Từ những khó khăn, hạn chế và tình hình thực tế của địa phương, cùng với quá trình nghiên cứu và học tập, tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc bi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG THỊ NGUYỆT
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CÁC XÃ
ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN M'DRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG THỊ NGUYỆT
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CÁC XÃ
ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN M'ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8340402
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HOÀNG THỊ THU HUYỀN
ĐẮK LẮK, năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu "Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M'Drắk, tỉnh Đắk Lắk" là nghiên cứu độc lập của tôi Các tài liệu, số liệu, trích dẫn, thông tin, kết quả nghiên cứu sử dụng trong luận văn này đều
có nguồn gốc rõ ràng, hợp pháp, hoàn toàn trung thực, không đạo nhái hay sao chép từ bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác
Tôi cam đoan những lời trên đây là hoàn toàn đúng sự thật và xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng nếu phát hiện bất cứ sự sai phạm hay sao chép trong
đề tài này!
Đắk Lắk, tháng 9 năm 2021
Tác giả luận văn
Trương Thị Nguyệt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi đã theo học chương trình cao học chuyên ngành Chính sách công tại Học viện Khoa học xã hội (cơ sở Buôn Ma Thuột) từ năm 2019, đến nay tôi đã hoàn thành xong chương trình học tập và nghiên cứu của mình Tôi đã được Giám đốc Học viện Khoa học
xã hội giao quyết định thực hiện đề tài "Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M'Drắk, tỉnh Đắk Lắk"
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng tri ân các giảng viên đã trang bị cho bản thân tôi những kiến thức rất bổ ích trong quá trình tham gia học tập tại học viện Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình và trách nhiệm của TS Hoàng Thị Thu Huyền, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này Xin cảm ơn Lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội, Văn phòng Khoa Chính sách công
đã tạo điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong quá trình học tập
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý Lãnh đạo Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện, các cơ quan, ban ngành của huyện M'Drắk, các tổ chức cá nhân có liên quan đã tạo điều kiện cung cấp số liệu, thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này
Với sự chân thành, xin kính chúc Quý Thầy cô Học viện Khoa học xã hội, các tổ chức, cá nhân của huyện M’Drắk và TS Hoàng Thị Thu Huyền có nhiều sức khỏe, hạnh phúc, thành công trong công việc và cuộc sống
Đắk Lắk, tháng 9 năm 2021
Tác giả luận văn
Trương Thị Nguyệt
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 9
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 9
1.1 Chính sách công và thực hiện chính sách công 9
1.2 Chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn 13
1.3 Chương trình 135 15
1.4 Kinh nghiệm thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội xã đặc biệt khó khăn theo chương trình 135 ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm đối với huyện M'Drắk, tỉnh Đắk Lắk 25
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 34
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TRÊN ĐỊA BÀN 34
HUYỆN M'DRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK 34
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện M'Drắk và những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện 34
2.2 Tình hình thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M'Drắk 39
Trang 62.3 Đánh giá kết quả thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc
biệt khó khăn trên địa bàn huyện M'Drắk 53
2.4 Những thách thức, khó khăn trong thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M’Drắk 57
Tiểu kết chương 2 58
Chương 3 59
KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TRÊN HUYỆN M'DRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK 59
3.1 Bối cảnh thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M'Drắk 59
3.2 Mục tiêu, chỉ tiêu thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội và giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện M'Drắk 62
3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M'Drắk 62
3.4 Một số kiến nghị trong thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M’Drắk 69
Tiểu kết chương 3 70
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 77
Trang 7NSĐP Ngân sách địa phương
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng thống kê về dân số, lao động, dân tộc, tôn giáo 35
Hình 2.1 Nguồn vốn Chương trình 135 giai đoạn 2016-2020 58
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống chính sách xóa đói giảm nghèo, chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là chương trình 135), là một chương trình có ý nghĩa quan trọng, tập trung vào công cuộc xóa đói giảm nghèo ở các xã, vùng khó khăn nhất Đối với huyện M’Drắk là một huyện nghèo của tỉnh Đắk Lắk, trong nhiều năm qua, đã triển khai chương trình này trên địa bàn và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận
Tuy nhiên, những kết quả đạt được chỉ là bước đầu, tỷ lệ hộ nghèo trong thôn, buôn đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số còn cao, chiếm trên 60% số hộ nghèo toàn huyện Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện chương trình vẫn còn một số bất cập như: việc xây dựng kế hoạch thực hiện còn nhiều hạn chế; công tác tuyên truyền, phổ biến vẫn còn mang tính hình thức; sự vào cuộc của hệ thống chính trị và tâm lý trông chờ, ỷ lại của người dân; sự chênh lệch về thu nhập và phúc lợi xã hội của người dân vùng khó khăn và các địa phương khác còn cao, công tác xóa đói giảm nghèo còn thiếu bền vững
Từ những khó khăn, hạn chế và tình hình thực tế của địa phương, cùng với quá
trình nghiên cứu và học tập, tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển kinh tế -
xã hội các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk” làm luận
văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công, với mong muốn làm sáng tỏ thực trạng thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn tại địa phương
Từ đó, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn ở Việt Nam đã và đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan quản lý, cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học ở nhiều mức độ, khía cạnh khác nhau
Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài
Trang 102
Trong “Báo cáo đánh giá giữa kỳ Chương trình 135 - II giai đoạn 2006 - 2008”
của Ủy ban Dân tộc và Cơ quan Liên hợp quốc tại Việt Nam đã phân tích những thông tin thu thập được để xây dựng một bức tranh tổng thể, cập nhật về tình hình của các xã thuộc phạm vi hưởng lợi của Chương trình 135 giai đoạn II, phân tích những thách thức, đưa ra một số khuyến nghị cho giai đoạn 2009-2010 và trong trung hạn 2011-2015 [15]
Cũng trong giai đoạn này, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có Báo cáo đánh giá Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xóa đói giảm nghèo và Chương trình 135”
Trong báo cáo nêu rõ những kết quả đã đạt được của Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xóa đói giảm nghèo và Chương trình 135, những tồn tại, hạn chế cũng như những thách thức cần phải khắc phục trong giai đoạn 2006-2010 Điểm nổi bật trong báo cáo là đã đề xuất cải tiến cách thức xác định hộ nghèo, xác định những trọng điểm của chương trình;
cơ chế khuyến khích đối tượng nghèo vượt lên thoát nghèo; cơ chế khuyến khích cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo và tăng cường năng lực cán bộ các cấp mà đặc biệt là cấp xã, và của tổ chức đoàn thể cơ sở Qua đó, giúp cho việc xây dựng các chính sách hiệu quả thực hiện mục tiêu XĐGN [1]
Ở giai đoạn tiếp theo (2006-2010), cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu và
báo cáo tổng kết về chương trình 135 Đơn cử như, Báo cáo tổng hợp - dự án: “Điều tra, đánh giá hiệu quả đầu tư của Chương trình 135 và đề xuất các chính sách, giải pháp hỗ trợ đầu tư phát triển các xã đặc biệt khó khăn giai đoạn 2006 - 2010” của
TS Hoàng Văn Phấn, từ việc điều tra, tổng hợp, phân tích số liệu và đánh giá hiệu quả đầu tư của Chương trình 135 và các chương trình, dự án lồng ghép khác trên địa bàn các
xã đặc biệt khó khăn, tác giả đã đề xuất các chính sách, giải pháp về hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng đặc biệt khó khăn, các cơ chế, giải pháp, chính sách hỗ trợ thực hiện chương trình 135 trong giai đoạn tiếp theo [5]
Báo cáo “Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 và đề xuất khung Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025” của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, đã
khái quát nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 với nhiều kết quả quan trọng đã đạt được trong nửa đầu thực hiện Chương trình Trong đó, nêu lên những hạn chế: việc ban hành văn bản hướng dẫn còn chậm trễ
Trang 113
và việc thực hiện các cơ chế mới còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc; kế hoạch có sự tham gia, phân cấp và trao quyền, đầu tư cơ sở hạ tầng theo cơ chế đặc thù, hỗ trợ phát triển sinh kế theo cơ chế dự án, thu hồi một phần vốn hỗ trợ và quay vòng trong cộng đồng; cơ chế tạo việc làm công, hỗ trợ giảm nghèo theo cách tiếp cận đa chiều (giảm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản) Bên cạnh đó, những thay đổi về bối cảnh ảnh hưởng đến thực hiện Chương trình và mục tiêu giảm nghèo bền vững, như tình trạng nghèo ngày càng tập trung vào các “lõi nghèo” ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi và vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, các nhóm dân
cư có xu hướng gia tăng; thách thức ngày càng tăng của biến đổi khí hậu, rủi ro dịch bệnh, giá cả thị trường; vai trò ngày càng quan trọng của tiếp cận thị trường lao động trong giảm nghèo; sự suy giảm của viện trợ phát triển Đây là những thách thức và câu hỏi cần trả lời để tiếp tục duy trì và đẩy mạnh công cuộc giảm nghèo bền vững của Việt Nam theo cách tiếp cận đa chiều trong giai đoạn 2021-2025 [2]
Tham luận “Một số kết quả chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016 - 2020; mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu giai đoạn 2021 – 2025” của Bộ trưởng, Chủ nhiệm
Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến trình bày tại Đại hội XIII của Đảng Tham luận đã đề cập đến một số kết quả chủ yếu trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đồng thời nêu bật được những hạn chế, bất cập, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm qua thực tiễn công tác giai đoạn 2016-
2020 Đặc biệt, qua bài tham luận đã đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu giai đoạn 2021 – 2025 với 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, như: Tiếp tục hoàn thiện, xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng toàn diện, bền vững; Nâng cao hiệu quả các chương trình, dự án, mở rộng vốn tín dụng ưu đãi đối với các dự án tạo sinh kế cho đồng bào; đa dạng hoá và xã hội hoá nguồn lực, trong đó, nguồn lực nhà nước có vai trò quan trọng và quyết định để huy động các nguồn lực khác; Đẩy mạnh cơ cấu lại kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, phù hợp với tập quán của từng dân tộc Phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao Chú trọng phát triển du lịch sinh thái, gắn với giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá các dân tộc [3]
Trang 12Luận văn Thạc sỹ Quản lý công, năm 2017 của Lê Thanh Cường, Học viện Hành
chính quốc gia với đề tài “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế -
xã hội ở huyện nghèo Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, đồng thời chỉ ra được những tồn tại hạn chế và nguyên nhân của tồn tại hạn chế Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả đề xuất các giải pháp với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống, thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại địa phương [7]
Kết quả nghiên cứu “Hiệu quả kinh tế - xã hội của Chương trình 135 ở Tây Nguyên - Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Đắk Lắk” của TS Nguyễn Văn Đạt và Lê Ngọc
Vinh đăng trên Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, số 19, tháng 8 năm 2020 Bài viết đã tập trung phân tích, đánh giá và đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của Chương trình 135, góp phần phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững ở Vùng Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng trong thời gian tới [9]
Các công trình đã nghiên cứu, tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn là nguồn tài liệu quý giá để học viên có cái nhìn tổng thể và đầy đủ hơn về phát triển kinh
tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, đồng thời, cung cấp những gợi ý cần thiết trong việc triển khai luận văn này
Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nào đi vào nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về vấn đề thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk với cách tiếp cận đầy đủ dưới góc độ của khoa
học Chính sách công Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Thực hiện chính sách phát triển
Trang 135
kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk” có
ý nghĩa cung cấp thêm những luận cứ khoa học, góp phần đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn Từ đó, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách này, không chỉ ở địa bàn Huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk mà còn có ý nghĩa tham khảo đối với các địa phương khác có điều kiện tương tự
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện các chính sách phát triển kinh
tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn tại địa phương, đề tài đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách trên địa bàn huyện M'Drắk, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về chính sách công và thực thi chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn
- Phân tích thực trạng thực thi chính sách phát triển kinh tế xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M'Drắk, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua
- Đánh giá những ưu điểm và những tồn tại, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong quá trình thực thi chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M'Drắk, tỉnh Đắk Lắk
- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M'Drắk, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là chương trình 135)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn này đi sâu vào phân tích việc thực hiện chính
Trang 14- Về thời gian:
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả sẽ tập trung vào nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn theo Chương trình 135 giai đoạn 2011 -2020 trên địa bàn huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk Đây
là giai đoạn các chính sách phát triển kinh tế - xã hội các đặc biệt khó khăn được triển khai rộng ở nhiều xã của huyện, đạt được nhiều kết quả song cũng nảy sinh một số vấn
đề cần được quan tâm giải quyết để nâng cao hiệu quả trong thời gian tới
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn “Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M'Drắk, tỉnh Đắk Lắk” được triển khai nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn
Đồng thời, luận văn cũng kế thừa có chọn lọc những kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó về thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu dựa trên những văn kiện, báo cáo, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương, các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới chính sách phát triển kinh
tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn tại huyện M'Drắk, tỉnh Đắk Lắk, nhằm làm sáng
tỏ vấn đề đặt ra
Trang 157
Phương pháp phân tích thống kê, so sánh, tổng hợp: Sử dụng các số liệu thống kê
từ báo cáo của Huyện ủy, UBND huyện M’Drắk và các phòng, ban của huyện Qua đó, nhằm cho thấy sự thay đổi trong quá trình thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội
ở các xã đặc biệt khó khăn
Phương pháp phỏng vấn sâu: đối tượng phỏng vấn là các hộ dân thụ hưởng chương trình 135 hoặc chương trình lồng ghép 135 và người tham gia thực hiện chương trình Cụ thể, phỏng vấn 15 đại diện hộ dân và 05 cá nhân tham gia thực hiện chương trình 135, ở các đối tượng gồm: hộ nghèo, hộ cận nghèo, người tham gia thực hiện chính sách
6 Ý nghĩa và lý luận thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn hệ thống hoá một số cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn Từ đó, cung cấp thêm những luận cứ khoa học góp phần đánh giá khách quan, chính xác hơn về thực tiễn thực hiện chính sách này
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ những phân tích, đánh giá, luận văn đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M'Drắk, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới
Kết quả nghiên cứu của luận văn này, có giá trị làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan, ban ngành trong quá trình hoàn thiện và triển khai có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện M'Drắk, tỉnh Đắk Lắk cũng như các tổ chức,
cá nhân có quan tâm đến lĩnh vực này
Đồng thời, có thể làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, học tập trong quá trình thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách phát triển - kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk
Trang 168
Chương 3 Kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk
Trang 179
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 1.1 Chính sách công và thực hiện chính sách công
1.1.1 Khái niệm chính sách công
Hiện nay, thuật ngữ “chính sách công” (CSC) được sử dụng khá rộng rãi trên các
phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội Tuy nhiên, định nghĩa CSC vẫn là một chủ đề khó đạt được sự nhất trí rộng rãi
Định nghĩa về “chính sách công”, có thể hiểu là “chính sách” khi gắn với vai trò,
chức năng của “khu vực công” được gọi là chính sách công Đây không chỉ đơn giản là
sự ghép từ thuần túy, mà đã có sự thay đổi cơ bản về nội hàm, bởi nó có sự khác biệt về chủ thể ban hành chính sách, về mục đích tác động của chính sách và vấn đề mà chính sách hướng tới giải quyết Cho đến hiện tại, có không ít định nghĩa khác nhau về chính sách công, trong đó có một số định nghĩa khá phức tạp và bao hàm tương đối rộng các chức năng và hoạt động
Trong Understanding Public Policy, Thomas R.Dye định nghĩa như sau: “Chính sách công là điều mà một chính phủ chọn để làm hoặc không làm” (Thomas R.Dye, 1972) [22, tr.16]
Chính sách công “là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị cùng hướng đến lựa chọn mục tiêu
và các phương thức để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền” (William I.Jenkins, 1978) [23, tr.17] Định nghĩa này cụ thể chính sách công là một quá trình chứ không chỉ đơn giản là một sự lựa chọn; đồng thời, định nghĩa này cũng cho thấy một các rõ ràng chính sách công là “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau” Vì trên thực tế, hiếm khi nhà nước giải quyết một vấn đề công bằng một quyết định đơn lẻ, mà hầu hết đều phải bao gồm hàng loạt các quyết định khác nhau Do đó,
để hiểu một cách đầy đủ về chính sách của nhà nước cần xem xét tất cả quyết định của các cá nhân, cơ quan nhà nước liên quan đến lĩnh vực công mà chính sách hướng tới thực hiện Hơn nữa, định nghĩa chính sách công của W Jenkins cũng xem quá trình chính sách là hành vi định hướng mục tiêu của nhà nước Theo giác độ này, các chính sách
Trang 1810
công là các quyết định do nhà nước ban hành để xác định mục tiêu và các phương tiện (hay giải pháp) để đạt mục tiêu đó Điều này cung cấp một số phương pháp đánh giá chính sách công về sự thích đáng của mục tiêu và mối quan hệ phù hợp giữa mục tiêu và phương tiện thực hiện
Đối với Việt Nam, nhiều học giả trong nước đã tổng kết, phân tích một cách cụ thể để chỉ rõ rằng: Chính sách công chính là kết quả của các quyết định của chính phủ, các quyết định này nhằm duy trì tình trạng của xã hội hoặc giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội theo mục tiêu tổng thể của Đảng
đã vạch ra từ trước
PGS.TS Nguyễn Hữu Hải quan niệm rằng: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [8, tr.14]
Như vậy, cho dù có những cách hiểu khác nhau, song có thể hiểu chung nhất là: Nhà nước là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân, ban hành chính sách để mưu cầu lợi ích cho cộng đồng xã hội, được cả xã hội quan tâm Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển
Quy trình tổ chức thực hiện chính sách là trình tự các bước trong quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực hiện chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công
Trong quy trình này, các bước tổ chức thực hiện CSC khái quát như sau:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Trang 1911
Tổ chức thực hiện CSC là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, lên chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động Kế hoạch triển khai thực hiện CSC được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan triển khai thực thi chính sách từ trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện
Kế hoạch này bao gồm những dự kiến về:
- Hệ thống tất cả các chủ thể, cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách công
- Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực để tham gia thực thi chính sách công;
- Những dự kiến về cơ chế trách nhiệm của cán bộ quản lý và công chức thực thi;
- Cơ chế tác động giữa các cấp thực thi chính sách công
- Dự kiến về các cơ sở vật chất, máy móc, xe cộ, phương tiện, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho tổ chức thực thi chính sách;
- Các nguồn lực tài chính, các vật tư, văn phòng phẩm…
- Thời gian duy trì chính sách
- Tiến độ, hình thức, phương thức kiểm tra giám sát tổ chức thực thi chính sách
- Dự kiến những nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành hệ thống tham gia thực thi chính sách
- Dự kiến về trách nhiệm, nhiệm vụ, và quyền hạn của cán bộ, công chức và các
cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách
- Dự kiến về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong thực thi chính sách
Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Phổ biến, tuyên truyền chính sách giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách Qua
đó để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu
Trang 2012
quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao
Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
- Chính sách công được thực thi trên phạm vi không gian rộng lớn, tối thiểu cũng
là một địa phương vì thế số lượng các đối tượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách là rất lớn Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách công, công dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực thi của nhà nước
- Các hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách công diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian
Bởi vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách công có hiệu quả phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu
tố tham gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách
Chính sách công khi thực thi có thể tác động đến lợi ích của các bộ phận dân cư theo các hướng khác nhau Có bộ phận được hưởng lợi nhiều, có bộ phận được hưởng lợi ít, có bộ phận không được hưởng lợi, thậm chí còn bị tác động tiêu cực
Việc thành công của một chính sách công do nhiều yếu tố cấu thành, nhân tố cấu thành Do đó, để cho việc thực thi chính sách công thực hiện được đúng mục tiêu quản
lý thì cần phải phối hợp các yếu tố, bộ phận, đối tượng tác động và liên quan
Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách
Việc phân công, phối hợp phải đảm bảo phát huy được tính năng động, sáng tạo của các yếu tố cấu thành và tác động
Trang 2113
chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách, miễn là không làm thay đổi mục tiêu chính sách
Bước 6: Theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
Qua kiểm tra, đôn đốc, giúp kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách; chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách, nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách Đồng thời, phát hiện xử lý kịp thời các vi phạm chính sách
Bước 7: Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm
Đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách, nghĩa là tất cả các thành viên xã hội với tư cách là công dân
Cơ sở để đánh giá tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch được giao và những nội qui, qui chế
Chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn là một chính sách công, chính sách nền tảng, xuyên suốt, luôn được cập nhật, bổ sung trong hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta Qua chương trình 135 thể hiện hành động của Nhà nước nhằm giải quyết vấn đề về xóa đói giảm nghèo, hướng dẫn cụ thể mục đích và cách thức, hành động của những đối tượng liên quan, bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn
1.2 Chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn
1.2.1 Tiêu chí xã đặc biệt khó khăn
Theo Quyết định số 50/2016/QĐ-TTg ngày 03 tháng 11 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về Tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số
và miền núi giai đoạn 2016 – 2020 [14, tr.2] quy định như sau:
“Xã khu vực III là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là xã có ít
nhất 2 trong 3 tiêu chí sau:
a) Số thôn đặc biệt khó khăn còn từ 35% trở lên (tiêu chí bắt buộc);
b) Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 65% trở lên (trong đó tỷ lệ hộ nghèo từ 35% trở lên) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020;
c) Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 55% trở lên (các tỉnh khu vực Đông Nam
Bộ, khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ 30% trở lên) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa
Trang 22- Chưa đạt Tiêu chí quốc gia về y tế xã theo quy định của Bộ Y tế;
- Chưa có Trung tâm Văn hóa, Thể thao xã theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
- Còn từ 20% số hộ trở lên chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh;
- Còn từ 40% số hộ trở lên chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh theo quy định của Bộ Y tế.” Theo Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg, ngày 12 tháng 11 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ quyết định về Tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển giai đoạn 2021 – 2025, thay thế Quyết định số 50/2016/QĐ-TTg ngày 03 tháng 11 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về Tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016 – 2020, quy định
tiêu chí xác định xã đặc biệt khó khăn (xã khu vực III), như sau:
“Xã khu vực III thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là xã thuộc đối tượng quy định tại Điều 2 của Quyết định này, chưa được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới và có 01 trong 02 tiêu chí sau:
1 Có tỷ lệ hộ nghèo từ 20% trở lên (riêng các xã thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ hộ nghèo từ 15% trở lên hoặc có trên 150 hộ nghèo là hộ dân tộc thiểu số)
2 Có tỷ lệ hộ nghèo từ 15% đến dưới 20% (riêng các xã thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ hộ nghèo từ 12% đến dưới 15%) và có 01 trong các tiêu chí sau:
a) Có trên 60% tỷ lệ hộ nghèo là hộ dân tộc thiểu số trong tổng số hộ nghèo của xã; b) Có số người dân tộc thiểu số trong độ tuổi từ 15 đến 60 chưa biết đọc, biết viết tiếng phổ thông từ 20% trở lên;
c) Số lao động có việc làm nhưng chưa qua đào tạo từ 3 tháng trở lên chiếm trên
Trang 2315
80% tổng số lao động có việc làm;
d) Đường giao thông từ trung tâm huyện đến trung tâm xã dài trên 20 km, trong
đó có trên 50% số km chưa được rải nhựa hoặc đổ bê-tông.”
1.2.2 Chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn
Chính sách phát triển kinh tế - xã hội xã đặc biệt khó khăn là tập hợp các chủ trương, đường lối của Đảng và hành động của Chính phủ nhằm tạo cho các xã đặc biệt khó khăn phát triển về cả kinh tế lẫn xã hội Chính sách phát triển kinh tế - xã hội xã đặc biệt khó khăn là một dạng của chính sách công, được triển khai và thực hiện trên cơ sở
hệ thống các văn bản về phát triển kinh tế - xã hội xã đặc biệt khó khăn từ Trung ương đến địa phương
Mục tiêu nhằm thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập của các xã đặc biệt khó khăn với bình quân chung của cả nước; giảm dần số xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; đến năm 2030 cơ bản không còn xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn
Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vừa là nhiệm vụ, vừa là chủ trương có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Qua đó, tạo được sự đồng thuận và sức mạnh tổng hợp của cả hệ
thống chính trị, sự đồng tâm hiệp lực của toàn xã hội thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Với chủ chương đó, những năm qua, nhân dân các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M'Drắk được thụ hưởng nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo [Phụ lục 1], trong đó đặc biệt có ý nghĩa là Chương trình 135
1.3 Chương trình 135
Chương trình 135 là tên gọi tắt của Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các
xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, theo Quyết định số TTg ngày 31 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ Chương trình do Ủy ban Dân tộc và Miền núi là cơ quan thường trực giúp Chính phủ chỉ đạo thực hiện
135/1998/QĐ-1.3.1 Các giai đoạn của chương trình
Theo kế hoạch ban đầu, chương trình sẽ kéo dài 7 năm và chia làm hai giai đoạn; giai đoạn 1 từ năm ngân sách 1998 đến năm 2000 và giai đoạn 2 từ năm 2001 đến năm
2005 Tuy nhiên, đến năm 2006, Chính phủ quyết định kéo dài chương trình này thêm 5
Trang 2416
năm, và gọi giai đoạn 1998-2005 là giai đoạn I, tiếp theo là giai đoạn II (2006-2010)
Về sau, dù chuyển giai đoạn và căn cứ pháp lý là quyết định 07/2006/QĐ-TTg, chương trình vẫn được gọi là Chương trình 135 Từ năm 2012, chương trình 135 tiếp tục được sử dụng để gọi tắt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững Dù từ khi bắt đầu thực hiện đến nay, chương trình đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn lại có mục tiêu được xác định khác nhau, nhiệm vụ cụ thể được thay đổi cho phù hợp với điều kiện thực tiễn để phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn
Giai đoạn I (1998 - 2006): mục tiêu tổng quát của giai đoạn này là “nâng cao
nhanh đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn, miền núi và vùng sâu, vùng xa; tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hoà nhập vào sự phát triển chung của cả nước; góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng
Mục tiêu cụ thể:
a) Giai đoạn từ năm 1998 đến 2000:
- Về cơ bản không còn hộ đói kinh niên, giảm được 4 - 5% hộ nghèo/năm
- Bước đầu cung cấp cho đồng bào có nước sinh hoạt, thu hút phần lớn trẻ em trong độ tuổi đến trường; kiểm soát được một số loại dịch bệnh hiểm nghèo; có đường giao thông dân sinh kinh tế đến các trung tâm cụm xã; phần lớn đồng bào được hưởng thụ văn hoá, thông tin
b) Giai đoạn từ năm 2000 đến 2005:
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn xuống 25% vào năm 2005
- Bảo đảm cung cấp cho đồng bào có đủ nước sinh hoạt; thu hút trên 70% trẻ em trong độ tuổi đến trường; đại bộ phận đồng bào được bồi dưỡng, tiếp thu kinh nghiệm sản xuất, kiến thức khoa học, văn hóa, xã hội, chủ động vận dụng vào sản xuất và đời sống; kiểm soát được phần lớn các dịch bệnh xã hội hiểm nghèo; có đường giao thông cho xe cơ giới và đường dân sinh kinh tế đến các trung tâm cụm xã; thúc đẩy phát triển thị trường nông thôn
Ở giai đoạn I, Chương trình đầu tư gồm: 49 tỉnh, 284 huyện, 1.870 xã (trong đó: 1.726 xã đặc biệt khó khăn, 144 xã biên giới) Chương trình 135 giai đoạn I được đánh giá là đạt được kết quả tốt khi xem xét về tính phù hợp và hiệu quả chương trình; kết quả
Trang 2517
tương đối tốt khi đánh giá về nhận thức của người hưởng lợi và chất lượng các dịch vụ chương trình cung cấp, về hiệu quả trong xác định đối tượng của chương trình, và về hiệu quả trong quản lý và thực hiện chương trình Hợp phần thực hiện tốt nhất là dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, tính đến năm 2005, Chương trình 135 đã xây dựng được 20.026 công trình hạ tầng, hoàn thành 300 trung tâm cụm, xã đưa vào sử dụng, hoàn thành trên 50.000 km đường các loại, 96% số xã có đường ô-tô đến trung tâm xã, góp phần làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn ở các xã đặc biệt khó khăn
Từ năm 1993 đến năm 2006, tỉ lệ nghèo tính theo đầu người trong cả nước của Việt Nam đã giảm từ 58% xuống mức 16% Cũng trong giai đoạn này, tỷ lệ nghèo tính theo đầu người trong các dân tộc thiểu số - định nghĩa theo nghĩa rộng - đã giảm từ 86.4% xuống còn 52% [10]
Giai đoạn II (2006 - 2010): Chương trình 135 giai đoạn II (gọi tắt là Chương trình
135-II) theo Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg ngày 10 tháng 1 năm 2006 Với nguồn vốn đầu tư của Chính phủ và một số nhà tài trợ, nhắm tới các xã nghèo nhất với 4 dự án/chính sách:
• Dự án phát triển sản xuất;
• Dự án phát triển cơ sở hạ tầng;
• Dự án Đào tạo xây dựng năng lực;
• Chính sách cải thiện sinh kế
Mục tiêu trong giai đoạn này là “tạo sự chuyển biến nhanh về sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường; cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn một cách bền vững; giảm khoảng cách phát triển giữa dân tộc và các vùng trong cả nước Phấn đấu đến năm 2010, trên địa bàn không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30% theo chuẩn nghèo tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ.”
Trong giai đoạn II, phạm vi Chương trình cũng như các đối tượng thụ hưởng đã được mở rộng hơn so với giai đoạn I, đã huy động được sự quan tâm của các ban, ngành liên quan cũng như nhận được sự hỗ trợ từ các tổ chức xã hội trong và ngoài nước Giai đoạn này thực hiện trên địa bàn 50 tỉnh, 354/567 huyện với tổng số 1.946 xã đặc biệt khó
Trang 2618
khăn, xã biên giới, xã an toàn khu và 3.274 thôn bản đặc biệt khó khăn của 1.140 xã khu vực II, đại diện cho các ‘túi’ nghèo hay vùng nghèo nhất của cả nước Theo báo cáo của
Ủy ban Tài chính và Ngân sách Quốc hội, đến hết năm 2009, Chương trình 135 giai đoạn
II đã đạt một số chỉ tiêu đáng ghi nhận: 100% người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý được trợ giúp miễn phí; hộ nghèo giảm xuống còn 31,2% Chương trình đã hỗ trợ 14.000
tỷ đồng cho các địa phương; xây dựng 4.125 mô hình phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp; xây dựng trên 12.000 dự án đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ cơ sở Ủy ban Dân tộc đã tập huấn cho 3.500 lượt cán bộ tham gia quản lý Chương trình 135 từ cấp tỉnh đến cấp huyện Tính trung bình, mỗi địa phương đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản
lý hành chính, kinh tế, giám sát dự án cho 178 lượt cán bộ xã, thôn, bản; thành lập 1.500 câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho các xã [10]
Giai đoạn III (2011 – 2015)
Năm 2012 - 2013: Theo Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tưởng Chính phủ, Chương trình 135 chuyển thành dự án 2 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững với 01 hợp phần: Đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã, thôn bản ĐBKK, xã biên giới, xã an toàn khu
Năm 2014-2015: Thực hiện Quyết định số 551/QĐ-TTg ngày 04/04/2013 của Thủ tưởng Chính phủ Phê duyệt Chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã ĐBKK, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản ĐBKK giai đoạn 2012-2015 (giai đoạn III), là một phần của Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững (gọi tắt là Chương trình 135)
“Mục tiêu của Chương trình 135 giai đoạn 2011 - 2015 cụ thể là:
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm 4%/năm;
- Đến năm 2015, thu nhập bình quân đầu người đạt 50% mức bình quân chung khu vực nông thôn của cả nước;
- Đến năm 2015, 85% số thôn có đường cho xe cơ giới, trong đó có 35% số xã và 50% thôn có đường giao thông đạt chuẩn;
- Đến năm 2015, 95% trung tâm xã, trên 60% thôn có điện;
- Đến năm 2015, các công trình thủy lợi nhỏ được đầu tư đáp ứng 50% nhu cầu tưới tiêu cho diện tích cây hàng năm;
Trang 2719
- Đến năm 2015, trên 50% trạm y tế xã được chuẩn hóa;
- Đến năm 2015, các công trình hạ tầng giáo dục, văn hóa được quan tâm đầu
tư để đạt các mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững”
Nội dung của Chương trình 135 giai đoạn 2011 - 2015 là:
“Thứ nhất, về Hỗ trợ phát triển sản xuất bao gồm các nội dung:
- Bổ sung và nâng cao kiến thức phát triển kinh tế hộ gia đình, áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất, tiếp cận tín dụng, thông tin thị trường, sử dụng đất đai hiệu quả;
- Hỗ trợ giống, phân bón, vật tư phục vụ chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế;
- Hỗ trợ làm chuồng trại chăn nuôi, cải tạo diện tích nuôi trồng thủy sản;
- Hỗ trợ vắc xin tiêm phòng các dịch bệnh nguy hiểm cho gia súc, gia cầm;
- Hỗ trợ xây dựng mô hình phát triển sản xuất, tạo điều kiện cho người dân tham quan, học tập, nhân rộng mô hình;
- Hỗ trợ nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ chỉ đạo hỗ trợ phát triển sản xuất, cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y; vệ sinh an toàn thực phẩm
Thứ hai, về Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng gồm có các nội dung như sau:
- Hoàn thiện hệ thống đường giao thông nông thôn phục vụ sản xuất, kinh doanh
- Hoàn thiện các công trình để bảo đảm chuẩn hóa trạm y tế xã;
- Hoàn thiện hệ thống các công trình để bảo đảm chuẩn hóa giáo dục trên địa bàn xã; xây dựng lớp tiểu học, mẫu giáo, nhà trẻ, nhà ở giáo viên, trang bị bàn ghế, điện, nước sinh hoạt, công trình phụ trên địa bàn thôn, bản;
- Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã, thôn, bản;
- Các công trình hạ tầng quy mô nhỏ khác do cộng đồng đề xuất phù hợp với
Trang 2820
phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số;
- Duy tu, bảo dưỡng các công trình hạ tầng cơ sở.”
Như vậy, Chương trình 135 giai đoạn này có sự thay đổi so với hai giai đoạn trước, không chỉ bao gồm đầu tư, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội mà còn tập trung vào giảm nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc; giảm chênh lệch về khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và các vùng trong cả nước theo tinh thần Nghị quyết số 80/NQ-CP, ngày 19/5/2011, của Chính phủ về Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011 - 2020
Giai đoạn IV (2016-2020)
Theo Quyết định 1722/QĐ-TTg ngày 2 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Việt Nam, từ giai đoạn này, Chương trình 135 là một dự án của chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, gồm 03 tiểu dự án, gồm:
- Tiểu dự án 1: Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn
+ Mục tiêu: Tăng cường cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh ở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu; các thôn, bản đặc biệt khó khăn
+ Đối tượng: các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu; các thôn, bản đặc biệt khó khăn theo Quyết định của cấp có thẩm quyền
- Tiểu dự án 2: Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn
+ Mục tiêu:
Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với quy hoạch sản xuất; khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương; góp phần giảm rủi ro thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu; góp phần tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người dân trên địa bàn;
Hỗ trợ đa dạng các hình thức sinh kế phi nông nghiệp, ngành nghề dịch vụ, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa bàn;
Nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả; tạo điều kiện cho người nghèo tiếp
Trang 29Nhóm hộ, cộng đồng dân cư trên địa bàn;
Tổ chức và cá nhân có liên quan;
Tạo điều kiện để người lao động là người sau cai nghiện ma túy, nhiễm HIV/AIDS, phụ nữ bị buôn bán trở về, thuộc hộ nghèo được tham gia dự án
- Tiểu dự án 3: Nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ cơ sở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu; thôn bản đặc biệt khó khăn
+ Mục tiêu: Nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ cơ sở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu; các thôn, bản đặc biệt khó khăn
+ Đối tượng: Cộng đồng, cán bộ cơ sở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã
an toàn khu; các thôn, bản đặc biệt khó khăn
Có thể nói, kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới (năm 1986) đến nay, Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi Sự ra đời của Chương trình 135 đã thể hiện chủ trương, đường lối nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, chăm lo đời sống nhân dân, bảo đảm tiến bộ công bằng xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi Qua các giai đoạn triển khai thực hiện, với
sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương và được đồng bào các dân tộc thiểu số hưởng ứng tích cực, Chương trình 135 đã thu được những kết quả đáng khích lệ, góp phần không nhỏ trong việc xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo ở các thôn, bản, xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi
1.3.2 Thực hiện chương trình 135
Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn theo chương trình 135 là quá trình biến các chủ trương, chính sách, phương hướng và giải pháp liên quan đến chính sách phát triển kinh tế - xã hội xã đặc biệt khó khăn theo chương trình 135 vào thực tiễn cuộc sống, biến chính sách thành những kết quả trên thực tế,
Trang 3022
thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước cũng như sự tham gia của các tổ chức, đơn vị, gia đình, cá nhân và toàn xã hội, nhằm hiện thực hóa những mục tiêu mà Chương trình đã đề ra
1.3.2.1.Chủ thể tham gia vào tổ chức thực hiện Chương trình 135
Chương trình 135 là chương trình quốc gia được Chính phủ ban hành nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo Chương trình 135 tác động trực tiếp và gián tiếp đến đời sống của người dân cũng như có liên quan tới nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội Chính vì vậy, cần phải huy động sự tham gia của các bên vào quá trình thực hiện chương trình
Chủ thể triển khai thực hiện Chương trình 135 là các cơ quan có thẩm quyền trong
bộ máy nhà nước từ trung ương tới địa phương, trong đó chủ yếu là các cơ quan trong
bộ máy hành chính nhà nước cùng với đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước
có thẩm quyền Trong quá trình triển khai thực thi Chương trình, các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy hành chính nhà nước giữ vai trò điều tiết, định hướng các hoạt động thực thi Chương trình bằng những công cụ quản lý của mình, giúp cho quá trình này luôn bám sát mục tiêu mà Chương trình đặt ra, bao gồm: Quốc hội; Chính phủ; Ủy ban Dân tộc; Các Bộ, ngành liên quan có trách nhiệm phối hợp thực hiện các nội dung của Chương trình 135 theo chức năng, nhiệm vụ được giao; UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; UBND các huyện, UBND các xã
Chủ thể tham gia phối hợp thực thi Chương trình 135:
- Các tổ chức chính trị- xã hội, đó là Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên: Công đoàn, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh; Các hiệp hội nghề nghiệp- xã hội ở trung ương và địa phương, các hiệp hội nghiên cứu và phát triển khoa học, công nghệ,…
- Các tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
1.3.3 Đối tượng thụ hưởng Chương trình 135
Đó là các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu; các thôn, bản đặc biệt khó khăn theo Quyết định của cấp có thẩm quyền, với các đặc điểm sau đây:
Về cơ sở hạ tầng: không có hoặc tạm thời; giao thông khó khăn; không có đường ôtô đến xã; các công trình: điện, thủy lợi, nước sạch, trường học, trạm xá kém hoặc chưa có
Trang 311.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển kinh tế xã hội xã đặc biệt khó khăn theo Chương trình 135
Việc thực hiện chương trình này có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan
và chủ quan sau:
1.3.4.1 Nhóm các yếu tố khách quan
Thứ nhất là sự khác biệt về điều kiện tự nhiên của mỗi địa phương, vùng, miền: những địa phương, vùng, miền nào có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn (về vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên) thì việc tổ chức thực thi Chương trình cũng sẽ diễn ra
dễ dàng hơn những địa phương có điều kiện tự nhiên khó khăn;
Thứ hai là sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế của các địa phương, vùng, miền: nếu địa phương nào có trình độ dân trí cũng như trình độ phát triển kinh tế cao, nguồn lực tài chính mạnh, thu nhập của người lao động ổn định, mức độ thất nghiệp thấp thì việc thực thi Chương trình sẽ thuận lợi và ngược lại;
Thứ ba là sự khác biệt về phong tục tập quán của mỗi địa phương Nơi nào còn tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu, thì khả năng tiếp nhận của người dân đối với Chương trình còn hạn chế, việc thực thi Chương trình do đó sẽ gặp nhiều khó khăn hơn
Thứ tư là yếu tố môi trường chính trị, nơi nào đảm bảo giữ vững ổn định xã hội trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thì việc thực thi Chương trình
135 cũng sẽ được thuận lợi, ngược lại nơi nào có tình hình chính trị bất ổn thì việc thực thi Chương trình sẽ gặp bất lợi
Trang 3224
1.3.4.2 Nhóm các yếu tố chủ quan
Thứ nhất là yếu tố tổ chức bộ máy chính quyền Yếu tố này có vai trò quyết định trong việc tổ chức thực thi Chương trình 135 Về nguyên tắc, có thể thiết lập tổ chức bộ máy độc lập cho từng hợp phần; nhưng cũng có thể sử dụng bộ máy chính quyền hiện
có để thực hiện, tùy điều kiện cụ thể Nếu bộ máy chính quyền hiện đại, gọn nhẹ thì chi phí quản lý, thực hiện Chương trình tiết kiệm hơn nhưng vẫn mang lại hiệu quả Trường hợp tổ chức bộ máy chính quyền cồng kềnh, phức tạp thì sẽ làm giảm hiệu quả việc thực thi Chương trình và giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước
Thứ hai là yếu tố nguồn lực vật chất trong thực thi Chương trình 135 Đây là yếu
tố giữ vai trò quan trọng để việc thực hiện Chương trình 135 được hiệu quả và thành công Việc đầu tư trang thiết bị kỹ thuật và các phương tiện hiện đại khác để hỗ trợ quá trình quản lý cũng như quá trình triển khai thực hiện Chương trình là rất cần thiết Chẳng hạn, trong quá trình thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến về Chương trình 135 thì việc đảm bảo các điều kiện vật chất, kỹ thuật sẽ giúp các cơ quan nhà nước có thể thuận lợi chuyển tải những nội dung của Chương trình đến với mọi người dân, giúp cho các hoạt động lập kế hoạch, phân công, phối hợp, kiểm tra, giám sát, đánh giá được thực hiện hiệu quả hơn
Thứ ba là yếu tố năng lực của các cán bộ trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách theo Chương trình 135 Việc xây dựng năng lực thể chế ở cấp tỉnh, cấp huyện
và cấp xã cần được coi là một điều kiện bắt buộc Hệ thống triển khai chính sách ở cấp địa phương cần có đủ cán bộ có đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ của mình và để thực hiện vai trò lãnh đạo điều phối chương trình một cách đầy đủ tại địa phương Năng lực của cán bộ bao gồm nhiều tiêu chí về năng lực chuyên môn, đạo đức công vụ, tinh thần trách nhiệm và ý thức kỷ luật Tuy nhiên, ở thực tiễn của các xã đặc biệt khó khăn, các huyện nghèo thì năng lực hiện nay của cán bộ ở cấp huyện và xã là một hạn chế lớn đối với việc nâng cao hiệu quả và hiệu suất
Thứ tư là yếu tố nhận thức của người dân Khi người dân là đối tượng thụ hưởng trực tiếp từ Chương trình hiểu được tầm quan trọng và lợi ích mang lại từ Chương trình, thì họ sẽ tự nguyện và tích cực tham gia; ngoài ra, các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội cũng ý thức được điều này thì họ sẽ tích cực phối hợp, hỗ trợ thực hiện Chương trình
Trang 3325
Như vậy, nhận thức của xã hội và người dân là một yếu tố rất quan trọng, nếu họ tự giác, tích cực, chủ động, tự nguyện tham gia thì việc thực thi Chương trình 135 sẽ có hiệu quả, bền vững
Chương trình 135 là một trong những chính sách lớn trong hệ thống chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước, nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng dân tộc và miền núi, góp phần quan trọng vào chuyển biến trong sản xuất gắn với thị trường, các công trình hạ tầng được đầu tư thêm tạo điều kiện cho phát triển kinh tế và giao lưu hàng hóa của đồng bào, từng bước xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, thu hẹp dần khoảng cách giữa các vùng Vì vậy, việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng như trên, nhằm phát huy được những mặt tích cực của các yếu tố, cũng như hạn chế những mặt tiêu cực, nhằm giúp cho quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn theo Chương trình 135 đạt được hiệu quả tốt hơn
1.4 Kinh nghiệm thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội xã đặc biệt khó khăn theo chương trình 135 ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm đối với huyện M'Drắk, tỉnh Đắk Lắk
1.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương
1.4.1.1 Kinh nghiệm xóa nghèo ở huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La:
Trước đây, Quỳnh Nhai là một huyện nghèo, hơn 90% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, điều kiện tự nhiên không có nhiều thuận lợi, lại trải qua giai đoạn khó khăn di dân tái định cư để triển khai thủy điện Sơn La Toàn huyện chỉ có 11 đơn vị hành chính cấp xã, nhưng có đến 147 bản đặc biệt khó khăn thuộc diện đầu tư theo Chương trình của Chính phủ
Để thực hiện xóa nghèo, huyện Quỳnh Nhai đã triển khai đồng bộ các giải pháp
để nâng cao thu nhập của người dân, chú trọng công tác hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững, gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ người nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản Huyện thực hiện việc lồng ghép vốn các Chương trình, dự
án, chính sách về mục tiêu quốc gia giảm nghèo và Chương trình 135 nhằm tạo điều kiện tối đa để người nghèo thụ hưởng các chính sách của Đảng và Nhà nước như: cấp phát 846.600 lượt thẻ bảo hiểm y tế cho người dân thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, người
Trang 3426
dân tộc thiểu số sống ở vùng khó khăn; hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất cho 23.983 lượt hộ nghèo với tổng kinh phí 539 tỷ đồng; hỗ trợ xây dựng 73 căn nhà cho hộ nghèo… Bên cạnh đó, công tác dạy nghề cho lao động nông thôn được chú trọng, tổng số lao động qua đào tạo là 9.138 người, trong đó đào tạo nghề là 3.800 người (chiếm 17%) Điểm đáng ghi nhận, là từ hiệu quả trong công tác đào tạo nghề đã nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, huyện đã có lực lượng lao động có kiến thức, kỹ năng tay nghề khá, toàn huyện có trên 4.000 lao động làm việc ổn định tại các nhà máy trong và ngoài tỉnh
Huyện Quỳnh Nhai đã đầu tư về cơ sở hạ tầng khá đồng bộ: 100% xã có đường giao thông đi lại thuận tiện; trên 95% hộ dân có hệ thống điện, nước sinh hoạt; 100% xã
có nhà văn hóa, trạm y tế, trường học khang trang Cùng với đó, huyện đã quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, nhân rộng
mô hình giảm nghèo, đặc biệt là phát triển mạnh nghề nuôi thủy sản trên sông Đà với quy mô trên 5.000 lồng nuôi, sản lượng trên 30.000 tấn/năm Để triển khai các mô hình trồng trọt, chăn nuôi hiệu quả, từ nguồn lực của Chương trình, huyện đã nghiên cứu, khảo sát thực tế các điều kiện của từng bản, từng xã để xây dựng các mô hình điểm Từ hiệu quả của các mô hình điểm "người thật, việc thật", cùng với sự hướng dẫn kỹ thuật, nguồn hỗ trợ của Nhà nước dành cho hộ nghèo, nguồn vốn vay ưu đãi… người dân đã mạnh dạn tham gia các mô hình kinh tế mới hiệu quả: trồng dược liệu, nuôi cá lồng bè…
Nhờ có sự vào cuộc quyết liệt, cũng như cách làm sáng tạo, hiệu quả của hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở, cùng sự đồng thuận, tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn huyện, năm 2018, huyện Quỳnh Nhai cùng 7 huyện nghèo khác ở các “lõi nghèo” trong cả nước được Chính phủ đưa ra khỏi danh sách huyện nghèo
Một số bài học kinh nghiệm của huyện Quỳnh Nhai, đó là:
Một là, triển khai đồng bộ các giải pháp, chính sách hỗ trợ Ngoài nguồn vốn của
Chương trình 135, huyện thực hiện lồng ghép các Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Chương trình 30a và dự án di dân, tái định cư thủy điện Sơn La
Hai là, cùng với nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, thì sự nỗ lực của người dân chính
là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của công tác xóa đói giảm nghèo Để triển khai các mô hình trồng trọt, chăn nuôi hiệu quả, chính người dân sẽ là chủ thể quyết định
Trang 3527
trồng cây gì, nuôi con gì, làm việc như thế nào phù hợp và mang lại hiệu quả kinh tế cao Chính quyền địa phương và ngành chức năng đóng vai trò định hướng, xây dựng các mô hình điểm để rút kinh nghiệm, song hành để hỗ trợ kỹ thuật và vốn cho người dân
Ba là, chú trọng công tác kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện các chính sách
phát triển kinh tế - xã hội Muốn làm công trình gì cũng phải được người dân bàn, dân biết, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng và thông qua HĐND quyết định Mọi chủ trương, giải pháp của huyện đề ra đều phải bám sát vào chính sách của Nhà nước; nghị quyết HĐND các cấp làm cơ sở thực hiện đúng, nhất là ở các xã đặc biệt khó khăn có triển khai các công trình, dự án Trong quá trình thực hiện phải có sự kiểm tra, giám sát, đôn đốc chặt chẽ, qua đó, kịp thời giải quyết, tháo gỡ những vướng mắc Nhờ vậy, nhiều công trình cơ sở hạ tầng được triển khai, xây dựng đúng tiến độ, phát huy hiệu quả tốt, tạo điều kiện phát triển kinh tế- xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn
1.4.1.2 Kinh nghiệm thực hiện chương trình 135 của huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh Trà Cú là huyện vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh Trà Vinh Tính đến cuối năm 2015, huyện có 17 đơn vị hành chính (15 xã, 02 thị trấn), dân số 40.231 hộ, 152.609 người (dân tộc thiểu số chiếm 62,08%), hộ nghèo chiếm 17,1%, tăng trưởng kinh tế đạt 14,65%, thu nhập bình quân đầu người 22 triệu đồng/người/năm Theo Quyết định số 204/QĐ-TTg ngày 01 tháng 02 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của Chương trình 135 năm 2016, huyện Trà Cú có 09 xã, 06 ấp đặc biệt khó khăn thuộc diện hưởng lợi theo Chương trình 135 giai đoạn 2016-2020
Để triển khai Chương trình, UBND huyện Trà Cú đã thành lập Ban chỉ đạo chương trình cấp huyện, chỉ đạo các ngành chức năng bám sát các quy định hướng dẫn của cấp trên áp dụng hiệu quả vào thực tiễn; tiến hành tổ chức các lớp tập huấn, phổ biến quán triệt các nội dung của Chương trình; thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát, sơ kết, đánh giá tiến độ thực hiện, kịp thời tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án do Chương trình triển khai
Đặc biệt, trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của một bộ phận người nghèo Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, đã xuất hiện một số điển hình tự nguyện hiến đất, tham gia đóng góp để xây dựng
Trang 36Thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 2016-2020, huyện Trà Cú đã giải ngân trên 68,8 tỷ đồng để xây dựng 82 công trình cơ sở hạ tầng, duy tu bảo dưỡng 43 công trình, thực hiện 57 dự án hỗ trợ sản xuất, mở 22 lớp tập huấn nâng cao năng lực cộng đồng và cán bộ cơ sở Thông qua các công trình, dự án được đầu tư trên địa bàn huyện
đã góp phần hoàn thiện hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy phát triển sản xuất, giúp các xã, ấp đặc biệt khó khăn hoàn thành tiêu chí về cơ sở hạ tầng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống người dân, góp phần kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân của huyện 4%/năm Một số kết quả nổi bật qua quá trình thực hiện chương trình như:
- Về kinh tế, từ chỗ diện tích đất trồng ở vùng đồng bào Khmer trước đây phần lớn bị nhiễm phèn, nhiễm mặn và thiếu nước, hàng năm đồng bào chỉ sản xuất 1 vụ và độc canh cây lúa, thì nay đã được thủy lợi hoá lên hơn 70% diện tích, sản xuất từ 1 vụ lúa lên 2 vụ lúa - 1 vụ màu hoặc 1 vụ lúa - 2 vụ màu, hiệu quả trên một đơn vị diện tích ngày càng tăng
- Về văn hoá - xã hội, huyện đã tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường lớp học, tích cực đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, kể cả giáo viên dạy ngữ văn Khmer, đến nay đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và đang tích cực triển khai phổ cập giáo dục trung học cơ sở
Trang 37Một là, phân bổ vốn đầu tư đồng bộ, kịp thời vào Quý I hàng năm sẽ có nhiều
thuận lợi, việc thi công các công trình, dự án đảm bảo được thời gian, giảm chi phí, tăng khối lượng, chất lượng công trình
Hai là, quá trình tổ chức triển khai thực hiện Chương trình 135 trên địa bàn cần
xác định đầu tư đúng đối tượng, đúng mục đích Đây là yếu tố quan trọng để Chương trình đạt hiệu quả cao nhất
Ba là, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở sẽ thu hút đông đảo Nhân dân tham
gia đóng góp sức người, sức của vào công trình; nâng cao trách nhiệm của cộng đồng tạo thuận lợi cho việc giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình
Bốn là, việc rà soát, xác định xã, ấp đặc biệt khó khăn và quyết định hạng mục đầu
tư, triển khai các công trình, dự án thuộc mục tiêu Chương trình 135 được thực hiện từ địa phương theo đúng quy trình, thể hiện tính công khai, dân chủ, tập thể quyết định nên kết quả rà soát của Hội đồng Tư vấn xét duyệt được các địa phương đồng tình, nhất trí cao
Năm là, Lãnh đạo UBND phụ trách Chương trình 135 của xã có trách nhiệm cao,
các công trình, dự án Chương trình 135 được triển khai, thực hiện có hiệu quả, đảm bảo tiến độ giải ngân và thanh quyết toán kịp thời [21, tr.8]
1.4.1.3 Kinh nghiệm thực hiện chương trình 135 của huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II (2006-2010), huyện Chợ Mới có 8 xã và
23 thôn đặc biệt khó khăn hưởng lợi, tổng vốn huyện tiếp nhận trên 51,8 tỷ đồng Để thực hiện chương trình, một số chỉ tiêu được đề ra như: phấn đấu 100% các xã có điện lưới quốc gia; tại những vùng hưởng lợi không còn hộ đói; 90% số hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 20%
Bước vào triển khai thực hiện Chương trình, huyện tiến hành 84 công trình thuộc hợp phần cơ sở hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi, trường học, điện với tổng vốn gần 37 tỷ đồng Với hợp phần chính sách hỗ trợ học sinh nghèo, từ năm 2006 đến 2010, tổng số
Trang 3830
học sinh nghèo được hỗ trợ là 4.513 em với tổng kinh phí trên 2,8 tỷ đồng Hay hợp phần đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở và cộng đồng, huyện đã đào tạo cho cán bộ thôn và cộng đồng các kiến thức khoa học - kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, bảo vệ thực vật, máy móc công cụ sản xuất từ đó làm thay đổi cách nghĩ, cách làm, thay đổi tập quán lạc hậu của người dân trong phát triển kinh tế
Đến nay, hầu hết các công trình đều được xây dựng phù hợp với nguyện vọng của dân, đạt hiệu quả, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội đi lên Tỷ lệ hộ nghèo của huyện đã giảm từ 38,44% xuống còn 19%
Một số kinh nghiệm trong thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã
đặc biệt khó khăn của huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, đó là:
Một là, xuất phát điểm thực tế của địa phương triển khai Chương trình 135 rất
thấp, trong khi chương trình đầu tư ở nhiều lĩnh vực, phạm vi đầu tư rộng, đối tượng được hưởng lợi là rất lớn Vì vậy, để chương trình đạt hiệu quả, mục tiêu đề ra là cần có
sự nỗ lực, quyết tâm rất lớn của các cấp ngành, cán bộ và nhân dân các địa phương Công tác điều hành của ban chỉ đạo cần kịp thời, sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn, phòng ban của huyện và UBND các xã được giao làm chủ đầu tư phải đảm bảo chặt chẽ, thường xuyên Công tác báo cáo từ cơ sở và việc ban hành các văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành trung ương ở một số dự án nhanh chóng, thường xuyên để tạo luồng thông tin hai chiều, kịp thời điều chỉnh và xử lý các tình huống phát sinh
Hai là, việc kiểm tra, giám sát phải được thực hiện thường xuyên, kịp thời khắc
phục sự thiếu năng lực, sự yếu kém ở một số xã được giao làm chủ đầu tư Từ đó, đảm bảo cho các công trình, dự án triển khai thuận lợi hơn, nhất là khâu đảm bảo chất lượng
hồ sơ thiết kế công trình, tránh tình trạng phải thiết kế lại dẫn đến làm chậm tiến độ công trình, năng lực của một số nhà thầu còn kém vì vậy dẫn đến việc lúng túng, sai sót về thủ tục đầu tư
Ba là, trong quá trình thực hiện Chương trình, các chủ đầu tư phải tính đến việc
huy động sự đóng góp của người dân trong thực tế để tạo điều kiện cho người dân ở các địa phương thụ hưởng, tham gia thực hiện để có thêm việc làm tăng thu nhập Từ đó, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các chương trình an sinh, lợi ích cộng đồng sẽ được thực hiện một cách tốt hơn, hạn chế những thiếu sót
Trang 3931
1.4.2 Giá trị tham khảo và bài học kinh nghiệm đối với huyện M'Drắk
Qua quá trình tìm hiểu trong thực tiễn, nghiên cứu các bài học kinh nghiệm trong thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn theo Chương trình 135 ở một số địa phương có nét tương đồng với huyện M’Drắk, tác giả rút ra một
số bài học kinh nghiệm đối với việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội các
xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện M'Drắk như sau:
Một là, chú trọng và làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân về chính
sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn nói chung và chương trình 135 nói riêng Khi người dân hiểu, nắm bắt được bản chất, cốt lõi của Chương trình thì nhân dân sẽ đồng tình, ủng hộ và tạo lập niềm tin cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu
số ở xã đặc biệt khó khăn hiểu rõ việc đầu tư của Nhà nước là làm cho chính mình, vì sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương từ đó sẽ huy động tốt sự tham gia của nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tích cực thực hiện Không những thế, khi công tác tuyên truyền đạt hiệu quả thì mỗi hộ dân được hỗ trợ “trao cần câu” và “cho con cá”
từ Chương trình 135 sẽ ý thức vận dụng hiệu quả để nỗ lực phát triển kinh tế gia đình, vươn lên thoát nghèo
Hai là, trong quá trình thực hiện các chính sách từ Chương trình 135, sự hỗ trợ
của Nhà nước và các cơ quan liên quan là không thể thiếu, nhưng vai trò, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị ở địa phương cực kỳ quan trọng, cần phát huy tốt vai trò của ban chỉ đạo, cơ quan thường trực Chương trình 135 và các tổ chức đoàn thể các cấp Một khi cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân vào cuộc với quyết tâm cao, quyết liệt, quyết đoán, trách nhiệm, thì các chính sách đi vào thực tiễn càng đồng bộ, hiệu quả
Ba là, các cơ quan, đơn vị cần nghiêm túc triển khai thực hiện các chính sách, các
hướng dẫn của cấp trên, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, luôn đặt sự phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn nằm trong chiến lược phát triển chung và quan trọng của huyện Bên cạnh đó, cần phải xây dựng quy chế, quy trình hoạt động, phân công rõ con người, rõ việc cần làm, rõ nội dung, phương thức, biện pháp, cách
tổ chức thực hiện; công khai, minh bạch trong quản lý, phân bổ nguồn vốn từ Chương trình 135 đúng trọng tâm, trọng điểm và có sự phối hợp tổ chức, chỉ đạo, triển khai giữa các cấp, các ngành, địa phương để triển khai và thực hiện Chương trình có hiệu quả
Trang 4032
Bốn là, vai trò của cấp xã và người dân cần được đề cao, dân chủ ở cơ sở được
phát huy, đi vào thực chất Các công trình được đầu tư xuất phát từ nguyện vọng của người dân; người dân tham gia vào quy trình lập kế hoạch để xác định các hoạt động của Chương trình 135 đáp ứng nhu cầu của họ và điều kiện kinh tế-xã hội cụ thể tại địa phương, được tạo điều kiện tham gia xây dựng công trình Chủ trương của Chương trình
135 là “xã có công trình, dân có việc làm, thu nhập” được các cấp chính quyền triển khai với doanh nghiệp Khi người dân có việc làm, có thu nhập, lại tham gia thi công công trình phục vụ bản thân, cộng đồng thôn, xóm, họ sẽ toàn tâm, toàn ý thi công đảm bảo chất lượng công trình Với cách thức hỗ trợ xuất phát từ nguyện vọng của người dân, bà con rất đồng tình, Nhà nước cũng có điều kiện phát huy hiệu quả nguồn vốn
Năm là, chủ động trong việc kiểm tra, rà soát, bố trí kế hoạch; tăng cường công
tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, sai sót để hoàn thiện, chỉnh sửa trong quá trình triển khai thực hiện, đặc biệt là các thủ tục trong quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản Tăng cường sự giám sát của cộng đồng, nhất là đội ngũ người có uy tín đối với các công trình xây dựng; giao cho xã làm chủ đầu tư nhằm nâng cao trách nhiệm của địa phương trong xây dựng, quản lý, sử dụng và duy tu bảo dưỡng công trình
Sáu là, chủ động bố trí vốn từ ngân sách của tỉnh và bố trí lồng ghép các chương
trình khác để tập trung đầu tư phát triển kinh tế xã hội các xã, thôn ĐBKK; phát huy được sức mạnh tổng hợp và lồng ghép có hiệu quả các dự án nhằm giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội bền vững vùng dân tộc và miền núi
Tiểu kết chương 1
Trong Chương 1, luận văn đã hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách công và chính sách phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn theo Chương trình 135 Trên cơ sở đó tìm hiểu, nghiên cứu về chính sách phát triển kinh tế -
xã hội theo Chương trình 135: tiêu chí, mục tiêu và nội dung Chương trình 135 qua các giai đoạn, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến quá trình thực thi Chương trình 135, bao gồm: chủ thể thực hiện Chương trình, đối tượng thụ hưởng của Chương trình 135; các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách Bên cạnh đó, trong chương 1 của luận văn cũng đã trình bày về kinh nghiệm thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội xã