1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng môn nông nghiệp đại cương GUI LOP

139 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Nông Nghiệp Đại Cương
Tác giả Nhóm Giảng Viên Giảng Dạy Môn Học
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản Lý Đất Đai
Thể loại Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đấtđai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyênliệu la

Trang 1

CƠ SỞ 2 - TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

BAN NÔNG LÂM

-

BÀI GIẢNG

NÔNG NGHIỆP ĐẠI CƯƠNG

NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

(TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ)

Biên soạn: NHÓM GIẢNG VIÊN GIẢNG DẠY MÔN HỌC

Đồng Nai, 2015

Trang 2

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ NÔNG NGHIỆP

(Tổng số giờ: 9; Lý thuyết: 8;Bài tập/tiểu luận: 1)

1 Những khái niệm cơ bản trong nông nghiệp

1.1 Khái niệm về nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đấtđai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyênliệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyênliệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiềuchuyên ngành: Trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn baogồm cả lâm nghiệp, thủy sản

Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiềunước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước khi công nghiệp chưa phát triển

- Nông nghiệp là một loạt hoạt động của con người được tiến hành trước hết

là để sản xuất ra lương thực, sợi, củi đốt, cũng như các vật liệu khác, bằng sự cânnhắc kỹ lưỡng và sử dụng có điều khiển cây trồng và vật nuôi (Speding, 1979)

- Nông nghiệp là hoạt động có mục đích của con người vào các cảnh quandùng để canh tác thông qua hoạt động đặc thù là trồng trọt và chăn nuôi nhằm tạo rangày một nhiều hơn các sản phẩm nông nghiệp nhằm thoả mãn nhu cầu khác củacon người

Hoạt động nông nghiệp chỉ là một bộ phận của đời sống xã hội, do vậy nóphải được gắn liền với nhiều ngành khoa học tự nhiên và xã hội, như khoa học kinh

tế, quản lý, khoa học về nhân văn v.v…

Ví dụ: Con bò là một động vật có vú, nó sống trên đồng cỏ, nó ảnh hưởngđến đồng cỏ (gặm cỏ, dẫm đạp…), tiêu hóa được cỏ nhờ vi khuẩn…Như vậy đểnghiên cứu về con bò một cách hoàn chỉnh thì phải có sự tham gia của các nhà khoahọc như thực vật học, vi sinh vật, kinh tế học…

Những ý kiến khác nhau về nông nghiệp:

- Là hoạt động của con người trên cây và con;

- Là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các sản phẩm khácnhau để thỏa mãn nhu cầu của họ;

- Là các biện pháp sinh học áp dụng cho trồng trọt, chăn nuôi;

- Là những hoạt động có sử dụng đất nông nghiệp;

- Là hoạt động kiểm soát và điều khiển cây trồng vật nuôi

1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội.Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác khôngthể có đó là:

- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các loài sinh vật

Trang 3

Chúng sinh trưởng và phát triển theo các quy luật sinh học và chịu tác độngrất lớn của quy luật tự nhiên Vì vậy, việc hiểu biết và tôn trọng các quy luật sinhhọc, quy luật tự nhiên là một đòi hỏi quan trọng trong quá trình sản xuất nôngnghiệp Chúng tồn tại ở 3 mức độ:

+ Mức độ cá thể: Sinh vật tiếp thu các tác động bên ngoài có chọn lọc, chúng

có khả năng tự điều hòa để sống

+ Mức độ quần thể: Năng suất trong sản xuất nông nghiệp là năng suất củaquần thể

+ Mức độ sinh thái: Kết quả của sản phẩm là do hoạt động của toàn bộ sinhthái, trong các hệ sinh thái nông nghiệp có những mối quan hệ cơ bản trên nhiềumặt (dinh dưỡng, quan hệ vật chất, năng lượng…)

- Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ

thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt

Như vậy ở đâu có đất và lao động thì ở đó có thể tiến hành sản xuất nôngnghiệp Nhưng mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết – khí hậu rấtkhác nhau Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loạiđất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệpcũng không giống nhau Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm,ánh sáng v.v… trên từng địa bàn gắn bó rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sửdụng đất Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm chonông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét

- Năng suất nông nghiệp là cái cần thiết cho con người chứ không phải là cáicần thiết cho sinh vật Bởi vậy khuynh hướng tự nhiên là kéo các hệ sinh thái nôngnghiệp trở lại gần với các hệ sinh thái tự nhiên Hệ thống năng suất cao, thâm canh

là hệ thống không bền vững, dó đó con người phải thường xuyên tác động để duytrì, gìn giữ các hệ sinh thái năng suất cao

- Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thếđược Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung

kinh tế của nó lại rất khác nhau

Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuấtchủ yếu không thể thay thế được Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con ngườikhông thể tăng thêm theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất của ruộng đất làkhông có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đấtnhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm Chính vì thếtrong quá trình sử dụng phải biết quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chếviệc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng cơ bản, tìm các biện pháp để cải tạo vàbồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sảnphẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất

- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao

Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp Đây là đặc điểmđiển hình của sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt Thời gian sinh trưởng và pháttriển của cây trồng, vật nuôi tương đối dài, không giống nhau và thông qua hàng

Trang 4

loạt giai đoạn kế tiếp nhau Thời gian sản xuất bao giờ cũng dài hơn thời gian laođộng cần thiết để tạo ra sản phẩm cây trồng hay vật nuôi Sự không phù hợp nóitrên là nguyên nhân gây ra tính mùa vụ Việc thực hiện kịp thời vụ cũng dẫn đếntình trạng căng thẳng về lao động đòi hỏi phải có giải pháp tổ chức lao động hợp lý,cung ứng vật tư – kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máy móc thích hợp, đồng thờiphải coi trọng việc bố trí cây trồng hợp lý, phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêmviệc làm ở những thời kỳ nông nhàn.

- Quá trình sản xuất nông nghiệp trải rộng trên không gian và kéo dài theothời gian Do đó muốn có năng suất cao phải tạo ra trạng thái phù hợp ở mỗi giaiđoạn phát triển, đồng thời phải tiến hành thường xuyên

- Sản phẩm trong nông nghiệp được hình thành trong suốt quá trình sản xuất

tạo ra năng suất Con người phải thường xuyên tác động vào 2 quá trình tích lũy và

tiêu hao để đạt năng suất cao nhất

Quá trình sản xuất nông nghiệp trải rộng trên không gian và kéo dài theo thờigian Do đó muốn có năng suất cao phải tạo ra trạng thái phù hợp ở mỗi giai đoạnphát triển, đồng thời phải tiến hành thường xuyên

- Trong nền kinh tế hiện đại, nông nghiệp trở thành sản xuất hàng hóa Biểuhiện cụ thể của xu hướng này là việc hình thành và phát triển các vùng chuyên mônhóa nông nghiệp và đẩy mạnh chế biến nông sản để nâng cao giá trị thương phẩm

- Nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới, có pha trộn tínhchất ôn đới, nhất là ở miền Bắc và được trải rộng trên 4 vùng rộng lớn, phức tạp:Trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển

Đặc điểm này đem lại cho nông nghiệp nhiều thuận lợi cơ bản, đồng thờicũng có những khó khăn rất lớn trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp

Thời tiết, khí hậu của nước ta có những thuận lợi rất cơ bản Đó là hàng năm

có lượng mưa bình quân tương đối lớn, đảm bảo nguồn nước ngọt rất phong phúcho sản xuất và đời sống, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào (cường độ, ánhsáng, nhiệt độ trung bình hàng năm là 230C v.v…), tập đoàn cây trồng và vật nuôiphong phú, đa dạng Có thể gieo trồng và thu hoạch quanh năm, với nhiều cây trồng

và vật nuôi phong phú, có giá trị kinh tế cao, như cây công nghiệp lâu năm, câycông nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, điều kiện thời tiết – khí hậu nước ta cũng

có nhiều khó khăn lớn như: Mưa nhiều và lượng mưa thường tập trung vào ba thángtrong năm gây lũ lụt, ngập úng Nắng nhiều thường gây ra khô hạn, có nhiều vùngthiếu cả nước cho người, vật nuôi sử dụng Khí hậu ẩm ướt, sâu bệnh dễ phát sinh

và lây lan gây ra những tổn thất lớn đối với mùa màng

Trong quá trình đưa nông nghiệp nước ta lên sản xuất hàng hoá, chúng taphải phát huy những thuận lợi cơ bản nêu trên và hạn chế những khó khăn do điềukiện khắc nghiệt của thiên nhiên gây ra, đảm bảo cho nông nghiệp phát triển nhanhchóng và vững chắc

1.3 Vai trò của nông nghiệp

- Vai trò về kinh tế:

Trang 5

+ Nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho con người Nếu như sảnxuất nông nghiệp nội địa không tự đáp ứng nhu cầu thì bắt buộc phải bỏ tiền ra đểnhập khẩu lương thực, thực phẩm…

+ Nông nghiệp là nguồn thu ngoại tệ quan trọng ở nhiều quốc gia

+ Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành kinh tế khác

+ Cảnh quan nông thôn là nơi du lịch, nghỉ ngơi, sống gần gũi với thiênnhiên

- Vai trò về môi trường:

+ Tạo cảnh quan nông thôn, môi trường sống yên bình, ít bị ô nhiễm

+ Thực hành nông nghiệp tốt sẽ ít gây ô nhiễm môi trường và tạo ra sảnphẩm sạch đảm bảo sức khoẻ cho con người

+ Khai thác sức sản xuất của đất đai theo hướng bền vững

+ Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp có thể ảnh hưởng tiêu cực đến môi trườngnếu sử dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật quá mức

1.4 An ninh lương thực

1.4.1 Khái niệm

An ninh lương thực hay an ninh lương thực quốc gia được hiểu là sự đảmbảo của mỗi quốc gia về nguồn cung cấp lương thực cho người dân để hạn chế vàđẩy lùi tình trạng thiếu lương thực, nạn đói và tình trạng phụ thuộc vào nguồn lươngthực nhập khẩu Theo định nghĩa của FAO thì An ninh lương thực là mọi người cóquyền tiếp cận các thực phẩm một cách an toàn, bổ dưỡng, đẩy đủ mọi lúc mọi nơi

để duy trì cuộc sống khỏe mạnh và năng động

Việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia được nhiều nước đặt lên vai tròquan trọng trong chương trình nghị sự và hành động của quốc gia mình đặc biệt làviệc ưu tiên phát triển nông nghiệp Trong thời đại ngày nay, vấn đề an ninh lươngthực còn là vấn đề toàn cầu và là mối quan tâm chung của toàn nhân loại với sự ảnhhưởng của hiện tượng biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và sự gia tăng dân số

Ở Việt Nam: An ninh lương thực của Việt Nam là việc có đầy đủ, ổn địnhlương thực cho toàn dân trên phạm vi toàn quốc cả trước mắt và lâu dài để không ai

bị đói và mọi người đều được hưởng cuộc sống năng động và khoẻ mạnh

1.4.2 Nội dung của an ninh lương thực của Việt Nam

Để đảm bảo anh ninh lương thực, cần phải thực hiện đồng bộ các nội dung,

đó là bảo đảm tính sẵn có của lương thực, sự ổn định, khả năng tiếp cận của ngườidân và sự an toàn, chất lượng của lương thực được sử dụng Những nội dung củaanh ninh lương thực trên đây được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định tại

Trang 6

Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) diễn ra vào ngày 29/1/2010 tại Davos về chủ đề

An ninh lương thực, Cụ thể:

- Sự sẵn có về lương thực Sự sẵn có (availability) lương thực được hiểu là:Sản lượng lương thực, diện tích trồng trọt, các chỉ tiêu về xuất và nhập khẩu lươngthực được đảm bảo Tức là đảm bảo nguồn cung lương thực đầy đủ mọi nơi, mọilúc Điều này liên quan đến việc nỗ lực trong việc bảo vệ diện tích đất trồng câylương thực, có chính sách bảo đảm lợi ích cho người sản xuất lương thực để họ antâm sản xuất; tăng cường đầu tư để tăng sản lượng và chất lượng lương thực; tạothuận lợi cho thương mại nông sản, xây dựng hệ thống phân phối lương thực ổnđịnh

- Sự tiếp cận với lương thực Sự tiếp cận (access) nguồn lương thực đượchiểu là: Tỉ lệ tiếp cận lương thực cơ bản trong tổng dân số, thiếu lương thực cơ bảntrong nhóm nghèo, giá lương thực cơ bản cao và tăng, lương thực được lưu thông,phân phối đến các vùng trong nước Điều này liên quan đến việc tạo các cơ hội việclàm, thu nhập và có hỗ trợ thích hợp để bảo đảm khả năng tiếp cận với lương thựccủa người dân; thận trọng trong việc sử dụng lương thực vào mục đích khác;

- Sự ổn định của lương thực Sự ổn định (stability) của lương thực là: Phải có

hệ thống phân phối ổn định Cung và cầu lương thực trên thị trường ổn định, nghĩa

là giá lương thực và các xu hướng khác trên thị trường không tăng (giảm) mạnh (ví

dụ giá gạo cao liên tục hay kho dự trữ giảm báo hiệu những yếu tố không tốt đến sự

ổn định về cung lương thực) Điều này liên quan đến các cố gắng của từng quốc giatrong việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phối hợp hành động chung trong khu vực vàtoàn cầu để đảm bảo sản và cung ứng lương thực ổn định

- Sự an toàn, chất lượng của lương thực được sử dụng Sự an toàn, chấtlượng của lương thực được sử dụng thể hiện qua độ dinh dưỡng của lương thực,chất lượng và vệ sinh lương thực, tỷ lệ suy sinh dưỡng và thiếu chất do lương thực

1.4.3 Vai trò của an ninh lương thực

- Đáp ứng nhu cầu tồn tại của con người và giảm đói nghèo trên thế giới.Lương thực là một phương tiện thiết yếu bậc nhất để duy trì sự tồn tại của conngười Lương thực phải được cung cấp đều đặn, đầy đủ cho mọi người nếu muốnsống, hoạt động và phát triển

- Vai trò của an ninh lương thực với tăng trưởng kinh tế Vấn đề an ninhlương thực và tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Xét về mục tiêuchính sách của các chính phủ, an ninh lương thực được coi như 1 chuỗi liên tục từmức độ vi mô về đảm bảo dinh dưỡng cho người dân, đến mức vĩ mô là đảm bảocung cấp đầy đủ cho thị trường trong nước và xuất khẩu Ổn định an ninh lươngthực theo cả góc độ vi mô lẫn vĩ mô giúp thúc đẩy triển vọng tăng trưởng kinh tếhiệu quả, giảm đói nghèo

- Vai trò ổn định chính trị - xã hội của an ninh lương thực Thế giới đang đẩynhanh quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và kinh tế tri thức Nhưng cuộc khủnghoảng kinh tế đang tiếp diễn và đặc biệt cuộc khủng hoảng lương thực thế giới năm

2007 – 2008 đã cho thấy tầm quan trọng của lương thực Việc bảo đảm an ninhlương thực không chỉ thuần túy là vấn đề kinh tế hay nhân đạo mà còn có vai trò

Trang 7

quan trọng đối với sự ổn định chính trị xã hội của mỗi quốc gia cũng như toàn thếgiới Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, một đất nước, một khu vực mà không đảmbảo an ninh lương thực sẽ tạo ra hệ lụy lan tỏa không nhỏ đối với các nước và khuvực

1.5 Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Nông nghiệp là một ngành xuất khẩu chủ lực và duy nhất có giá trị thặng dưxuất khẩu, nhưng giá trị xuất khẩu của nông sản hàng năm của nước ta luôn cónhững biến động đáng lưu tâm Một điều nghịch lý là, dù sản lượng xuất khẩu củacác mặt hàng nông sản chủ lực như gạo, cà phê, cao su, thủy sản đều tăng nhưng giátrị xuất khẩu của các mặt hàng trên lại giảm Qua đó cho thấy, việc duy trì và ổnđịnh của các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam là một nhiệm vụ vô cùng cấpbách và không ít khó khăn của ngành

Thị trường nông nghiệp và nông thôn bắt đầu hình thành, chưa đồng bộ, cònnhiều hạn chế với sản xuất Đây là vấn đề bức xúc hiện nay trong sản xuất nôngnghiệp Nếu thiếu thị trường thì các trang trại sản xuất hàng hóa đang phát triển sẽtàn lụi

Rủi ro thị trường đặc biệt là thị trường quốc tế, đối với sản xuất nông nghiệpnói chung và người nông dân nói riêng là rất lớn và đang gia tăng Tuy đây là hiệntượng bình thường trong nền kinh tế thị trường mở cửa , song trong điều kiện nước

ta hiện nay, đây là vấn đề đặc biệt lưu ý vì đa số nông dân còn quá nghèo, nguy cơrơi xuống đói nghèo hoặc rơi vào tình trạng phá sản là rất cao Trong khi đó cơ chếphòng ngừa rủi ro và yểm trợ nông dân trước rủi ro thị trường lại hầu như chưađược thiết lập hoặc chưa được vận hành có hiệu quả

1.6 Bảo quản và chế biến nông sản sau thu hoạch

1.6.1 Tổn thất nông sản sau thu hoạch

Nhìn chung, nông sản có thể bị mất đi trong quá trình thu hoạch, vận chuyển,trong quá trình xử lý sơ bộ, hay đối với các sản phẩm hạt là trong quá trình phơi sấy,xay sát, đóng gói trước khi đưa vào bảo quản Tổn thất sau thu hoạch ước tínhkhoảng từ 10 đến 30% sản lượng cây trồng Lượng lương thực mất đó có thể đe dọatới an ninh lương thực cho một phần đông dân số thế giới Đối với ngũ cốc, tổn thấtsau thu hoạch ở các nước đang phát triển ước tính khoảng 25%, có nghĩa là ¼ lươngthực sản xuất đã không bao giờ tới được người tiêu dùng, cũng có nghĩa là từng đócông sức và tiền bạc đầu tư cho sản xuất đã vĩnh viễn mất đi Năm 1995, tổ chứcNông nghiệp và thực phẩm thế giới (FAO) đã thống kê thiệt hại toàn cầu về lươngthực chiếm 15 – 20% sản lượng, trị giá khoảng 130 tỷ đô la ở thời điểm đó Lượnglương thực bị bỏ phí hoặc tổn thất có thể đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu nuôisống 200 triệu người Đối với một số nông sản dễ hỏng, lượng tổn thất lớn hơn 30%không phải là không phổ biến, đặc biệt ở các nước đang phát triển có đầu tư nghèonàn cho nghiên cứu và công nghệ sau thi hoạch

Trước những năm 70, tổn thất trong khâu bảo quản tới 20 – 34% do thiếuphương tiện và công nghệ bảo quản, sâu hại, lúa, ngô trong kho đã làm thiệt hại 1/5– 1/3 tổng sản lượng nông sản Tổn thất trong bảo quản lương thực ở một số nướctrước 1970

Trang 8

(Theo số liệu của Chrisman Sititonga, Indonexia Tạp chi Change in Post Harvest Handling of Grain 1994)

TT Nước Loại nông sản Tỷ lệ tổn thất(%) Thời gian bảo quản

Tổn thất trong bảo quản lương thực ở những năm 90

T

T Nước Loại nông sản Tỷ lệ tổn thất(%)

Tác giả năm bảo quản

Như vậy, tổn thất sau thu hoạch có thể xuất hiện ở bất cứ khâu nào trong quátrình nông sản được thu hoạch từ nơi sản xuất đến khi được sử dụng bởi người tiêudùng cuối cùng

Nước ta là nước nông nghiệp nhiệt đới, quanh năm 4 mùa luôn luôn có sảnphẩm thu hoạch, đòi hỏi phải bảo quản, chế biến để nâng cao chất lượng sản phẩm

Trong quá trình bảo quản, sự hao hụt của nông sản được biểu hiện ở 2 dạng:Hao hụt trọng lượng và chất lượng

+ Hao hụt về trọng lượng: Sự giảm trọng lượng ở sản phẩm khi bảo quản cóthể xảy ra do hậu quả của các hiện tượng lý học và các hiện tượng sinh học Ví dụ

về sự hao hụt lý học là sự bốc hơi một phần hơi nước từ sản phẩm ra môi trườngxung quanh Ví dụ về sự hao hụt sinh học là khi hạt, củ, hoa quả hô hấp thì chất khô

sẽ mất đi Hạt tự bốc nóng thì hao hụt về trọng lượng có thể đạt 3 – 8% Bảo quảnkhoai tây, rau và củ không tốt, sự hao hụt có thể là 20 -30% hoặc cao hơn

+ Hao hụt về chất lượng Sự giảm chất lượng chỉ có thể xảy ra khi bảo quảnlâu hơn giới hạn gọi là độ bảo quản của sản phẩm Sự giảm chất lượng sản phẩmkhi bảo quản xảy ra cơ bản là do những quá trình bất lợi: Sự nảy mầm sớm, sự hôhấp và những biến đổi hóa sinh, tác động của vi sinh vật hoặc côn trùng, sự hư hỏng

và bị bẩn do chuột, chim cũng như sự xây xát cơ giới

1.6.2 Vai trò của công tác bảo quản và chế biến nông sản sau thu hoạch

- Mục đích của việc bảo quản nông sản:

+ Bảo quản giống để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất mở rộng

Trang 9

+ Đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.

+ Bảo quản bán thành phẩm sơ chế

+ Sơ chế bảo quản tại chỗ trong điều kiện của những xí nghiệp công nôngnghiệp liên hợp

- Vì thế công tác bảo quản nông sản phải giải quyết được 3 yêu cầu chính sauđây:

+ Đảm bảo hao hụt thấp nhất về trọng lượng

+ Hạn chế sự thay đổi về chất lượng

+ Chi phí giá thành thấp nhất trên một đơn vị sản phẩm bảo quản

1.6.3 Nguyên lý bảo quản nông sản

* Kích thích hoạt động của vi sinh vật và enzim đặc biệt.

Thực chất của nguyên lý này là tạo điều kiện để các vi sinh vật đặc biệt (visinh vật mong muốn) tăng nhanh số lượng và kích thích các phản ứng enzyme khácnhau nhằm tạo ra môi trường không thích hợp cho các vi sinh vật gây hư hỏng thựcphẩm Quá trình này được gọi là quá trình lên men Tác dụng bảo quản ở đây là việctạo ra môi trường có độ pH thấp hay hình thành rượu trong sản phẩm Quá trình trênlàm thay đổi vị, màu sắc, cấu trúc của thực phẩm và hình thành nên những hương vịđặc trưng

* Loại bỏ các vi sinh vật và các chất gây nhiễm bẩn thực phẩm

Việc loại bỏ các vi sinh vật và các chất gây nhiễm bẩn thực phẩm được thựchiện bằng các màng lọc vi khuẩn đặc biệt Phương pháp này thường dùng cho bảoquản nước quả vì các phương pháp khác (đun nóng) có thể làm mất mùi vị và một

số tính chất đặc biệt của nước quả Cũng có thể loại bỏ các tác nhân trên bằngphương pháp quay ly tâm như với sữa dùng để chế biến pho mat

Các điều kiện và thời gian bảo quản ở các thực phẩm khác nhau là khácnhau Cần phải có các bước bảo quản và chế biến tiếp theo như tồn trữ lạnh nướcquả, chế biến ngay phomat sau khi lọc hay quay ly tâm

* Ức chế hoạt động trao đổi chất của nông sản

Thực chất của hoạt động trao đổi chất là sự sản sinh ra năng lượng để duy trì

sự sống của nông sản Tuy nhiên, nếu trao đổi chất mạnh mẽ sẽ gây ra nhiều hậuquả xấu như giảm nhanh chất dinh dưỡng của nông sản, sinh ẩm, sinh nhiệt và thayđổi khí quyển ở môi trường bảo quản nông sản, thực phẩm Do đó, cần hạn chế hoạtđộng trao đổi chất đến tối thiểu sao cho năng lượng được giải phóng ra chỉ vừa đủ

để duy trì hoạt động sống của nông sản, thực phẩm mà không gây ra tác động xấu

Các phương pháp bảo quản kín, bảo quản ở nhiệt độ thấp; bảo quản bằngchiếu xạ; bảo quản trong khí quyển điều chỉnh, bảo quản ở áp suất thấp và thậm chí

cả bảo quản bằng hóa chất có thể đáp ứng được đòi hỏi này

Việc làm này có thể tiến hành bằng phơi, sấy nông sản, thực phẩm Tuy vậy,

để giữ vững chất lượng nông sản sau phơi sấy cần chú ý đến chế độ nhiệt và chế độsấy sao cho hợp lý Ngoài phơi sấy, các kỹ thuật muối và ướp đường ở nồng độmuối, đường cao cũng có tác dụng loại bỏ nước ra khỏi nông sản, thực phẩm

* Ức chế hoạt động của các enzim và các vi sinh vật không mong muốn.

Trang 10

- Bảo quản bằng nhiệt độ thấp được thực hiện bằng 2 cách: Làm lạnh và làm

đông lạnh

+ Làm lạnh:

Nguyên lý của phương pháp này là làm giảm trao đổi chất và hoạt động củacác vi sinh vật và enzim

Nhiệt độ của nông sản sẽ được làm giảm xuống từ +10 đến -10C

Thời gian tồn trữ lạnh của thực phẩm là khác nhau Với khoai tây, táo thì cóthể đến 6 tháng Nông sản cần được làm sạch một phần các vi sinh vật không mongmuốn bằng hoá chất hay nước nóng trước khi tồn trữ lạnh

+ Làm đông lạnh

Khi làm đông lạnh nông sản, sự trao đổi chất và hoạt động của các enzyme,VSV giảm một cách đáng kể

Nhiệt độ nông sản được làm giảm xuống đến – 180 C

Việc cấp đông phải diễn ra hết sức nhanh chóng để tránh việc hình thành cáctinh thể đá to dẫn đến phá vỡ cấu trúc thành tế bào và làm cho thực phẩm trở nênmềm sũng nước khi làm rã đông

Có 2 cách chính làm đông nhanh:

Nông sản được giữ ở giữa các khay lạnh (Làm đông lạnh nhanh)

Nông sản được giữ trong dòng không khí lạnh (Làm đông lạnh nhanh riêngbiệt - IQF)

Chất lượng cảm quan của nông sản ít thay đổi khi được cấp đông nhưng khilàm rã đông, nông sản trở nên mềm vì tế bào bị mất nước Một số nông sản chứanhiều chất béo vẫn có thể bị oxy hoá làm chúng bị trở mùi

Nếu nhiệt độ tồn trữ là - 180C thì thời gian tồn trữ có thể là 6 tháng (nông sảngiàu chất béo) và 2 năm (rau quả) Nếu nhiệt độ tồn trữ cao hơn – 180C thì thời giantồn trữ ngắn hơn

Cách khác cũng đang phát triển là đặt nông sản trong Nitơ lỏng

- Bảo quản bằng giảm pH của thực phẩm

+ Hoạt động của các vi sinh vật giảm xuống trong môi trường axit

+ Một lượng axit hữu cơ (lactic, axetic,…) với hàm lượng ít nhất là 4% đượcthêm vào thực phẩm Cần hết sức chú ý đến việc các axit hữu cơ sẽ bị pha loãng khithêm vào thực phẩm làm giảm thời gian tồn trữ

+ Sự thay đổi vị của nông sản là rõ ràng Màu sắc và độ đặc của nông sảncũng có một ít thay đổi (Ví dụ: dưa chuột dầm giấm mềm hơn)

+ Để khắc phục sự quá chua của nông sản, cần dùng ít axit hơn và áp dụng

bổ sung các biện pháp khác như lạnh và thanh trùng

Trang 11

- Bảo quản bằng làm giảm hoạt độ nước (Aw):

Có 2 cách làm giảm hoạt độ nước: Làm khô và thêm (trộn) đường hay muốivào nông sản

+ Làm khô nông sản:

Trao đổi chất và hoạt động của các VSV bị ức chế khi nước bị rút khỏi nôngsản

Làm khô nông sản thường bằng cách dùng nhiệt lượng cao hay giảm nhiệt

độ Nhiệt lượng cao có thể thu được từ tự nhiên (năng lượng bức xạ mặt trời) haynhân tạo (lò sấy, thiết bị sấy,…)

Phơi nắng nông sản là cách phổ biến và lâu đời nhất ở các nước có khí hậunóng, nắng nhiều

Khi làm mất nước nông sản nhân tạo, người ta phân biệt:

Làm khô với không khí nóng: Rau quả được đặt trên các giá trong buồngsấy Không khí nóng được thổi và đồng thời với giảm áp suất không khí để làmnước bốc hơi nhanh chóng Có một cách sấy không khí nóng đặc biệt trong đó,không khí nóng thổi từ dưới lên và thực phẩm được xáo trộn do đó nó được làm khôđồng đều và nhanh chóng

Làm khô bằng sấy trục quay: Thực phẩm được cán mỏng bằng hai quả lănđược đốt nóng thực phẩm khô sẽ tồn tại dưới dạng các tấm mỏng rồi được bóc dỡkhỏi hai trục quay và bao gói (bánh đa nem, …)

Làm khô bằng sấy phun: Thực phẩm dạng lỏng sẽ được phun vào một cáitháp cao có không khí nóng Thực phẩm khô sẽ rơi xuống dưới đáy tháp và đượcthu hồi

Làm khô bằng nhiệt độ thấp thường được áp dụng ở một số nước trong vùngBắc cực Thực phẩm (rau quả) được trải trên giá rồi đặt trong các buồng lạnh có ápsuất thấp để làm nước bốc hơi

Sấy thăng hoa: Nông sản được cấp đông rồi đặt ở áp suất rất thấp khiến nước

đá bốc hơi ngay mà không cần chuyển thành dạng lỏng

Sau khi làm khô, nông sản giảm kích thước, mất cấu trúc nguyên thuỷ của nó

và được làm chín một phần hay toàn bộ

Do các enzim vẫn còn hoạt tính trong quá trình làm khô nên vẫn có sự thayđổi về màu sắc và vị của rau quả Để hạn chế ảnh hưởng này, có thể chần haysunphit hoá rau quả trước khi làm khô chúng Tuy vậy, sự hoạt động của một sốenzyme lại là cần thiết để tạo nên hương vị đặc trưng của thực phẩm (coca) nên vẫncần phải duy trì nó trong quá trình làm khô

Sau khi làm khô, một số chất thơm của nông sản không còn nữa nên nó làmgiảm giá trị cảm quan của thực phẩm Do đó, có thể phải bổ sung hương thơm nhântạo cho nông sản sau làm khô (nước quả)

Cấu trúc tế bào của các nông sản làm khô bằng sấy thăng hoa là không đổinên thực phẩm vẫn giữ nguyên được kích thước ban đầu Do đó, chúng rất dễ hútnước (có thể hút đến 80 – 100 % thuỷphần vốn có của nó)

Trang 12

Chúng rất nhạy cảm với các yếu tố ngoại cảnh như Oxy, ánh sáng và độ ẩmkhông khí Khi tiếp xúc với các yếu tố trên, nông sản khô dễ bị oxy hoá, biến màu

và vón cục Do đó cần bao gói kín, chống ẩm và che sáng cho nông sản khô

Thuỷ phần nông sản sau làm khô quyết định thời gian tồn trữ chúng Nôngsản phơi nắng thường có thuỷ phần là 10 – 35 %, sấy thăng hoa: 2 % Thời gian tồntrữ trung bình: 6 tháng với nông sản nhiều chất béo và trên 1 năm với các nông sảnkhác

+ Thêm đường (muối) vào nông sản

Đường (muối) sẽ hòa tan trong nước khiến cho nông sản không có đủ nướccho hoạt động của VSV Ngoài ra, đường (muối) còn rút nước ra khỏi cơ thể VSV

Kích thước nông sản sẽ giảm do đun sôi Để bảo quản, đường cần đạt ít nhất

60 % với mứt và 70 % với siro Để làm mứt nguyên quả, quả cần được đun sôitrong dung dịch đường bão hoà để có 65 – 80 % đường

Muối khô hay nước muối sẽ được thêm vào nông sản để nông sản có hàmlượng muối ít nhất là 33 %

Ngoài vị, nông sản có thể thay đổi hình thái, màu sắc khi được thêm đường(muối)

Nông sản thêm đường cần được bảo quản kín tránh hút ẩm và tiếp xúc vớikhông khí Chúng có thể được tồn trữ từ 6 tháng đến 1 năm

Nông sản muối mặn có thể tồn trữ từ 1- 6 tháng mà không cần giữ lạnhnhưng nên để chỗ tối và bao gói kín

- Bảo quản bằng giảm Oxy

Việc loại bỏ một phần hay toàn bộ oxy được thực hiện bằng cách: Đóng góichân không hay đóng gói trong khí quyển điều chỉnh

+ Đóng gói chân không

Hoạt động của các VSV và các quá trình oxy hoá giảm đáng kể khi không cókhông khí Nông sản được đặt trong các bao bì không thấm khí rồi không khí bêntrong được rút hết ra Bao bì sẽ ép chặt vào nông sản do áp suất không khí bên trongthấp

Chất lượng cảm quan của nông sản đóng gói chân không không thay đổi.Cách này áp dụng cho các nông sản cần giữ lại mùi vị nguyên thuỷ Thời gian vàđiều kiện tồn trữ phụ thuộc vào nông sản và vào các xử lý trước đóng gói (1 – 4tuần trong tủ lạnh với thịt; 6 tháng không lạnh với cà phê)

+ Đóng gói trong khí quyển điều chỉnh

Khi giảm hàm lượng oxy, các phản ứng oxy hoá chất béo giảm mạnh, cácVSV không thể phát triển

Không khí trong bao bì được rút ra một phần rồi được bổ sung bằng một loạikhí khác hay hút toàn bộ không khí ra rồi bơm một hỗn hợp khí khác không có oxyvào

CO210 % làm giảm hoạt động của các vi khuẩn Nitơ thích hợp cho các nôngsản không thể đóng gói chân không được

Trang 13

CA (Controlled atmosphere): Khí quyển kiểm soát

MA (Modified atmosphere): Khí quyển cải biến

MAP (Modified atmosphere packaging): Khí quyển cải biến nhờ bao gói Trong 3 hình thức kể trên, CA được coi là cách điều chỉnh khí quyển chặtchẽ nhất và thường được kết hợp với nhiệt độ thấp

- Bảo quản bằng thêm các chất kháng hoạt động vi sinh vật

Các chất kháng trên có thể là khói, cồn và các hoá chất bảo quản khác

Cần lưu ý: Trong thành phần khói có thể có các chất độc Nông sản sau hunkhói có thể mang các bào tử nấm của vật liệu đốt nên cần được xử lý bề mặt nôngsản bằng một số chất chống nấm

+ Thêm cồn:

Cồn làm mất (lôi kéo) nước từ nông sản và từ VSV Cồn ức chế hoạt độngtrao đổi chất và sinh trưởng của VSV (có thể so sánh tác dụng của cồn trong dượcphẩm)

Cồn thường được thêm vào nông sản cùng với đường Nồng độ cồn thấp nhất

có tác dụng bảo quản là 15 % Tuy vậy, nồng độ cồn cần đưa vào cao hơn vì nó sẽloãng ra khi thêm vào quả do nước từ quả được rút ra ngoài dung dịch Thường cácloại rượu có nồng độ 30 – 50 % được sử dụng

Nông sản thêm cồn thường có độ đặc, màu sắc, vị thay đổi và phụ thuộc vàochất lượng và loại cồn sử dụng

Nông sản thêm cồn cần được bao gói kín và có thể tồn trữ từ 6 tháng đến 1năm

+ Thêm chất bảo quản

Chất bảo quản gồm 2 loại:

Các chất ngăn cản sự hư hỏng do VSV (Sunphit, axit benzoic, axit sorbic)Các chất chống oxy hoá thực phẩm – Anti-oxydants (axit ascorbic,tocopherol)

Trong nông sản có chất bảo quản, sinh trưởng của VSV giảm xuống, Cácchất chống oxyhoá ngăn cản sự oxyhoá nông sản do chúng bị oxy hoá trước và do

đó nó lấy mất oxy của nông sản

Các chất trên được thêm vào nông sản thô hay đã chế biến với lượng rất nhỏtheo quy định

Chúng được bảo quản dài hay ngắn tuỳ thuộc vào cách bảo quản bổ sung sauđó

* Tiêu diệt các vi sinh vật (không mong muốn)

Trang 14

Cách tốt nhất để giữ chất lượng nông sản là tiệt trùng nhanh ở nhiệt độ cao(1400C) UHT (Ultra high temperature) là phương pháp sử dụng hơi nước nóng 1400

C với áp suất cao trong vài giây rồi làm lạnh nhanh và đóng gói vô trùng thườngđược dùng cho sữa và nước quả

Tuỳ theo thời gian và nhiệt độ sử dụng, nông sản có thể bị biến màu, mùi, vị

và thay đổi độ đặc

Sự tính toán thời gian và nhiệt độ tiệt trùng dựa trên sự chống chịu của

Clostridium botulinum – một trong những vi khuẩn gây hư hỏng nguy hiểm nhất.

- Chiếu xạ:

Các tia bức xạ ion hóa đưa lại hiệu quả bảo quản tuỳ thuộc vào liều lượng sửdụng Hiệu quả của chúng là:

Diệt côn trùng (cả sâu non và trứng)

Diệt vi khuẩn và nấm nhưng độc tố nấm và vi khuẩn không bị tiêu diệt

Ức chế sự mọc mầm của củ do chúng ngăn cản sự phân chia tế bào; làm quảchậm chín do chúng can thiệp vào quá trình trao đổi chất

Làm giảm thời gian nấu nướng và làm khô thực phẩm

Các tia gama và các chùm electron từ Co 60 và Cs 137 có năng lượng đâmxuyên mạnh được dùng để chiếu xạ thực phẩm

Ưu điểm của phương pháp này là không có sự nhiễm trở lại VSV

Chiếu xạ không gây nhiều thay đổi trạng thái và kết cấu nông sản Các thayđổi về mùi, vị, màu sắc, độ đặc nông sản có nhiều chất béo và protein có thể xảy ra

Trang 15

(mùi phóng xạ) Các thay đổi này có thể được hạn chế bằng chiếu xạ trong môitrường không có oxy hay làm lạnh sâu nông sản trước khi chiếu xạ.

Tuổi thọ của nông sản chiếu xạ có thể tăng lên một chút mà vẫn giữ đượcchất lượng Tuy vậy, ở một số nước vẫn chưa cho phép sử dụng phương pháp bảoquản này Ở những nước cho phép sử dụng, chúng buộc phải dán nhãn rõ ràng vàkèm theo các cảnh báo cần thiết

1.6.4 Các phương pháp bảo quản nông sản

* Bảo quản bằng phương pháp lạnh

Nguyên tắc của phương pháp này là dùng nhiệt độ thấp làm tê liệt các hoạtđộng của vi sinh vật, côn trùng Nhiệt độ trong môi trường bảo quản càng thấp thìcàng có tác dụng ức chế các quá trình sinh hoá xảy ra bên trong rau quả cũng như

sự phát triển của vi sinh vật, do đó có thể kéo dài thời gian bảo quản rau quả lâuhơn Quá trình bảo quản có thể được nâng cao bằng cách giảm nhiệt độ hơn nữa ởnhiệt độ thấp, với nhiệt độ khoảng 10c trong nhiệt độ thấp có thể làm tăng khả năng

bảo quản một cách có ý nghĩa

Kho bảo quản lạnh gồm các phòng như: Phòng tiếp nhận nguyên liệu, phònglàm lạnh sơ bộ, phòng xử lý, hành lang, phòng lạnh, phòng máy…

Để kiểm soát chế độ bảo quản rau quả tươi thường trong kho bảo quản cólắp đặt thêm một số thiết bị đo như: Nhiệt kế, thiết bị đo độ ẩm, hệ thống tự điềuchỉnh nhiệt độ và độ ẩm, hệ thống đo và điều chỉnh dòng khí… vệ sinh vùng lạnhtrước khi bảo quản là việc hết sức cần thiết nhằm ngăn ngừa sự phát triển của visinh vật và côn trùng

Kho bảo quản cần đảm bảo cách sắp xếp nguyên liệu hợp lý và đảm bảođược các yêu cầu sau:

- Đảm bảo thông gió và dễ kiểm tra

- Rau quả sắp xếp trong bao bì và đặt thành chồng trên giá gỗ kê cao 15 cm

so với mặt sàn theo cách như sau:

+ Chiều cao của từng chồng cách trần không dưới 40 cm

+ Chồng cách tường không nhỏ hơn 40 cm

+ Cách giàn truyền nhiệt không dưới 50 cm và phải có vách ngăn chống bức

- Tốc độ hạ nhiệt cần phải phù hợp vời từng loại rau quả

- Trước khi lấy rau quả ra khỏi kho củng phải nâng nhiệt từ từ

Trong quá trình bảo quản cần giữ nhiệt độ ổn định, không nên để tác độngcủa sự biến đổi nhiệt độ đột ngột sẽ gây hiện tượng đọng nước dễ làm hư hỏngnguyên liệu Tốt nhất, sự tăng giảm nhiệt độ là 4-50C trong một ngày, một đêm Khi

Trang 16

chuyển nhiệt độ từ kho lạnh ra cũng cần qua giai đoạn nâng nhiệt từ từ để giữ đượcchất lượng của rau quả

* Bảo quản nông sản ở trạng thái thoáng khí

Bảo quản thoáng là để khối hạt trực tiếp tiếp xúc với không khí ngoài trời,nhằm đảm bảo độ ẩm và nhiệt độ khối hạt thích hợp, đồng thời có thể điều chỉnhđược hai thông số trên trong những điều kiện cụ thể, đảm bảo an toàn cho khối hạt.Bảo quản ở trạng thái thoáng cần phải có hệ thống kho vừa thoáng lại vừa có thểkín Trường hợp độ ẩm và nhiệt độ ngoài trời thấp, có thể dùng không khí ngoài trờithổi vào khối hạt để giảm nhiệt độ và độ ẩm của hạt Khi nhiệt độ và độ ẩm khôngkhí cao hơn trong kho, ta cần đóng kín cửa kho nhằm tránh không khí nóng ẩm bênngoài xâm nhập vào kho Phương pháp thông gió này chia làm hai loại: Thông gió

tự nhiên và thông gió cưỡng bức

- Thông gió tự nhiên.

Trong điều kiện thuận lợi (độ ẩm và nhiệt độ không khí) thông gió tự nhiên

có thể hạ độ ẩm khối hạt xuống 1% Để có thể thông gió tự nhiên không khí ngoàitrời phải có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ khối hạt (kể cả độ ẩm không khí)

- Thông gió cưỡng bức.

Đây là phương pháp tốt nhất để giữ cho sản phẩm có chế độ nhiệt, ẩm thíchhợp, nâng cao chất lượng bảo quản sản phẩm Đối với kho silô bắt buộc phải dùngphương pháp này Không khí thổi vào kho phải đáp ứng các yêu cầu sau:

+ Không khí phải sạch, không gây ô nhiễm cho lương thực

+ Lượng không khí cần đủ đảm bảo giảm nhiệt độ và độ ẩm khối hạt

+ Độ ẩm không khí ngoài trời phải thấp hơn khối hạt

+ Nhiệt độ không khí ngoài trời phải thấp hơn khối hạt

+ Phân bố đều luồng gió, tránh gây cho khối hạt có độ ẩm và nhiệt độ khôngđều, tạo điều kiện cho quá trình hô hấp mạnh (có hại) và vi sinh vật phát triển

* Phương pháp bảo quản hạt ở trạng thái kín

Bảo quản kín là đình chỉ trao đổi không khí giữa nông sản với môi trườngbên ngoài, giữ cho nông sản luôn ở trạng thái an toàn Mục đích là để hạn chế quátrình hô hấp của hạt Đồng thời khống chế bớt sự phát sinh phát triển phá hại của visinh vật, côn trùng (dùng để bảo quản hạt giống)

Bảo quản ở trạng thái kín đòi hỏi những yêu cầu kỹ thuật sau:

- Kho tàng, phương tiện chứa đựng nông sản phải kín hoàn toàn, không khíbên ngoài không thể xâm nhập được

- Thiết bị kho tàng phải đảm bảo chống nóng chống ẩm tốt

- Phẩm chất ban đầu của hạt nông sản phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượngqui định, độ lẫn tạp chất thấp hơn mức quy định và tuyệt đối không có sâu mọt pháhại

* Bảo quản nông sản bằng phương pháp điều chỉnh khí quyển

Trang 17

Mục đích của phương pháp này là làm giảm hoạt động hô hấp và các phảnứng trao đổi chất khác bằng cách làm tăng hàm lượng CO2 và làm giảm hàm lượngO2, giảm tốc độ sản sinh ethylen tự nhiên.

Kiểm soát khí quyển tồn trữ với hàm lượng CO2 sẽ hạn chế được sự thủyphân các hợp chất pectin, duy trì được cấu trúc và độ cứng của rau quả trong thờigian dài, còn làm tăng cường mùi vị của rau quả trong quá trình bảo quản

- Phương pháp CA là phương pháp bảo quản rau quả tươi trong môi trườngkhí quyển mà thành phần không khí như O2 và CO2 được điều chỉnh hay được kiểmsoát khác với các khí quyển bình thường

- Phương pháp MA (Modified Atmosphere): Kỹ thuật bảo rau quả bằng

phương pháp MA (Modified Atmosphere), tạm dịch là “khí quyển điều chỉnh”

- Phương pháp bảo quản rau quả thực phẩm bằng màng – MAP

- Phương pháp bảo quản bằng màng chitosan: Chitosan là cấu trúc tự nhiêncủa vỏ tôm, mai cua…

- Bảo quản rau quả thực phẩm màng bán thấm BOQ -15: BOQ –15 là hỗnhợp dung môi hữu cơ và thuốc chống nấm được kết hợp với nhau dưới dạng mộtdung dịch lỏng dùng để bảo quản các loại quả thuộc họ Citrus

* Bảo quản nông sản bằng hóa chất

Phương pháp ngày dùng chất hóa học để bảo quản với những nồng độ nhấtđịnh tùy theo loại thuốc và loại nông sản

Thuốc hóa học có tác dụng kìm hãm hoạt động sống của khối nông sản, tiêudiệt mọi hoạt động của sâu bệnh Khi dùng thuốc phải bảo đảm yêu cầu triệt để bảo

vệ sức khỏe của con người và không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Đối vớirau quả thường dùng axit boric, axit benzoic…

* Bảo quản rau quả thực phẩm bằng phương pháp chiếu xạ

Phương pháp bảo quản bằng tia bức xạ chủ yếu dựa trên nguyên lý tiêu diệt

vi sinh vật và ức chế các quá trình sinh lí xảy ra bên trong rau quả nhằm thời gianbảo quản Tuy nhiên, có nhiều loại bức xạ dùng trong bảo quản thực phẩm gồm:

- Phương pháp xử lý bằng bức xạ có những ưu điểm sau

+ Không sử dụng nhiệt, bảo đảm cho chất lượng thực phẩm được giữnguyên

+ Có thể xử lý cả nông sản tươi lẫn nông sản trong bao bì

+ Không sử dụng hóa chất bảo quản, nên không gây ra độc tố cho người tiêudùng

+ Chi phí năng lượng nhỏ

+ Hàm lượng dinh dưỡng bị biến đổi rất ít sau xử lý

+ Thiết bị đơn giản, dễ điều khiển

- Tuy nhiên phương pháp trên vẫn có nhược điểm

+ Chỉ có tác dụng diệt khuẩn, không tác động lên các chất độc có sẵn nhưkim loại nặng, kháng sinh, chất độc do các vi sinh vật tiết ra trước khi xử lý

+ Quá trình chiếu xạ có nguy cơ sinh ra chất độc mới

Trang 18

+ Xử lý bằng chiếu xạ làm phát sinh những giống vi sinh vật chống được bức

xạ do quá trình tiến hóa (giống vi sinh vật kháng kháng sinh)

+ Tâm lý e ngại của người tiêu dùng về các sản phẩm có liên quan đến chiếuxạ

1.6.5 Một số biện pháp công nghệ dùng trong chế biến

- Xử lý nhiệt: Gồm các công nghệ sấy, thanh trùng, chần, luộc, chiên, rim.

Dưới tác động của nhiệt độ cao, một phần nước bị bay hơi Để bay hơi 1 kg nướccần khoảng 540 kcalo hoặc 2200kj, cấu trúc của nông sản bị biến đổi, hệ enzym, cácchất có hoạt tính sinh học và vi sinh vật bị ức chế hoặc tiêu diệt, ở nhiệt độ 560C,prôtêin trong lòng trắng trứng đã bị đông đặc hoặc ở 60-700C các enzym bị mất hoạttính, 80% các vi sinh vật sinh dưỡng bị tiêu diệt Tuy vậy, để tiệt trùng và diệt hếtenzym trong nông sản, người ta thường sử dụng phương pháp hấp ở 115- 1200Ctrong 20-30 phút hay sấy 160-1700C trong 1-2 giờ.

- Xử lý mạnh (làm mát, ướp đá, làm lạnh, lạnh đông, lạnh sâu ) Trong điều

kiện lạnh các hoạt chất sinh học, các quá trình sinh lý của nông sản, các hoạt độngcủa vi sinh vật bị ức chế Trong chế biến người ta sử dụng lạnh để hạn chế quá trìnhôxi hoá các chất béo Thí dụ để bảo đảm chất lượng dầu được ép từ đậu tương, ôliu,hay hướng dương người ta thường phải làm lạnh trước khi ép

- Xử lý cơ học: Gồm kỹ thuật cắt, thái, nghiền, ép, xay khô, xay ướt thường

được sử dụng trong công nghệ chế biến nông sản Đây là những công nghệ cổ điển

có thể được sử dụng bằng lao động thủ công cũng như các thiết bị pha, thái hiện đại,

tự động hoá hoàn toàn

- Xử lý bằng áp lực (áp lực cao, áp lực chân không, kết hợp với cả áp lực cao

và áp lực chân không ) Dưới tác động của áp lực, cấu trúc của nông sản bị biếndạng, bị nóng lên Trong điều kiện chân không, nước bị bay hơi nhanh chóng, cấutrúc nguyên liệu nông sản trở nên sốt Nếu quản lý tốt được quá trình này sẽ tạo nênnhững sản phẩm ăn liền có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu người tiêu dùng Ngàynay công nghệ ép đùn chín (extrucsion cooking technology) được phát triển rộngkhắp với nhiều sản phẩm có giá trị (cơm ăn liền, cháo ăn liền, snack, bỏng ) Đỉnhcao kỹ thuật xử lý bằng áp lực là công nghệ giảm áp đột ngột có điều chỉnh vớicông nghệ này, hầu hết rau, quả, củ được làm chín, giữ được màu sắc, mùi vị vàhình dáng ban đầu, hàm lượng vitamin rất ít bị mất đi Thời gian gia công chính chỉ

từ 0 giây đến 3 phút Tác giả của công nghệ này là Tiến sĩ E.Karim, người Pháp

- Xử lý hoá học Từ lâu, con người đặc biệt sử dụng các chất hoá học để bảo

quản, chế biến thức ăn Các chất có áp suất thẩm thấu cao, nước trong các tế bàonông sản chảy ra ngoài làm giảm độ ẩm, cấu trúc thịt, cá, củ, quả trở nên rắn chắchơn, mùi vị đậm đà hơn Ngoài ra người ta còn sử dụng các hợp chất phenol,andehyd trong khói để bảo quản nông sản Sử dụng hợp chất nitrat, nitrit với liềulượng thấp tạo cho thịt, cá có màu hồng Việc sử dụng chất hoá học trong chế biếncũng cần chú ý tới ngưỡng tối đa được phép dùng vì thường sử dụng với nồng độcao sẽ không đảm bảo vệ sinh thực phẩm

- Xử lý bằng phương pháp sinh học: Đây là công nghệ có tính truyền thống

lâu đời của nhiều nước trên thế giới Lên men chua thịt, cá, rau, quả củ là công nghệ

Trang 19

chế biến độc đáo của nhiều nước Ở Châu phi người ta lên men chua sắn củ, khoai

sọ Quá trình lên men hạt cốc để tạo hàng trăm sản phẩm: Rượu vang, nước giảikhát lên men Với nhiều đặc thù của mỗi nước, mỗi dân tộc Công nghiệp sản xuấtcác sản phẩm này chiếm 15 - 20% tổng giá trị công nghiệp thực phẩm của thế giới

- Kỹ thuật đóng gói: Đóng gói không những có tác dụng tốt trong bảo quản

mà còn có vai trò quan trọng với quá trình tiếp thị, tạo điều kiện thuận lợi cho người

sử dụng Kỹ thuật đóng gói đang phát triển mạnh mẽ, nhờ có nhiều chất liệu mới.Các loại hộp, lọ bằng chất dẻo, màng phức hợp, hợp kim làm tăng giá trị tiện dụng,giảm giá thành sản phẩm, tạo cho kỹ thuật này ngày càng được áp dụng rộng rãitrong công nghiệp chế biến nông sản

1.7 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn

1.7.1 Khái niệm

+ Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tổng thể bao gồm các mối quan hệtương quan giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thuộc lĩnhvực nông, lâm, ngư nghiệp trong khoảng thời gian và điều kiện kinh tế xã hội cụthể Cơ cấu kinh tế nông nghiệp phụ thuộc vào các nhóm nhân tố sau:

Nhóm nhân tố tự nhiên: Đất đai, thời tiết, khí hậu Kinh tế nông nghiệp gắnvới điều kiện tự nhiên rất chặt chẽ, nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ cho năng suấtcao và ngược lại

Nhóm nhân tố về kinh tế và tổ chức: Trong đó vấn đề thị trường và cácnguồn lực đóng vai trò hết sức quan trọng Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô củaNhà nước có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nóichung và kinh tế nông nghiệp nói riêng Chính sách phát triển kinh tế hàng hóa vàchính sách khuyến khích xuất khẩu đã tạo điều kiện để phát triển nền nông nghiệp

đa canh, hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hóa với quy mô ngày càng lớn

Nhóm nhân tố kỹ thuật: Tác động mạnh mẽ đến việc hình thành và chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nó mở ra những triển vọng to lớn trong việc ápdụng những công nghệ mới vào canh tác, chế biến và bảo quản nông sản nhằm nângcao năng suất và chất lượng sản phẩm

+ Cơ cấu kinh tế nông thôn là tỷ lệ giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế cóquan hệ chặt chẽ với nhau tác động qua lại lẫn nhau trong những điều kiện tự nhiên,kinh tế - xã hội được thể hiện cả định tính và định lượng Các bộ phận cấu thànhkinh tế nông thôn: Nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nôngthôn

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là quá trình pháttriển của các ngành kinh tế thuộc lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn dẫn đến sựtăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi mối quan hệ tương tác giữachúng so với một thời điểm trước đó mà thường so với năm trước

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là kết quả của quátrình phát triển vừa chịu tác động của yếu tố khách quan như điều kiện tự nhiên,kinh tế xã hội vừa chịu tác đông của các yếu tố chủ quan như sự can thiệp của chínhphủ bằng các chính sách kinh tế xã hội

Trang 20

1.7.2 Vì sao phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn

Từ khi đổi mới đến nay cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta có sựchuyển biến tích cực, nhưng nông nghiệp vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuấtnhỏ, cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn một số nơi vẫn chưa thoát khỏi độccanh, thuần nông Nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong kinh tế nông thôn, cácngành nghề nông nghiệp vẫn chưa phát triển Nhìn chung cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, nông thôn còn nhiều bất hợp lý, hiệu quả thấp chưa khai thác hết mọi tiềmnăng của đất nước và lợi thế sinh thái của từng vùng

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta là một tất yếuxuất phát từ vị trí của nông nghiệp, nông thôn trong đời sống kinh tế xã hội, từ thựctrạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta, từ yêu cầu của công nghiệphóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) và yêu cầu của nền kinh tế thị trường

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trước hết phải xuấtphát từ vị trí của nông nghiệp, nông thôn và thực trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệpnông thôn ở nước ta Nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng bảo đảm các mặtthiết yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Ở nông thôn cógần 70% lao động xã hội, đây là nguồn cung cấp lao động cho các ngành trong nềnkinh tế quốc dân Do vậy, việc xác lập cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn hợp lý

có ý nghĩa quan trọng trong việc sử dụng lao động phù hợp để phát triển nền kinh tếnói chung và khu vực kinh tế nông thôn nói riêng Mặt khác nông thôn có 76,5%dân số cả nước, là nơi tập trung gắn bó của nhiều ngành kinh tế, là thị trường rộnglớn, nếu được mở rộng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn là do yêu cầu củaCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Trong giai đoạn hiện nay CNH, HĐH nôngnghiệp và nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để xây dựng nước ta thànhmột nước công nghiệp Trước hết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,nông thôn theo hướng xóa bỏ tình trạng thuần nông, phát triển công nghiệp và dịch

vụ, thúc đẩy hình thành và phát triển các vùng chuyên môn hóa, phát triển côngnghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến và bảo quản nông sản phẩm CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn làm cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như: Thủy lợi, giaothông, thông tin liên lạc, các cơ sở nông nghiệp, dịch vụ văn hóa, y tế, giáo dụccàng phát triển, là điều kiện vật chất quan trọng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông thôn, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng đô thị hóa

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là do đòi hỏi củanền kinh tế thị trường Sự phát triển kinh tế của nước ta trong những năm đổi mới

đã tạo đà cho nông nghiệp và kinh tế nông thôn bắt nhịp vào quá trình chuyển sangkinh tế thị trường Tuy nhiên, nó đang đặt ra cho nông nghiệp, nông thôn những yêucầu mới, cũng như thách thức mới trong sự phát triển Trong nền kinh tế thị trường,các quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hóa Thị trường phát triển đòi hỏi cơ cấu kinh

tế nông nghiệp, nông thôn cũng phải biến đổi theo hướng đa dạng hơn, tuân thủ cácquy luật vốn có của nền kinh tế thị trường Nông nghiệp và kinh tế nông thôn khôngchỉ có nhiệm vụ tăng trưởng sản xuất lương thực mà còn phải đa dạng hóa sản xuất

Trang 21

và sản phẩm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế để trở thành một bộ phận tích cực thúc đẩynền kinh tế.

+ Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta cònxuất phát từ yêu cầu phát triển một nền kinh tế có hiệu quả, gắn với bảo vệ môitrường sinh thái và giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh ở nông thôn, trong đótạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo cho dân cư nông thôn

1.7.3 Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn

+ Chuyển dịch cơ cấu theo ngành: Là một quá trình chuyển từ trạng thái cơcấu cũ sang cơ cấu mới phù hợp hơn với sự phát triển tiến bộ của khoa học côngnghệ, nhu cầu thị trường và nhằm sử dụng hiệu quả mọi yếu tố nguồn lực của đấtnước Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành là phải hướng tới một cơ cấu ngành hợp

lý, đa dạng trong đó cần phát triển các ngành chủ lực có nhiều lợi thế để đáp ứngnhu cầu trong nước và xuất khẩu Đồng thời phải kết hợp tối ưu giữa cơ cấu ngànhvới cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế

+ Chuyển dịch cơ cấu theo vùng lãnh thổ Sự phân công lao động theo ngànhkéo theo sự phân công lao động theo lãnh thổ, đó là hai mặt của một quá trình gắn

bó hữu cơ với nhau, thúc đẩy nhau phát triển Sự phân công lao động theo ngànhbao giờ cũng diễn ra trên một lãnh thổ nhất định Vì vậy cơ cấu kinh tế theo vùnglãnh thổ chính là sự bố trí các ngành sản xuất và dịch vụ theo không gian cụ thểnhằm khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của vùng Xu thế chuyển dịch cơ cấukinh tế theo vùng lãnh thổ là theo hướng đi vào chuyên môn hóa và tập trung hóasản xuất và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn, tập trung có hiệuquả cao, mở rộng mối quan hệ với các vùng chuyên môn hóa khác, gắn bó cơ cấukinh tế của từng vùng với cả nước

+ Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế Cơ cấu thành phần kinh tế lànội dung quan trọng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấukinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng Trong nông nghiệp và nông thôn tồn tạinhiều thành phần kinh tế khác nhau tùy mỗi quốc gia, mỗi vùng mà số lượng thànhphần kinh tế cũng khác nhau Các thành phần kinh tế cơ bản như: Kinh tế doanhnghiệp, tập thể, tư nhân, hộ gia đình Trong đó kinh tế hộ gia đình và kinh tế trangtrại là lực lượng chủ yếu trực tiếp tạo ra các nông, sản phẩm Chuyển dịch cơ cấuthành phần kinh tế là sự thay đổi về các đơn vị sản xuất kinh doanh, xem thànhphần kinh tế nào nắm vai trò tự chủ trong việc tạo ra các sản phẩm nông nghiệp chủyếu cho nền kinh tế chung của xã hội

1.7.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.

+ Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lí, điều kiện khí hậu,thời tiết, đất đai, nguồn nước, rừng, khoáng sản và các yếu tố sinh học khác Vị tríđịa lí thuận lợi và các tiềm năng tự nhiên phong phú của mỗi vùng lãnh thổ là nhân

tố thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển Những vùng có điều kiện tự nhiênthuận lợi thì các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, tư nhân, kinh tế hộ và trangtrại cũng phát triển với quy mô lớn và nhanh hơn

Trang 22

+ Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội: Thị trường, hệ thống chính sách kinh tế vĩ

mô của Nhà nước, cơ sở hạ tầng nông thôn, sự phát triển các khu vực công nghiệp

và đô thị, dân số và lao động bao gồm số lượng và chất lượng

+ Nhóm nhân tố về tổ chức kỹ thuật: Các hình thức tổ chức sản xuất trongnông nghiệp và nông thôn, sự phát triển của khoa học công nghệ và việc áp dụngkhoa học công nghệ vào sản xuất…Khoa học công nghệ đang trở thành lực lượngsản xuất trực tiếp, sự phát triển khoa học công nghệ và việc áp dụng nó vào sản xuất

có vai trò ngày càng to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, kinh tếnông nghiệp và cơ cấu nông thôn nói riêng Vì một mặt làm xuất hiện nhiều loạinhu cầu mới, tác động đến sự thay đổi về số lượng, tăng nhu cầu của các ngành, haylàm thay đổi tốc độ phát triển giữa các ngành Mặt khác nó tạo ra khả năng mở rộngngành nghề và tăng trưởng các ngành sản xuất chuyên môn hóa cao và phát triểncác ngành đòi hỏi có trình độ công nghệ cao

2 Các phương thức canh tác nông nghiệp

2.1 Nông nghiệp du canh

2.1.1 Khái niệm

Du canh là sự thay đổi nơi sản xuất từ vùng này sang vùng khác, từ khu đấtnày sang khu đất khác sau khi độ phì của đất đã nghèo kiệt

2.1.2 Đặc điểm của nông nghiệp du canh

- Vào thời đại đồ đá mới, các hệ thống trồng trọt bằng đốt rẫy xuất hiện tại 3điểm xuất phát nguyên thủy độc lập với nhau: Tại vùng Tiểu Á 7000 năm trướccông nguyên, tại Trung Hoa và Trung Mỹ 3000 đến 4000 năm sau đó Từ đó chúnglan dần ra các vùng rừng rú dễ bị chặt đốt, đến tận vùng Địa Trung Hải và vùng ônđới của lục địa Á, Âu và các vùng nhiệt đới Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ LaTinh

- Phương thức canh tác chủ yếu lợi dụng thiên nhiên: Chặt – đốt – gieo trồng

- Quá trình du canh từ nơi ở mở rộng ra xung quanh, di chuyển cả nhà hoặckhông, có thể quay về chỗ cũ

- Địa điểm du canh thường là rừng, núi, đất dốc, thưa dân cư

- Ưu điểm: Đầu tư ít nhất, thu được nhiều nhất Đầu tư ít chủ yếu chỉ đầu tưgiống, lao động đơn giản, công cụ thô sơ, thu được nhiều, dễ làm, hiệu quả lao độngcao Thời gian đốt nương làm rẫy chỉ chiếm ½, còn lại là làm việc khác, có sự phâncông lao động rõ ràng Khai thác hiệu quả tài nguyên tự nhiên

- Nhược điểm: Phá hủy tài nguyên nhanh, năng suất và sản lượng thấp, khóchăm sóc, bảo vệ và thu hoạch, rủi ro cao do phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên,gây suy thoái môi trường – đồi trọc

2.1.3 Đặc điểm của nông nghiệp du canh ở Việt Nam

Ở Việt Nam du canh đã tồn tại như một hình thức nguyên thủy, nó giữ vai tròquan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân miền núi và nó cònđang tồn tại cùng với sự phát triển của các tộc người sống ở miền núi

Canh tác nương rẫy là một tập quán canh tác cổ truyền gắn với người dân, đó

là một biểu hiện của mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Canh tác nương rẫy là

Trang 23

hoạt động sản xuất chủ yếu của 52 dân tộc vùng cao trong 54 dân tộc ở nước ta, đó

là nét đặc trưng cho nền văn hóa đa dạng và phong phú của Việt Nam

Ở Việt Nam có 3 hình thức nông nghiệp du canh chủ yếu, đó là:

+ Du canh tiến triển: Chủ yếu ở vùng cao Tây Bắc (độ cao > 1000m), đặc thùcủa người H’Mông, nhưng hiện nay có thêm người Dao, Tày, Vân Kiều Du canhtiến triển là kiểu canh tác sử dụng triệt để độ phì của đất, năng suất cây trồng giảmsút mạnh, hoặc do canh tác liên tục, công làm cỏ quá nhiều so với thu hoạch câytrồng nên người dân bỏ hẳn không sử dụng mảnh đất đó nữa và dời đi nơi khác.Canh tác du canh tiến triển phá hoại mạnh mẽ môi trường, đặc biệt là làm đất thoáihóa, cản trở sự khôi phục lại rừng

+ Du canh theo hình thức luân canh (du canh quay vòng) được thực hiện ởhầu hết các dân tộc thiểu số Kiểu du canh này người dân canh tác trung bình từ 2đến 3 năm, nơi đất tốt có thể là 5 năm, thời gian bỏ hóa có thể là 8 – 10 năm trở lên.Tuy nhiên, hiện nay do sức ép dân số, đất làm nương rẫy bị thu hẹp, thời gian canhtác thường kéo dài cho tới khi độ phì của đất bị can kiệt, năng suất cây trồng giảmmạnh và thời gian bỏ hóa rút ngắn lại chỉ còn 4 – 5 năm, có nơi chỉ 2 – 3 năm Nhưvậy, nông nghiệp du canh theo hình thức luân canh ở nước ta đã chuyển dần sang ducanh tiến triển Từ các thói quen canh tác, cộng với nhu cầu đảm bảo cuộc sống chomình trong điều kiện sức ép mạnh mẽ của dân số lên đất đai, dẫn đến người dân ởnhiều nơi phải di cư tự do, đây cũng là một trong những nguyên nhân của sự chuyểnđổi từ hình thức du canh quay vòng sang hình thức du canh tiến triển

+ Du canh bổ trợ: Người nông dân không chỉ canh tác nương rẫy mà còn biếtcanh tác cả ruộng lúa nước Du canh bổ trợ được thực hiện bởi các dân tộc nhưThái, Tày, Mường nó đã xuất hiện từ lâu do họ sống tập trung ở những thung lũngkhá bằng phẳng, hoặc các ruộng bậc thang ở nơi có nguồn nước dồi dào và mốiquan hệ mật thiết với người Kinh, dù vậy lúa nước không phải là chủ yếu Hìnhthức canh tác này đang được mở rộng ở Hòa Bình, Tây Nguyên

2.1.4 Các bước trong hệ du canh bỏ hóa

Du canh không đơn thuần là phát đốt, chọc lỗ, bỏ hạt, đặc biệt là trong canhtác truyền thống Nó đòi hỏi phải có những kỹ thuật, những hiểu biết, những kiếnthức rất bản địa Canh tác nương rẫy bao gồm các bước sau:

Trong du canh truyền thống, người du canh sử dụng một hệ thống các trithức bản địa để khai thác tự nhiên và cũng bồi dưỡng tự nhiên để đảm bảo canh tác

Trang 24

lâu dài Chuỗi các tri thức về kỹ thuật đó có tác động tốt không chỉ cho bước đó mà

cả những bước kế tiếp

2.2 Nông nghiệp du mục

- Là một phương thức sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu gắn liền với hệthống chăn nuôi được di chuyển liên tục từ vùng này sang vùng khác

- Có hai loại du mục là du mục hoàn toàn và du mục bán hoàn toàn

+ Những người du mục hoàn toàn di chuyển đàn gia súc của họ từ vùng nàysang vùng khác quanh năm Còn những người du mục bán hoàn toàn thì chỉ nuôi vàchăn dắt đàn gia súc theo mùa của đồng cỏ tự nhiên, hết mùa họ bán gia súc và tiếptục công việc khác

+ Tất cả những người du mục hoàn toàn đều không có nhà cửa cố định vàkhông tiến hành bất cứ một hoạt động trồng trọt nào Những người bán du mục cókết hợp một phần nhỏ với công việc của trồng trọt và dần tạo thành các trang trại và

có nhà của cố định

+ Du mục hoàn toàn thường diễn ra trên vùng đất mà không thể chấp nhậnmột hình thức sản xuất nào khác, có thể đây là hình thức tốt nhất để khai thác nhữngvùng thảo nguyên khô cằn, tận dụng được nguồn lợi sẵn có của tự nhiên

Ở Việt Nam thường có hình thức du mục bán hoàn toàn, chủ yếu người dâncùng với đàn gia súc của mình (vịt) di chuyển từ vùng này sang vùng khác theo mùathu hoạch tận dụng các sản phẩm rơi rụng trên đồng ruộng

- Đặc trưng của du mục hoàn toàn

+ Dựa vào đồng cỏ tự nhiên, quả, lá cây trong rừng làm thức ăn cho gia súc.Không dự trữ thức ăn cho gia súc mà chỉ dự trữ muối

+ Các loại gia súc chủ yếu là lạc đà, dê, cừu, bò… Sản phẩm chủ yếu là sữa,thịt, lông, da… năng suất thấp

+ Kiểu di chuyển theo kiểu thẳng đứng hoặc nằm ngang cùng độ cao

+ Đầu tư chủ yếu là giống gia súc một lần rồi tự nhân lên, lao động chủ yếu

là chăn dắt, săn đuổi, công cụ là dao, rìu

+ Họ thường di chuyển theo nhóm từ 5-6 gia đình

2.3 Nông nghiệp định canh

2.3.1 Khái niệm

Là hoạt động sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên những vùng, khuvực hay mảnh đất cố định qua các năm

2.3.2 Phân loại nông nghiệp định canh

2.3.2.1 Nông nghiệp chuyên môn hóa

Là những hệ thống nông nghiệp chuyên sản xuất một hoặc hai loại sản phẩmnhất định

- Do đặc điểm của điều kiện tự nhiên, vị trí xã hội hay tập quán xã hội màmột vùng nào đó hay đơn vị sản xuất nào đó với mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế cao,hoặc do sự phân công xã hội mà họ chỉ chuyên sản xuất một hoặc hai sản phẩmchính

Trang 25

Do loại hình nông nghiệp chuyên môn hóa xuất hiện khi có sự chỉ đạo củaNhà nước và nó được thực hiện khi có điều kiện giao thông cũng như phương tiện

Ưu điểm: Dễ tập trung sản phẩm tạo điều kiện tốt cho việc thu mua nông sảnphẩm và chế biến Dễ đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nghiên cứu, thử nghiệm.Rất khả thi với các nước có nền kinh tế phát triển

Nhược điểm: Chỉ có 1 – 2 loại sản phẩm, canh tác như vậy sẽ làm mất cânbằng dinh dưỡng đất, mất cân bằng sinh học, sâu bệnh nhiều, căng thẳng về laođộng khi thời vụ, thừa lao động lúc không thời vụ

Ở nước ta hình thức nông nghiệp chuyên môn hóa được hình thành và pháttriển mạnh trong thời kỳ xây dựng các nông trường quốc doanh, nhưng hiện nay còn

ít đơn vị tồn tại dưới dạng chuyên môn hóa này Tuy nhiên, một số vùng nước ta đãhình thành các vùng sản xuất hàng hóa đặc biệt là cây đặc sản, chuyên sản xuất mộtloại cây trồng (bưởi Tân Triều…)

Khi chưa có phân hóa học, nông nghiệp định canh cần phải bổ sung dinhdưỡng cho cây nên nguồn phân bón chủ yếu là phân hữu cơ từ động vật Đồng thờiđộng vật cung cấp sức kéo cho trồng trọt Trồng trọt hỗ trợ cho chăn nuôi, cung cấpthức ăn cho chăn nuôi

Nông nghiệp hỗn hợp thường diễn ra ở vùng gần đô thị trước, vì ở đây do áplực dân số tăng nhanh hơn và ở những nơi điều kiện dễ dàng đầu tư phân bón, máymóc và tiến bộ khoa học kỹ thuật

Ưu điểm: Tăng khả năng quay vòng đất, năng suất trên đơn vị diện tích tăng,hiệu suất lao động tăng, có sự kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi, làm nền canh tác

có sức kéo ra đời, giảm bớt lao động nặng nhọc, giảm hoặc bỏ hẳn thời kỳ bỏ hóa

Nhược điểm: Khai thác đất triệt để, sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch nênđất đai dễ bị thoái hóa, môi trường dễ bị ô nhiễm, chi phí sản xuất tăng

2.3.2.3 Nông nghiệp định canh ở vùng núi Việt Nam

Nông nghiệp định canh ở miền núi đã hình thành từ lâu, tuy nhiên nó đượcngười nông dân miền núi quan tâm từ cuộc vận động định canh định cư của Nhà

Trang 26

nước bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ 20, đã có những kết quả nhất định vớiviệc làm lúa nước, làm vườn, trồng cây công nghiệp, chăn nuôi và làm ruộng bậcthang…

Nông nghiệp định canh thường tập trung chủ yếu ở các thung lũng khá bằngphẳng, vùng cao nguyên bằng phẳng, một số vùng cao, dốc có truyền thống và kinhnghiệm làm ruộng và canh tác ruộng bậc thang

Đối với vùng trung du, nông nghiệp định canh là cách sản xuất chính, ở vùngnúi cao người nông dân không hoàn toàn canh tác định canh mà kết hợp với canhtác nương rẫy

Có hai hình thức nông nghiệp định canh ở miền núi là :

- Nông nghiệp định canh không nước tưới :

+ Đây là hình thức canh tác hoàn toàn phụ thuộc vào nước trời Người nôngdân phải có những kinh nghiệm về mùa vụ gắn với khí hậu thời tiết địa phương để

- Nông nghiệp định canh có nước tưới :

+ Hình thức canh tác này ít phụ thuộc vào chế độ mưa Cây trồng được tướichủ động bằng hệ thống tưới tự chảy hoặc hệ thống thủy lợi Đa số trên vùng núi có

độ dốc cao, người nông dân làm ruộng bậc thang hay làm ruộng ở thung lũng nhỏthường được tưới bằng hệ thống tưới tự chảy, dẫn từ các nguồn nước như khe suối,các thác nước bằng ống tre nứa, hay hiện nay một số nơi đã đầu tư xây dựng hệthống thủy lợi gồm đập nước, hệ thống dẫn nước

Với những thung lũng hay cao nguyên bằng phẳng, thì trình độ canh tác caohơn, có thể được đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi cho tưới tiêu Đầu tư vốn,giống, vật tư nông nghiệp nhiều hơn các vùng canh tác nhờ nước trời

Hiện nay, ruộng được tưới từ hệ thống tự chảy cũng chịu ảnh hưởng nhiềubởi nước trời nhất là giai đoạn mùa khô vì khả năng giữ nước của rừng giảm

Hình thức canh tác này có thể thâm canh tăng vụ

Để canh tác ổn định cần áp dụng kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp để tạonguồn sinh thủy, đảm bảo nguồn nước tưới cho cây trồng Tăng khả năng giữ nước

và cung cấp nước của đất cho cây

2.4 Nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp

2.4.1 Sản xuất nông nghiệp không cần đất

Kỹ thuật thủy sinh (hay còn gọi là thủy chủng) là kỹ thuật trồng cây trongdung dịch chất dinh dưỡng, không cần đất Được nhà sinh, lý học J.Wodward thửnghiệm lần đầu tiên vào năm 1987, sau đó được Knob và Sachs nghiên cứu tỉ mỉhơn

Trang 27

Hiện nay, người ta dùng than bùn, sợi mịn kéo từ thủy tinh làm chất thấmdung dịch dinh dưỡng nuôi cây, hoặc áp dụng kỹ thuật màng dung dịch, dinhdưỡng Chất dinh dưỡng được cung cấp cho cây ở dạng một lớp dung dịch rất mỏnglưu truyền trong bể trồng.

2.4.2 Sản xuất Protein đơn bào

Những cơ thể đơn bào có thể tăng lên về số lượng rất nhanh với điều kiện làchúng được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng và môi trường thích hợp, tốc độ sảnxuất tiềm năng của chúng trên một đơn vị thời gian là rất cao

2.4.3 Sản xuất thực phẩm giống thịt

Tạo thực phẩm từ Protein thực vật có mùi, màu giống như thực phẩm từđộng vật, dinh dưỡng vẫn đảm bảo Tuy nhiên sẽ nhanh và tiết kiệm hơn chăn nuôi

2.4.4 Chiết xuất thực vật xanh

Con người chiết xuất ở quy mô công nghiệp một số loại thực vật xanh màcon người và vật nuôi không sử dụng được, tạo ra Protein cần cho cuộc sống

2.4.5 Nông nghiệp công nghệ cao

Nông nghiệp công nghệ cao là hướng áp dụng công nghệ sinh học vào sảnxuất nông nghiệp, được tiến hành theo những quy trình nghiêm ngặt như trong côngnghiệp, năng suất cây trồng, vật nuôi cao và chất lượng sản phẩm tốt Các khâu củaquá trình sản xuất được cơ khí hóa, điện khí hóa

2.4.6 Sản xuất tôm

Đây là một hướng sản xuất nông nghiệp tận dụng ưu thế của điều kiện nhiệtđới đặc biệt là các vùng thấp và vùng ven biển, chuyển hướng sản xuất từ trồng trọtsang nuôi tôm Bởi vì tôm là một động vật máu lạnh có giá trị dinh dưỡng cao trongkhi đó tốc độ sinh sản của tôm nhanh, năng lượng yêu cầu duy trì của chúng thấp,nguồn thức ăn cho tôm phong phú, điều kiện để nuôi tôm nhiều Ở Việt Nam hiệnnay có thể có các hình thức nuôi tôm:

- Nuôi tôm quảng canh

- Nuôi tôm bán thâm canh

- Nuôi tôm thâm canh

2.5 Nông nghiệp bền vững

2.5.1.Tính cấp thiết phải phát triển NNBV

- Đất nông nghiệp bị suy thoái: Xói mòn, thay đổi tính chất lý, hóa sinh học, bị

sa mạc hóa

- Cạn kiệt nguồn nước, mất đa dạng sinh học

- Ảnh hưởng đến sức khỏe con người

2.5.2 Khái niệm nông nghiệp bền vững

Khái niệm phát triển bền vững ra đời nhằm mục đích bảo vệ môi trường.Trong đó nông nghiệp và các vấn đề liên quan có tác động mạnh mẽ tới cuộc sốngtoàn cầu Nông nghiệp bền vững (NNBV) là một khái niện xuất phát từ đó với rấtnhiều định nghĩa khác nhau

Trang 28

- Định nghĩa có tính tổng hợp và khái quát là định nghĩa của Tổ chức thế giới

về sinh thái và phát triển (W.O.E.D): “Sự phát triển bền vững và nông nghiệp bềnvững khai thác tốt các tài nguyên thiên nhiên để phục vụ lợi ích của thế hệ ngàynay, mà không gây trở ngại cho thế hệ mai sau”

Theo FAO (1991) Hệ thống NNBV là hệ thống quản lý thành công cácnguồn lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, để thỏa mãn nhu cầu của con người,trong khi đó vẫn duy trì hoặc nâng cao chất lượng môi trường, và bảo vệ các nguồnlợi thiên nhiên

Tại hội nghị Bộ trưởng môi trường của các nước châu Âu tháng 8 năm 1993

và 1994 tại Đức đã đưa ra kết luận: NNBV là sự quản lý và sử dụng hệ sinh tháinông nghiệp bằng cách duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh vàhoạt động của nó để nó có thể hoàn thành những chức năng kinh tế, xã hội và sinhthái ở hiện tại và trong tương lai trên phạm vi địa phương, quốc gia và toàn cầu màkhông làm tổn hại đến các hệ sinh thái khác

- Theo Bill Moliioson “Nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế đểchọn môi trường bền vững cho sự sống con người Là mối liên quan giữa các yếu tố

mà con người tạo ra qua xếp đặt phân bố chúng trong cảnh quan, trên mảnh đất gồmcây trồng, vật nuôi, các công trình hạ tầng cơ sở”

- Theo Morrow: “ NNBV là hệ thống nông nghiệp thường trực tự xây dựngbền vững, thích hợp cho mọi tình trạng ở thành thị và nông thôn với thiết kế nhằmđạt sản lượng cao, giá thành hạ, kết hợp tối ưu sản xuất cây trồng, cây rừng, vậtnuôi với các cấu trúc và các hoạt động của con người”

Ở Việt Nam, nông nghiệp bền vững trước hết là một nền nông nghiệp của trítuệ, sản phẩm kết tinh những tri thức hiện đại về nông lâm nghiệp với kho tàng kinhnghiệm truyền thống của dân tộc ta tích lũy qua hàng ngàn năm lao động trên mảnhđất này (Vũ Ngọc Tuyên – 1994)

Các khái niệm NNBV nêu trên đều mang tính khái quát chung Tuy nhiên, cóthể hiểu NNBV là một hình thức sản xuất nông nghiệp trong đó hoạt động trồngtrọt, chăn nuôi luôn tạo ra năng suất, sản lượng ổn định đáp ứng đủ nhu cầu của conngười, sản phẩm tạo ra là sản phẩm sạch, đồng thời bảo vệ được tài nguyên đất vànước nhằm duy trì sản xuất lâu bền

Bảo vệ được tài nguyên đất và nước trong canh tác là điều kiện tiên quyết đểsản xuất lương thực và các sản phẩm khác đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của conngười trong hiện tại cũng như trong tương lai Do vậy, sản xuất nông nghiệp bềnvững cần được quan tâm nhiều, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay

Để phát triển NNBV trước hết cần phải phân tích được những tiềm năng vàtrở ngại trong sản xuất nông nghiệp ở từng vùng sinh thái, từng địa phương cụ thể.Sau đó nghiên cứu áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và những kiến thức bảnđịa, những kinh nghiệm sản xuất của người nông dân vào từng địa phương nhấtđịnh

2.5.3 Mục tiêu của nông nghiệp bền vững

Trang 29

Xây dựng nên một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh

tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người, không bóc lột đất đai, ônhiễm môi trường NNBV sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi,cây rừng kết hợp với đặc trưng của cảnh quan và cấu trúc, trên những diện tích đất

sử dụng thấp nhất

2.5.4 Nguyên tắc trong phát triển NNBV

- Đảm bảo tính bền vững môi trường và sinh vật bằng cách xây dựng hệ thốngcây trồng, vật nuôi sao cho các nguồn lợi sinh vật, đất, nước được khai thác và bảo

- Đảm bảo tính bền vững theo không gian và thời gian: Tính bền vững phảiđược duy trì trong thời gian dài và không ảnh hưởng đến không gian xung quanh

2.5.5 Đặc điểm của nông nghiệp bền vững

2.5.5.1 Đặc điểm chung

- Bền vững lâu dài vì:

+ Bảo tồn được đất và nước

+ Bảo tồn năng lượng

+ Đa dạng hoa màu

+ Tạo chu trình dinh dưỡng kín

+ Thích ứng với hoàn cảnh

- Sử dụng các giải quyết nội bộ cho các khó khăn nội tại

- Chú trọng về giải quyết các khó khăn bằng biện pháp quản trị

- Phát triển mọi tiềm năng của con người, thiên nhiên

2.5.5.2 Đặc điểm về kỹ thuật

- Đầu vào thấp

- Chú trọng luân canh, cải tạo đất bằng các tàn dư thực vật, phân chuồng, hoamàu che phủ đất và các chất khoáng từ đá, mẫu chất

- Chú trọng biện pháp sinh học tổng hợp để phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại

- Chú trọng nghiên cứu và phát triển hệ thống canh tác

- Tăng cường đa dạng sinh học

- Bảo tồn các chủng loài bản địa, kiến thức bản địa

- Chú trọng sự làm việc theo tiến trình tự nhiên và dùng các kỹ thuật bảo tồnlàm phong phú tài nguyên tự nhiên

2.5.5.3 Đặc điểm về kinh tế

- Ưu tiên cho an ninh lương thực

- Chú trọng tài nguyên tại chỗ của trang trại, giảm chi phí sản xuất

Trang 30

- Tự phát triển.

2.5.5.4 Đặc điểm về xã hội

- Đặt giá trị trên cơ sở tài nguyên con người và môi trường

- Dựa vào kế toán và giá trị

- Tăng cường trao đổi ý kiến và hợp tác

- Nhạy bén với tập quán truyền thống

2.5.6 Những tiềm năng trong phát triển NNBV ở Việt Nam

2.5.6.1 Tiềm năng về điều kiện tự nhiên

Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới Bắc bán cầu, địa hình trải dài từ vĩtuyến 8030’ Bắc đến 23022’ Bắc tạo thành nhiều vùng sinh thái khác nhau, các điềukiện tự nhiên phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp pháttriển Để khai thác tiềm năng tự nhiên ở các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhautrước hết phải khai thác nguồn lợi tự nhiên giàu có này Các nguồn lợi tự nhiên đólà:

- Tiềm năng về khí hậu

+ Nắng và bức xạ

Chế độ bức xạ của nước ta rất phong phú, có sự phân bố vùng rõ rệt

Do nằm gọn trong vùng nội chí tuyến có độ cao mặt trời lớn, thời gian chiếusáng khá đều đặn trong năm nên tổng bức xạ nhiệt đạt được trên lãnh thổ nước takhá phong phú, bình quân đạt 230 – 280 kcalo/cm2/năm

Tuy vậy, do lượng mây khá lớn, thường chiếm 5/10 bầu trời làm giảm cường

độ bức xạ chiếu tới, chỉ còn 40 – 60% lượng bức xạ tổng cộng tiềm năng

Chế độ bức xạ quyết định chế độ nắng

+ Chế độ nhiệt

Nhiệt độ Việt Nam dao động khá lớn, đặc biệt ở các tỉnh phía Bắc Sự chênhlệch nhiệt độ giữa các tháng cao nhất và thấp nhất có thể từ 9 -140C Tháng Giêng làtháng có nhiệt độ thấp nhất ở miền Bắc, và vùng có nhiệt độ thấp nhất là vùng núiphía Bắc

Đặc trưng quan trọng nhất của nhiệt độ với nông nghiệp là sự chênh lệchnhiệt độ ngày đêm (biên độ ngày đêm) Biên độ nhiệt càng lớn thì hiệu quả quanghợp càng cao, tới hạn biên độ lớn hơn 150C thì cường độ quang hợp kém đi Độchênh lệch nhiệt độ cao nhất vào khoảng 8 – 120C xảy ra vào các tháng mùa khô tạivùng núi và Tây nguyên, ở Nam bộ biên độ nhiệt độ lớn thường đạt cực đại vào cáctháng 1, 2, 3 Chế độ nhiệt được coi là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của khíhậu nước ta

Trang 31

+ Độ ẩm không khí

Độ ẩm tương đối của không khí thay đổi trong năm từ 75 – 90%, thấp nhất là70% và cao nhất là 95% Tuy nhiên nhiều trường hợp đã đo được độ ẩm cực đại đạttới 100%, cực tiểu là 10%

Độ ẩm tương đối không khí thay đổi theo mùa, ở miền Bắc (trừ vùng TâyBắc) độ ẩm không khí đạt cực đại xảy ra vào tháng 2 – 3 khi có mưa phùn và trongcác tháng 7,8 có lượng mưa lớn

Phía Nam Trung bộ từ đèo Hải Vân trở vào, thời kỳ ẩm ướt là tháng 8 – 9

Ở Tây nguyên và Nam bộ thời kỳ ẩm ướt xảy ra vào tháng 5 – 6, ẩm ướt nhấtvào tháng 8 – 9 Mùa khô gay gắt nhất ở vùng này vào các tháng 12, tháng 1 đếntháng 4 năm sau

Vùng có độ ẩm không khí thấp nhất nước ta là những vùng chịu ảnh hưởngcủa hiệu ứng Phơn

- Tiềm năng về đất đai

Theo Tổng cục Thống kê năm 2012 diện tích đất nông nghiệp ở nước ta là26.280.500 ha

Đất nông nghiệp ở vùng cao chiếm 38% quỹ đất nông nghiệp của cả nước vàhầu hết các loại đất này đều được coi là có tiềm năng nông nghiệp (Trần Đức Viên,1996)

Vị trí và hình dạng đặc thù của nước ta, làm cho thổ nhưỡng nước ta vừa cótính chất chung của vùng nhiệt đới ẩm nhưng rất đa dạng và phân hóa rõ rệt gồmcác nhóm đất sau:

Đất vùng đồi núi trước đây có sự phân biệt 2 lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

và lâm nghiệp, song hiện nay phải được coi là một chỉnh thể mới phát huy đượctiềm năng đất đai và phát triển bền vững

- Tài nguyên nước

Không có nước thì không có sự sống, thiếu nước thì cả nền văn minh hiệnnay không tồn tại Đối với mỗi quốc gia, nước là một trong những yếu tố quyết định

sự phân bố của lực lượng sản xuất

Chế độ nước của Việt Nam có những nét riêng của vùng nhiệt đới ẩm, lượngmưa tương đối lớn, trung bình 1800 – 2000 mm/năm Nhưng lượng mưa phân bốkhông đều ở các vùng cũng như các tháng trong năm

Trang 32

Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc và phân bố tương đối đồng đềutrên lãnh thổ Các sông có chiều dài trên 10 km có khoảng 2500 sông Dọc bờ biểntrung bình cứ khoảng 20 km lại có một cửa sông Mạng lưới sông ngòi phân bố nhưvậy nên rất thuận lợi cho phát triển thủy lợi phục vụ nông nghiệp.

Nước tàng trữ trong lòng đất là một bộ phận quan trọng của tài nguyên nướcthiên nhiên dồi dào của nước ta Trong tưới tiêu phục vụ nông nghiệp, nước dướiđất mới chiếm một phần nhỏ bé so với nước mặt

2.5.6.2 Tiềm năng sinh học

Việt Nam nằm trong trung tâm nguồn gốc và hình dạng cây trồng (trung tâmgen) Indochina và Indonesia, là một trong mười hai trung tâm gen thế giới Vì vậy,nguồn gen động thực vật rất đa dạng và phong phú Đồng thời Việt Nam là điểm hội

tụ của 3 luồng di cư động thực vật: Nam Trung Hoa, Ấn Độ - Myanma, Malaysia

Đó là nguồn tiềm năng rất lớn cho phát triển nông nghiệp bền vững

Cùng với sự đa dạng sinh học, cộng thêm điều kiện khí hậu và địa hình củaViệt Nam, đã hình thành nên 7 vùng sinh thái khác nhau (Trung du và miền núi Bắc

bộ, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây nguyên,Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu long), tạo điều kiện cho phát triển tập trungmột số loại cây trồng, vật nuôi trong xu thế sản xuất nông nghiệp hàng hóa

Với sự đa dạng sinh học của Việt Nam thì việc tạo điều kiện thuận lợi chokhả năng cải thiện giống cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông lâm nghiệp là rấtlớn, tạo điều kiện cho việc lai tạo, chọn lọc giống mới trong nông nghiệp

Cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp và nông lâm kết hợp cũng rất

đa dạng và phong phú Mỗi vụ, mỗi thời điểm có những cây trồng thích hợp

Nguồn sinh vật ngoài cây trồng và vật nuôi có ích cho sản xuất nông nghiệpcũng là một tiềm năng cần phải tính đến

Sự đa dạng sinh học trong hệ sinh thái nông nghiệp là điều kiện tốt để tổchức sản xuất các hệ nông lâm nghiệp bền vững Ví dụ như hệ thống VAC, VACR,RVACR, NLKH…

2.5.6.3 Tiềm năng kinh tế, xã hội

Phát triển nông nghiệp là chiến lược hàng đầu, là nền tảng để ổn định pháttriển kinh tế, xã hội của đất nước Luật đất đai cho phép người nông dân có 5 quyềnđối với đất đai mình canh tác (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừakế) Người nông dân được sử dụng đất lâu dài, tạo điều kiện cho họ yên tâm đầu tưthâm canh

Có rất nhiều nguồn vốn đầu tư có khả năng huy động để phát triển nôngnghiệp và nông thôn đặc biệt là miền núi Vốn ngân sách Nhà nước: Tập trung vàođầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là chủ yếu Nguồn vốn tín dụng cho sảnxuất nông nghiệp từ: Ngân hàng nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức hợp táctín dụng nhân dân… Huy động nguồn vốn tự có của nhân dân vì nguồn vốn nhàn rỗitrong nhân dân rất nhiều nhưng cần phải có chính sách huy động vốn hấp dẫn Vốnđầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp, nguồn vốn này tương đối nhiều

Trang 33

phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ khoa học tớingười nông dân, thường thông qua các dự án hỗ trợ ngành nông nghiệp…

Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) bao gồm vốn không hoàn lại vàvốn VAT với nhiều hình thức đa dạng và phong phú, đa mục tiêu, từ phát triển thủylợi, bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn

Nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI)

Số lượng và chất lượng lao động cho phát triển nông lâm nghiệp là có thểđáp ứng được Kinh nghiệm và kiến thức bản địa ở các vùng, các dân tộc trong canhtác nông nghiệp rất đa dạng và phong phú, có nét đặc trưng cho từng vùng, từng địaphương Trong phát triển NNBV cần khai thác triệt để nguồn lợi quý giá này vàphải kết hợp hài hòa với các tiến bộ của khoa học kỹ thuật mới

Các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sinh học, trong nông nghiệp đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn

2.5.7 Những khó khăn trở ngại trong phát triển NNBV ở Việt Nam

2.5.7.1 Những trở ngại về môi trường sinh thái

Bao gồm khí hậu, khí tượng và sự xáo trộn về các quy luật

Khí hậu nhiệt đới cung cấp cho sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam những điềukiện rất thuận lợi song cũng không diễn ra hiền hòa như vậy Hàng năm thiên nhiêncũng lấy đi của con người rất nhiều của cải, cả mạng sống của con người vì bão lụt,

lũ quyét, hạn hán, gió rét…Theo thống kê từ thế kỷ X đến thế kỷ XXI ở nước ta cógần 200 lần bão lũ lớn và vỡ đê Những năm gần đây môi trường bị hủy hoại, khíhậu xáo trộn mạnh mẽ dẫn đến những thiên tai xảy ra khốc liệt và khó lường

Nồng độ CO2 tăng, một trong những nguyên nhân gây nên hiệu ứng nhàkính Nồng độ CO2 tăng ở mức độ nhất định thì có lợi cho quang hợp, nhưng khiquá ngưỡng bão hòa thì ảnh hưởng xấu cho quang hợp và các quá trình sinh lý kháccủa cây trồng

Nhiệt độ trái đất tăng dần dẫn đến hàng loạt vấn đề phải nghiên cứu bổ sungnhư: Phải sắp xếp lại thời vụ cây trồng; Chọn giống chống chịu với điều kiện nhiệt

độ cao; Phải có kế hoạch dự trữ nước tưới cho các vùng khô hạn; Phải đối phó với

sự gia tăng của sâu bệnh hại; Thiên tai sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn; Tài nguyênthiên nhiên ngày càng cạn kiệt và suy thoái…

Ở nước ta hiện nay, các nguồn tài nguyên đã và đang tiếp tục bị suy thoái vàcạn kiệt, đặc biệt là suy thoái nghiêm trọng cả tài nguyên tái tạo được Việc khaithác bừa bãi các nguồn tài nguyên không tái tạo được như than đá, vàng…đã làmlãng phí rất lớn đồng thời làm suy thoái và ô nhiễm các nguồn tài nguyên có khảnăng tái tạo được như rừng, đất đai…

Con người đã tàn phá tài nguyên rừng một cách tàn nhẫn, làm cho rừngkhông có khả năng tái sinh, phục hồi nhanh tạo ra hàng chục triệu ha đất trống đồitrọc, đất rừng bị xói mòn, rửa trôi, nhiều đất bị thoái hóa nặng, diện tích đất trơ sỏi

đá, đá ong hóa gia tăng

Trang 34

Rừng bị tàn phá kể cả rừng đầu nguồn, làm giảm khả năng cung cấp và giữnước của thảm thực vật rừng, đất rừng, sản xuất và sinh hoạt, nguồn tài nguyênnước dần bị cạn kiệt và ô nhiễm.

Do bị thoái hóa của rừng – yếu tố quan trọng của môi trường sinh thái tựnhiên, sự đe dọa của thiên nhiên ngày càng lớn đối với sự phát triển của đất nướcđặc biệt là nông nghiệp

2.5.7.2 Những trở ngại về mặt sinh học

- Sự thoái hóa giống cây trồng, vật nuôi

Trong sản xuất nông nghiệp, nguyên liệu sản xuất là cây trồng, vật nuôi, làcác sinh vật được con người thuần hóa cải tạo cho thích hợp với mục đích của mình

Vì thế chúng phần nào mất đi một số đặc tính tự nhiên như khả năng chống chịu vớiđiều kiện tự nhiên Trong sản xuất nông nghiệp các giống cây trồng, vật nuôi rất dễ

bị thoái hóa do nhiều nguyên nhân: Di truyền, điều kiện ngoại cảnh, sâu bệnh hại,chăm sóc kém…và khi chúng ta không quan tâm phục tráng, cải thiện giống vàcông tác giữ giống

Trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt là vùng Trung du và Miền núi, vấn đềthoái hóa giống dễ dàng xảy ra do việc sử dụng lại liên tục nhiều năm một giốngđồng thời khả năng quản lý và phòng trừ sâu bệnh hại còn kém và hạn chế

- Thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và tập quán truyền thống

Ở đồng bằng việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi xảy ra rất nhanh,người nông dân khá nhạy bén Nhưng ngược lại, với đồng bào vùng cao, các tậpquán canh tác tồn tại hàng trăm năm luôn được duy trì, rất khó thay đổi

Người nông dân miền núi thường sử dụng giống cây trồng, vật nuôi địaphương Có rất ít giống cây trồng, vật nuôi đưa vào mà họ tiếp nhận, hoặc là việctiếp nhận của họ rất rụt rè

- Sử dụng phân hóa học và vấn đề phòng trừ sâu bệnh hại

Phân hóa học là tiềm năng để nâng cao năng suất cây trồng, nhưng sử dụngphân hóa học và hóa chất phòng trừ sâu bệnh hại sẽ ảnh hưởng không tốt tới môitrường Vấn đề đặt ra là phải sử dụng hóa chất như thế nào để vừa đạt được năngsuất cao vừa ít gây ô nhiễm môi trường và ít ảnh hưởng tới sức khỏe con người

Đối với sản xuất nông nghiệp vùng miền núi vấn đề sử dụng phân hóa học đểtăng năng suất cây trồng còn rất hạn chế Do trình độ dân trí thấp, do không có vốnđầu tư mua phân bón, không có nguồn cung cấp, đường giao thông lại khó khăn

Nước ta người dân còn sử dụng giống cũ nên việc dùng phân hóa học là ítcần thiết, nhất là vùng núi Thuốc hóa học, phân hóa học còn quá xa lạ với đồng bàovùng sâu vùng xa, họ chưa biết và chưa có khái niệm phòng trừ sâu bệnh hại bằngthuốc hóa học, nên khi gặp dịch lớn sẽ không phòng trừ kịp thời dẫn đến mất mùa.Một số nơi đồng bào đã biết dùng thuốc hóa học song chưa biết sử dụng đúng vànhiều khi lạm dụng chúng dẫn đến hậu quả là ngộ độc thuốc

Khi áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng (IPM) đòi hỏingười nông dân phải có kiến thức mà đồng bào miền núi lại tiếp cận rất khó khăn.Tuy nhiên đồng bào có một số kinh nghiệm trong phòng trừ dịch hại, nó là một

Trang 35

trong những biện pháp của IPM Việc chuyển giao công nghệ kỹ thuật này gặp rấtnhiều hạn chế ngay cả với nông dân vùng đồng bằng.

- Công nghệ mới trong nông nghiệp

Có rất nhiều công nghệ kỹ thuật mới được sử dụng trong sản xuất nôngnghiệp, đặc biệt là công nghệ sinh học nhằm cải tạo giống làm tăng năng suất câytrồng và vật nuôi Các công nghệ sau thu hoạch nhằm hạn chế tổn thất sản phẩm khithu hoạch và bảo quản Tuy nhiên ở nước ta việc áp dụng vào thực tiễn còn nhiềubất cập và hạn chế

2.5.7.3 Trở ngại về mặt xã hội

- Vấn đề về quyền sử dụng đất và sở hữu cây trồng

Năm 1993 luật đất đai được ban hành, đây là căn cứ pháp luật về quyền vànghĩa vụ của công dân đối với đất đai, Nhà nước đã có sửa đổi, điều chỉnh và banhành luật đất đai năm 2003 thay cho luật đất đai năm 1993 Nhưng đến nay khôngphải tất cả nông dân đều được tiếp cận do đó vi phạm pháp luật vẫn còn phổ biến

Trong luật đất đai còn nhiều điều chưa hợp lý và hạn chế Từ đó dẫn đếnngười dân chưa sử dụng đất đúng mục đích Một số địa phương xảy ra hiện tượngchuyển nhượng và bán đất bừa bãi như ở Tây Nguyên Ở những địa phương ít ruộngđất việc chuyển nhượng đã làm khá nhiều nông dân mất đất canh tác lâu dài Ởđồng bằng tình trạng đất đai manh mún và phân tán đã cản trở sự đầu tư, chăm sóc,

cơ giới hóa trong sản xuất của người nông dân, làm hạn chế sự phát triển của nôngnghiệp nông thôn

- Dân số và nông nghiệp

Bùng nổ dân số, dân số quá đông là một gánh nặng đè lên sự phát triển kinh

tế chung Tăng sức ép lên đất đai sản xuất nông nghiệp, tăng sức ép lên việc sảnxuất lương thực để giải quyết vấn đề an ninh lương thực quốc gia

Dân số tăng nhanh nên lao động nông thôn thiếu việc làm rất nhiều, nhất làgiai đoạn nông nhàn Số lao động nông thôn này chủ yếu là chưa có tay nghề,chưa

có trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý nhà nước và các thành phần kinh tế, phục vụcho những ngành nghề trong nông lâm ngư nghiệp, thủy hải sản, tiểu thủ côngnghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn do đó đòi hỏi phải được đào tạo

Ở miền núi và trung du đội ngũ lao động có trình độ, có tay nghề có kỹ thuậtcòn rất thiếu Nguồn lao động tại chỗ nhiều nơi trình độ văn hóa còn thấp

Để phát triển NNBV Nhà nước cần quan tâm tới việc phát triển nguồn nhânlực đặc biệt là về chất lượng Mở các ngành nghề công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn

và miền núi

- Vốn cho đầu tư nông nghiệp

Trong giai đoạn đi lên CNH – HĐH đất nước nói chung, nông nghiệp nóiriêng và để phát triển NNBV đòi hỏi phải đầu tư lớn Nguồn vốn của Nhà nước chođầu tư nông nghiệp còn thấp, đầu tư trực tiếp của nước ngoài còn ít

Đầu tư vào nông nghiệp chưa hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vì sinh lợithấp, chậm và nhiều rủi ro Các nguồn tín dụng, vốn vay ưu đãi cho nông dân vaycòn nhiều hạn chế và bất cập nhất là không thu hồi được vốn cho vay

Trang 36

Cơ sở hạ tầng của nông nghiệp và nông thôn còn yếu kém có ảnh hưởngnghiêm trọng đến tốc độ tăng trưởng và phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuấthàng hóa.

Vấn đề nghèo đói vẫn còn tồn tại ở nước ta hiện nay, để xóa đói giảm nghèochúng ta đã giúp các hộ đói nghèo theo kinh nghiệm truyền thống là “cho cần câuhơn xâu cá” Phải hướng họ xóa đói giảm nghèo, gắn với sản xuất nông nghiệp bềnvững để đảm bảo không tái nghèo trở lại Tình trạng du canh, du cư, di dân tự do ởmiền núi là vấn đề nan giải, là nguyên nhân lớn nhất hạn chế đến sản xuất nôngnghiệp bền vững ở miền núi

- Vấn đề thị trường nông nghiệp và nông thôn

Thị trường nông nghiệp và nông thôn bắt đầu hình thành, chưa đồng bộ, cònnhiều hạn chế với sản xuất Đây là vấn đề bức xúc hiện nay trong sản xuất nôngnghiệp Nếu thiếu thị trường thì các trang trại sản xuất hàng hóa đang phát triển sẽtàn lụi

- Vấn đề giới

Trong sản xuất NNBV nhất là ở miền núi vấn đề giới tính có quyết định quantrọng Phụ nữ là người tham gia trực tiếp và chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp.Tuy nhiên vấn đề giới tính ở Việt Nam còn chưa được quan tâm nhiều, người phụ

nữ đa số có trình độ thấp và ít được tiếp xúc với tiến bộ kỹ thuật

2.6 Nông nghiệp hữu cơ

2.6.1 Khái niệm

Nông nghiệp hữu cơ, theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, là hệ thống canhtác và chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng hóa chất làm phân bón và thuốc trừ sâu,giúp giảm thiểu ô nhiễm, bảo đảm sức khỏe cho con người và vật nuôi Nôngnghiệp hữu cơ là hình thức sản xuất nông nghiệp đặc biệt áp dụng ”4 không” Biệnpháp kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ là: Nông dân canh tác theo hìnhthức nông nghiệp hữu cơ vận dụng tối đa các kỹ thuật để duy trì và làm giàu độ màu

mỡ lâu dài cho đất để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, kiểm soát cỏ, côntrùng và các loại sâu bệnh khác

Nông nghiệp hữu cơ là nền nông nghiệp tránh hoặc hạn chế việc sử dụngthuốc trừ sâu và phân bón hoá học và thay thế vào đó là việc sử dụng các chất cónguồn gốc hữu cơ, các tác nhân sinh học, giảm bớt đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh tế

và môi trường (Oelhaf, 1978; Revelle, 1984; Altieri, 1995)

Các biện pháp kỹ thuật được dùng trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ gồm:

- Về phân bón: Chỉ dùng phân hữu cơ có nguồn gốc từ phân chuồng, phânxanh, các phế liệu từ lò mổ, một số loại phân khoáng như phốt phát tự nhiên, bộtcác loại tảo biển

- Về quản lý sâu bệnh: Không dùng thuốc hóa học mà phát huy tính chốngchịu của cây trồng bằng cách bón phân tốt, luân canh, xen canh thường xuyên kếthợp với phòng trừ sinh học, vệ sinh đồng ruộng, dùng các thuốc phòng trừ thảomộc

Trang 37

- Về làm đất: Chỉ làm đất mỏng (10-15cm) bón phân để tạo điều kiện cho visinh vật hoạt động.

Mục tiêu của nông nghiệp hữu cơ

- Đối với nông trại:

+ Bảo toàn và cải thiện độ phì nhiêu của đất

+ Thúc đẩy sự hợp tác có lợi giữa vi sinh vật tới cây trồng và vật nuôi

+ Tạo sự cân bằng giữa trồng trọt và chăn nuôi gia súc

+ Cung cấp cho vật nuôi các điều kiện theo nhu cầu thói quen sống tự nhiêncủa chúng

- Đối với môi trường:

+ Duy trì và làm tăng tính đa dạng di truyền trong hệ sinh thái nông trại vàtính tự nhiên của hệ sinh thái xung quanh bao gồm bảo vệ thực vật hoang dại và tậpquán sống của động vật

+ Phát triển tập quán canh tác trong đó môi trường thiên nhiên được đưa rasuy xét ở mức tối đa

+ Sử dụng chu trình dinh dưỡng khép kín và thói quen sử dụng nguồn dinhdưỡng từ địa phương

+ Làm giảm tới mức tối thiểu việc sử dụng nguồn tài nguyên không thể phụchồi trong nông nghiệp và công nghiệp chế biến

+ Cải thiện lượng rác thải hữu cơ thành thị và công nghiệp để có thể tái sinhtrong đất nông nghiệp

- Đối với xã hội:

+ Khuyến khích tính đa dạng trong sản xuất, chế biến và phân phối sảnphẩm, đảm bảo công bằng xã hội và ổn định sinh thái

+ Đảm bảo chất lượng cuộc sống và tiến tới chế biến thực phẩm hữu cơ

- Đối với con người:

+ Sản xuất sản phẩm nông nghiệp với chất lượng tốt

+ Sử dụng những sản phẩm và bao bì có thể phân hủy bởi vi khuẩn

+ Hạn chế sự ô nhiễm tại các khu vực sản xuất

+ Khuyến khích chuyển đổi sản xuất sang phương pháp sản xuất hữu cơ

Các nguyên tắc cơ bản của nông nghiệp hữu cơ:

Nông nghiệp hữu cơ là một hình thức nông nghiệp tránh hoặc loại bỏ phầnlớn việc sử dụng phân bón tổng hợp, thuốc trừ sâu hóa học, các chất điều tiết sựsinh trưởng của cây trồng, và các hóa chất phụ gia trong thức ăn gia súc

Nông dân canh tác theo hình thức nông nghiệp hữu cơ dựa tối đa vào việcquay vòng mùa vụ, các phần thừa sau thu hoạch, phân động vật và việc canh tác cơgiới để cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng, kiểm soát cỏ dại và các loạisâu bệnh

Mục đích hàng đầu của nông nghiệp hữu cơ là tối đa hóa sức khỏe và năngsuất của quần thể đất, cây, động vật và con người

2.6.2 Đặc điểm của nông nghiệp hữu cơ

Trang 38

- Nền nông nghiệp hoạt động trong giới hạn khả năng của thiên nhiên trongquy hoạch không vượt quá tiềm năng sinh học để đảm bảo sản xuất bền vững.

- Bảo vệ và cải thiện độ phì nhiêu của đất

- Thiết lập được hệ thống quản lý dinh dưỡng tổng hợp, sử dụng phân bón vàcác chất dinh dưỡng được cung cấp cho cây trồng chủ yếu với sự tham gia của visinh vật

- Đảm bảo cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng đủ về lượng và cân đối về tỉ lệvới việc tăng cường chu trình hữu cơ, khai thác tối đa nguồn phân chuồng, phânxanh, phụ phẩm nông nghiệp và các nguồn hữu cơ khác

- Khai thác tốt nhất chế độ luân canh nói chung, với cây bộ đậu nói riêng vàkhả năng cộng sinh đạm sinh học, hạn chế phát sinh sâu bệnh

- Sử dụng các giống tốt, năng suất chất lượng cao và chống chịu sâu bệnh

- Tăng cường phát triển chăn nuôi tạo tiền đề phát triển nông nghiệp ổn định

về thức ăn chăn nuôi và phân bón từ chăn nuôi

- Tận dụng khai thác triệt để nguồn nước phù sa để tưới cho cây trồng

- Chú ý đến mức đến ảnh hưởng của quá trình sản xuất đến bảo vệ môitrường và đa dạng sinh học

- Nhà nước phải có chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơbao gồm: Vốn, kỹ thuật, xây dựng hệ thống chứng nhận sản phẩm

2.6.3 Các quan điểm về nông nghiệp hữu cơ

- Quan điểm hệ thống sinh thái trong nông nghiệp hữu cơ: Phát huy cácthành phần của hệ thống, tránh sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp, ngănngừa suy thoái tài nguyên thiên nhiên, mất đất canh tác Cần khôi phục các chứcnăng của hệ thống sinh thái vì các chức năng của hệ thống sinh thái là đầu vào chủyếu

- Quan điểm sinh thái trong nông nghiệp hữu cơ:

+ Để hạn chế sâu bệnh hại: Có thể sử dụng các biện pháp luân canh, tăngcường nơi cư trú cho những sinh vật có ích, thiên địch, ký sinh v.v

+ Khôi phục sự cân bằng sinh thái vì chức năng hệ thống sinh thái là “đầuvào” hiệu quả nhất

- Nông nghiệp hữu cơ và nguồn tài nguyên thiên nhiên

+ Đất:

Là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng nhất Vì NNHC không bùđắp sự suy giảm độ phì và các chất dinh dưỡng tổng hợp do vậy việc duy trì và tăngcường độ phì đất là mục tiêu trung tâm của NNHC

Duy trì hàm lượng các chất hữu cơ trong đất bằng việc bón phân hữu cơ, tàn

dư cây trồng

Hoạt động sinh học và vi sinh vật đất cao hơn trong NNHC

Xói mòn đất giảm

+ Nước:

Trang 39

Công nghệ tưới tiêu phù hợp để giảm thiểu lãng phí, thừa dinh dưỡng và ônhiễm đất.

Giảm thiểu tràn nước bề mặt, cải thiện cấu trúc đất, tăng các vật liệu hữu cơđất để tăng cường độ ẩm đất

2.6.4 Tại sao phải làm NNHC

Hàng triệu nông dân ở các nước đang phát triển không có điều kiện để muahạt giống đắt tiền, mua nhiều phân bón, thuốc trừ sâu bệnh trong khi nếu tiến hànhcác biện pháp canh tác truyền thống người dân có thể sử dụng các giống cây trồngđịa phương thích hợp với điều kiện tự nhiên vốn có, và khả năng đầu tư thâm canhcủa họ

Nông nghiệp hữu cơ có tác dụng bảo vệ đa dạng sinh học giúp cho phát triểnnông nghiệp bền vững và duy trì hệ thống sinh thái cho thế hệ mai sau

Canh tác hữu cơ tạo ra sản phẩm sạch do vậy nâng cao giá trị canh tác, phùhợp với các nước phát triển vì giá đầu vào đắt, bảo tồn kiến thức bản địa, tập tụcvăn hoá, chất lượng nông sản cao hơn, bảo vệ môi trường

So với NN truyền thống

- Hàm lượng chất hữu cơ cao hơn

- Giảm xói mòn

- Tăng cường VSV và các hoạt động sinh học

- Hạn chế việc rửa trôi NO3 xuống nước ngầm

- Hiệu quả sử dụng các chất dinh dưỡng cao hơn

- Đa dạng sinh học cao hơn

2.6.5 Nông nghiệp hữu cơ trên thế giới

Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống canh tác đã gây nên sự chú ý ngày càngtăng ở nhiều quốc gia trong những thập kỷ qua, nhất là các nước phát triển, nơi mà

áp lực về lương thực giảm đi, song áp lực về môi trường lại tăng lên

Nông nghiệp hữu cơ là ngành thực phẩm có tốc độ phát triển nhanh nhất,khoảng 20-25% trong vòng thập kỉ qua Tốc độ phát triển nông nghiệp hữu cơ ấntượng nhất là ở châu Âu, Mỹ Latin và Mỹ Tổng diện tích đất canh tác nông nghiệphữu cơ tăng gấp 3 lần trong vòng 5 năm qua Riêng châu Mỹ Latin tăng 128%

2.6.6 Nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam

2.6.6.1 Thách thức cho nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam

- Dân số đông và tăng nhanh nên diện tích bình quân đất nông nghiệp bìnhquân đầu người giảm

- Phát triển nông nghiệp hữu cơ cần thiết phải tăng cường phát triển chănnuôi do vậy lại phải dành một phần đất phát triển chăn nuôi

- Nông nghiệp hiện nay là thâm canh cao nên nếu sử dụng nông nghiệp hữu

cơ năng suất sản lượng sẽ giảm

- Nông nghiệp hữu cơ cũng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường vì sử dụngnhiều phân hữu cơ làm tích lũy kim loại nặng, vi sinh vật độc hại, ô nhiễm do quátrình Nitrat hóa

Trang 40

- Chi phí cao, thu nhập thấp nên người dân không hào hứng tham gia sảnxuất theo hướng này

- Hệ thống quản lý chất lượng và hệ thống cấp chứng chỉ chưa hoàn chỉnh

- Không thể bỏ qua cơ hội sản xuất nông nghiệp hữu cơ nhưng cũng khôngthể xem nhẹ an ninh lương thực, an sinh xã hội Công tác quy hoạch phải vẽ nênbức tranh cho nông nghiệp Việt Nam 10 năm, 20 năm sau sao cho hài hòa cả về tỷtrọng, diện tích, ngành hàng để từ đó có những chính sách cần thiết

2.6.6.2 Cơ hội trong phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam

Nông nghiệp hữu cơ là xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm vàgiảm tối thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe cộng đồng

Cơ hội lớn nhất là Việt Nam đã manh nha thị trường nội địa và thị trường thếgiới cũng đang có mức tăng trưởng nhanh Việt Nam có thế mạnh ở những nông sảnhữu cơ đang có tỷ trọng lớn trên thị trường thế giới như cà phê, chè, rau quả

Điều quan trọng hơn là phương cách hóa học hóa nông nghiệp để thâm canh,tăng vụ mà Việt Nam theo đuổi suốt 40 năm qua gần như đã chạm trần Tuy tạo rađược nhiều nông sản nhưng chất lượng kém nên thu nhập của đại bộ phận nông dânvẫn thấp

Việc sản xuất nông sản cao cấp hơn, bán với giá cao hơn đang là sự thôi thúcnội tại của nền kinh tế, hộ nông dân Hiện tượng bỏ hoang ruộng đang diễn ra trầmtrọng là một bằng chứng

Mặt khác toàn xã hội đang bức xúc về nông sản không an toàn do việc sửdụng bừa bãi hóa chất, kháng sinh, hóc môn kể cả trong trồng trọt, chăn nuôi lẫnnuôi trồng thủy sản Điều dễ thấy nhất là vấn nạn “loạn” hóa chất bảo vệ thực vật vàphân bón hóa học Do vậy nhu cầu về sản phẩm sạch ngày càng tăng

Việt Nam đã có truyền thống sản xuất nông nghiệp hữu cơ từ nghìn đời nay

và đang được sự giúp đỡ của một số tổ chức quốc tế, đặc biệt là tổ chứcIFOAM; Việt Nam là nước đi sau (hiện đã có 86 nước có nông nghiệp hữu cơ và 76nước khác đang thu thập dữ liệu) nên có thể dễ dàng học tập kinh nghiệm

Ngoài một số mô hình do nước ngoài tài trợ, còn có một số doanh nghiệp tựmày mò và đã bắt đầu xác lập được vị thế của mình Năm 2006, Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn đã ban hành tiêu chuẩn về sản xuất nông nghiệp hữu cơ và chếbiến, là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức và phát triển

Hệ thống nông nghiệp hữu cơ (cũng như rau an toàn, VietGAP) thực chấtkhông phải là kỹ thuật, chuyển đổi tập quán sản xuất mà chủ yếu là do công tác tổchức, quản lý mà Việt Nam lại có thế mạnh ở hệ thống chính trị

Ngày đăng: 07/01/2022, 15:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Quang Vinh và các tác giả (2005). Bài giảng Nông nghiệp đại cương.Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Nông nghiệp đại cương
Tác giả: Phạm Quang Vinh và các tác giả
Năm: 2005
2. Bùi Thị Cúc, Kiều Trí Đức (2010) - Bài giảng Canh tác nông nghiệp - Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Canh tác nông nghiệp
3. Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Trần Đăng Chinh (1992). Canh tác học. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canh tác học
Tác giả: Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Trần Đăng Chinh
Nhà XB: Nhà xuấtbản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1992
4. Trần Văn Tường (2000). Bài giảng chăn nuôi. Trung tâm ĐT lâm nghiệp xã hội - Trường Đại học lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chăn nuôi
Tác giả: Trần Văn Tường
Năm: 2000
5. Phạm Chí Thành và các tác giả (1996). Hệ thống nông nghiệp. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống nông nghiệp
Tác giả: Phạm Chí Thành và các tác giả
Nhà XB: Nhà xuất bảnNông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
6. Cao Liêm và Trần Đức Viên (1990). Sinh thái học nông nghiệp và bảo vệ môi trường. Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học nông nghiệp và bảo vệ môitrường
Tác giả: Cao Liêm và Trần Đức Viên
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1990
7. Mollision (1994). Đại cương về nông nghiệp bền vững. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về nông nghiệp bền vững
Tác giả: Mollision
Nhà XB: Nhà xuất bản Nôngnghiệp Hà Nội
Năm: 1994
8. Hồ Khắc Tín và các tác giả (2005). Giáo trình Côn trùng chuyên khoa. Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Côn trùng chuyên khoa
Tác giả: Hồ Khắc Tín và các tác giả
Nhà XB: Nhà xuấtbản Nông nghiệp
Năm: 2005
10. PGS. Trần Minh Tâm (1997). Bảo quản chế biến nông sản sau thu hoạch, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo quản chế biến nông sản sau thu hoạch
Tác giả: PGS. Trần Minh Tâm
Nhà XB: Nhàxuất bản Nông nghiệp
Năm: 1997
11. Quách Dĩnh, Nguyễn Vân Tiếp, Nguyễn Văn Thao, Công nghệ sau thu hoạch và chế biến rau quả, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ sau thu hoạch vàchế biến rau quả
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
12. Trần Đức Ba, Trần Thu Hà (1993). Lạnh và chế biến nông sản thực phẩm, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạnh và chế biến nông sản thực phẩm
Tác giả: Trần Đức Ba, Trần Thu Hà
Nhà XB: Nhàxuất bản Nông nghiệp
Năm: 1993
9. Đề tài chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn – thực trạng, xu hướng và giải pháp. Website: www.tailieu.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.3.4. Hình thức gieo trồng và hệ thống cây trồng - Bài giảng môn nông nghiệp đại cương  GUI LOP
1.3.4. Hình thức gieo trồng và hệ thống cây trồng (Trang 137)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w