TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂNKHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM MÔN: KHU VỰC CÔNG & QUẢN LÝ CÔNG Đề bài: PHÂN TÍCH CÔNG CỤ LUẬT PHÁP TRONG VIỆC CẤP CĂN CƯỚC CÔNG DÂN CÓ GẮN C
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM MÔN: KHU VỰC CÔNG & QUẢN LÝ CÔNG
Đề bài:
PHÂN TÍCH CÔNG CỤ LUẬT PHÁP TRONG VIỆC CẤP CĂN CƯỚC CÔNG DÂN CÓ GẮN CHIP ĐIỆN TỬ CHO NGƯỜI DÂN
Ở VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Đăng Núi
Danh sách nhóm 8 : Nguyễn Hương Ly – MSV: 11205979
Trần Thị Khánh Ly – MSV: 11202427 Bùi Văn Duy – MSV: 11201011 Hoàng Hiếu Ngân – MSV: 11206266 Đoàn Minh Vũ – MSV: 11208489
Lớp học phần : QLXH1103(121)_01
Trang 2ĐỀ BÀI:
PHÂN TÍCH CÔNG CỤ LUẬT PHÁP TRONG VIỆC CẤP CĂN CƯỚC CÔNG
DÂN CÓ GẮN CHIP ĐIỆN TỬ CHO NGƯỜI DÂN Ở VIỆT NAM
MỤC LỤC
I PHÂN TÍCH CÔNG CỤ LUẬT PHÁP TRONG VIỆC CẤP CĂN CƯỚC
CÔNG DÂN CÓ GẮN CHIP ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM ĐƯỢC NHÀ NƯỚC SỬ
DỤNG 2
1 Khái niệm 2
* Pháp luật - Công cụ quan trọng của quản lý công 2
* Căn cước công dân 2
2 Nội dung 3
3 Vai trò 5
II KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CÔNG CỤ PHÁP LUẬT TRONG VIỆC CẤP CĂN CƯỚC CÔNG DÂN CÓ GẮN CHIP ĐIỆN TỬ Ở CÁC NƯỚC KHÁC TRÊN THẾ GIỚI 5
1 MALAYSIA 5
2 ESTONIA 6
III NHÀ NƯỚC CẦN LÀM GÌ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU LỰC VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÔNG CỤ LUẬT PHÁP TRONG TƯƠNG LAI? 7
1 Ưu điểm 7
2 Tồn tại hạn chế 8
3 Đề xuất giải pháp 9
* Khắc phục hạn chế 9
* Nâng cao hiệu quả hiệu lực 9
KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3I PHÂN TÍCH CÔNG CỤ LUẬT PHÁP TRONG VIỆC CẤP CĂN CƯỚC CÔNG DÂN CÓ GẮN CHIP ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM ĐƯỢC NHÀ NƯỚC SỬ DỤNG
Xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số và nền kinh tế số ở Việt Nam Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế với quan điểm “Ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực” Ngày 03/09/2020, Thủ tướng ban hành phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Sản xuất, cấp và quản lý Căn cước công dân có gắn chip điện tử cho người dân.
1 Khái niệm
* Pháp lu t - Công c quan tr ng c a qu n lý côngậ ụ ọ ủ ả
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, mang tính chất bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra nhằm thực hiện quan điểm, định hướng, mục đích mục tiêu quản
lý xã hội theo các đặc trưng đã định
Pháp luật gồm có các đặc điểm sau:
- Pháp luật mang tính quy phạm phổ biến;
- Pháp luật được thể hiện dưới hình thức xác định;
- Tính cưỡng chế của Pháp luật;
- Pháp luật được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
Trong Hiếến pháp c a n ủ ướ c CHXHCN Vi t Nam ghi rõ: Nhà n ệ ướ c qu n lý xã h i bằằng Hiếến pháp và pháp ả ộ
lu t, th c hi n theo nguyến tằếc t p trung dân ch Do đó Pháp lu t là công c th hi n ý chí c a Nhà ậ ự ệ ậ ủ ậ ụ ể ệ ủ
n ướ c và thông qua l i ích c a nhóm câằm quyếằn xã h i, đôằng th i nó ph n ánh rõ môếi t ợ ủ ộ ờ ả ươ ng quan l c ự
l ượ ng gi a Nhà n ữ ướ c v i các t p th xã h i khác, v i các quan h quôếc tếế có liến quan, cũng nh trình ớ ậ ể ộ ớ ệ ư
đ phát tri n c a xã h i ộ ể ủ ộ
* Căn cước công dân
Căn cước công dân là thông tin cơ bản về lai lịch, nhân dạng của công dân
Trang 4Để đáp ứng nhu cầu giao dịch của nhân dân và góp phần quản lý xã hội, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về căn cước công dân Trong bối cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế và cải cách hành chính đã đặt ra các yêu cầu phải hiện đại hóa giấy tờ về căn cước công dân theo hướng ứng dụng thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, phù hợp với xu hướng của các nước trên thế giới
Đồng thời, nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân liên quan đến căn cước công dân (quyền tự do đi lại, giao dịch, quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình) được Nhà nước công nhận,
tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm trong Hiến pháp 2013
Luật Căn cước công dân năm 2014 đã được Quốc hội khóa XIII (13), Kỳ
họp thứ tám thông qua ngày 20/11/2014
2 Nội dung
Luật Căn cước công dân chủ yếu quy định về hoạt động quản lý căn cước
công dân, việc cấp, đổi, cấp lại và sử dụng thẻ Căn cước công dân; nhấn mạnh việc
sử dụng thẻ Căn cước công dân thay cho chứng minh nhân dân, bảo đảm phục vụ tốt yêu cầu quản lý dân cư và hội nhập quốc tế; từng bước thực hiện Chính phủ điện tử
Theo Luật Căn cước công dân 2014, công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên được cấp thẻ Căn cước công dân (khoản 1 Điều 19) Thẻ Căn cước công dân phải được đổi khi công dân đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi (Điều 21)
Ngày 03/09/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1368/QĐ-TTg về phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án sản xuất, cấp và quản lý CCCD, trong đó giao Bộ Công an là cơ quan chủ quản triển khai xây dựng hệ
thống CCCD thống nhất trên toàn quốc Theo đó, Bộ Công an triển khai về các địa phương như sau:
Trang 5* Công an Tỉnh:
- Triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các văn bản quy phạm pháp
luật về CSDLQG về DC và cấp, quản lý CCCD;
- Chỉ đạo lực lượng Công an các cấp khẩn trương hoàn thành việc thu thập,
nhập liệu, cập nhật, chỉnh sửa, bổ sung thông tin dân cư;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và UBND các xã, thị
trấn chuẩn bị các điều kiện cần thiết tổ chức cấp thẻ CCCD lưu động cho công dân
* Các sở, ban, ngành, đoàn thể, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phối hợp với
Công an địa phương
Cụ thể: Căn cứ Điều 11 Thông tư 59/2021/TT-BCA có hiệu lực từ 01/07/2021 quy định về trình tự cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân như sau:
1) Công dân đếến c quan Công an có th m quyếằn tếếp nh n đếằ ngh câếp, đ i, câếp l i th Cằn c ơ ẩ ậ ị ổ ạ ẻ ướ c công dân n i công dân c trú đ yếu câằu đ ơ ư ể ượ c câếp th Cằn c ẻ ướ c công dân.
2) Cán bộ Công an: Tìm kiếm thông tin công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; lựa chọn loại cấp và mô tả đặc điểm nhân dạng; thu nhận vân tay; chụp ảnh chân dung; in phiếu thu nhận thông tin căn cước công dân, Phiếu thu thập thông tin dân cư (nếu có), Phiếu cập nhật, chỉnh sửa thông tin dân cư (nếu có) cho công dân kiểm tra, ký và ghi rõ họ tên; thu lệ phí theo quy định; cấp giấy hẹn trả kết quả giải quyết
3) Thu lại Chứng minh nhân dân, thẻ Căn cước công dân đang sử dụng trong trường hợp công dân làm thủ tục chuyển từ Chứng minh nhân dân sang thẻ Căn cước công dân, đổi thẻ Căn cước công dân
4) Tra cứu tàng thư căn cước công dân để xác minh thông tin công dân (nếu có)
5) Xử lý, phê duyệt hồ sơ cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân
Trang 66) Trả thẻ Căn cước công dân và kết quả giải quyết cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân Trường hợp công dân đăng ký trả thẻ Căn cước công dân đến địa chỉ theo yêu cầu thì cơ quan Công an lập danh sách, phối hợp với đơn vị thực hiện dịch vụ chuyển phát để thực hiện và công dân phải trả phí theo quy định
3 Vai trò
Có thể thấy, việc cấp thẻ Căn cước công dân là một bước tiến lớn về cải cách thủ tục hành chính, giảm giấy tờ cho công dân, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền, lợi ích chính đáng của mình
Những quy định trong Luật Căn cước công dân tạo nên hành lang pháp lý
quan trọng và là cơ sở để chúng ta tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác cấp phát, quản lý căn cước công dân và cơ sở dữ liệu căn cước công dân hiện nay
Luật Căn cước công dân rất cần thiết trong việc thực hiện sứ mệnh chung về
cải cách thủ tục hành chính và xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam Đồng thời để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi thực hiện các thủ tục hành chính công, việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phục vụ yêu cầu nghiệp vụ của ngành Công an, góp phần phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm trật tự, an toàn xã hội
II KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CÔNG CỤ PHÁP LUẬT TRONG VIỆC CẤP CĂN CƯỚC CÔNG DÂN CÓ GẮN CHÍP ĐIỆN TỬ Ở CÁC NƯỚC KHÁC TRÊN THẾ GIỚI
Từ năm 1977 đến nay, đã có gần 70 quốc gia trên thế giới phát hành thẻ căn cước công dân tích hợp chip điện tử để sử dụng trong các dịch vụ công cộng và xã hội Sau đây là một số nước đi đầu trong việc sử dụng căn cước công dân có gắn chip điện tử:
Trang 71 MALAYSIA
MyKad là một chứng minh thư thông minh được sử dụng ở Malaysia Cùng với hộ chiếu, Malaysia là quốc gia đầu tiên trên thế giới sử dụng chứng minh nhân dân và hộ chiếu kết hợp công nghệ sinh trắc học và chip mới nhất để tăng cường bảo mật và tính xác thực cho chủ sở hữu của chúng Thẻ chính thức ra mắt vào tháng 9 năm 2001
Đối với công dân bình thường có chứng minh thư màu xanh (MyKad) Đối với người thường trú, nó có màu đỏ (MyPR) và đối với những người tạm trú là màu xanh lá cây (MyKAS)
Với tên gọi MyKad, thẻ căn cước tại Malaysia sẽ lưu trữ cả ảnh nhận diện và
dữ liệu vân tay của người dùng Mỗi công dân đủ 12 tuổi phải làm thẻ căn cước MyKad còn có các thông tin sức khỏe cơ bản như nhóm máu, tiền sử cấy ghép nội tạng, tiền sử dị ứng, hoặc bệnh mãn tính,…
Bên cạnh tính năng định danh, thẻ MyKad còn là tấm bằng lái xe hợp lệ, cũng như có thể được dùng như ví điện tử để mua sắm, thanh toán phí cầu đường,
…
Liên quan đến vấn đề giả mạo chứng minh thư, Malaysia đã có những chế tài kết án được quy định trong Đạo luật Đăng ký Quốc gia 1959 (Đạo luật 78) ( Akta Pendaftaran Negara 1959 (Akta 78), (Pindaan 2001)) và Quy định Đăng ký
Quốc gia 1990 (Peraturan-peraturan Pendaftaran Negara 1990 (Pindaan 2007)).
2 ESTONIA
Estonia là quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng thẻ công dân gắn chip điện
tử để thay thế giấy tờ tùy thân cho người dân
Năm 2002, chính phủ Estonia phát hành thẻ điện tử có tên ID Kaart, hay còn gọi là chứng minh thư Estonia hoặc căn cước Estonia
Trang 8Không chỉ để xác định danh tính, ID Kaart còn đi kèm hàng loạt tính năng, như khám sức khỏe trên toàn quốc, lưu trữ chữ ký số Công dân nước này cũng có thể dùng thẻ để bỏ phiếu bầu cử, đăng ký kinh doanh, đóng thuế, truy cập vào các cổng web và dịch vụ điện tử, hay cho phép thanh toán và giao dịch ngân hàng qua chữ ký số
Không những thế, ID Kaart còn thay thế cho hộ chiếu khi đi lại trong nước hoặc Liên minh châu Âu (EU), cũng như giúp người dân mua vé giao thông công cộng, sử dụng Internet banking và xác thực trên nhiều website trong khu vực
Bên cạnh công dân trong nước, Estonia còn là nước đầu tiên thế giới cung cấp thẻ công dân điện tử cho người nước ngoài Việc đăng ký thẻ được thực hiện qua hình thức trực truyến Tuy nhiên, những "công dân số" này bị giới hạn các chức năng, chẳng hạn không thể dùng thẻ để tham gia bầu cử tại Estonia
Việc ban hành thẻ căn cước công dân cho người dân được quy định rõ trong
Đạo luật Giấy tờ tùy thân (1999) áp dụng từ năm 2002 Các thủ tục hành chính về cấp thẻ căn cước công dân được quy định trong Đạo luật Thủ tục Hành chính (2001) của Estonia.
III NHÀ NƯỚC CẦN LÀM GÌ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU LỰC VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÔNG CỤ LUẬT PHÁP TRONG TƯƠNG LAI?
1 Ưu điểm
Nhà nước đã xây dựng những văn bản pháp luật rất cụ thể về làm thẻ Căn
cước công dân (CCCD) cho người dân: Luật Căn cước công dân 2014, quy định
rất rõ về thủ tục làm thẻ, quyền và nghĩa vụ của các bên: bên cung ứng (nhà nước)
và bên được nhận cung ứng (người dân), qua đó những cán bộ nhà nước có thể dựa vào luật đã được quy định để làm thẻ CCCD cho nhân dân, người dân cũng có thể nắm bắt được luật để theo dõi, giám sát xem cán bộ có thực hiện đúng luật không
Trang 9Nhà nước đã kịp thời có những sửa đổi bổ sung (về việc cấp lại CCCD có gắn chip điện tử), đồng thời ban hành thêm 1 số nghị định, quy định, quyết định,
công văn hướng dẫn cụ thể chi tiết những công việc phải làm khi thực hiện Luật Căn cước công dân 2014, cung ứng cho người dân một cách nhanh chóng, hợp
pháp, hợp lí Như vậy, nhà nước đã thực hiện được yêu cầu đối với pháp luật quản
lý công đó là sự đồng bộ trong luật pháp, các nghị định, quyết định đều được ban hành để tăng cường tính khả thi của Luật Căn cước công dân 2014, đồng thời được
sửa đổi bổ sung để phù hợp với thực tế
Ngay khi được Thủ tướng phê duyệt Đề án Thẻ CCCD gắn chip tại Quyết định 1368/QĐ-TTg, sau 2 tháng tức tháng 11/2020 Nhà nước bắt đầu thực hiện
việc cấp mới CCCD có gắn chip điện tử với nhiều tính năng tích hợp, tức ở đây,
luật pháp quản lý công đã được hiện thực.
Nhà nước đã học hỏi, tham khảo kinh nghiệm đi trước của các nước đã ban hành thẻ CCCD gắn chip cho người dân Có thể thấy thẻ CCCD mới có gắn chip điện tử là xu thế được nhiều nước trên thế giới áp dụng vì tính tiện dụng, đáp ứng được các yêu cầu giao dịch trên hệ thống điện tử Như vậy ở đây luật pháp quản lý
công đã hoàn thành được 2 yêu cầu đó là sự ổn định và tiến bộ (lợi ích hưởng thụ DVC và HHCC ngày một tốt hơn, thuận lợi hơn, hài lòng hơn) và cũng đảm bảo tính hòa đồng với luật pháp của nước khác.
Thẻ CCCD mới có gắn chip được phát hành trên toàn bộ nước CHXHCN Việt Nam, tức là người dân từ già trẻ gái trai, không phân biệt thành thị hay nông thôn đều được nhà nước cung ứng dịch vụ công, tức cấp lại thẻ CCCD gắn chip,
như vậy luật pháp quản lý công của nhà nước đã thể hiện được tính nghiêm minh, bình đẳng và quan trọng nhất là thể hiện được bản chất của chế độ xã hội.
2 Tồn tại hạn chế
Hiện tại nhà nước chưa có các quy định về chế tài xử lí về lỗ hổng bảo mật của thẻ CCCD gắn chip, mặc dù Bộ Công an khẳng định khó có thể đánh cắp và
Trang 10giả mạo danh tính, tuy nhiên công nghệ ngày một phát triển, tội phạm công nghệ ngày một gia tăng, nếu không có các chế tài xử lí thích đáng thì sẽ gây ra những hậu quả khôn lường, không chỉ thiệt hại cho người dân mà còn ảnh hưởng đến công tác phát triển, bảo mật, cung ứng dịch vụ công của nhà nước
3 Đề xuất giải pháp
* Khắc phục hạn chế:
Nguyên nhân gây ra lỗ hổng bảo mật là khách quan, do vậy nhà nước cần có những chế tài xử phạt thích đáng với những hành vi đánh cắp, giả mạo danh tính
* Nâng cao hiệu quả hiệu lực:
- Nhà nước phải xuất phát từ tầm nhìn chiến lược, từ đó phải có hành động thực tế, quyết liệt theo như cam kết thực hiện các chiến lược về việc phát triển, thay đổi , tích hợp và sử dụng thẻ CCCD cho hầu hết các dịch vụ công, cũng như sử dụng các dịch vụ công bằng thẻ CCCD theo hình thức trực tuyến
- Tiếp tục đầu tư nguồn lực tài chính trong việc phát hành thẻ, đặc biệt là ứng dụng thẻ CCCD gắn chip điện tử trong việc quản lý Ví dụ: có thể đầu tư các máy đọc thông tin thẻ CCCD ở các địa phương; tích hợp các tính năng cần thiết trong đời sống của người dân như thẻ đi đường trong thời kì dịch bệnh Covid-19 phức tạp như hiện nay, thẻ BHYT, bằng lái xe, thanh toán điện tử, khai báo thuế,… như kinh nghiệm của một số nước đi đầu về thẻ CCCD điện tử
- Luôn coi người dân và doanh nghiệp là trung tâm để phục vụ lợi ích, luôn hướng tới mục đích là đơn giản hóa các thủ tục hành chính, dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp, giúp họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình một cách nhanh chóng, dễ dàng
- Thẻ CCCD gắn chip điện tử là một tiến bộ của khoa học công nghệ, không phải bất cứ người nào cũng có thể sử dụng một cách dễ dàng ngay, do đó:
Trang 11 Nhà nước cần đầu tư và thu hút nguồn lực con người, đặc biệt là đầu tư, đào tạo nguồn lực công nghệ thông tin (CNTT) để xây dựng, phát triển ra các ứng dụng công nghệ có thể sử dụng đơn giản, thuận tiện
Cần đào tạo những cán bộ công chức có phẩm chất đạo đức tốt, nhưng cũng phải có kiến thức nhất định, đặc biệt là về CNTT – phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản trong việc thực hành công nghệ, tin học
Phổ biến, giáo dục cũng như hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện hết mình cho người dân để họ sử dụng thẻ CCCD nói riêng, sử dụng dịch vụ công nói chung một cách dễ dàng
- Nhà nước cần đồng bộ hơn các văn bản pháp luật, tránh sự chồng chéo, phức tạp giữa các văn bản luật
- Xây dựng công cụ luật pháp và đảm bảo mô hình quản lý và tổ chức cung ứng DVC và HHCC từ TW tới địa phương theo hướng chuyên nghiệp, hợp pháp và đem lại nhiều lợi ích cho người dân