Tuy ra đời trong điều kiện thiếu thốn, lại là một tôn giáo của người nghèo nhưng hoạt động y tế phước thiện - một hoạt động an sinh xã hội - của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam phát triể
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Nguyễn Xuân Hùng
HÀ NỘI, 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính mình Các tư liệu, số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn theo quy định
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2021
Học viên
Nguyễn Thị Thu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tuy là một luận văn cao học nhưng tôi sẽ không thể hoàn thành nếu không có sự hỗ trợ, giúp đỡ thật sự nhiệt tình của rất nhiều cơ quan, cá nhân trong suốt quá trình học và làm luận văn
Tôi thực sự cảm động và xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới các cơ quan,
cá nhân sau Trước tiên, xin cảm ơn:
- Ban Tôn giáo tỉnh Đồng Tháp
- Ban Tôn giáo tỉnh An Giang
- Ban Trị sự Trung ương Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
- Ban Trị sự Tỉnh hội Đồng Tháp
- Ban Trị sự Tỉnh hội An Giang
- Ông Nguyễn Văn Tuy, Chánh Hội trưởng BTS.TW; ông Nguyễn Thanh Sơn, Phó chánh Hội trưởng BTS.TW; ông Lê Đức Thắng, Tổng Thư
ký BTS.TW; ông Lê Thành Tâm, Phó Ban Trị sự tỉnh Đồng Tháp; ông Tuấn, Phó Ban Trị sự tỉnh An Giang
- Ông Nguyễn Thanh Kiệt, Phó ban Tôn giáo tỉnh Cần Thơ; ông Châu Văn Tài, Trưởng ban Tôn giáo tỉnh Đồng Tháp
- Lương y Đinh Công Bảy, Tổng thư ký Hiệp hội Dược liệu Tp Hồ Chí Minh
- Tiến sĩ Phan Công Chính, Phó Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Khoa học An ninh - Bộ Công an
Xin cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hùng đã tận tình hướng dẫn, chỉnh sửa từng trích dẫn trong luận văn
Xin cảm ơn Học viện KHXH phía Nam; Khoa Tôn giáo học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học và hoàn thành luận văn này
Xin được cảm ơn tất cả các Quý thầy cô, bạn bè, người thân, gia đình…
đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ, đốc thúc và động viên tôi!
Xin được bày tỏ lòng biết ơn chân tình nhất!
Nguyễn Thị Thu
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1.KHÁI QUÁT VỀ TỊNH ĐỘ CƯ SĨ PHẬT HỘI VIỆT NAM 11 1.1 Sự ra đời của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam 11
1.2 Cơ cấu tổ chức 18
1.3 Quá trình phát triển 24
Chương 2.THỰC TRẠNG MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG PHƯỚC THIỆNCỦA TỊNH ĐỘ CƯ SĨ PHẬT HỘI VIỆT NAM 32
2.1 Mô hình hoạt động an sinh xã hội của tôn giáo 32
2.2 Mô hình hoạt động phòng khám phước thiện của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam 36
2.3 Kết quả, hạn chế và nguyên nhân 42
Chương 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ 53
3.1 Những yếu tố tác động đến hệ thống khám chữa bệnh của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam 53
3.2 Khuyến nghị 60
KẾT LUẬN 65
PHỤ LỤC 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam là một tôn giáo nội sinh, ra đời năm
1934, trong hoàn cảnh lịch sử xã hội vùng sông nước miền Tây Nam bộ đầy bức bách, đời sống nhân dân cực khổ, cam go, bị thực dân Pháp đàn áp, xã hội suy thoái, người dân mất lòng tin Thêm vào đó là điều kiện địa lý tự nhiên hoang sơ, chướng khí, kênh rạch chằng chịt, thông thương giữa các vùng khó khăn, dân trí hạn chế Chính vì vậy, khi ra đời, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam là chỗ dựa tinh thần và vật chất của một bộ phận người nông dân nghèo ở miền Tây Nam bộ lúc bấy giờ Tuy ra đời trong điều kiện thiếu thốn, lại là một tôn giáo của người nghèo nhưng hoạt động y tế phước thiện - một hoạt động an sinh xã hội - của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam phát triển khá bài bản Từ khi ra đời cho đến nay, hoạt động y tế phước thiện đã khám, chữa bệnh cho rất nhiều người dân, không thể thống kê được chính xác con
số Đơn cử trong vòng 5 năm gần đây (2014 - 2019), số bệnh nhân đến khám
là 16.014.965 lượt người; hốt 74.304.143 thang thuốc, châm cứu cho 5.792.800 lượt người, trị đau mắt 226.583 lượt người [11, tr.1]
Với phương châm hành đạo "Tu học hành thiện, ích nước lợi dân" và luôn đi theo tôn chỉ "Phước huệ song tu", Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam đã thực hiện tốt các hoạt động tôn giáo, luôn hỗ trợ và đồng hành cùng với sự phát triển của các địa phương Đặc biệt, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam tham gia tích cực hoạt động an sinh xã hội, như: hoạt động từ thiện, y tế, khám chữa bệnh miễn phí, trồng và bào chế thuốc Nam trị bệnh để phát triển dược liệu Đông y; đền ơn đáp nghĩa; bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu… Ngay từ khi Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam ra đời, ông Nguyễn Văn Bồng, người lập ra tôn giáo này, đã chọn y đạo để hành đạo, thực hành tư
Trang 72
tưởng Từ bi bác ái của Đức Phật Nhằm tạo dựng nền tảng vững chắc cho tôn chỉ “Phước huệ song tu”, ông chủ trương thành lập phòng thuốc Nam phước thiện ở khắp mọi tỉnh thành để thực hành y đạo cứu giúp con người Ở mỗi cơ
sở, mỗi hội quán Tịnh độ đều có phòng thuốc Nam phước thiện, thậm chí phòng thuốc Nam được thành lập trước Tính đến năm 2020, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam có 210 phòng thuốc Nam phước thiện trên khắp các tỉnh, thành Tại mỗi phòng thuốc Nam đều có các lương y, y sĩ Đông y đảm trách Ngoài các phòng khám, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam còn thành lập được
70 vườn thuốc Nam; có hệ thống vận chuyển, điều động thu hoạch, trữ, phơi, sấy, bào chế… liên tỉnh thành Đặc biệt là Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam chủ động đào tạo nguồn nhân lực y tế phước thiện, từ sơ cấp Đông y đến lương y, kết hợp với Bộ Y tế tổ chức thi đúng theo chất lượng yêu cầu Nhưng khác với các lớp, các chương trình đào tạo thông thường, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam dạy giáo lý, đạo đức, y đức trước rồi mới dạy kiến thức chuyên môn sau Đây là một sự khác biệt, đặc thù riêng của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
Ngày nay, đời sống xã hội đã có nhiều tiến bộ và phát triển vượt bậc nhưng những vấn đề y tế, xã hội, cộng đồng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, đòi hỏi sự tham gia đóng góp theo hướng xã hội hóa của nhiều thành phần, cộng đồng, tôn giáo… khác nhau Bên cạnh đó, xu hướng tìm về thiên nhiên, sử dụng các thực phẩm, dược liệu có nguồn gốc tự nhiên đang là mối quan tâm của nhân loại… Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam là một trong những tổ chức tôn giáo đã và đang góp phần rất lớn trong 2 lĩnh vực này: khám, chữa bệnh, trồng và dùng dược liệu từ cây cỏ tự nhiên Hoạt động y tế phước thiện của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam ngày càng phát triển chuyên nghiệp, được người dân tin tưởng, sẽ là mô hình khám chữa bệnh, giúp giảm tải cho các bệnh viện, và tận dụng được nguồn dược liệu quý của Việt Nam trên tinh thần
Trang 83
“Nam dược trị Nam nhân”, góp phần duy trì, đẩy mạnh nguồn dược liệu y học
cổ truyền Sâu xa hơn, là góp phần gìn giữ, bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên, chống biến đổi khí hậu Đồng thời khơi gợi lòng từ bi, hỷ xả của con người, hướng con người tham gia các hoạt động hướng thiện, tích cực Có thể nói, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam đã thu hút, huy động được một nguồn lực lớn trong nhân dân, hoàn thành tốt vai trò của tôn giáo đối với xã hội
Hoạt động y tế, khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo rất phổ biến trong các tôn giáo Tuy nhiên, hoạt động một cách chuyên sâu, có hệ thống từ việc trồng thuốc, bào chế, bảo quản, khám chữa bệnh… một cách chủ đạo, xuyên suốt như hoạt động phước thiện của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam thì còn hiếm và chưa được tìm hiểu thấu đáo Chính vì vậy, tôi chọn đề tài
“Hoạt động phước thiện của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam (qua nghiên cứu tại 3 tỉnh: An Giang, Đồng Tháp và Thành phố Hồ Chí Minh)” nhằm đi
sâu nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng hoạt động, những thành tựu đạt được, những mặt còn hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, từ đó đề xuất một
số khuyến nghị về các giải pháp khắc phục, góp phần làm hài hòa công việc tôn giáo và xã hội, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động phước thiện của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam trong thời gian tới; góp thêm tài liệu giúp các cơ quan, ban ngành, các tổ chức xã hội quan tâm tìm hiểu, phát huy những đóng góp, những mặt tích cực của hoạt động phước thiện này đối với ngành y tế Việt Nam nói riêng, cộng đồng xã hội nói chung để có những chính sách hỗ trợ, giúp đỡ Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam phát triển thích ứng với địa phương theo đúng pháp luật
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ra đời năm 1934, nhưng đến năm 2007 Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam mới chính thức được công nhận là một tôn giáo Giáo lý của Tịnh độ Cư
sĩ Phật hội Việt Nam dựa trên nền tảng cốt lõi của giáo lý Phật giáo; diễn đạt
Trang 94
các tư tưởng Phật giáo một cách ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với đa số tín đồ
là người dân lao động nghèo ở Nam bộ Phương pháp tu tập, thực hành đạo đức hay giáo luật… của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam đều đơn giản, dễ hành đạo Mọi hoạt động tôn giáo, thực hành tôn giáo gói gọn trong tôn chỉ
“tu học hành thiện, ích nước lợi dân” Mới ra đời và tồn tại trong một thời gian ngắn nên các tài liệu, các công trình nghiên cứu về Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam thực sự chưa có nhiều
Tài liệu chuyên sâu, tổng quan nhất là “Báo cáo tổng quan Dự án khảo
sát Thực trạng Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam - Kiến nghị và giải pháp”
của Vụ Phật giáo, trực thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ (năm 2003) Dự án này
khảo sát thực trạng hoạt động của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam tại 20
tỉnh, thành từ Khánh Hòa đến Cà Mau Cụ thể là khảo sát quá trình hình thành phát triển; những ảnh hưởng tích cực và hạn chế, những đóng góp của Tịnh
độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam đối với xã hội, những vấn đề đặt ra về hoạt động của Tịnh độ Cư sĩ Kết quả nghiên cứu cho thấy Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam là một tôn giáo có nhiều gắn bó với người dân Việt Nam, đóng góp đáng
kể vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chủ trương lấy việc hành thiện làm mục đích tu học, chứ không phải làm phương tiện để phát triển đạo
Năm 2009, Luận văn “Công tác quản lý nhà nước đối với Tịnh độ Cư
sĩ Phật hội Việt Nam ở Cà Mau hiện nay” của Nguyễn Văn Khởi, lớp Đại học
Chính trị chuyên ngành Tôn giáo khóa 2, Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã góp
thêm tư liệu về Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam ở Cà Mau Đề tài đã đánh
giá được thực trạng, dự báo xu hướng và đưa ra một số giải pháp
Năm 2019, có thêm Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học -
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: “Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
Trang 105
ở thành phố Cần Thơ hiện nay” Tác giả Nguyễn Thanh Kiệt đã tổng quan,
khảo sát hoạt động, quá trình hình thành, phát triển của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam ở thành phố Cần Thơ qua từng giai đoạn, dự báo xu hướng trong tương lai, đưa ra những kiến nghị, giải pháp về mặt quản lý
Ba nghiên cứu chuyên sâu nói trên chủ yếu tìm hiểu tổng quan tình hình hoạt động chung, cả về mặt tổ chức, quản lý của Tịnh độ Cư sĩ, ở từng địa phương, chưa nghiên cứu, khảo sát sâu về hoạt động y tế phước thiện nói riêng
Ngoài 3 đề tài trên, đến nay chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào
về Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, chỉ rải rác có một số bài viết riêng lẻ về từng vấn đề cụ thể Tác giả xin liệt kê dưới đây:
Tạp chí Dân vận (2000), có bài “Cần nghiên cứu hướng dẫn, quản lý
những tôn giáo bản địa hiện có ở Việt Nam” của Chơn Lý, nội dung đề cập
đến Tịnh độ Cư sĩ là một “đạo mới”, là tôn giáo bản địa “cải cách” từ môn phái Tịnh Độ tông
Cũng trên Tạp chí Dân vận (2002), có bài “Góp phần tìm hiểu Tịnh độ
Cư sĩ Phật hội Việt Nam” Tác giả Hồ Thanh Tâm cho thấy Tịnh độ Cư sĩ
Phật hội Việt Nam khẳng định được chỗ đứng trong đời sống tâm linh của người dân Nam bộ, giữ vững tinh thần bác ái, từ bi, hỷ xả của Đức Phật
Minh Nga (2005), có bài “Đôi nét về hoạt động của Tịnh độ Cư sĩ Phật
hội Việt Nam trong thời gian qua” Bài viết sơ lược về hoạt động của hội
quán, hoạt động đào tạo y sinh, y sĩ, công việc trồng, sưu tầm thuốc Nam… của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
“Vài nét về Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam” của Bùi Hữu Dược và
Trần Thị Minh Nga (2006) khẳng định hoạt động của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam thực sự lợi đạo - ích đời, với những đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội
Trang 116
Hồng Điệp (2016), “Khái quát về Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam”,
đã khái quát quá trình hình thành, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và hoạt động của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, ảnh hưởng của giáo lý đến nhân cách, thái
độ, lòng nhiệt tình của lương y, y sĩ, tình nguyện viên Đặc biệt tác giả đã phản ánh các hoạt động hướng thiện giúp người nghèo, khám, chữa bệnh cứu người miễn phí
“Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam góp phần giữ gìn và phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam” của Nguyễn Hồng Điệp (2017) Bài viết
đề cập đến Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam tham gia tích cực hoạt động y tế phước thiện, đã giúp tín đồ, hội viên có phương tiện để tu hành “lập công bồi đức, tác phước thiện duyên”, biết thương yêu đoàn kết, tương thân tương trợ, nhất là những khi bị đau bệnh bất thường, biết dùng những vị thuốc Nam thông dụng để chữa bệnh
Thảo Nguyên (2019), “Hưng Minh Tự của Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật
hội Việt Nam - Một địa chỉ tin cậy của người bệnh”, viết về hoạt động khám
chữa bệnh miễn phí của Tổ đình Hưng Minh Tự Đặc biệt là phòng châm cứu hoạt động hiệu quả, các cư sĩ, y sĩ chuẩn mực đạo đức được người dân tin tưởng
“Hoạt động phước thiện của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam” của Lê
Thị Vân Anh (2019) khái quát hoạt động y tế phước thiện trung ương và một vài địa phương Qua các số liệu thống kê cho thấy tính hiệu quả của Ban Y tế phước thiện
Các công trình nói trên về Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam là nguồn tư liệu rất quí giá để kế thừa và phát triển trong quá trình thực hiện luận văn này
Ngoài những công trình trực tiếp trên, Luận văn có tham khảo, kế thừa một số công trình tổng quan có đề cập đến hoạt động y tế của tôn giáo
như:“Báo cáo tổng quan Dự án khoa học, Khảo sát thực trạng tôn giáo tham
Trang 12Đảng và Nhà nước Và công trình của Nguyễn Văn Sỹ, “Hoạt động an sinh xã
hội của một số tôn giáo nội sinh ở Tây Nam Bộ”, tác giả đã nghiên cứu hoạt
động an sinh xã hội các tôn giáo nội sinh ở Nam bộ khá chi tiết, cụ thể
Bên cạnh đó là những nguồn thông tin, tư liệu từ các trang tin điện tử của
Ban Tôn giáo Chính phủ, website của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam như:
“Khái quát về Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam”, “Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam triển khai học tập Hiến chương, nội quy và công tác hành chính cho chức sắc, chức việc” của Hồng Điệp - Chuyên viên Vụ Các tôn
giáo khác “Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam tỉnh Đồng Tháp với công tác Y
tế từ thiện”, “Ban Trị sự Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam tỉnh Đồng Tháp thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân” của Trần Thắng,
“Hiến chương của Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam”, “Lược sử truyền giáo của Giáo hội Tịnh Độ” của cư sĩ Như Pháp, “Phát huy vai trò của các tôn giáo tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu”
3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ hoạt động y tế phước thiện, một trong những hoạt động an sinh
xã hội của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, tìm hiểu cách thức, mô hình và tính hiệu quả của hoạt động này Tìm hiểu cơ cấu tổ chức, giáo hội, giáo lý, tôn chỉ hành đạo, quá trình hoạt động… của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
Từ đó đề xuất chủ trương, giải pháp nhằm phát huy những đóng góp, những mặt tích cực của hoạt động phước thiện này đối với ngành y tế Việt Nam nói
Trang 138
riêng, cộng đồng xã hội nói chung; đồng thời đề xuất cách thức khắc phục các mặt còn yếu và hạn chế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích đã xác định, Luận văn có nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu sự ra đời, quá trình phát triển của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
+ Nghiên cứu tôn chỉ “Phước huệ song tu”, “tu phước” dùng y đạo để chữa bệnh cứu giúp cho con người
+ Tìm hiểu thực trạng hoạt động phước thiện của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam cùng các vấn đề đặt ra hiện nay
+ Dự báo tình hình hoạt động phước thiện của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam trong thời gian tới; đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động phước thiện của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian, nghiên cứu trong khoảng thời gian 1 kỳ đại hội, 5 năm, từ
2014 - 2019
Về không gian, nghiên cứu ở 3 địa phương: thành phố Hồ Chí Minh,
An Giang, Đồng Tháp Khảo sát cụ thể ở 4 nơi: Hưng Minh Tự - 45 Lý Chiêu Hoàng, Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh (Ban Trị sự Giáo hội Trung ương nằm ở đây nên chúng tôi khảo sát chính ở địa điểm này) Tân Hưng Long Tự
(thành hội), 28 Nguyễn Tri Phương, Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh; Hưng
Trung Tự - 81 Phan Bội Châu, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp; Hưng Phước Tự - 528/27A Quảng Cơ Thành, phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
Trang 149
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành của Tôn giáo học để nghiên cứu các vấn đề tôn giáo như: niềm tin tôn giáo, thực hành tôn giáo, tôn giáo với các vấn đề xã hội… có liên quan đến hoạt động y tế phước thiện; cụ thể là khảo sát thực tế, phỏng vấn sâu, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh… để đánh giá, nhận định một cách sát hợp với thực tế…
Ngoài ra, luận văn còn vận dụng nhiều phương pháp của các khoa học liên ngành khác như sử học, văn hóa học, xã hội học… Cụ thể là phương pháp
sử học được vận dụng để nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của Tịnh
độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam đặt trong bối cảnh lịch sử đất nước và trong mối tương quan với các tôn giáo khác Phương pháp văn hóa học nhằm làm rõ các giá trị văn hóa xã hội của tôn giáo này Phương pháp xã hội học được thực hiện thông qua việc phỏng vấn xã hội học và thống kê xã hội học đối với hoạt động phước thiện của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm về hoạt động y tế phước thiện - một hoạt động an sinh xã hội của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam; làm rõ thêm một vài khía cạnh liên quan đến quan niệm của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam về giáo lý, tôn chỉ hành đạo “phướcc huệ song tu”, tấm lòng từ bi, hướng thiện để từ đó tích cực tham gia hoạt động an sinh xã hội
Góp phần làm rõ tình hình hoạt động phước thiện của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Đồng Tháp nói riêng, để rút ra các bài học kinh nghiệm có thể vận dụng cho các địa phương khác, các tôn giáo khác
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu giảng dạy Tôn giáo học tại cơ sở đào tạo; dùng làm tài liệu tham khảo trong
Trang 1510
nghiên cứu để điều chỉnh, bổ sung cũng như hoạch định về chính sách an sinh
xã hội; dùng trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo
Luận văn nêu ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm phát huy thành quả đạt được và nâng cao hiệu quả hoạt động y tế phước thiện, hoạt động an sinh xã hội, khắc phục những bất cập, vướng mắc của chính sách y tế, an sinh
xã hội; giúp cho các cơ quan làm công tác tôn giáo, công tác quản lý nhà nước
về tôn giáo có những chính sách hỗ trợ, giúp đỡ Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam phát triển thích ứng với địa phương theo đúng pháp luật
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn gồm 3 chương, 7 tiết
Chương 1: Khái quát về Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
Chương 2: Thực trạng mô hình hoạt động phước thiện của Tịnh độ
Cư sĩ Phật hội Việt Nam
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và khuyến nghị
Trang 1611
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TỊNH ĐỘ CƯ SĨ PHẬT HỘI VIỆT NAM
1.1 Sự ra đời của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
1.1.1 Khái quát về vùng đất Nam Bộ
Địa lý, tự nhiên và cư dân
Nam bộ là một trong 3 vùng lãnh thổ của Việt Nam (Nam bộ, Trung
bộ, Bắc bộ) và có 2 tiểu vùng: Tiểu vùng Đông Nam bộ gồm 5 tỉnh, 1 thành phố: Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh Tiểu vùng Tây Nam bộ gồm có 12 tỉnh và 1 thành phố: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ
Điều kiện tự nhiên Nam bộ có thể khái quát như sau: Về địa hình, Nam
bộ là một vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng, có diện tích 6.130.000ha
và độ phì nhiêu cao nhất trong các đồng bằng của Việt Nam Toàn vùng có đến 4.000 kinh rạch, dài tổng cộng 5.700km Đồi núi trong vùng không nhiều, tập trung ở miền Đông Ở miền Tây có hai dãy núi cao là dãy Thất Sơn (An Giang), dãy Hàm Ninh (Kiên Giang) Hai hệ thống sông lớn nhất của Nam bộ
là sông Đồng Nai và sông Cửu Long Hệ thống sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành đồng bằng sông Cửu Long Với lượng nước trung bình hằng năm vào khoảng 4.000 tỷ mét khối, vận chuyển khoảng 100 triệu tấn phù sa, sông Cửu Long đã tạo ra những vạt đất phù sa phì nhiêu, các giồng cát ven biển và đất phèn [29]
Tuy nhiên, đặc điểm tự nhiên này mặt khác lại tạo cho Nam bộ một hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt cộng thêm thiên nhiên chướng khí, hoang vu, nhiều hiện tượng tự nhiên không thể giải thích được Người dân ở
Trang 1712
đây luôn luôn phải chống chọi với thiên nhiên, làm cho đời sống vô cùng cực khổ Hơn nữa, dân cư thưa thớt, việc giao lưu, thông thương chủ yếu phải dựa vào phương tiện đường thủy, đã hạn chế rất nhiều Người dân chủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp và đánh bắt thủy hải sản… Tất cả tạo nên con người Nam bộ với tính cách thuần khiết, hồn nhiên, tương thân tương ái
Và khi gặp điều hay lẽ phải, gặp giáo lý từ bi, bác ái của bất cứ một tín ngưỡng, tôn giáo nào, họ cũng chấp nhận dễ dàng Đây là một trong những lý
do giải thích vì sao Nam bộ có nhiều tôn giáo nội sinh Đời sống tôn giáo đã trở thành chỗ dựa vững chắc về mặt tinh thần để giúp các tộc người cư trú trên vùng đất này có thêm sức mạnh đối diện với thiên nhiên hoang hóa và cuộc sống còn nhiều khó khăn, bất trắc
Tôn giáo, tín ngưỡng
Từ khi nhà nước Phù Nam được thiết lập vào khoảng đầu Công nguyên cho đến nay, trong quá trình hình thành và phát triển, vùng đất Nam bộ nói chung, Tây Nam bộ nói riêng, luôn là vùng đất cư trú của nhiều dân tộc như Kinh, Hoa, Khmer, Chăm… Yếu tố này là nguyên nhân lý giải tại sao đời sống văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của các cư dân nơi đây rất đa dạng, phong phú “Người Khmer Tây Nam Bộ theo Phật giáo Nam tông; người Việt theo Phật giáo Bắc tông, chủ yếu là phái Thiền và Nho giáo, đã được du nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam từ lâu đời; người Hoa đến khai phá vùng đất mới này, mang trong mình một tôn giáo mới, đó là đạo Minh sư, sau này đã phát triển thành Ngũ chi Minh đạo với những tục cầu cơ, cầu hồn; một bộ phận người Chăm hồi hương từ Campuchia về sinh sống tại Tây Nam bộ, mang theo tín ngưỡng của đạo Islam Năm 1858, thực dân Pháp chính thức xâm lược nước ta… Nam bộ đã chính thức tiếp xúc với nền văn hóa phương Tây, với những tập tục Thông linh học của phương Tây và đạo Công giáo là một tôn giáo đã du nhập và phát triển ở nước ta từ lâu đời và đầu thế kỷ XX, đạo
Trang 1813
Tin Lành chính thức có mặt tại Việt Nam…” [68, tr.488 - 489] Trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa, những phong tục thờ, cúng, nghi lễ… của mỗi dân tộc giao thoa với nhau, khiến cho tôn giáo, tín ngưỡng vùng đất này
đa sắc diện hơn
Nam bộ có nét đặc thù riêng về văn hóa, điều kiện tự nhiên; cư dân chủ yếu là nông dân, đời sống khó khăn, dân trí còn hạn chế Cả con người, văn hóa, thiên nhiên cho đến tín ngưỡng, tôn giáo đều hòa đồng, khoan dung, dung hợp Đầu thế kỷ XX, nhiều tôn giáo nội sinh được hình thành ở Nam bộ, đặc biệt ở vùng Tây Nam bộ - nơi có ruộng đồng phì nhiêu, thiên nhiên sông nước hòa trộn cùng tín ngưỡng bản địa phong phú, đa dạng Các tôn giáo này khá đa dạng, đều có đặc điểm chung là tính phóng khoáng và kết hợp giáo lý
của nhiều tôn giáo lớn với đặc tính văn hóa của vùng đất Nam bộ
Các tôn giáo nội sinh
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tăng cường vơ vét, bóc lột người dân thậm tệ, đời sống nhân dân bị áp bức vô cùng khổ cực, nạn nghèo đói, thất học, bệnh tật luôn đeo bám họ Tầng lớp phong kiến, cường hào ác bá hoành hành, chà đạp, ức hiếp những người dân Ở khu vực thành thị, tệ nạn xã hội, á phiện, sòng bạc, nhà thổ… ngày càng nhiều và vùng Tây Nam bộ cũng tương tự Vì vậy cuộc sống người dân càng cơ cực, bế tắc, họ không tìm ra lối thoát Bị khủng hoảng niềm tin, họ tìm đến tôn giáo để làm chỗ dựa tinh thần Bối cảnh đó là điều kiện thuận lợi để các tôn giáo mới ra đời Nam bộ đã sản sinh ra nhiều tôn giáo bản địa, như: Bửu Sơn Kỳ Hương,
Tứ Ân Hiếu Nghĩa (hay còn gọi là Đạo Lành), Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo,
Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam…
Vào những năm 30 đầu thế kỷ XX, phong trào chấn hưng đạo Phật ở Việt Nam nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của nhiều giới Phật tử Từ Sài Gòn, Gia Định, phong trào chấn hưng lan rộng tới các vùng nông thôn, vùng
Trang 1914
đồng bằng sông Cửu Long Một số tôn giáo được hình thành dưới hình thức mới, vừa hoạt động tôn giáo, vừa hoạt động giúp đỡ dân nghèo Một số tôn giáo phát triển trên nền tảng giáo lý Phật giáo, nhưng được thu gọn, dễ hiểu
để phù hợp với sinh hoạt và trình độ của tầng lớp nông dân Nam bộ lúc bấy giờ Điển hình của một trong những tôn giáo mới trong giai đoạn này là Tịnh
độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
1.1.2 Người sáng lập
Hình 1.1: Đức tông sư Minh Trí
Nguồn: Trang web Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
Người sáng lập ra Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam là Đức tông sư Minh Trí Tên tục của Đức tông sư là Nguyễn Văn Bồng Ông sinh năm 1886 (Bính Tuất) tại xã Tân Mỹ, tổng (huyện) An Thạnh Thượng, tỉnh Sa Đéc (nay
là tỉnh Đồng Tháp) Ông là con trai út trong gia đình có 6 anh em Cha là ông Nguyễn Văn Bình, mẹ là bà Nguyễn Thị An Lúc bấy giờ gia đình ông thuộc
Trang 2015
hàng trí giả, chuyên về nghề nông Khi ông 10 tuổi, cha mẹ lần lượt qua đời,
từ đó ông là trẻ mồ côi và được người chị nuôi dưỡng Ông học chữ Nho, hay được đi chùa Và do thuở nhỏ ông không ăn được thịt cá, cơ thể ốm yếu nên ông thường tìm hiểu, nghiên cứu các bài thuốc chữa bệnh Với nền tảng sẵn
có cộng với tư chất thông minh, ông đã mau chóng tinh thông nghề y dược cổ truyền Việt Nam và ngộ được giáo lý Phật giáo
Năm 19 tuổi (1905), nghe lời chị, ông lập gia thất Nhưng ông vẫn luôn dành toàn tâm, toàn ý cho việc học hành, tìm hiểu chữ Nho và nghề thuốc Đông y Ông nổi tiếng khắp vùng Năm 1911, ông 25 tuổi, thấy cuộc sống của người nông dân miền Nam lầm than, đói không có ăn, ốm không có thuốc, ông đã dùng ghe lườn chở khoai lang, chiếu… đến các tỉnh Tiền Giang, Hậu Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ, Long Xuyên, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Nai, Sài Gòn… bán cho dân làng dọc hai bờ sông Ông đã đem đạo lý Phật giáo ra khuyên mọi người làm lành, lánh dữ; dùng thuốc Nam chữa bệnh không lấy tiền Người dân Nam bộ rất cảm mến và ủng hộ ông Những việc làm của ông là tiền đề cho việc thành lập Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam sau này
Năm 1919, ông thu xếp việc gia đình, vợ con, quyết định chính thức theo cuộc đời tu sĩ, lấy pháp hiệu là Trung Trí Ông đi khắp lục tỉnh Nam kỳ:
Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ, Long Xuyên, An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Tiền Giang, Bến Tre, Tân An, Chợ Lớn, Đồng Nai, Bà Rịa… Từ thành thị đến nông thôn, từ vùng xa xôi, hẻo lánh đến nơi cư dân đông đúc, ông đi khắp nơi, dùng y đạo trị bệnh giúp người, vận động những người có điều kiện khá giả, uy tín cùng tham gia làm phước thiện với mình
Để phát triển tư tưởng Phật giáo, ông thu nhận những đệ tử có phẩm chất đạo đức, khả năng y thuật giỏi như ông bà Nhan Văn Đống, Đinh Văn Ninh, Nguyễn Văn Nghi, Cao Thiện Đạo, Dương Cẩm Tú, Quách Kim, Hà
Trang 2116
Trị Trượng… Ông dạy mọi người thực hành hạnh Bồ tát, không tham tiền tài, địa vị, không lợi dụng nghề nghiệp để kiếm lợi cho mình Với lòng nhân ái và hạnh từ bi theo tinh thần Phật giáo, ông chỉ cho người đời thấy cuộc đời là giả tạm, là biến đổi vô thường, chỉ có tấm lòng và đạo đức là tồn tại mãi mãi
Từ năm 1920 trở đi, ông thường đem giáo lý Lục phương khuyên mọi người ăn chay giữ giới, lạy sáu hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, phương trên, phương dưới và trì niệm Phật A Di Đà để cầu thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, được về cõi Phật Trong thời kỳ này, ông được sự trợ giúp của người cô tên là Hồ Thị Mỹ, pháp danh Diệu Thiện ở xã Tân Mỹ, tổng An Thạnh Thượng (nay là Đồng Tháp), sau này bà được tín đồ suy tôn là Đức Bà Cô Năm Bà đã cùng ông mượn nghề bán khoai đi khắp chốn, tùy căn cơ phương tiện dạy mọi người hướng thiện, giúp trị bệnh cứu người, không phân biệt tôn giáo, đẳng cấp, sang hèn Khi tín đồ ngày một đông, nhiều người tìm đến ông nhưng không có nơi ăn nghỉ, Bà Cô Năm đã hiến cho ông một căn nhà làm nơi ăn nghỉ cho tín đồ Trên con đường lập giáo, Bà Cô Năm là người đầu tiên trợ duyên đắc lực cho ông Bà một lòng tận tụy cho việc hành đạo Tín đồ ngày càng đông, Bà Cô Năm tiếp tục cùng các hội viên thiện tín đã khẩn được
10 ngàn công đất và đã dựng lên ngôi chùa đầu tiên - Hưng Trung Tự - ở ấp
Trang 22Theo các sách vở, tư liệu của Ban Trị sự Trung ương, chính xác là theo
ông Huỳnh Văn Dơn, Hội trưởng Trung ương (soạn năm 1955): Tịnh Độ là
bắt nguồn từ 3 tiếng Tịnh Độ Tông, một trong 12 tông phái của Phật giáo Người tu theo Tịnh Độ dùng pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh Tây phương
Cực lạc, hay vãng sanh Tịnh Độ Tịnh là trong sạch; Độ là quốc độ, tức là một
cõi hay một nước trong sạch (thanh tịnh) Cõi Tịnh Độ toàn vui, không có điều khổ não như cõi Ta Bà, nên cũng gọi là Cực lạc Cư sĩ: Là người tại gia
tu hành Phật hội: Là một hội tu theo Phật do các cư sĩ lập ra Tịnh độ Cư sĩ
Phật hội Việt Nam là một hội Phật của người Việt Nam ở tại gia tu theo pháp môn Tịnh Độ [4, tr.12]
Bên cạnh đó, tên gọi của các hội quán cũng rất đặc biệt: bảng hiệu của các hội quán được thống nhất lấy chữ “Hưng” làm chữ đầu cho tên gọi, chữ
“Tự” (có nghĩa là chùa) làm chữ cuối cùng của tên gọi, chữ giữa có thể lấy tên địa danh hoặc tùy theo những di tích, những truyền thuyết hoặc ước mơ như: Phước, Lộc, Đức, Quang… của mỗi nơi đặt hội quán, chi hội, hoặc để nhớ công ơn của một người có công với hội, như Hội quán Hưng Minh Tự (thành phố Hồ Chí Minh) lấy tên “Minh” là tên của Đức tông sư Minh Trí, người khai sáng để đặt tên cho hội quán
Trang 23Lễ bái lục phương: Đây là quyển kinh xuyên suốt toàn bộ giáo lý của người tu Nội dung kinh hướng về người cư sĩ tại gia, sống tích cực nhập thế giữa đời thường mà không đánh mất tâm tính bản nhiên thanh tịnh
Phu thê ngôn luận: Dùng hình thức đối đáp giữa hai vợ chồng nhằm đạt tới sự diễn dịch “ý nghĩa ở ngoài lời nói” Quyển luận này nhằm khuyến khích người tu hành từ tư tưởng đến hành động đều phải quả quyết, không thoái chuyển
Đạo đức: Đây là quyển kinh ghi lại lời thuyết giảng ý nghĩa và phương pháp thực hành đạo đức của Đức tông sư Minh Trí, nội dung chủ trương đạo đức là cái then chốt của văn minh cũng như của khoa học
Trang 2419
Giới luật: Thuyết minh quan điểm của người tu Phật, nhất là người
cư sĩ tại gia, nêu rõ tính chất nghiêm minh, cẩn trọng mà người cư sĩ tại gia nếu phát tâm thọ trì Bồ tát giới cũng có thể đạt được những thành tựu như người xuất gia
Phật học vấn đáp: Là bộ Phật học phổ thông bao quát nhiều trình độ, trong đó thuyết minh rõ về Giáo hội Tăng già, vấn đề tam qui, chân lý tu học, xác định giá trị cũng như vị trí vững chắc của người cư sĩ tại gia trong Phật đạo
Phương pháp kiến tánh: Thể hiện nội dung nâng cao trình độ tu học, trình bày từng giai đoạn của quá trình tu học để đạt được Kiến Tánh Người Kiến Tánh thì sẽ xa lìa được thiên kiến để thực hành trung đạo Ví như một nhân tố tích cực, có thể làm cho người đạt tới những lợi ích hữu dụng hơn
Tôn chỉ Phước huệ song tu và phương pháp tu hành
Năm 1950, Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam chính thức lấy tôn chỉ hành đạo là “Phước huệ song tu”, lấy pháp môn niệm Phật làm căn bản Để giữ gìn chánh pháp và hành trì, tu tập, Đức tông sư Minh Trí buộc các tín đồ luôn luôn niệm Phật ở bất kỳ đâu, bất kỳ thời khắc nào: đi, đứng, nằm, ngồi… cũng niệm Phật Để tác phước thiện duyên và trau dồi trí bát nhã,
ông vạch ra con đường “Phước huệ song tu”
Tu phước
Phước là cái kết quả của những điều lành, tức là những việc từ thiện giúp đỡ chúng sinh thoát khỏi khổ đau và luôn an vui Tu phước là làm những việc có lợi ích cho nhiều người, luôn làm việc lành, việc thiện, đóng góp công sức, tài vật góp phần xây dựng, phát triển ngành y dược dân tộc (phòng thuốc Nam phước thiện) để chữa bệnh miễn phí giúp người Làm những việc như vậy, chúng ta sẽ có được nhiều phước đức Đây được xem là phương tiện để tạo cơ hội cho người nghèo khó có cơ duyên đến với Phật pháp
Trang 2520
Tu huệ
Huệ là trí huệ, là trí hiểu biết sáng suốt, biết lý luận, biết quan sát, biết được sự thật của vạn vật Tu huệ là để giác ngộ trong việc tu phước, phước và huệ nương nhau, thúc đẩy lẫn nhau phát triển trong con người, từ đó phát triển rộng ra xã hội, nhằm xây dựng một xã hội đoàn kết, thân ái và giúp nhau trong mọi hoàn cảnh
Trong Hiến chương Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Chương
1, Điều 1, ban hành năm 2014, ghi rõ như sau: “Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam tu theo pháp môn niệm Phật và hành theo tôn chỉ “Phước huệ song tu”, hoằng dương Phật pháp, phát triển, tu bổ các chi hội trực thuộc, lấy
y đạo làm phương tiện thành lập các phòng thuốc nam phước thiện hốt thuốc chữa bệnh cho đồng bào Phương châm hành đạo: “Tu học, Hành thiện, Ích nước, Lợi dân”
Hình 1.2: Giáo huấn của Đức tông sư Minh Trí
Nguồn: Trang web Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
Trang 2621
1.2.3 Tổ chức giáo hội
Điều kiện gia nhập
Tín đồ của Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam không phân biệt
nam nữ, thành phần, dân tộc, theo đạo có làm lễ qui y, tuân hành giáo lý, giáo luật và tuân thủ pháp luật của nhà nước, giữ gìn sự trong sáng của giáo lý chân truyền, đoàn kết tôn giáo, đạo đời và thừa nhận bản Hiến chương của Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
Tất cả các tín đồ xuất phát từ lòng mến đạo, tùy năng lực, được tham gia vào hoạt động Phật sự, làm công tác từ thiện xã hội hợp pháp và đóng góp
ý kiến, công, của cho công việc chung của đạo Những tín đồ có chân tu, có
tâm đạo, là công dân Việt Nam từ 30 tuổi trở lên, tùy trình độ, năng lực, có đủ điều kiện, tiêu chuẩn qui định của Giáo hội, được ứng cử hoặc bổ nhiệm vào
tổ chức Ban Trị sự các cấp và các ban khác
Giáo luật
Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam (còn gọi là điều lệ, nội quy)
có những quy định trong việc phân công, phân nhiệm cụ thể cho các hàng chức sắc, chức việc, hội viên, tín đồ
Giáo lễ
Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam hành lễ rất đơn giản nhưng thành
kính Một năm có hai ngày lễ lớn tính theo âm lịch: Ngày 8-4: Lễ Phật đản và Đại hội thường niên ngành Y tế Phước thiện; ngày 23-8: Lễ kỷ niệm ngày viên tịch của Đức tông sư Minh Trí và Đại hội thường niên ngành Đạo đức
Đạo kỳ
Đạo kỳ màu vàng, hình tròn màu trắng ở trung tâm có viết chữ Nhất
(chữ Hán cổ) màu đỏ, đường kính bằng 2/3 chiều ngang, đuôi lá đạo kỳ hình chữ Bát, bằng 1/4 chiều dọc Chữ “Nhất” có nghĩa là chung nhất, tất cả đều
Trang 2722
qui về Một, đối với huynh đệ coi như anh em một nhà, nên Nhất tâm, Nhất trí đồng lao cộng tác chung chăm lo cho giáo hội, không phân chia, một lòng một dạ, tương thân tương ái, khuyến khích lẫn nhau lo tu hành
Hệ thống chức sắc
Các cư sĩ là hội viên làm công tác lãnh đạo các cấp gọi là chức sắc, chức việc Họ là những người giữ các vị trí trong các ban, được bầu cử theo nhiệm kỳ Có sáu sắc hội viên: Hội viên sáng lập, hội viên danh dự, hội viên tán trợ, hội viên phước thiện, hội viên hành sự và hội viên huấn đạo Tín đồ là những người tin theo đạo và thực hành qui y Các chức sắc, chức việc, hội viên, tín đồ phải thực hiện theo điều lệ, nội qui của giáo hội
Chức sắc của Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam là những người đã qua các khóa học giáo lý hoặc y lý, thi và đỗ tốt nghiệp, hội đủ những tiêu chuẩn theo qui định của Giáo hội, được tấn phong và bổ nhiệm Ngoài ra chức sắc phải đáp ứng được các điều kiện của tín đồ nêu trên Hệ thống chức sắc của giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam có các chức danh: Một vị Tông sư; Môn Tu Huệ gồm các Huấn sư, Giảng sư, Phó giảng
sư, Giảng viên, Thuyết trình viên; Môn Tu Phước gồm các Huấn sư Y khoa, Giảng sư Y khoa, Phó giảng sư Y khoa, Huấn viên Y khoa, Y sĩ
Đứng đầu Ban Trị sự Trung ương là Chánh Hội trưởng, lãnh đạo chung Đứng đầu các Ban Trị sự tỉnh hội là Hội trưởng Đứng đầu các ban cấp quận, huyện hội gọi là Trưởng ban Y tế Phước thiện Mỗi ban gồm có 12 vị với những chức danh và nhiệm vụ cụ thể, được tín đồ, hội viên bầu trực tiếp, nhiệm kỳ một năm
Trang 2823
Biểu 1: Sơ đồ hệ thống tổ chức Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
Nguồn: “Báo cáo tổng quan Dự án khảo sát Thực trạng Tịnh độ Cư sĩ Phật
hội Việt Nam - Kiến nghị và giải pháp”
Trang 2924
Sơ đồ trên cho thấy, ở cấp trung ương và cấp tỉnh có 2 ban chính: 1 Ban Chấp hành Đạo đức: Phụ trách công tác đạo đức, đào tạo và giảng dạy giáo lý Ban này thực hiện môn tu huệ 2 Ban Y tế Phước thiện: Phụ trách các phòng thuốc Nam y dược - Đông y - Tây y, đào tạo và giảng dạy y lý Ban này thực hiện môn tu phước Hai ban hoạt động song song, bổ trợ cho nhau
Sơ đồ tổ chức trên cho thấy rõ Ban Y tế Phước thiện chịu sự quản lý dọc từ trung ương xuống Trong Hiến chương, ở “Chương 4: Tổ chức, chức năng và nhiệm vụ” cũng ghi rất rõ chức năng, nhiệm vụ của từng ban
Sau khi được Nhà nước công nhận chính thức vào năm 2007, Tịnh độ
Cư sĩ Phật hội Việt Nam như đã chuyển mình Đây là thời điểm để phát huy
sự nhất tâm, nhất trí, đồng lao cộng tác của cả giáo hội Giáo hội đã kiện toàn lại hệ thống tổ chức gồm ba cấp hành chính theo hệ thống ngành dọc, củng cố nhân sự các cấp Ban Trị sự đã tổ chức tu chỉnh lại toàn bộ, từ cách thức tổ chức, cho tới các văn bản, nội quy như Hiến chương, Nội quy Ban Trị sự, Nội quy Ban Chấp hành Đạo đức, Nội quy Ban y tế Phước thiện, Quy điều Ban
Hộ đạo, Quy chế bầu cử, tuyên dương, khen thưởng, kỷ luật, phong cấp chức sắc… Hoạt động đi vào quy củ, thống nhất, chặt chẽ và nề nếp hơn Số lượng hội quán, tín đồ, hội viên, y sĩ, y sinh tăng hơn Hoạt động thiết thực vì con người của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam có ưu điểm hơn so với các tôn giáo khác đã được truyền bá và duy trì hoạt động khá rộng, trải dài từ Nha Trang - Khánh Hòa đến Cà Mau
1.3 Quá trình phát triển
1.3.1 Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam từ khi thành lập đến năm 1975
Khoảng năm 1920, do ảnh hưởng của làn sóng chấn hưng Phật giáo thế giới, nhất là Trung Quốc, phong trào chấn hưng Phật giáo bắt đầu hình thành tại Việt Nam Cho đến năm 1931, Hội Phật học đầu tiên - Nam kỳ Nghiên cứu Phật học - được thành lập Sau đó nhiều hội thành lập và đều có mục đích và
Trang 3025
chương trình hoạt động giống nhau: Chỉnh đốn Thiền môn, vãn hồi quy giới, đào tạo một thế hệ thanh niên tu sĩ chân chính, hữu học và hoằng dương chính pháp Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh này
Tín đồ Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam phát triển rộng khắp các tỉnh Nam kỳ Với hoạt động Phật pháp gắn với từ thiện giúp đỡ người nghèo bệnh tật bằng thuốc Nam, số người tin theo Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam ngày càng nhiều Một số tín đồ đề nghị Đức tông sư Minh Trí thành lập giáo hội để
có nền tảng lâu dài, nhưng ông chưa chấp thuận với lý do “Nền đạo có vĩnh cửu hay không là do tâm hạnh của người Phật tử có lập trường hay không, có làm đúng chính pháp thì lâu dài, còn không làm đúng chính pháp thì hư hoại, bán đồ nhi phế, đâu phải do có giáo hội hay không giáo hội” [4, tr.10]
Tuy nhiên, do tín đồ ngày một đông, để hành đạo tốt, ông cùng các môn đệ và Đức Bà Cô Năm đã khẩn đất khai hoang tại xã Hậu Bối và Mỹ Thọ, tổng Phong Nẳm Thượng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là ấp
Mỹ Phước, xã Mỹ Quý, tỉnh Đồng Tháp) Và ngôi chùa Tịnh độ đầu tiên được dựng tại ấp Mỹ Phước, xã Mỹ Quý, tỉnh Đồng Tháp và lấy tên là Hưng Phước Tự
Năm 1934, làn sóng chấn hưng Phật giáo ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam được phát động mạnh mẽ Thấy nhân duyên đã hội đủ, ông cho thành lập hội nhưng phải có đủ 5 điều kiện gồm: Nhân tài, có uy tín với chính quyền, tài chính không quyên góp tới người ngoài đạo, có được sự tín nhiệm của tất cả tín đồ trong xứ, phải có địa điểm đặt hội quán và xây cất lại hội quán tạm thời Lúc này danh xưng “Tịnh độ Cư sĩ Phật hội” mới chính thức được chọn làm tên cho hội và bắt đầu soạn thảo điều lệ, nội quy, thành lập Ban Trị sự tạm thời để đứng tên xin pháp chính quyền cho thành lập hội Một năm sau (1935), ông được tất cả tín đồ suy tôn là Đức tông sư Minh Trí, là Giáo chủ của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
Trang 3126
Hình 1.3: Hội quán Tân Hưng Long Tự tại Phú Định năm 1936 Nay là
Tổ đình Hưng Minh Tự
Nguồn: Trang web Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
Chính quyền thuộc Pháp lúc bấy giờ đã cấp giấy phép số 619 ngày 20/2/1934 để Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam hoạt động (lúc này chỉ có sáu chữ “Tịnh độ Cư sĩ Phật hội”) [4, tr.12]
Trong khoảng năm 1949 đến năm 1950, cơ sở Hội quán Trung ương đã
ổn định hoạt động, Đức tông sư bắt đầu phân cấp các chức vị trong đạo, triển khai tôn chỉ Phước huệ song tu, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam lúc này hình thành các chức vị: Huấn sư, Giảng sư, Phó giảng sư, Giảng viên, Huấn viên
và Thuyết trình viên
Năm 1950, nhận thấy trình độ tu học của toàn thể hội viên, thiện tín được nâng lên, Đức tông sư đề xướng tôn chỉ “Phước huệ song tu” với phương châm giảm lễ từ sáu hướng xuống chỉ còn một hướng vào bàn thờ Phật trong chính điện Đức tông sư đã dùng giáo lý, kinh, luật, luận của Đức
Trang 3227
Phật giảng dạy cho hội viên, thiện tín có trí tuệ hiểu biết, sáng suốt làm môn
tu Huệ; chủ trương mở rộng các phòng thuốc Nam phước thiện, dùng cây cỏ trong dân gian trị bệnh giúp người, thực hiện tư tưởng từ bi, bác ái của Phật giáo làm môn tu Phước Kết hợp giữa tu phước và tu huệ để triển khai thành tôn chỉ Phước huệ song tu, đó chính là chân lý, là mục đích hành đạo của Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
Với tôn chỉ tu phước và tu huệ song hành được nhân dân đồng tình ủng
hộ, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam ngày càng phát triển, các hội quán được thành lập ở nhiều nơi Ban Trị sự Trung ương quy định nơi nào có từ 50 tín đồ trở lên thì được thành lập các hội quán, chi hội Các hội quán, chi hội nhất thiết phải có phòng thuốc Nam phước thiện, các y sĩ Nam dược sẽ do Giáo hội đào tạo điều đến từng hội quán
Năm 1953, chính quyền Quốc gia Việt Nam (chính quyền Bảo Đại) đã xác định tính hợp pháp cho Giáo hội bằng Nghị định số 83/MI/DAP ngày 22/12/1953 (lúc này có đủ các chữ “Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam”) Tên chính thức là Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam [4, tr.17]
Từ đó (1953), Đức tông sư Minh Trí đi khắp nơi này đến nơi khác vừa giúp người trị bệnh, vừa truyền đạo phát triển tín đồ Qua từng giai đoạn, Tịnh
độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam từng bước được nâng lên một cách khá vững chắc trên cơ sở tập trung hoạt động y tế phước thiện, có cơ sở vật chất tốt, đông y
sĩ, y sinh nhiều, được rộng rãi các tầng lớp nhân dân tín nhiệm Kể từ đây Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam phát triển rộng khắp miền Nam Các tỉnh, huyện, thôn, ấp hội lần lượt thành lập ngôi Tam bảo và phòng thuốc Nam phước thiện; các lớp y lý đào tạo y sĩ, y sinh liên tiếp được mở
Đức tông sư là người trực tiếp lãnh đạo chung Ban Trị sự Trung ương lãnh đạo về mặt hành chính theo hệ thống ngành dọc Ở các tỉnh thành lập các Ban Trị sự điều hành công việc hoạt động trong tỉnh
Trang 33(1958-Khi Phật giáo thành lập Giáo hội Phật giáo Thống nhất, có ý kiến đưa Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam gia nhập Phật giáo Nhưng với lý
do Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam là hệ phái cư sĩ tại gia, hoạt động khám chữa bệnh cho dân là chính, có nhiều nét riêng biệt so với Phật giáo nên đã không gia nhập Giáo hội Phật giáo Thống nhất và vẫn giữ được
hệ thống độc lập riêng
Năm 1968, ông Huỳnh Văn Dơn qua đời vì tuổi cao, sức yếu Những năm sau đó, ông Phó Hội trưởng Sơn Kim lên thay quyền Chánh Hội trưởng cho tới ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng
Tới thời gian này, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam đã xây dựng được
175 ngôi chùa (hội quán) và đồng thời có 175 phòng thuốc Nam phước thiện
từ Nha Trang đến Cà Mau
1.3.2 Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam sau năm 1975 tới năm 2007
Sau năm 1975, hệ thống tổ chức Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ không còn hoạt động đầy đủ như trước, nhưng các hội quán vẫn sinh hoạt bình thường, Ban Y
tế Phước thiện tiếp tục hoạt động, tuy ít nhiều cũng có hạn chế Cho tới khi đất nước đổi mới (1986), một số hội quán được trùng tu, sửa chữa Ban Y tế Phước thiện, phòng thuốc Nam tăng cường hoạt động, một số chức việc trong Ban Y tế Phước thiện tham gia vào Mặt trận Tổ quốc, Hội Chữ thập đỏ địa phương và làm việc từ thiện xã hội
Trang 3429
Năm 1990, qua sự hợp tác giữa Y trưởng Nguyễn Văn Khanh với Hội
Y học dân tộc tỉnh Long An, được Sở Y tế tỉnh cho phép mở khóa lương y toàn khoa trong thời gian 3 năm (1990-1992) do Ban Giảng huấn Tịnh độ đứng ra giảng dạy y lý Khóa học này có 75 y sĩ Tịnh độ trong tổng số 135 học viên theo học, các học viên tốt nghiệp đã được Sở Y tế Long An cấp chứng nhận tốt nghiệp Lương y toàn khoa
Đến năm 1994, vào dịp kỷ niệm 36 năm ngày Đức tông sư viên tịch, toàn thể các chi hội về Tổ đình Hưng Minh Tự dự lễ, Ban Trị sự Trung ương
đã tổ chức hội nghị bàn về việc củng cố lại hệ thống điều hành Hội nghị đã tiến hành thành lập “Ban Cố vấn Y tế và Đạo đức” do ông Nguyễn Ngọc Thanh làm Trưởng ban Cố vấn Trong nhiệm kỳ 1994-1995, Ban Cố vấn đã đáp ứng nhu cầu các chi hội Trong các phiên họp của Ban Cố vấn đã quyết định soạn thảo đề án nhằm thành lập Hội đồng Trị sự Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam để phục hồi hệ thống tổ chức theo nề nếp cũ Ngày 06/5/1995 tại
Tổ đình Hưng Minh Tự, 120 vị chức sắc, cao niên và các hội viên có tâm huyết đã họp bàn việc thành lập Hội đồng Trị sự nhằm mục đích xin Nhà nước công nhận lại tư cách pháp nhân
Và ngày 27/11/2007, Ban Tôn giáo Chính phủ ra Quyết định số 207/QĐ-TGCP công nhận tổ chức tôn giáo đối với Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam
1.3.3 Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam từ năm 2007 đến nay
Từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, Ban Trị sự Trung ương đã tổ chức công bố ở các tỉnh thành có hội quán hoạt động; Giáo hội được chính quyền địa phương quan tâm và sắp xếp đội ngũ chức sắc, chức việc Hoạt động của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam trong những năm
đó có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt là đạo đức giáo lý và công tác an sinh xã hội
Trang 3530
Ban Trị sự rất quan tâm đến việc đào tạo bồi dưỡng đạo đức giáo lý cho chức sắc, chức việc để làm nòng cốt cho các chi hội, đã mở nhiều lớp giáo lý
cho các chức việc để giảng giải lại cho tín đồ và hội viên
Giáo lý đạo đức là phần cốt lõi của một tôn giáo Việc truyền bá giáo
lý, đường hướng hành đạo của Giáo hội Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam là rất cần thiết, giúp cho tín đồ, hội viên yên tâm tu hành chân chính mà không
sa vào mê tín dị đoan Ngoài ra, việc thuyết giảng giáo lý cho hội viên, tín đồ giúp tăng nhận thức về hoạt động của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, từ đó ngày càng có thêm nhiều hội viên, tín đồ tham gia hoạt động, nhất là đội ngũ làm công quả, sưu tầm dược liệu phục vụ cho việc bốc thuốc giúp bà con nghèo trị bệnh, phát triển phòng thuốc Nam các hội quán, uy tín ngày càng nâng cao
Kể từ khi được Nhà nước công nhận, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam nhận được nhiều sự quan tâm Các ngành, các cấp đã tạo điều kiện cho Tịnh
độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam thực hiện theo tôn chỉ Phước huệ song tu, nhờ vậy Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam đã phát huy được vai trò trong việc chăm sóc sức khỏe người dân, góp phần cùng với chính quyền các cấp chăm
lo cho nhân dân về mặt y tế, càng ngày được nhân dân tín nhiệm và ủng hộ
Với tôn chỉ Phước huệ song tu, cư sĩ Tịnh độ tu phước chủ yếu là dùng
y đạo để chữa bệnh cho người, là kết quả của điều lành, những việc phước thiện, giúp đỡ người đời bớt khổ thêm vui Như thế là thực hiện đúng tư tưởng từ bi của Đức Phật, mục đích là đưa con người trở về gốc lành của bổn tánh, góp phần xướng minh và phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam Phương tiện tu phước chủ yếu là các phòng thuốc Nam phước thiện bên cạnh nơi thờ tự và tu học
Ngoài việc làm thường xuyên của Ban Y tế phước thiện, các hội quán còn thực hiện các hoạt động từ thiện xã hội như: giúp đỡ người dân khó khăn,
bị thiên tai, giúp đỡ học sinh nghèo, đóng góp xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết
Trang 3631
Tiểu kết chương 1
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng, tôn giáo…, ở Nam bộ đã xuất hiện nhiều tôn giáo nội sinh và tồn tại cho đến ngày nay như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam Trong đó, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam ra đời năm 1934, do Đức tông sư Minh Trí – Nguyễn Văn Bồng sáng lập
Cũng như đa số tôn giáo nội sinh ở Nam bộ, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam có nền tảng từ Phật giáo, phù hợp với căn cơ của chúng sinh vùng đất Nam Bộ, theo pháp môn Tịnh Độ, với phương châm “phước huệ song tu”, không xuất gia tu hành Cơ cấu tổ chức của Tịnh độ cư sĩ Phật giáo tương đối hoàn chỉnh, cấu thành nên một tôn giáo có giáo lý, giáo luật, hệ thống chức sắc với các chức năng, nhiệm vụ rõ ràng Đây là tiền đề quan trọng để tôn giáo này tồn tại, đến nay đã gần 90 năm và sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai
Tính đến 2019, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam có 210 hội quán, các hội quán đều có phòng thuốc Nam phước thiện, hiện diện ở các tỉnh, thành phố từ Khánh Hòa tới Cà Mau và 1 chi hội ở châu Úc; Tổng số tín đồ, hội viên khoảng gần 1,5 triệu người; 624 chức sắc, chức việc; gần 786 y sĩ, 404 y sinh; trên 3.000 người làm nhiệm vụ chế biến thuốc [11, tr.1]
Trong các hoạt động của mình, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam đang
có nhiều đóng góp cho xã hội, tham gia tích cực các công tác an sinh xã hội, như: hoạt động từ thiện, y tế, khám chữa bệnh miễn phí, trồng và bào chế thuốc Nam để chữa bệnh; đền ơn đáp nghĩa; bảo vệ môi trường, chống biến
đổi khí hậu
Trang 3732
Chương 2 THỰC TRẠNG MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG PHƯỚC THIỆN
CỦA TỊNH ĐỘ CƯ SĨ PHẬT HỘI VIỆT NAM
2.1 Mô hình hoạt động an sinh xã hội của tôn giáo
Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam là một tôn giáo nội sinh ra đời ở miền Nam Việt Nam, nên trong luận văn này, để có những tham chiếu, so sánh, chúng tôi sẽ tìm hiểu hoạt động phước thiện của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam trong hoạt động an sinh xã hội của tôn giáo, đặc biệt là trong mối tương quan với các tôn giáo nội sinh khác có nhiều điểm tương đồng như Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo…
Ngoài những vai trò, chức năng chính của tôn giáo trong đời sống xã hội thì những tham gia, đóng góp của tôn giáo ở mảng an sinh xã hội rất lớn Đây là một nguồn lực góp phần phát triển xã hội bền vững mà bất cứ quốc gia nào cũng đều có chủ trương, chính sách để kết hợp, cộng hưởng và sử dụng
“Hoạt động an sinh xã hội là thực hiện các biện pháp trên cơ sở nền tảng hệ thống pháp luật của nhà nước nhằm giúp đỡ các thành viên của xã hội trước những biến cố và những "rủi ro xã hội" dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập… dựa trên nguyên tắc chia sẻ trách nhiệm, thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau” [68, tr.39]
Như vậy, các hoạt động an sinh xã hội là nhằm chăm lo đời sống cho các tầng lớp nhân dân có cuộc sống ổn định, an toàn, bình đẳng, dân chủ, đảm bảo quyền con người Cùng mục đích đó, giáo lý của một số tôn giáo ở Việt Nam, đặc biệt là tôn giáo nội sinh ở Tây Nam bộ, đã dạy tín đồ tích đức hành thiện, tức là phải thường xuyên làm điều lành việc thiện để chia sẻ, giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hướng họ đến giá trị nhân văn cao đẹp Trong quá
Trang 38Do đó, hoạt động xã hội, từ thiện của các tôn giáo tham gia thực hiện chính sách an sinh xã hội là một nhu cầu tự thân, vừa là chức năng xã hội, vừa
là chức năng của tôn giáo Hoạt động tương thân tương ái của tôn giáo tự bản thân chính là "đồng hành cùng dân tộc", gắn bó "đạo - đời", phù hợp với chính sách xã hội của nhà nước Nguồn lực này của các tôn giáo là một trong những nguồn lực lớn của xã hội, phát huy tốt sẽ góp phần không nhỏ cho sự thành công các chính sách an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững, hài hòa
Theo Nguyễn Văn Sỹ trong “Hoạt động an sinh xã hội của một số tôn giáo nội sinh ở Tây Nam bộ hiện nay”, điểm chung giữa hoạt động an sinh xã hội và hoạt động của tôn giáo là: thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo; trợ giúp xã hội, cứu trợ xã hội tự nguyện, nhân đạo; tham gia thực hiện hỗ trợ nhà ở, nước sạch, giáo dục, y tế… [68, tr.78]
Nói chung, hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam gồm có 5 trụ cột cơ bản, đó là:
1/ Hệ thống chính sách, giải pháp và các chương trình phát triển thị trường lao động mà trọng tâm là trợ giúp đào tạo nghề, tạo việc làm cho các đối tượng yếu thế
2/ Phát triển đa dạng hệ thống bảo hiểm như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế (tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân), bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Trang 3934
3/ Hoàn thiện hệ thống chính sách và hệ thống trợ giúp xã hội linh hoạt, ứng phó có hiệu quả với các biến cố, rủi ro (trợ giúp đột xuất và thường xuyên)
4/ Thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói, giảm nghèo bền vững 5/ Phát triển hệ thống dịch vụ xã hội và hệ thống phúc lợi xã hội, nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, trước hết là các dịch vụ công cộng cơ bản, thiết yếu như: nhà ở, điện, nước sạch, y tế, giáo dục (…)" [47, tr.19-20]
Hầu hết các tôn giáo đều tham gia 5 hoạt động trụ cột của hệ thống an sinh xã hội nêu trên Những kết quả, đóng góp của tôn giáo trong mảng này là nguồn lực quan trọng
Tham gia hoạt động trụ cột thứ nhất: "Hệ thống chính sách, giải pháp
và các chương trình phát triển thị trường lao động" [47, tr.19] Tôn giáo
không có chức năng tham gia xây dựng các chính sách an sinh xã hội hoặc các chương trình, giải pháp nhằm thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội Tôn giáo chỉ tham gia góp ý gián tiếp vào chính sách thông qua hệ thống tổ chức Ban Tôn giáo và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp Ví dụ như, Tứ Ân Hiếu
Nghĩa đã có đề xuất cụ thể như "Đảng, Nhà nước hỗ trợ kinh phí trùng tu
chùa Tam Bửu (Di tích lịch sử cấp quốc gia)" [68, tr.80] Hay Tịnh độ Cư sĩ
Phật hội Việt Nam đã có ý kiến đóng góp trong Hội nghị toàn quốc năm 2015
tại thành phố Huế là cần phải “Phát huy vai trò của các tôn giáo tham gia bảo
vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu” (Hội nghị do Ban Thường
trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và Tổ chức Bắc Âu trợ giúp Việt Nam (NCA) tổ chức) Nhiều Ban Trị sự tỉnh hội của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam đã kí kết liên tịch với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường tham gia công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
Tham gia hoạt động trụ cột thứ hai: "Phát triển đa dạng hệ thống bảo
hiểm như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế" [47, tr.19] Xác định được sự cần
thiết của bảo hiểm y tế cho mỗi người, đặc biệt đối với các gia đình khó khăn,
Trang 4035
tín đồ các tôn giáo đã tích cực vận động tín đồ đồng đạo mua bảo hiểm y tế để khi gặp bệnh sẽ được hỗ trợ chi phí điều trị Tôn giáo gián tiếp góp phần phát triển các loại hình bảo hiểm, trong đó bảo hiểm y tế được quan tâm nhất Phật giáo Hòa Hảo tham gia trụ cột thứ hai này rất tốt
Tham gia hoạt động trụ cột thứ ba: "Hoàn thiện hệ thống chính sách và
hệ thống trợ giúp xã hội linh hoạt, ứng phó có hiệu quả với các biến cố, rủi ro (trợ giúp đột xuất và thường xuyên)" [47, tr.20] Các tôn giáo luôn đề cao
lòng từ bi, nhân ái, vị tha Hoạt động cứu trợ xã hội, từ thiện nhân đạo mang tính tự nguyện, thể hiện tinh thần cứu khổ, cứu nạn của tôn giáo chính là hoạt động an sinh xã hội Đây là những hoạt động kịp thời bù đắp cho con người
về vật chất, tinh thần và tình cảm của tín đồ tôn giáo Với mục tiêu vì cuộc sống bình an, các tôn giáo luôn đồng hành cùng chúng sinh, sẵn lòng "nhường cơm sẻ áo", chia sẻ cùng những mảnh đời bất hạnh, giúp họ khắc phục khó khăn, có thêm niềm tin vào cuộc sống Tôn giáo đã tích cực tham gia những hoạt động cụ thể thường xuyên và đột xuất về trợ giúp, cứu trợ xã hội, từ thiện nhân đạo cho các đối tượng thuộc nhóm yếu thế, đối tượng dễ bị tổn thương Ví dụ như Mô hình bếp ăn tình thương, Mô hình xe cứu thương miễn phí của Phật giáo Hòa Hảo…
Bảng 2.1: Số liệu một số tôn giáo thực hiện cứu trợ xã hội,
từ thiện nhân đạo năm 2018
1 Tứ Ân Hiếu Nghĩa 48.485 42.776.500.000 đồng
2 Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam