiền cưới và đồ sính lễ, thì sau khi kết hôn, người con rể buộc phải ở rể để trả công cho bố mẹ vợ… là những tập quán thể hiện sự bất bình đẳng về giới hay ít nhiều ảnh hưởng đến quyền tự

do của vợ chồng thì sẽ không được phép áp dụng

Tập quán được áp dụng không được trái đạo đức xã hội Trước khi có nhà nước

và pháp luật thì bản thân các quan hệ xã hội đã được điều chỉnh bằng các loại quy phạm xã hội khác trong đó không thể không kể đến các quy phạm đạo đức “Trong xã hội có hay không có nhà nước thì đạo đức luôn là kim chỉ nam cho hành động và là nền tảng để xã hội phát triển bền vững” Một tập quán trái đạo đức xã hội thì không thể được áp dụng làm chuẩn mực ứng xử cho các quan hệ dân sự và nếu một quan hệ dân sự được thiết lập dựa trên một tập quán trái đạo đức xã hội thì quan hệ đó bị coi là bất hợp pháp

Tập quán được áp dụng không xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác Tập quán tồn tại trên thực

tế vô cùng phong phú, đa dạng Việc áp dụng một tập quán cụ thể trong những trường hợp nhất định có thể có lợi cho cá nhân, cộng đồng, nhóm xã hội này nhưng không có lợi cho cá nhân, cộng đồng, nhóm xã hội khác Để đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội thì việc áp dụng tập quán phải đảm bảo nguyên tắc không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Quán triệt quan điểm này không chỉ tạo ra sự công bằng trong các quan hệ xã hội, ổn định trật tự xã hội mà còn góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Thực tế cho thấy, tập quán có tác động không nhỏ đến việc tiếp nhận

và thi hành pháp luật của người dân Tập quán lạc hậu sẽ trở thành lực cản trong việc tiếp nhận và thi hành pháp luật Ngược lại, tập quán tốt đẹp, tiến bộ, phù hợp với điều kiện thực tiễn sẽ góp phần làm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh,

tự giác hơn, dựa trên lòng tin và sự tuân thủ sẵn có của người dân đối với các tập quán

Trang 9

PHẦN III THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG TẬP QUÁN 3.1 Thực trạng áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc dân sự

3.1.1 Về mặt tích cực:

Trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật Áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc

dân sự là quy định đã được đề cập đến Sự ra đời của quy định này góp phần làm cho hệ thống pháp luật trở nên hoàn thiện hơn, hỗ trợ cho thực trạng thiếu hụt quy phạm pháp luật thành văn, ngoài ra quy định này còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng hoạt động hiệu quả qua đó quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân được đảm bảo tốt hơn

Thời gian vừa qua việc áp dụng tập quán đã được thực hiện và ngày càng đạt hiệu quả , chứng minh cho việc thừa nhận tập quán có vai trò bổ trợ trong nguồn pháp luật

là đúng đắn và cần thiết Thành công này không thể thiếu sự quan tâm của các cấp ủy Đảng và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt phải kể đến là toà án nhân dân tối cao đối với tập quán pháp Bên cạnh đó, hoạt động nghiên cứu khoa học về tập quán pháp, về áp dụng tập quán bổ trợ cho pháp luật được đẩy mạnh cũng làm hoàn thiện thêm cơ sở lý luận để phản ánh khách quan thực trạng đồng thời đề xuất những giải phù hợp đối với vấn đề này

3.1.2 Về mặt hạn chế:

Bên cạnh những ưu điểm thì hoạt động áp dụng tập quán vẫn tồn tại những nhược điểm nhất định cụ thể là việc các cơ quan có thẩm quyền áp dụng tập quán vẫn còn rất khiêm tốn Điều đáng nói là không phải do không có những vụ, việc cần áp dụng tập quán mà trong hoàn cảnh có vụ, việc cần áp dụng song Toà án nhân dân lại từ chối, né tránh áp dụng hoặc áp dụng không có hiệu quả Thậm chí nhiều trường hợp Tòa án cấp dưới áp dụng tập quán hiệu quả nhưng lại bị cấp trên hủy, sửa vì lý do không nhất trí về quan điểm hoặc vì những lý do khác

Những bất cập trong việc áp dụng không hiệu quả những quy định cho phép tập quán tham gia quan hệ tố tụng dân sự, quan hệ dân sự bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân:

Xét về lý luận, các công trình nghiên cứu và các tài liệu học tập, giảng dạy để áp

dụng tập quán hiệu quả hơn vẫn còn là thiếu sót ở Việt Nam hiện nay

Xét về pháp lý, do thiếu cơ chế chi tiết để áp dụng tập quán, sự bất cập, thiếu

đồng bộ, thiếu quy định chi tiết làm cho các nhà tư pháp không thể sử dụng quyền áp dụng tập quán luật định Ngoài ra, nguyên nhân năng lực chủ thể, nguyên nhân về kỹ thuật cũng góp phần gây trở ngại cho hoạt động áp dụng tập quán trong xét xử dân sự

ở Việt Nam

PHẦN IV

Trang 10

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG TẬP QUÁN TRONG

PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 4.1 Quan điểm về hoạt động áp dụng tập quán

Việc để quy phạm tập quán tham gia điều chỉnh các quan hệ pháp luật là một

trong những giải pháp đúng đắn của Nhà nước ta trong nỗ lực xây dựng và hoàn thiện

hệ thống pháp luật Mặc dù trong hoạt động lập pháp, lập quy ở Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc song nguồn tập quán vẫn luôn có một vị trí nhất định trong hệ thống pháp luật về dân sự Tuy vậy không thể phủ nhận, việc áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ, việc dân sự hiện vẫn còn nhiều hạn chế Để khắc phục hạn chế này thiết nghĩ các nhà khoa học phải tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn lý luận về

áp dụng tập quán, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần triển khai một hệ thống giải pháp đồng bộ làm khả thi nguyên tắc áp dụng tập quán trong xét xử những vụ, việc dân sự

4.1 Giải pháp bảo đảm áp dụng tập quán trong pháp luật dân sự Việt Nam

- Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng về pháp luật cẩn nhấn mạnh hơn nguồn tập quán trong hệ thống pháp luật

- Quốc hội cần phải sửa đổi, bổ sung các đạo luật cho phép áp dụng tập quán

- Toà án nhân dân tối cao cần tập trung nâng cao năng lực áp dụng tập quán trong xét

xử, công khai tất cả các bản án có áp dụng tập quán theo chuyên đề tập quán trong nước cũng như tập quán quốc tế; đồng thời, rà soát và điều chỉnh các mẫu sổ sách ghi chép việc khởi kiện, thụ lý các vụ việc dân sự để đảm bảo kịp thời ghi nhận và phát hiện sự thiếu hoàn thiện của pháp luật

- Chính phủ làm cho cơ chế áp dụng pháp luật được hoàn thiện hơn ở góc độ lập quy, sớm ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn thi hành các đạo luật để trong trường hợp cần thiết thì tập quán đã được văn bản hóa

- Các cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ quản lý về văn hóa tích cực sưu tầm hoặc thúc đẩy hoạt động sưu tầm, văn bản hóa phong tục, tập quản trong phạm vi thẩm quyền để cơ quan xét xử lấy đó làm căn cứ xác định nội dung tập quản trong những trường hợp sự viện dẫn thiếu rõ ràng hoặc có nhiều tranh cãi

Trên cơ sở lấy quan điểm không phủ nhận vai trò nguồn bổ trợ của tập quán trong hệ thống pháp luật làm cơ sở, thời gian tới em cho rằng, vấn để nguyên tắc là phải xây dựng được một cơ chế để việc áp dụng tập quán trở nên hiệu quả hơn Tập quán luôn cần được xác định là nguồn bổ trợ, nguồn bổ trợ này chắc chắn còn cần thiết khi xã hội còn nhà nước và pháp luật Như một tất yếu khách quan, dù hệ thống pháp luật có hoàn thiện đến mức nào vẫn sẽ luôn có những tình huống thực tiễn thiếu pháp luật thành văn để điều chỉnh, vẫn sẽ có những quan hệ xã hội mà nhà nước dù cần điều chỉnh cũng không cần thiết phải đặt ra pháp luật và việc nhà nước chỉ nên làm là thừa nhận và đảm bảo cho chúng được thực hiện

KẾT LUẬN

Trong giai đoạn hiện nay, pháp luật được xác định là công cụ quan trọng nhất trong điều chỉnh các quan hệ xã hội, nhưng tập quán với những đặc trưng riêng của mình luôn là nguồn bổ sung, thay thế cho pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, đặc biệt là các quan hệ cụ thể phát sinh trong đời sống của các cộng đồng dân cư Áp

Ngày đăng: 07/01/2022, 18:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w