1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thảo luận công pháp quốc tế chương 3 DÂN CƯ TRONG LUẬT QUỐC TẾ

16 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 61,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Nêu các phương thức thực hiện chủ quyền quốc gia đối với dân cư. 2. Nêu và phân tích các phương thức xác lập quốc tịch. 3. Chứng minh mối quan hệ quốc tịch giữa nhà nước và cá nhân là bền vững về không gian và thời gian. 4. Nêu bản chất pháp lý của hoạt động bảo hộ công dân. 5. Nêu và phân tích bản chất pháp lý của chế định cư trú chính trị trong luật quốc tế. 6. Tổng thống bị lật đổ của Ukraine Viktor Yanukovych có được hưởng quy chế tị nạn chính trị hay không? 7. Cơ sở pháp lý và Việt Nam đã bảo hộ công dân như thế nào khi Indonesia thi hành bản án tử hình công dân Việt Nam Trần Thị Bích Hạnh ngày 18012015 về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy.

Trang 1

THẢO LUẬN MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CHƯƠNG 3

DÂN CƯ TRONG LUẬT QUỐC TẾ

1 Nêu các phương thức thực hiện chủ quyền quốc gia đối với dân cư.

Dân cư có thể hiểu được là tổng hợp những người dân sinh sống và cư trú trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia nhất định, được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật quốc gia nơi họ đang cư trú Những người này sinh sống, làm ăn trên lãnh thổ của một quốc gia và chịu sự điều chỉnh của pháp luật của quốc gia đang cư trú, đồng thời được hưởng một số quyền lợi cơ bản Do đó, quốc gia có chủ quyền đối với dân cư trong việc quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội

Nhìn chung, chủ quyền quốc gia đối với dân cư được thực hiện theo các phương thức:

- Quyết định các vấn đề liên quan đến quốc tịch:

Mỗi quốc gia có thẩm quyền riêng biệt trong việc xác định địa vị pháp lý cho từng bộ phận dân cư nước mình, bao gồm quyền quyết định những cá nhân nào có thể mang quốc tịch của quốc gia mình Quốc tịch luôn là yếu tố quan trọng để thể hiện sự gắn bó của một cá nhân với một quốc gia Các quốc gia khác có nghĩa vụ phải tôn trọng chủ quyền quốc gia về vấn đề dân cư, đặc biệt là quốc tịch

Pháp luật của quốc gia sẽ quyết định những ai là người được mang quốc tịch của quốc gia mình Công ước La Haye năm 1930 về những vấn đề liên quan đến xung đột luật quốc tịch nêu rõ “mỗi quốc gia có quyền quy định những người nào được mang quốc tịch của quốc gia mình” và “bất kỳ vấn đề liên quan đến việc một cá nhân có quốc tịch của một quốc gia cụ thể nào sẽ được quyết định trên cơ sở pháp luật của quốc gia đó”

- Quyết định các vấn đề liên quan đến cư trú:

Quốc gia cũng hoàn toàn có thẩm quyền trong việc quy định địa vị pháp lý cho các bộ phận dân cư còn lại khác, tức là các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho người nước ngoài, người không quốc tịch đang sinh sống trên lãnh thổ quốc gia mình Về cơ bản, đó là quyền cho phép cư trú đối với những người nước ngoài, kể cả người không có quốc tịch, trên lãnh thổ của mình, dành cho nhóm người này các quyền cơ bản và yêu cầu thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước

- Quyết định các vấn đề liên quan đến bảo hộ ngoại giao:

Bảo hộ công dân còn bao gồm các hoạt động giúp đỡ về mọi mặt mà nhà nước dành cho công dân mình đang ở nước ngoài, kể cả trong trường hợp không có hành vi xâm hại nào tới công dân của nước này Bảo hộ ngoại giao theo nghĩa rộng có thể hiểu là các hoạt động mang tính công vụ như cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính cho công dân; các hoạt động có tính chất trợ giúp như giúp đỡ về tài chính cho

Trang 2

công dân khi họ gặp khó khăn, giúp đỡ công dân trong việc chuyển thông tin, bảo quản giấy tờ, tài sản,…; các hoạt động khác có tính chất phức tạp hơn như hỏi thăm lãnh sự khi công dân bị bắt, bị giam, có thể áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân nước mình trên cơ sở phù hợp quy định pháp luật pháp luật quốc gia sở tại hoặc luật pháp quốc tế

2 Nêu và phân tích các phương thức xác lập quốc tịch.

Có quốc tịch là quyền của công dân nhưng cũng đồng thời là đặc ân của nhà nước dành cho công dân Thông thường, một người ngay từ khi được sinh ra sẽ được nhà nước trao cho một quốc tịch Pháp luật về quốc tịch trên thế giới có các cách thức có quốc tịch sau:

a) Có quốc tịch do sự sinh đẻ:

Đây là phương thức hưởng quốc tịch phổ biến nhất Theo đó, việc công dân mang quốc tịch của một quốc gia được xác định một cách mặc nhiên ngay từ khi công dân đó mới được sinh ra Nói cách khác, việc công dân mang quốc tịch trong trường hợp này không phụ thuộc vào ý chí của bản thân công dân mà phụ thuộc vào ý chí của nhà nước và trên cơ sở phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế

Thực tiễn pháp luật của các quốc gia có ghi nhận 2 nguyên tắc chính để xác định quốc tịch theo sự sinh

đẻ, đó là: nguyên tắc huyết thống và nguyên tắc quyền nơi sinh

- Nguyên tắc huyết thống (jus sanguinis): Nguyên tắc này quy định mọi đứa trẻ sinh ra đều có quốc tịch theo quốc tịch của cha mẹ, không phụ thuộc vào nơi đứa trẻ được sinh ra Nguyên tắc này được áp dụng ở hầu hết các nước châu Âu như Italia, Phần Lan, Na Uy, Tây Ban Nha, một số nước Đông Nam Á như Lào, Thái Lan, Brunei, Indonesia Hạn chế của nguyên tắc này là chưa đưa ra được hướng giải quyết trong trường hợp cha mẹ của đứa trẻ là những người không quốc tịch, hoặc không xác định được quốc tịch, hoặc không có cùng quốc tịch, thì không thể xác định quốc tịch cho đứa trẻ theo nguyên tắc này

- Nguyên tắc nơi sinh (jus soli): Nguyên tắc này quy định mọi đứa trẻ sinh ra trên lãnh thổ nước nào thì mang quốc tịch của nước đó không phụ thuộc vào quốc tịch của cha mẹ chúng Nguyên tắc này được

áp dụng phổ biến ở các nước châu Mỹ như Chile, Bolivia, Brazil, Colombia, Venezuela, Panama, Canada Hạn chế của nguyên tắc nơi sinh là những đứa trẻ của công dân nước ngoài vì một lý do nào đó phải sinh sống trên quốc gia sở tại sẽ phải mang quốc tịch nước ngoài khi sinh ra, mặc dù sự gắn bó duy nhất với quốc gia mà đứa bé đó sẽ mang quốc tịch chỉ thuần tuý là việc đứa trẻ này được sinh ra tại đây Một trong những cách thức nhằm hạn chế khiếm khuyết của nguyên tắc này là hầu hết các nước đều sử dụng là quy định loại trừ trường hợp đứa trẻ là con của công dân nước ngoài do yêu cầu công tác, học tập trên lãnh thổ quốc gia sở tại, thông thường là con của các viên chức ngoại giao công tác trên lãnh thổ nước sở tại

b) Có quốc tịch do sự gia nhập (naturalisation):

Trang 3

Được hiểu là việc một người nhận quốc tịch của một quốc gia khác do việc xin gia nhập quốc tịch Việc nhận quốc tịch được quyết định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc trao quốc tịch nước đó theo một trình tự được pháp luật quy định Để được có quốc tịch theo cách này, đương sự phải đáp ứng được những điều kiện cơ bản và tối thiểu do quốc gia đó đặt ra Các điều kiện này tuỳ thuộc vào từng quốc gia, về cơ bản bao gồm:

- Điều kiện về cư trú: Người muốn vào quốc tịch của một quốc gia phải cư trú tại quốc gia đó trong một thời gian nhất định, thời gian này dài hay ngắn cụ thể tuỳ theo quy định của từng quốc gia Thời gian này có thể được quy định là liên tục hoặc có thể là không liên tục Quy định này nhằm đòi hỏi đương sự phải có sự ổn định ban đầu cũng như tạo lập một số mối liên hệ cơ bản với nhà nước

- Điều kiện về độ tuổi: Độ tuổi là một trong những căn cứ để xác định năng lực chủ thể của một công dân Chính vì điều này mà các nước đều quy định độ tuổi có thể được vào quốc tịch phù hợp với hiến pháp và pháp luật nước mình Thông thường, đó là tuổi có năng lực hành vi dân sự

- Điều kiện về chính trị - văn hoá: Đây là quy định bắt buộc đương sự phải tự nguyện tuân thủ luật pháp quốc gia mà họ muốn gia nhập quốc tịch Nhìn chung, các nước đều bắt buộc đương sự phải có sự hiểu biết nhất định về văn hoá – xã hội của nước nơi mình gia nhập quốc tịch Đây là quy định nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật cũng như hoà nhập vào đời sống chính trị - xã hội ở quốc gia sở tại

- Điều kiện về ngôn ngữ: Đây là điều kiện tối thiểu để đương sự có thể hiểu biết và hoà nhập vào xã hội sở tại, có kiến thức về lịch sử, văn hoá, xã hội, giao tiếp,… Tiếng địa phương là tiếng mà quốc gia đó lấy làm ngôn ngữ chính

c) Có quốc tịch do sự lựa chọn:

Việc lựa chọn quốc tịch đặt ra trong trường hợp một bộ phận lãnh thổ của quốc gia này được sáp nhập vào một quốc gia khác hay trường hợp chính phủ hai nước thoả thuận với nhau về việc di chuyển các bộ phận dân cư từ nước này sang nước khác Việc lựa chọn quốc tịch hoàn toàn thể hiện ý chí của công dân trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với nguyên tắc dân tộc tự quyết và các nguyên tắc cơ bản trong luật quốc tế

Mất quốc tịch thông qua sự lựa chọn cũng có thể là một hình thức nhằm thực hiện nguyên tắc một quốc tịch, theo đó người có hai hoặc nhiều quốc tịch có thể chọn một quốc tịch trong số những quốc tịch

mà mình hiện có, việc lựa chọn này có thể dẫn đến mất những quốc tịch còn lại

d) Có quốc tịch do sự phục hồi quốc tịch (Reintegration):

Có quốc tịch theo sự phục hồi quốc tịch là việc khôi phục lại quốc tịch cũ cho một ngời vì một lý do nào đó đã mất quốc tịch cũ Thực chất, đây là việc có quốc tịch do được phép trở lại quốc tịch Vấn đề trở lại quốc tịch đặt ra đối với những người trước đây ra nước ngoài sinh sống và bị mất quốc tịch hoặc những người bị mất quốc tịch vì các lý do khác nhau như kết hôn, làm con nuôi người nước ngoài,… Để

Trang 4

được phép trở lại quốc tịch ban đầu, đương sự cũng phải đáp ứng các điều kiện đặc thù do pháp luật nước cấp quốc tịch quy định, thông thường là không có hành vi làm nguy hại đến an ninh quốc gia trong thời gian mất quốc tịch

e) Thưởng quốc tịch:

Thưởng quốc tịch là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia công nhận người nước ngoài là công dân nước mình, vì những đóng góp, công lao của người này cho quốc gia thưởng quốc tịch hoặc nhân loại Việc thưởng quốc tịch phải được sự đồng ý của người được thưởng quốc tịch

Thưởng quốc tịch dẫn đến một trong hai hệ quả pháp lý Thứ nhất, người được thưởng quốc tịch trở thành một công dân thực thụ, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ công dân; thứ hai, người được thưởng quốc tịch trở thành công dân danh dự, điều này chỉ có ý nghĩa tinh thần

* Ngoài ra, còn có một số trường hợp có thể dẫn đến việc thay đổi quốc tịch của một công dân Chính

vì những nguyên nhân đó mà một số công sân lại mặc nhiên có quốc tịch Chẳng hạn:

- Đăng ký quốc tịch: Thực chất là một dạng gia nhập quốc tịch theo những điều kiện như điều kiện vào quốc tịch nhưng thủ tục đơn giản hơn

- Có quốc tịch thông qua hôn nhân: Là việc đương sự có quốc tịch theo quốc tịch của vợ (hoặc chồng) thông qua kết hôn làm bên kia mặc nhiên mang quốc tịch của vợ (hoặc chồng) Tuy nhiên, hiện nay thực tiễn luật quốc tịch các nước cho thấy việc kết hôn không tự động dẫn đến người vợ (hoặc chồng) đương nhiên có quốc tịch mà việc kết hôn sẽ là điều kiện xin gia nhập quốc tịch, hoặc miễn giảm thủ tục xin nhập quốc tịch

- Có quốc tịch do làm con nuôi người nước ngoài: Là việc trẻ em có quốc tịch nước ngoài theo cha mẹ nuôi Tuy nhiên, một số nước quy định trẻ em đó tự động có quốc tịch theo quốc tịch của cha mẹ nuôi kể

từ ngày được nhận làm con nuôi, một số nước lại không quy định việc tự động có quốc tịch này mà chỉ miễn giảm cho một số điều kiện để được vào quốc tịch

- Được công nhận quốc tịch: Là hình thức có quốc tịch áp dụng đối với người có quan hệ gắn bó với một nước nào đó hoặc người đã từng có quốc tịch của một nước ngoài đó

3 Chứng minh mối quan hệ quốc tịch giữa nhà nước và cá nhân là bền vững về không gian và thời gian.

Một trong những đặc điểm của quốc tịch bao gồm tính ổn định và bền vững về không gian và thời gian Quốc tịch tại ra mối liên hệ có tính chất ổn định và bền vững giữa nhà nước và cá nhân mang quốc tịch

Trang 5

Về mặt không gian, mối liên hệ quốc tịch giữa nhà nước và cá nhân không bị giới hạn Điều này thể

hiện ở việc mối liên hệ quốc tịch không bị thay đổi, mất đi do sự thay đổi nơi cư trú Khi đã là công dân của một nhà nước, người đó phải chịu sự chi phối và tác động mọi mặt bởi chính quyền nhà nước, dù người đó ở bất kì nơi nào, trong nước hay ở nước ngoài Mặt khác, người đó luôn luôn được nhà nước bảo đảm cho hưởng các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ công dân đối với nhà nước Dù cư trú ở đâu, về mối liên hệ quốc tịch, cá nhân cũng được hưởng các quyền và gánh vác nghĩa vụ như nhau

Ví dụ: Đối với trẻ em mà có cha mẹ công dân Việt Nam thì dù ở trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam thì cũng được mang quốc tịch Việt Nam, được ghi nhận tại Điều 15, Luật Quốc tịch năm 2008 về Quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là công dân Việt Nam:

“Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam”.

Những cá nhân ra nước ngoài học tập, công tác, sinh sống còn được các cơ quan đại diện ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của quốc gia mà mình mang quốc tịch đặt trên lãnh thổ quốc gia sở tại bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp Điều này được ghi nhận tại Điểm b, Khoản 1, Điều 3, Công ước Vienna năm 1961 về Quan hệ ngoại giao có quy định:

“1 Chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao cụ thể gồm có:

b) Bảo vệ quyền lợi của Nước cử đi và của công dân Nước cử đi tại Nước tiếp nhận trong phạm vi cho phép của luật quốc tế;”

Và Điểm a, Điều 5, Công ước Vienna năm 1963 về Quan hệ lãnh sự:

“Các chức năng lãnh sự gồm có:

a) Bảo vệ tại Nước tiếp nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, pháp nhân và công dân Nước cử, trong phạm vi luật pháp quốc tế cho phép;”

Pháp luật Việt Nam cũng có quy định tại Khoản 3, Điều 17, Hiến pháp năm 2013:

“3 Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ”.

Và Điều 6, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 về Bảo hộ đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài:

“Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam

ở nước ngoài.

Các cơ quan nhà nước ở trong nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế để thực hiện sự bảo hộ đó”.

Về mặt thời gian, quốc tịch thể hiện sự gắn bó bền vững giữa cá nhân và nhà nước trong một thời gian

dài

Trang 6

- Thứ nhất, trong hầy hết các trường hợp, quốc tịch mà một cá nhân có được (một cách mặc nhiên thông qua sự sinh đẻ) sẽ gắn bó với cá nhân đó từ lúc sinh ra cho đến khi chết đi Như vậy, thông thường nếu không bị mất quốc tịch (thông qua các sự kiện pháp lý) thì chỉ có sự kiện cá nhân chết mới làm chấm dứt mối quan hệ quốc tịch

Theo pháp luật Việt Nam, thông thường, khi công dân thuộc vào một trong các mất quốc tịch Việt Nam quy định tại Điều 26, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 về Căn cứ mất quốc tịch Việt Nam thì cá nhân mới chấm dứt quan hệ quốc tịch giữa nhà nước và cá nhân

“1 Được thôi quốc tịch Việt Nam.

2 Bị tước quốc tịch Việt Nam.

3 Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 và Điều 35 của Luật này.

4 Theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

Đối với trường hợp có quốc tịch do gia nhập thì mối liên hệ giữa cá nhân nhận quốc tịch và quốc gia cho phép nhập quốc tịch cũng tồn tại suốt quá trình sống của người đó

- Thứ hai, mối liên hệ quốc tịch chỉ có thể thay đổi trong những trường hợp nhất định, với những điều kiện hết sức khắt khe Hầu hết các quốc gia đều quy định một cách cụ thể các trường hợp dẫn đến việc cá nhân bị mất quốc tịch Chỉ khi nào rơi vào trường hợp đã được quy định này thì cá nhân mới có thể bị mất quốc tịch Điều này được ghi nhận tại Khoản 1, Điều 2, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 về Quyền đối với quốc tịch:

“1 Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch Công dân Việt Nam không bị tước quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật này”.

Và Điều 31, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 về Căn cứ tước quốc tịch Việt Nam:

“1 Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thể bị tước quốc tịch Việt Nam, nếu có hành vi gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2 Người đã nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 19 của Luật này dù cư trú ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam cũng có thể bị tước quốc tịch Việt Nam, nếu có hành vi quy định tại khoản 1 Điều này”.

4 Nêu bản chất pháp lý của hoạt động bảo hộ công dân.

a) Khái niệm của bảo hộ công dân:

Trang 7

Trong luật quốc tế hiện đại, bảo hộ công dân theo nghĩa hẹp được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, phù hợp với pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia sở tại, nhằm bảo

vệ cho công dân nước mình ở nước ngoài khi các quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại ở nước ngoài đó Theo Điều 1, Dự thảo các điều luật về bảo hộ ngoại giao thông qua

bởi Uỷ ban pháp luật quốc tế tại khoá họp lần thứ 58 năm 2006: “bảo hộ ngoại giao bao gồm việc yêu cầu của một quốc gia, thông qua các hoạt động ngoại giao hoặc các biện pháp giải quyết hoà bình khác,

về việc thực hiện trách nhiệm pháp lý của một quốc gia khác đối với thiệt hại gây ra bởi hành vi sai trái quốc tế của quốc gia này đối với một thể nhân hoặc một pháp nhân là công dân của quốc gia yêu cầu nói trên nhằm thực hiện trách nhiệm pháp lý quốc tế” Như vậy, theo nghĩa này, khi cá nhân, tổ chức hoặc cơ

quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia sở tại có hành vi trái pháp luật quốc tế, gây phương hại đến quyền và lượi ích hợp pháp của công dân nước ngoài thì quốc gia mà người đó là công dân mới có thể tiến hành các biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật quốc gia sở tại và pháp luật quốc tế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân mình

Theo nghĩa rộng, bảo hộ công dân còn bao gồm các hoạt động giúp đỡ về mọi mặt mà nhà nước dành cho công dân mình đang ở nước ngoài, kể cả trong trường hợp không có hành vi xâm hại nào tới công dân của nước này Bảo hộ ngoại giao theo nghĩa rộng có thể hiểu là các hoạt động mang tính công vụ như cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính cho công dân; các hoạt động có tính chất trợ giúp như giúp đỡ về tài chính cho công dân khi họ gặp khó khăn, giúp đỡ công dân trong việc chuyển thông tin, bảo quản giấy tờ, tài sản,…; các hoạt động khác có tính chất phức tạp hơn như hỏi thăm lãnh sự khi công dân bị bắt, bị giam, có thể áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân nước mình trên cơ sở phù hợp quy định pháp luật pháp luật quốc gia sở tại hoặc luật pháp quốc tế

b) Điều kiện bảo hộ công dân :

Việc bảo hộ công dân chỉ được coi là phù hợp với luật quốc tế nếu những điều kiện để tiến hành bảo

hộ được đáp ứng đầy đủ

Về mặt pháp lý, dưới góc độ pháp luật quốc tế, hoạt động bảo hộ công dân được quy định trong Công

ước Vienna 1961 về quan hệ ngoại giao và Công ước Vienna 1963 về quan hệ lãnh sự Đây là hai văn bản quan trọng nhất trong lĩnh vực ngoại giao, lãnh sự Điều 3, Công ước Vienna 1961 về quan hệ ngoại giao

quy định: một trong những chức năng chính của cơ quan đại diện ngoại giao là “bảo vệ những quyền lợi của nước cử đại diện và những người mang quốc tịch nước đó tại nước nhận đại diện, trong phạm vi được luật quốc tế thừa nhận” Điều 5 Công ước Vienna 1963 cũng quy định chức năng của tương tự của

cơ quan lãnh sự

Về mặt thực tiễn, bảo hộ đối với công dân về mặt ngoại giao thường đặt ra trong trường hợp có sự vi

phạm từ phía quốc gia sở tại nơi công dân của quốc gia tiến hành bảo hộ đang cư trú hợp pháp (bảo hộ

Trang 8

ngoại giao theo nghĩa hẹp) Trong trường hợp này, hoạt động bảo hộ chủ yếu gắn liền với sự vi phạm pháp luật quốc tế và có mối liên hệ chặt chẽ với vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia Để thực hiện việc bảo hộ, cần phải đáp ứng một số điều kiện liên quan đến quốc tịch, sự tồn tại của hành vi vi phạm và việc áp dụng những biện pháp khắc phục hậu quả hợp pháp

* Điều kiện về quốc tịch:

Điều kiện về quốc tịch bao gồm các yếu tố sau:

- Người được bảo hộ ngoại giao phải là người mang quốc tịch của chính quốc gia tiến hành bảo hộ ngoại giao Một nguyên tắc tập quán tồn tại trong luật quốc tế đó là quốc gia chỉ có thể tiến hành bảo hộ ngoại giao đối với những người mang quốc tịch của quốc gia mình

- Việc xác định quốc tịch của cá nhân được bảo hộ ngoại giao được thực hiện trên cơ sở pháp luật của quốc gia tiến hành bảo hộ Tuy nhiên, quyền xác định quốc tịch phải phù hợp với luật quốc tế, cụ thể là phụ hợp với các công ước quốc tế, tập quán quốc tế và những nguyên tắc pháp luật được thừa nhận chung

- Quốc tịch đó vẫn đang còn tồn tại vào thời điểm tiến hành việc bảo hộ và người này cũng phải mang quốc tịch trong suốt thời gian tiến hành việc bảo hộ Nếu người đó mất quốc tịch thì việc bảo hộ cũng chấm dứt Đây là điều kiện cơ bản và quan trọng nhất để nhà nước bảo hộ cho công dân của mình ở nước ngoài Bởi lẽ, về nguyên tắc, nhà nước chỉ có thể bảo hộ cho những công dân mang quốc tịch nước ngoài Điều này thể hiện rõ mối quan liên hệ pháp lý cũng như quyền và nghĩa vụ giữa công dân với nhà nước

và ngược lại Nội dung này được hiểu là quốc gia có quyền bảo hộ ngoại giao đối với công dân mình nếu người này có quốc tịch đó vào thời điểm bị thiệt hại và quốc tịch còn hiệu lực cho đến thời điểm mà quốc gia đưa ra yêu cầu bảo hộ chính thức

Điều kiện về quốc tịch cũng đặt ra một số vấn đề pháp lý liên quan đến bảo hộ ngoại giao đối với người nhiều quốc tịch

Khi hai hay nhiều quốc gia cùng yêu cầu bảo hộ một người, hoặc khi một quốc gia bảo hộ một người

để chống lại quốc gia khác mà người này cũng là công dân, thì xảy ra vấn đề xung đột thẩm quyền Để giải quyết xung đột này, khi chưa có thoả thuận riêng biệt, các nước thường có xu hướng tôn trọng những tập quán quốc tế được thừa nhận rộng rãi trong lĩnh vực này Cụ thể, hai nguyên tắc, nguyên tắc bình đẳng và nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu thường được áp dụng trong thực tiễn quốc tế để giải quyết cho hai trường hợp: (i) người hai quốc tịch cư trú ở một trong hai nước mà người đó là công dân và (ii) người hai quốc tịch cư trú ở nước thứ ba (nước mà người này không có quốc tịch)

- Trường hợp người hai quốc tịch cư trú ở nước mà người này cũng mang quốc tịch

Trang 9

Trường hợp này quốc gia mà họ cư trú và cũng mang quốc tịch có quyền từ chối yêu cầu bảo hộ ngoại giao của nước mà người kia cũng có quốc tịch Phần lớn các học giả trên thế giới đều thống nhất là trong trường hợp này cần áp dụng nguyên tắc bình đẳng, có nghĩa là không một quốc gia nào có thể được đưa

ra yêu sách đối với quốc gia kia trong việc bảo hộ đối với người là công dân của cả hai nước Bất cứ sự can thiệp nào của quốc gia mà hai quốc tịch không cư trú sẽ bị coi là hành vi can thiệp vào công việc nội

bộ của nước khác

Thực tiễn chưa có quan điểm sự thống nhất của các nước về việc công nhận một tập quán quốc tế về vấn đề bảo hộ ngoại giao cho người nhiều quốc tịch Luật quốc tế hiện đại chưa có một quy phạm chung nào cấm một quốc gia bảo hộ ngoại giao cho công dân của mình chống lại một quốc gia khác mà người này cũng là công dân và đang cư trú ở đó Vì vậy, các quốc gia vẫn có thể yêu cầu bảo hộ ngoại giao trong những trường hợp như vậy Nhưng mặt khác, việc có cho phép quốc gia nói trên thực hiện quyền bảo hộ ngoại giao hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào điều ước quốc tế giữa hai nước (nếu có), hoặc pháp luật và ý chí của quốc gia mà người hai quốc tịch cũng là công dân và đang cư trú

- Trường hợp người hai quốc tịch cư trú ở nước thứ ba (nước mà người hai quốc tịch không phải là công dân)

Về nguyên tắc thì cả hai quốc gia mà người liên quan mang quốc tịch đều có quyền yêu cầu tiến hành bảo hộ ngoại giao đối với cá nhân này Đối với trường hợp này, cho đến nay nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu được áp dụng rộng rãi nhất Theo nguyên tắc này, nước thứ ba sẽ dành quyền bảo hộ ngoại giao đối với người hai quốc tịch cho nước mà người đó có quan hệ gắn bó nhất Nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu được ghi nhận tại Điều 5, Công ước La Haye 1930 Việc áp dụng nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu hay quốc tịch chi phối đã được áp dụng rộng rãi, đồng thời nguyên tắc này cũng được chấp nhận trong quá trình pháp điển hoá luật quốc tế về vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế

* Hành vi vi phạm luật quốc tế:

Bảo hộ ngoại giao theo nghĩa hẹp được hiểu là việc một quốc gia đòi bồi thường, khắc phục hoặc ngăn ngừa những thiệt hại gây ra cho công dân đó từ phía một nước khác Do vậy, một trong những điều kiện

để một quốc gia có thể tiến hành bảo hộ ngoại giao công dân mình chống lại một quốc gia khác là có hành

vi vi phạm từ phía quốc gia đó

Công dân cần được bảo hộ trong trường hợp này phải là những người có các quyền và lợi ích hợp pháp

bị xâm hại ở nước ngoài Đây chính là cơ sở thực tiễn để nhà nước tiến hành bảo hộ ngoại giao cho công dân Vấn đề bảo hộ ngoại giao gắn liền với vấn đề trách nhiệm quốc tế của quốc gia Nếu một quốc gia có những hành vi vi phạm luật quốc tế trong việc đối xử người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ quốc gia đó (vi phạm quyền con người tối thiểu) thì quốc gia đó bị coi là có trách nhiệm theo luật quốc tế về hành vi

đó đối với quốc gia mà người bị thiệt hại là công dân Do vậy, theo luật quốc tế thì hành vi vi phạm luật

Trang 10

quốc tế của một quốc gia trong việc đối xử với công dân một quốc gia khác cư trú trên lãnh thổ nước mình, tạo cơ sở cho việc quốc gia sau này có hành vi can thiệp bảo vệ quyền lợi của công dân mình và dẫn đến trách nhiệm quốc tế của quốc gia gây thiệt hại

Một điều đáng chú ý là mặc dù vấn đề bảo hộ ngoại giao thường đặt ra nhiều trong thực tiễn quốc tế nhưng hiện nay chưa có một điều ước quốc tế đa phương nào điều chỉnh chung về vấn đề này Vì thế, cho đến nay vấn đề bảo hộ ngoại giao và trách nhiệm của các quốc gia vẫn chỉ chủ yếu được điều chỉnh bởi luật tập quán quốc tế Hiện nay, những quyền cơ bản của con người đã được quy định tại Công ước quốc

tế về các quyền dân sự và chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm

1966, Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 và nhiều văn bản khác Việc một quốc gia vi phạm những quyền

cơ bản của con người quy định tại các văn bản đó khi đối xử với người nước ngoài có thể bị coi là hành vi

vi phạm luật quốc tế và theo luật quốc tế thì quốc gia đó có trách nhiệm quốc tế về hành vi này và tạo cơ

sở cho việc bảo hộ ngoại giao của quốc gia mà người bị thiệt hại là công dân

* Việc áp dụng hết các biện pháp khắc phục hợp pháp:

Quốc gia chỉ được tiến hành bảo hộ công dân khi công dân của mình đã sử dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không được quốc gia sở tại khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại hoặc chưa chấm dứt hành vi xâm hại trên thực tế

Cụ thể, việc áp dụng hết các biện pháp khắc phục được hiểu như sau:

- Thứ nhất, người nước ngoài phải sử dụng hết các biện pháp khắc phục tư pháp, hành chính sẵn có ở

quốc gia sở tại Trong trường hợp quốc gia sở tại quy định khả năng kháng cáo lên toà án cấp cao nhất thì người nước ngoài phải tiến hành thủ tục đó, hoặc có thể đệ trình kháng cáo lên một cơ quan có chức năng tương tự như vậy

- Thứ hai, các biện pháp khắc phục đã được áp dụng hết nhưng không đem lại kết quả, nghĩa là vẫn

không thể khôi phục lại các quyền lợi hợp pháp của người liên quan Quốc gia yêu cầu bảo hộ ngoại giao cần phải chứng minh rằng các biện pháp khắc phục đã được sử dụng hết

- Thứ ba, các biện pháp khắc này được hiểu là do công dân của quốc gia yêu cầu bảo hộ tiến hành trên

cơ sở những thiệt hại gây ra đối với chính họ, trong trường hợp này, thiệt hại được coi là “gián tiếp” đối với quốc gia yêu cầu bảo hộ

c) Thẩm quyền bảo hộ công dân:

Dựa vào cơ cấu tổ chức, chức năng và phạm vi hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo hộ công dân, có thể chia các cơ quan này ra hai loại như sau:

- Cơ quan có thẩm quyền bảo hộ công dân ở trong nước

Ngày đăng: 07/01/2022, 10:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w