1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

mot so bien phap to chuc giang day phan mon ky nang giao tiep cho tre khuyet tat tri tue khoi 1 dat hieu qua

24 14 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 916,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh, đồng nghiệp giáo viên, nhân viên về những nội dung trong chương trình dạy kỹ năng giao tiếp cho trẻ để các lực lượng này giúp HS có điề[r]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU TRƯỜNG NUÔI DẠY TRẺ KHIẾM THỊ HỮU NGHỊ

*********************

BÁO CÁO KẾT QUẢ SÁNG KIẾN Cấp cơ sở phục vụ thi đua khen thưởng năm học 2017- 2018

Giải pháp: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC GIẢNG DẠY PHÂN MÔN KỸ

NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ KHỐI 1 ĐẠT

Trang 2

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN Sáng kiến cấp cơ sở phục vụ thi đua khen thưởng năm học 2017 - 2018

Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến kinh nghiệm Sở giáo dục và đào tạo tỉnh BRVT

Tôi ghi tên dưới đây:

Nơi công tác (hoặc

nơi thường trú)

Chức danh

Trình

độ chuyên môn

Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo

ra sáng kiến kiến/kết quả nhiệm vụ KH&CN

(ghi rõ đối với từng đồng tác giả, nếu có)

Ký tên

Giáo viên

Cao đảng chuyên biệt

Hồ sơ công nhận sáng kiến:

1 Đơn yêu cầu công nhận

2 Báo cáo kết quả sáng kiến

3 Văn bản đề nghị của cơ quan, đơn vị

Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong hồ sơ đính kèm là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật./

Phú Mỹ, ngày 28 tháng 12 năm 2017

Tác giả

Trang 3

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN Sáng kiến cấp tỉnh phục vụ thi đua khen thưởng năm học 2017 - 2018

Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến kinh nghiệm Sở giáo dục và đào tạo tỉnh BRVT

Tôi ghi tên dưới đây:

Nơi công tác (hoặc

nơi thường trú)

Chức danh

Trình

độ chuyên môn

Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo

ra sáng kiến kiến/kết quả nhiệm vụ KH&CN

(ghi rõ đối với từng đồng tác giả, nếu có)

Ký tên

Giáo viên

Cao đảng chuyên biệt

Hồ sơ công nhận sáng kiến:

4 Đơn yêu cầu công nhận

5 Báo cáo kết quả sáng kiến

6 Văn bản đề nghị của cơ quan, đơn vị

Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong hồ sơ đính kèm là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật./

Phú Mỹ, ngày 28 tháng 12 năm 2017

Tác giả

Phạm Thị Hạnh

Trang 4

2.2 Nội dung giải pháp

2.2.1 Tập trung thực hiện khâu chuẩn bị lên lớp:

2.2.2 Tổ chức giảng dạy trên lớp

2.2.3 Tạo môi trường giao tiếp thuận lợi trong và ngoài giờ học

3 HIỆU QUẢ CỦA GIẢI PHÁP

3.1 Thời gian thực hiện và hiệu quả đạt được:

3.2 Khả năng triển khai, áp dụng giải pháp:

3.3 Kinh nghiệm thực tiễn

4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

Trang 5

BÁO CÁO KẾT QUẢ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC GIẢNG DẠY PHÂN MÔN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ KHỐI 1 ĐẠT HIỆU QUẢ

1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 1.1 Sự cần thiết hình thành giải pháp

Trong xã hội loài người vai trò của giao tiếp rất quan trọng, giao tiếp là một trong những yếu tố giúp con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội và tạo nên xã hội loài người Giao tiếp là nhu cầu quan trọng trong đời sống tinh thần của con người đặc biệt rất quan trọng đối với trẻ em Đối với trẻ bình thường thì các chức năng bên trong vỏ não hoạt động bình thường do đó việc trẻ tiếp nhận và hình thành mối liên hệ

có điều kiện trong tất cả các cơ quan phân tích đều rất nhanh, trẻ giao tiếp với mọi người xung quanh thuận lợi Nhưng đối với trẻ khuyết tật trí tuệ (KTTT) do sự suy yếu các chức năng bên trong vỏ não tới việc hình thành mối liên hệ phân biệt có điều kiện rất chậm trong tất cả các cơ quan phân tích tiếng nói, kèm theo sự rối loạn của hệ thần kinh gây khó khăn cho việc xác lập những định hình năng động trên vỏ não Cho nên giao tiếp là một trong những lĩnh vực khó khăn nhất của trẻ KTTT

Do vậy, khi ban hành chương trình giáo dục chuyên biệt, BGD&ĐT đã đưa phân môn KNGT (kỹ năng giao tiếp) vào chương trình giáo dục KNS (kỹ năng sống) cho trẻ khuyết tật Chương trình phân môn KNGT mới được đưa vào thực hiện cho

HS KTTT khối tiểu học trong nhà trường NDT Khiếm Thị Hữu Nghị BRVT từ năm học 2015 – 2016 nên vấn đề soạn giảng, xác định nội dung trong từng tiết dạy, định hướng các PPDH (phương pháp dạy học)… đối với GV còn rất nhiều bỡ ngỡ, lúng túng Là giáo viên được nhà trường phân công giảng dạy môn KNGT, tôi luôn trăn trở làm sao để có nội dung, phương pháp, hình thức giảng dạy phù hợp với đặc thù môn học và với từng đối tựơng HS trong trường để giảm bớt những khó khăn vướng mắc của giáo viên – học sinh (GV-HS), giúp HS hứng thú với môn học và các tiết học được nhẹ nhàng hiệu quả Sau thời gian tìm tòi thử nghiệm, trong phạm vi nhiệm vụ

Trang 6

được phân công tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm giảng dạy phân môn KNGT cho trẻ KTTT Sau đây tôi mạnh dạn báo cáo kết quả SKKN của bản thân về đề tài:

Một số biện pháp tổ chức giảng dạy phân môn kỹ năng giao tiếp cho trẻ khuyết tật trí tuệ khối 1 đạt hiệu quả

1.2 Mục tiêu của giải pháp

- Giúp giáo viên giảm bớt khó khăn và thực hiện tốt hơn việc soạn - giảng môn KNGT trong nhà trường

- Giúp HS KTTT có hứng thú học tập môn học, từng bước hình thành và phát triển khả năng giao tiếp Đồng thời kích thích sự ham muốn, sự tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp của mỗi trẻ khuyết tật

- Cải thiện và nâng cao chất lượng dạy và học môn KNGT trong nhà trường

1.3 Các căn cứ đề xuất giải pháp

1.3.1 Căn cứ vào đặc điểm giao tiếp của trẻ KTTT:

Việc nghiên cứu tình trạng ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ em KTTT đã được nhiều nhà khoa học đề cập tới như L.S Vugotsky, A.G Spikin, D.B Elkonin, S.L Rubinstein… , các nhà khoa học đều có một nhận xét chung: trẻ em KTTT không chỉ kém về mặt nhận thức mà thường kéo theo sự khiếm khuyết về khả năng ngôn ngữ Sự khiếm khuyết này đều do tình trạng kém phát triển ngôn ngữ,còn do nguyên nhân những mối liên hệ có điều kiện không bền vững được hình thành chậm ở vùng cơ quan phân tích thính giác Những nguyên nhân này khiến đứa trẻ không hiểu được những từ mới và cụm từ mới nên trẻ chỉ lựa chọn được số ít các từ vựng dẫn đến tình trạng nghèo vốn từ – một số từ mà trẻ tích lũy được cũng dần bị lãng quên nếu không được củng cố một cách liên tục Những rào cản lớn nhất của trẻ KTTT là sự mặc cảm tật nguyền, ảnh hưởng của bệnh lý về thần kinh nên trẻ hay sợ sệt, nhút nhát không giám tiếp xúc với những người lạ, không muốn tham gia vào các hoạt động tập thể… Đa số các trẻ vốn từ rất nghèo, ngữ pháp thấp kém, trẻ nói nhưng ta không hiểu chúng nói gì

và ngược lại ta nói trẻ cũng không hiểu được những điều ta vừa nói với trẻ, như vậy cả hai đều không hòa hợp trong giao tiếp Ngay ở trong gia đình nhiều trẻ cũng bị lãng

Trang 7

quên, không hỏi han, dạy dỗ khiến cho trẻ rơi vào tình trạng ngày càng trầm trọng hơn

Đặc điểm về nhận thức của trẻ KTTT là “ chậm hiểu – nhanh quên” nên rất khó khăn trong việc tiếp thu các từ mới và hiểu nghĩa từ Những từ được tiếp thu trong kinh nghiệm sống của trẻ cũng sẽ bị lãng quên rất nhanh Trẻ thường không biết biểu đạt nhu cầu của bản thân bằng lời nói, đôi khi trẻ phải dùng cử chỉ điệu bộ Nếu không được đáp ứng kịp thời các nhu cầu đó của trẻ, trẻ thường gào thét, có thể tức giận, nếu kích thích gia tăng thường đập phá… Trẻ không biết trả lời các câu hỏi mà ta hỏi chúng dù đó là những câu hỏi đơn giản nhất Trẻ thường không biết hợp tác với bạn

bè, tự chơi một mình, đôi khi lẩm bẩm nói một mình nhưng vẫn không phát ra được những ngôn ngữ rõ ràng Đặc điểm phổ biến ở trẻ em này là rất khó tiếp xúc và làm quen nếu ta chưa chiếm lĩnh được tình cảm của trẻ

Những đặc điểm nêu trên đã dẫn trẻ đến hạn chế khả năng giao tiếp, vì vậy ngôn ngữ của các trẻ này cũng trong tình trạng chậm phát triển

1.3.2 Căn cứ thực tiễn:

- Căn cứ vào mục tiêu phân môn KNGT do BGDĐT (Bộ Giáo Dục và Đào Tạo) ban hành trong chương trình giáo dục chuyên biệt dành cho học sinh KTTT năm 2010 Mục tiêu cơ bản của phân môn KNGT đó là giúp học sinh (HS) có mối quan hệ thân thiện với những người xung quanh, cung cấp cho trẻ vốn từ ngữ thông dụng Phát triển

kỹ năng hiểu và diễn đạt thông tin bằng các hình thức phù hợp với khả năng và nhu cầu của từng trẻ Hình thành và phát triển kỹ năng ứng xử phù hợp với bối cảnh giao tiếp khác nhau đảm bảo cho trẻ có sự giao lưu, hòa nhập được trong cuộc sống cộng đồng

- Giáo viên của trường NDT Khiếm Thị Hữu Nghị đều có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn nhưng chưa được đào tạo hướng dẫn về phương pháp, hình thức giảng dạy một

số môn kỹ năng đặc thù cho trẻ khuyết tật

Khi triển khai thực hiện chương trình giáo dục chuyên biệt do BGDĐT ban hành, nhà trường và các cấp quản lý giáo dục không tổ chức tập huấn, quán triệt về nội dung chương trình, về kỹ năng và phương pháp soạn giảng ở các môn học trong đó có phân

Trang 8

môn này Đặc biệt môn học KNGT là một môn học đặc thù, tài liệu tham khảo và sách giáo khoa không có Khi soạn giảng, giáo viên phải tự kiến tạo nội dung giảng dạy theo tên bài học và yêu cầu mức độ HS cần đạt quy định trong chương giáo dục chi tiết của môn học do nhà trường tự biên soạn Do đó, giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong công tác soạn – giảng môn dạy này Nếu GV không đầu tư nghiên cứu hoặc không có khả năng xây dựng nội dung dạy học cụ thể, phân chia nội dung tiết dạy hợp

lý, không sưu tầm chuẩn bị đồ dùng dạy học (ĐDDH) cho phù hợp và không có kỹ năng- phương pháp tổ chức tiết dạy để thu hút sự chú ý hợp tác của HS thì chất lượng các tiết dạy sẽ ra sao đây, mục tiêu môn học này có thực hiện được không

- Mặt khác, đối tượng học sinh KTTT tại trường Nuôi Dạy Trẻ Khiếm Thị Hữu Nghị luôn có môi trường giao tiếp rộng, ngoài thầy cô- bạn bè- gia đình các em thường xuyên được tiếp xúc với các ân nhân xa gần đến thăm hỏi tặng quà Nhiều em rất thích được giao lưu, gặp mặt nghe mọi người nói chuyện, vui đùa Tuy nhiên, hầu hết các

em đều gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại trong giao tiếp như: Vốn từ nghèo nàn, trẻ thường mắc các khuyết tật ngôn ngữ, khả năng diễn đạt và thể hiện kém, thường nói bâng quơ không biết chủ đích, không nói được câu đủ chủ vị…, thậm chí không biết đối đáp, không hiểu người đối diện nói gì, nói chưa tròn tiếng, tròn câu… Một số em

tự kỷ rất ngại giao tiếp, không biết thể hiện cảm xúc, nhu cầu qua lời nói cử chỉ … Đặc biệt các em rất chậm nhớ và mau quên, kém tập trung Các em rất thích sự vui nhộn mới mẻ và rất thích được khen, khi ở trạng thái hưng phấn HS sẽ hợp tác và đua nhau thực hiện Nhưng nếu nội dung học tập đơn điệu nhàm chán hoặc bị căng thẳng,

ức chế là HS sẽ uể oải, ngủ gật hoặc quậy phá, không hợp tác

Từ cơ sở sát thực trên tôi quyết tâm tìm tòi nghiên cứu tìm ra các biện pháp tối ưu nhất cho hoạt động giảng dạy của mình

1.4 Phương pháp thực hiện

Trang 9

- Nghiên cứu một số tài liệu về sự phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ KTTT và phương pháp dạy học phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khuyết tật nêu trong văn bản chương trình khung môn KNGT do BGDĐT ban hành năm 2010

- Tham khảo trên mạng Internet một số tư liệu băng hình dạy trẻ khuyết tật, trẻ bình thường có liên quan đến hoạt động giảng dạy rồi chắt lọc những cái hay và kết hợp với

ý tưởng của mình đưa vào thử nghiệm

- Quan sát và tìm hiểu về tình hình thực tế tiết dạy một số môn kỹ năng và thực tế về khả năng giao tiếp của học sinh tại đơn vị mình công tác

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các ưu nhược điểm của tiến trình dạy học, từ đó điều chỉnh và đúc kết, tổng hợp thành phương pháp mới mang tính khả thi, phù hợp với đặc thù môn học, đối tượng học sinh và nội dung dạy học

- Phương pháp thực nghiệm: Thử nghiệm và ứng dụng các phương pháp và nội dung, cách thức tổ chức mới trong tiến trình soạn bài và dạy học trên lớp

- Tham khảo, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp, giáo viên, về phương thức cách tiến hành dạy học cho phân môn mới

- Thống kê đúc kết kinh nghiệm

2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG GIẢI PHÁP

2.1 Quá trình hình thành giải pháp:

2.1.1 Thực trạng và những khó khăn:

Trang 10

Tại trường NDT Khiếm Thị Hữu Nghị, môn học KNGT mới được đưa vào thực hiện

từ năm học 2015- 2016 đến nay, phần lớn giáo viên trong trường đều ngại đảm nhận nhiệm vụ này do chưa được đào tạo bồi dưỡng, tập huấn về chương trình, phương pháp dạy KNGT, chưa biết định hướng dạy môn này như thế nào… Do môn học mới, không có sách giáo khoa và giáo viên không được tập huấn hay được cung cấp tài liệu hướng dẫn về cách soạn - giảng cho môn KNGT nên hầu hết tôi phải tự tìm tòi, kiến tạo nội dung, “nghĩ sao-làm vậy” Thời gian đầu, khi nhận nhiệm vụ giảng dạy môn KNGT tôi và các đồng nghiệp gặp rất nhiều khó khăn nhất là khâu chuẩn bị nội dung

và khâu lên lớp giảng dạy Khi mới nhận giảng dạy môn này, tôi không biết dạy như thế nào, đa số dạy chay không có đồ dùng dạy học Căn cứ vào tên bài học và các tiêu chí mức độ yêu cầu cần đạt ghi trong chương trình chi tiết do trường biên soạn, tôi ra sức hướng dẫn, làm mẫu rồi cho học sinh thực hành nhiều lần Tuy vậy vì không có nội dung cụ thể nên dù GV cố gắng lắm thì cũng chỉ dạy nội dung 1 bài trong 15 đến

20 phút là xong Còn về phần Học sinh KTTT của trường đặc biệt là HS khối 1 (trình

độ 1) hầu hết các em khó khăn về ngôn ngữ, khó phát âm, vốn từ quá nghèo nàn, thậm chí một số em không biết trả lời câu hỏi đơn giản như “em mấy tuổi, em có thích không…” mà chỉ biết lặp lại câu tương tự của người hỏi Một số em còn có vấn đề về hành vi thích thì làm theo không thích thì thôi, hầu hết trẻ rụt rè, nhút nhát, thiếu tự

tin, ngại giao tiếp … Khi học môn KNGT, HS KTTT gặp rất nhiều khó khăn, các em

không hiểu được người tiếp chuyện với mình nói gì và yêu cầu mình làm gì, nhiều HS chưa biết thể hiện nhu cầu giao tiếp, có những HS chưa biết thể hiện lời nói theo suy nghĩ của mình, nói chưa rõ ý, chưa nói được tròn câu…Với nội dung và cách dạy đơn điệu như trên, trong giờ học các em nói theo cô mãi cũng chán đến lúc chẳng HS nào muốn nói, đa số HS uể oải, ngủ gật hoặc chọc ghẹo bạn Giờ học diễn ra tẻ nhạt, căng thẳng, giáo viên và học sinh đều cảm thấy nhàm chán nên chất lượng dạy và học không đạt hiệu quả Học sinh không những không phát triển được kỹ năng theo yêu cầu mà còn ngày càng ngại giao tiếp, thụ động và chán học…Sau những tiết dạy đó, bản thân tôi rất buồn và luôn có cảm giác mệt mỏi, ức chế Hoạt động soạn giảng môn học này của tôi gặp nhiều bất cập và rơi vào tình trạng bế tắc Đặc biệt khi lượng giá

Trang 11

chất lượng HS ở môn KNGT học kỳ I năm học 2015- 2016 (dựa vào mức độ cần đạt theo chương trình nhà trường xây dựng) thì đa số các em đạt mức hoàn thành với mức

độ tiêu chí đạt được thấp Phần đông các em nhút nhát, thiếu tự tin khi được hỏi, nói rất nhỏ, ít khi nhìn người đối diện khi nói Đa số các em hay nói trống, cụt lủn, thiếu chủ- vị…., trong giờ học, nhiều HS thụ động, giáo viên phải trợ giúp rất nhiều khi thực hành

2.1.2 Quá trình hình thành giải pháp:

- Từ những thực trạng trên, tôi suy nghĩ mình phải có trách nhiệm tìm cách cải thiện tình trạng bất cập này Sau 3 tháng dạy môn học này, tôi bắt đầu tiến hành nghiên cứu, thử nghiệm Trước hết tôi tìm hiểu về chương trình chi tiết môn KNGT (do trường biên soạn) để nắm rõ cấu trúc, các chủ đề của chương trình Tiếp theo, tôi tiến hành nghiên cứu định hình và phân chia nội dung hợp lý cho từng tiết, thiết kế bài giảng theo hướng phát huy tính tích cực của HS và lấy HS làm trung tâm.Trước mỗi bài dạy, tôi thường trăn trở tự hỏi mình sẽ dạy nội dung gì, dạy như thế nào để dạy bài này trong 1 tiết (35 đến 40 phút) thậm chí có bài dạy trong 2-> 3 tiết Làm sao trong thời gian ấy cả thầy lẫn trò có thể hoạt động đồng bộ mà không nhàm chán và thực hiện được mục tiêu bài dạy trong khi môn học này không có sách giáo khoa như 1 số môn học khác, chương trình chỉ ghi tên bài (chẳng hạn như: bài “Chỗ ngồi của em” hay bài

“Tên bạn bên cạnh” ở lớp 1a) – số tiết dạy và các tiêu chí mức độ yêu cầu HS cần đạt

Ở trường chưa hề có đồ dùng để dạy - không có tài liệu hướng dẫn cách soạn – giảng

và chưa có GV nào trong trường đã từng thực hiện giảng dạy môn này để mình học hỏi

Sau đó tôi tiến hành tìm kiếm sưu tầm những hình ảnh, video trên mạng, những tài liệu có liên quan đến bài dạy trong chương trình để tham khảo Đồng thời tôi tiến hành xây dựng nội dung tạo ra đoạn video clip hoặc hình ảnh liên quan đến của bài dạy Tôi sử dụng ngay loại đồ dùng này trình chiếu bằng ứng dụng Powerpoint trong bài giảng trên lớp Thấy loại đồ dùng dạy học này có sự hấp dẫn, thiết thực đối với

HS, tôi tiếp tục làm các đoạn video khác cho các bài dạy ở các lớp Mặt khác, để tạo

sự phong phú và hấp dẫn ở bài khác, tôi lại bắt đầu viết truyện ngắn chứa nội dung

Trang 12

trong bài học và sử dụng những con thú bông để kết hợp mô phỏng cử chỉ của nhân vật theo lời kể của GV Loại hình này khi thực hiện cũng rất khả thi, gây được sự chú

ý của HS và giúp HS tiếp thu bài tốt hơn Từ đó, tôi tiếp tục làm cho những bài học khác ở các lớp Các sản phẩm ĐDDH trên (tranh ảnh, đoạn video clip, thú bông, vật dụng, truyện ngắn…) tôi đã tổng hợp lại và tạo thành file bộ đồ dùng dạy học dạy môn KNGT Bộ đồ dùng này tôi thường xuyên sử dụng trong các tiết học trên lớp

Tiếp theo tôi tiến hành nghiên cứu cách tổ chức tiết học trên lớp sao cho cả GV

và HS không bị nhàm chán, thu hút được sự tham gia của HS, tập trung chú ý của HS trong suốt 35 đến 40 phút mà HS có thể tham gia một cách tự nguyện, sôi nổi, phát huy hết khả năng của từng HS Tôi sử dụng ứng dụng Powerpoint tạo các trang slaide

có hiệu ứng hình ảnh và âm thanh sống động, tôi áp dụng thí điểm vào giảng dạy trên

1 lớp và thấy có kết quả tốt Tôi tiến hành áp dụng đồng bộ những giải pháp trên một cách thường xuyên ở tất cả các lớp tôi giảng dạy và sau mỗi tiết dạy tôi lại xem xét thêm - bớt nội dung, sắp xếp lại cách thức tổ chức cho hợp lý nhất để đảm bảo thời gian tiết dạy Từ đó tôi tổng hợp lại các biện pháp tối ưu đã thực hiện và đưa vào vận dụng linh hoạt trong việc tổ chức soạn - giảng các bài dạy tiếp theo Để kiểm chứng thêm về tính khả thi của các giải pháp mình đã tìm ra, khi được tổ chuyên môn phân công chủ trì xây dựng chuyên đề về “Định hướng phương pháp dạy KNGT cho HS KTTT” tôi đã đưa các biện pháp của mình vào nội dung chuyên đề và báo cáo để tổ chuyên môn xem xét góp ý

2.2 Nội dung giải pháp:

2.2.1 Tập trung thực hiện tốt khâu chuẩn bị lên lớp:

2.2.1.1 Thiết kế nội dung bài dạy:

Trước khi soạn- giảng, tôi nghiên cứu kỹ nội dung quy định về mức độ yêu cầu HS cần đạt ở bài học, từ đó xác định mục tiêu bài học, phân chia nội dung trọng tâm cho từng tiết trong 1 bài:

Khi xác định mục tiêu, tôi chú trọng định ra HS khá sẽ đạt được gì và HS yếu

sẽ đạt được gì ở bài đó Để đạt được mực tiêu bài học tôi lại tiếp tục xác định lượng kiến thức cho từng tiết sao cho kiến thức truyền đạt tới HS từ dễ đến khó Đây là bước

Ngày đăng: 07/01/2022, 03:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.3. Căn cứ hình thành giải pháp. - mot so bien phap to chuc giang day phan mon ky nang giao tiep cho tre khuyet tat tri tue khoi 1 dat hieu qua
1.3. Căn cứ hình thành giải pháp (Trang 4)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w