1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Thủ tục hải quan ở cảng biển của Mỹ đối với thực phẩm nhập khẩu” pdf

119 432 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thủ tục hải quan ở cảng biển của Mỹ đối với thực phẩm nhập khẩu
Tác giả Vũ Thị Ánh Hồng
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Ngọc Thiết
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế ngoại thương
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những suy nghĩ như trên, tôi xin mạnh dạn chọn đề tài “Thủ tục hải quan ở cảng biển của Mỹ đối với thực phẩm nhập khẩu” để làm khoá luận tốt nghiệp và hy vọng rằng khoá luận sẽ phần

Trang 1

X^ ]W

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Thủ tục hải quan ở cảng biển của

Mỹ đối với thực phẩm nhập khẩu

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔNG QUAN VỀ HẢI QUAN VÀ THỰC PHẨM

Ở MỸ 1

1.1 Hải quan Mỹ 1

1.1.1 Lịch sử hải quan Mỹ 1

1.1.2 Tổ chức hải quan Mỹ 3

1.1.3 Nhiệm vụ hải quan Mỹ 11

1.2 Thực phẩm ở Mỹ 12

1.2.1 Những văn bản luật chủ yếu liên quan đến thực phẩm ở Mỹ 13

1.2.2 Những tổ chức có chức năng quản lý an toàn thực phẩm ở Mỹ 19 1.2.3 Tình hình nhập khẩu thực phẩm của Mỹ 26

CHƯƠNG 2 THỦ TỤC HẢI QUAN Ở CẢNG BIỂN CỦA MỸ ĐỐI VỚI THỰC PHẨM NHẬP KHẨU 32

2.1 Khai báo hải quan đối với hàng thực phẩm nhập khẩu 32

2.1.1 Quyền được làm thủ tục nhập khẩu với hải quan 32

2.1.2 Địa điểm khai báo 34

2.1.3 Thời gian khai báo 35

2.1.4 Nhân viên và cơ quan hải quan ở cảng 35

2.1.5 Bộ hồ sơ khai báo hàng thực phẩm nhập khẩu 36

2.2 Kiểm tra hàng thực phẩm nhập khẩu và chứng từ nhập khẩu 47 2.2.1 Nội dung kiểm tra 48

2.2.3 Hình thức kiểm tra 58

2.3 Tính và thu thuế hàng thực phẩm nhập khẩu 59

2.3.1 Phân loại hàng thực phẩm nhập khẩu 63

2.3.2 Trị giá tính thuế của hàng thực phẩm nhập khẩu 67

2.3.3 Thông báo thuế và thu thuế 72

2.3.4 Miễn thuế, hoàn thuế 74

2.3.5 Phí hải quan 75

2.4 Thông quan hàng thực phẩm nhập khẩu 75

2.4.1 Điều kiện thông quan 75

2.4.2 Cách thức thông quan hàng thực phẩm nhập khẩu 76

2.5 Thanh tra đánh giá sự chấp hành các quy định của nhà nhập khẩu 77

2.5.1 Nội dung thanh tra 77

2.5.2 Quy trình thanh tra 77

Trang 4

CHƯƠNG 3 NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN CỦA MỸ KHI

XUẤT KHẨU HÀNG THỰC PHẨM VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG

NÀY 79

3.1 Tình hình xuất khẩu thực phẩm của Việt Nam sang Mỹ 79

3.1.1 Tình hình xuất khẩu thực phẩm của Việt Nam sang Mỹ 79

3.1.2 Những khó khăn của Việt Nam khi tiến hành xuất khẩu hàng thực phẩm sang Mỹ 82

3.2 Những điểm cần lưu ý các doanh nghiệp Việt Nam về thủ tục hải quan của Mỹ đối với nhập khẩu hàng thực phẩm 89

3.2.1 Chuẩn bị lô hàng thực phẩm 90

3.2.2 Chuẩn bị bộ hồ sơ về hàng thực phẩm 95

3.2.3 Chú ý về việc thuê tàu chở hàng thực phẩm 100

3.2.4 Thuê môi giới hải quan 101

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

CBP Tổng cục hải quan và bảo vệ biên giới USC Bộ luật nước Mỹ

CFR Luật về các quy định liên bang

FDA Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm FSIS Cơ quan kiểm tra và an toàn thực phẩm

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Mỹ được đánh giá là thị trường đầy tiềm năng và hết sức hấp dẫn đối với hầu hết các nhà xuất khẩu ở các nước trên thế giới Với số dân trên 270 triệu người, GDP trung bình mỗi năm gần 8000 tỷ USD, nhu cầu về hàng hoá nhập khẩu vô cùng đa dạng, đủ mọi chủng loại, cấp độ, thị trường Mỹ đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trong đó có cả những nền kinh tế lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc và những nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi, Mỹ la tinh…Đó là một thực tế đã được thừa nhận, là kinh nghiệm đã được chứng minh Việt Nam đã và đang từng bước đi theo con đường ấy với những thế mạnh và tinh thần riêng có của đất nước Hiệp định thương mại Việt Mỹ được ký kết và có hiệu lực từ 10/12/2001 đã đẩy mạnh hơn nữa quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, là nhân tố chủ yếu đưa Mỹ trở thành nhà nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, vượt trên cả những thị trường truyền thống như EU, Nhật Bản với tổng giá trị nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2003 đạt 3,195 tỷ USD (Bộ thương mại Việt Nam, số liệu xuất nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2003) Trong số những mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ, thực phẩm đóng một vai trò quan trọng đáng kể, chiếm tỷ trọng khá cao về số lượng các mặt hàng xuất khẩu cũng như về kim ngạch trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung sang Mỹ và một số mặt hàng như thủy sản, hạt điều được coi là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hướng tới thị trường Mỹ Trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai, khi cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam thay đổi theo xu hướng chung là nâng cao tỷ trọng thành phẩm công nghiệp, giảm tỷ trọng nguyên liệu thô sơ chế trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, thì mặt hàng thực phẩm của Việt Nam xuất sang Mỹ không vì thế mà giảm đi, ngược lại sẽ tiếp tục tăng và có những thay đổi về chất

Tuy nhiên, đúng như nhận xét, thị trường Mỹ, cửa mở rộng nhưng không

dễ vào sâu Rào cản đầu tiên đối với hàng Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chính

là thủ tục hải quan Thủ tục hải quan của Mỹ được coi là chặt chẽ, gắt gao và phức tạp trong mọi khâu, mọi quy trình từ khai báo hải quan, kiểm tra chứng

từ, hàng hoá nhập khẩu cho đến khâu thông quan và kiểm tra sau thông quan

Trang 7

Đối với hàng thực phẩm, thủ tục này lại càng đòi hỏi cao hơn, chặt chẽ hơn, liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau của Mỹ không riêng gì hải quan, để đảm bảo nguồn cung cấp thực phẩm an toàn nhất cho người dân, cho động thực vật và cho môi trường Mỹ Tìm hiểu thủ tục hải quan của Mỹ đối với hàng thực phẩm nhập khẩu là rất cần thiết, góp phần quan trọng vào việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng thực phẩm Việt Nam vào thị trường Mỹ từ đó mà xây dựng, mở rộng thị phần và củng cố thương hiệu hàng Việt Nam trên đất Mỹ, làm cho kim ngạch xuất khẩu nói chung của đất nước tăng lên nhanh chóng

Với những suy nghĩ như trên, tôi xin mạnh dạn chọn đề tài “Thủ tục hải quan ở cảng biển của Mỹ đối với thực phẩm nhập khẩu” để làm khoá luận

tốt nghiệp và hy vọng rằng khoá luận sẽ phần nào có ích cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng thực phẩm sang Mỹ trong việc nghiên cứu tìm hiểu thị trường này

Khoá luận được kết cấu thành ba chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề tổng quan về hải quan và thực phẩm ở Mỹ Chương 2: Thủ tục hải quan ở cảng biển của Mỹ đối với thực phẩm nhập khẩu

Chương 3: Những điểm cần lưu ý về thủ tục hải quan của Mỹ khi xuất khẩu hàng thực phẩm Việt Nam sang thị trường này

Do điều kiện thời gian nghiên cứu chưa nhiều, và khả năng có hạn nên khoá luận, tuy được thực hiện hết sức nghiêm túc và công phu, nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót khiếm khuyết, người viết kính mong nhận được những ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy cô giáo và của các độc giả

Cuối cùng, tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Ngọc Thiết đã trực tiếp giúp đỡ và hướng dẫn tận tình cho tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chăm sóc và giúp đỡ của bạn bè, gia đình trong suốt quá trình làm khoá luận

Trang 8

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔNG QUAN VỀ HẢI QUAN VÀ

Trong gần 125 năm sau đó, Hải quan Mỹ là nguồn cung cấp gần như toàn bộ ngân sách của cả bộ máy chính quyền Mỹ Hải quan Mỹ chi trả cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng ban đầu và góp phần quan trọng gây dựng sự lớn mạnh từ rất sớm của nước Mỹ Nhờ những khoản thuế mà hải quan thu về, nước Mỹ đã mua được cả những vùng lãnh thổ như Lousiana, Oregon, Florida

và Alaska, xây dựng nên tuyến đường sắt xuyên lục địa kéo dài từ đông sang tây, con đường quốc gia từ Cumberland, qua Maryland đến Weeling và sang tận phía đông Virginia, những ngọn hải đăng quốc gia, học viện quân sự và hải quân Mỹ…Danh sách những công trình do hải quan xây dựng vẫn còn

Trang 9

đang được nối dài không chỉ dừng lại ở đó Cho đến năm 1835, chỉ riêng những khoản thu nhập do hải quan Mỹ đem lại đã đủ trang trải hết nợ nần cho nước Mỹ Bên bờ vực của tình trạng vỡ nợ, nước Mỹ đi lên và ngày càng phát triển với những đóng góp to lớn của ngành hải quan

Ngày nay, Hải quan Mỹ vẫn còn tiếp tục lớn mạnh và trở thành nguồn cung cấp ngân sách chủ yếu cho chính quyền liên bang

Năm 2003, tổng cục hải quan Mỹ hợp nhất với cơ quan tuần tra biên giới, cơ quan di trú và quốc tịch Mỹ và cơ quan phụ trách về nông nghiệp và kiểm dịch, cách ly thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ để hình thành nên Tổng cục hải quan và bảo vệ biên giới (Customs and Border Protection (CBP)) Hơn 30 năm qua, rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra việc cần thiết phải hợp nhất các cơ quan này Đó là một thay đổi có ý nghĩa quan trọng để cải thiện cách quản lý những vấn đề về biên giới hiện nay của nước Mỹ

Ngày 1 tháng 3 năm 2003 Tổng cục hải quan và bảo vệ biên giới (CBP)

đã chính thức trở thành một cơ quan của Bộ An ninh quốc nội Mỹ (Department of Homeland Security) Một quan chức Mỹ đã nhận định rằng: với sự ra đời của CBP “chúng ta đang phối hợp được tất cả những kỹ năng và nguồn lực của chúng ta để đảm bảo rằng chúng ta sẽ quản lý biên giới hiệu quả hơn nhiều so với trước đây khi mà trách nhiệm quản lý biên giới bị chia

về nhiều cơ quan trực thuộc các bộ khác nhau” Lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ con người cũng như hàng hoá khi tới Hoa Kỳ sẽ được chào đón bởi một tổ chức biên giới duy nhất, với mục tiêu thống nhất là tạo thuận lợi cho quá trình thương mại và du lịch hợp pháp giữa Mỹ với các quốc gia khác bằng mọi nguồn lực hiện có của Mỹ để bảo vệ và giúp nước này chống lại những thế lực thù địch Trong những tháng tới đây, trách nhiệm của những cơ quan tiền nhiệm nói trên sẽ được CBP đảm nhận, tài liệu về CBP cũng sẽ được ban hành Như vậy với Tổng cục hải quan và bảo vệ biên giới (CBP), những chức năng nhiệm vụ chính của Tổng cục hải quan Mỹ trước đây sẽ được tăng

Trang 10

cường hơn nữa, đảm bảo một sự quản lý toàn diện, kỹ lưỡng những vấn đề về biên giới của đất nước

1.1.2 Tổ chức hải quan Mỹ

Tổng cục hải quan và bảo vệ biên giới (CBP) trực thuộc Bộ An ninh quốc nội Mỹ có cơ cấu tổ chức tương tự như Tổng cục hải quan trực thuộc Bộ Tài chính trước đây CBP có khoảng 40 000 người làm việc Lãnh thổ hoạt động của CBP bao gồm 50 tiểu bang, quận Columbia và Puerto Rico CBP có trụ sở chính đặt tại Washington D.C Tổng cục trưởng là người đứng đầu CBP

do tổng thống chỉ định Dưới tổng cục trưởng là phó tổng cục trưởng Giúp việc cho tổng cục trưởng là một bộ máy bao gồm nhiều cơ quan khác nhau

Sơ đồ sau đây sẽ mô tả cơ cấu tổ chức lãnh đạo hải quan toàn liên bang

Cơ quan quản lý

các hoạt động

chuyên môn

Cơ quan tuần tra

Cơ quan quản lý các quy định, quy chế

Cơ quan quản lý hoạt động thương mại chiến lược

Cơ quan đào tạo và

Cơ quan quản lý nguồn nhân lực

Cơ quan thông tin

và công nghệ

Cơ quan tình báo

Tổng cục trưởng Phó tổng cục trưởng

Cơ quan quản lý việc

chuyển đổi

Vụ quan hệ thương mại

Cơ quan nội vụ

Hội đồng cố vấn

Vụ quan hệ công chúng

Cơ quan phụ trách các vấn đề liên quan tới quốc

Trang 11

- Hội đồng cố vấn

Hội đồng cố vấn là cơ quan cố vấn pháp luật của CBP Hội đồng cố vấn hoạt động như là một nhà cố vấn pháp luật cho tổng cục trưởng, các viên chức cũng như những người làm công của CBP Hội đồng cố vấn pháp luật đưa ra những lời khuyên pháp lý hoặc là đại diện trước pháp luật cho những viên chức của CBP trong những vụ việc liên quan đến hoạt động và thực hiện chức năng của CBP Hội đồng cố vấn pháp luật cũng chịu trách nhiệm xem xét lại những vụ kiện do CBP đề xuất để đảm bảo đúng những yêu cầu của pháp luật, chuẩn bị những câu trả lời trong các phiên toà dân sự, hình sự liên quan tới CBP, phát triển, thực thi và đánh giá chương trình, chính sách, thủ tục mở rộng dịch vụ hải quan trong phạm vi chức năng của nó Hội đồng cố vấn có cả trụ sở và những cơ quan liên kết và hỗ trợ đóng ở các địa phương không những để đảm bảo chức năng, nhiệm vụ chính của hội đồng mà còn giúp đỡ những viên chức hải quan ở địa phương thực hiện tốt chức năng theo thẩm quyền cũng như khu vực quản lý của họ

- Cơ quan quản lý việc chuyển đổi

Đứng đầu là một giám đốc, cơ quan này chịu trách nhiệm đảm bảo sự phối hợp thống nhất, suôn sẻ giữa bốn cơ quan trong CBP đó là Tổng cục hải quan, cơ quan tuần tra biên giới, cơ quan di trú và quốc tịch Mỹ và cơ quan phụ trách về nông nghiệp và kiểm dịch, cách ly thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ

Sự phối hợp này bao gồm tất cả những lĩnh vực như việc thi hành luật, những vấn đề về thương mại, văn hoá, các hoạt động, ngân sách, nguồn nhân lực, đào tạo…Việc liên kết giữa những tổ chức này liên quan đến tổng ngân sách hoạt động lên tới 6,7 tỷ USD với số nhân viên khoảng 40 000 người

Trang 12

Đứng đầu cơ quan là một trợ lý đặc biệt của Tổng cục trưởng chuyên trách vấn đề cơ hội việc làm công bằng Cơ quan này đảm bảo sự thi hành đúng quyền công dân theo những luật và quy định của chính quyền liên bang

về vấn đề việc làm Mọi nhân viên hải quan cũng như những người xin làm việc tại các cơ quan hải quan đều được đảm bảo có cơ hội việc làm bình đẳng không phân biệt chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính, lứa tuổi, xuất xứ quốc gia…

- Vụ chính sách và kế hoạch

Chức năng chủ yếu của cơ quan là hoạch định chiến lược tổng thể, kế hoạch mục tiêu của hải quan Mỹ, phân tích thống kê, đánh giá việc thực hiện chiến lược, kế hoạch đó Hoạt động của cơ quan này có mối liên hệ chặt chẽ với những cơ quan thanh tra bên ngoài Vụ chính sách và kế hoạch có thể đề xuất những giải pháp sáng tạo, đổi mới trong việc thực hiện kế hoạch hoặc trong phương pháp thống kê, điều tra, nghiên cứu, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch đề ra của hải quan

- Vụ quan hệ thương mại

Vụ quan hệ thương mại có trách nhiệm khuyến khích, tạo thuận lợi cho những mối quan hệ tích cực giữa hải quan với cộng đồng kinh doanh Trách nhiệm này bao hàm cả việc xem xét, lắng nghe mối quan tâm của những cá nhân hay nhóm kinh doanh thương mại và đưa ra những khuyến nghị cho ngành hải quan để giải quyết những yêu cầu chính đáng của họ Với mục tiêu đẩy mạnh sự cộng tác chặt chẽ giữa hải quan và giới kinh doanh thông qua rất nhiều chương trình khác nhau, vụ này không những cho phép cơ quan hải quan Mỹ hiểu được mối quan tâm của giới kinh doanh mà còn tăng cường hiểu biết của giới kinh doanh về những chính sách của hải quan Việc thiết lập những kênh thông tin chính thức và không chính thức giữa hải quan và cộng đồng kinh doanh của Vụ quan hệ thương mại cho phép sự xem xét lại những chính sách, kế hoạch đã đưa ra đồng thời cố vấn cho tổng cục trưởng Tổng cục hải quan, viên chức Bộ Tài chính và quốc hội để đảm bảo cung cấp dịch

vụ hải quan có chất lượng

Trang 13

- Cơ quan tình báo

Nhiệm vụ của cơ quan tình báo trong CBP gồm hai nội dung quan trọng Một là phát hiện và xác định rõ tội phạm, ma tuý, buôn lậu và những nhóm khủng bố có ý định thâm nhập hoặc sử dụng biên giới của Hoa Kỳ để hoạt động bất hợp pháp Hai là phổ biến hoạt động tình báo về điều tra tội phạm và nhóm khủng bố mang tính chiến lược, chiến thuật đến tận những đơn vị của CBP ở biên giới Cơ quan tình báo của CBP cũng chịu trách nhiệm cung cấp những thiết bị tình báo thích hợp để hỗ trợ các cơ quan hải quan thực hiện tốt nhiệm vụ của mình ví dụ như máy phát hiện ma tuý…

- Cơ quan tuần tra biên giới

Sau vụ khủng bố ngày 11/9, Mỹ tăng cường các biện pháp an ninh nhằm ngăn chặn khủng bố, bảo vệ đất nước và người dân Mỹ Đây là cơ quan đầu tiên chịu trách nhiệm thi hành những quy định, luật lệ liên bang nhằm ngăn ngừa sự xâm nhập của khủng bố và vũ khí khủng bố vào Mỹ qua những cảng nhập khẩu của CBP Nhiệm vụ truyền thống trước đây của tổ chức này là thi hành những luật về nhập cư, phát hiện, cấm, bắt giữ những người có ý định vào Mỹ một cách bất hợp pháp hay những kẻ buôn lậu qua biên giới Cơ quan tuần tra biên giới có số nhân viên lên đến 12700 người trong số đó có tới

11120 người được phân công tuần tra hơn 6000 dặm biên giới mặt đất của

Mỹ Cơ quan này có số ngân sách hoạt động là 1,4 tỷ USD

- Cơ quan phụ trách các vấn đề liên quan tới quốc hội

Cơ quan này chịu trách nhiệm cố vấn cho những nhà quản lý, lãnh đạo của CBP về các vấn đề lập pháp, quốc hội đồng thời giúp các nghị sĩ quốc hội

và những nhân viên của họ hiểu được những chương trình hoạt động hiện tại cũng như những chương trình đề xuất của hải quan

- Cơ quan quản lý các hoạt động chuyên môn

Đứng đầu là một trợ lý của Tổng cục trưởng CBP, cơ quan này quản lý

số nhân viên lên tới 25 000 người trong đó có hơn 19 000 chuyên gia kiểm tra

Trang 14

hàng năm là 1,1 tỷ USD, cơ quan quản lý các hoạt động chuyên môn đảm nhiệm hoạt động của 20 cơ quan trực thuộc, tại 317 cảng nhập khẩu, 14 trạm khai báo trước hải quan tại Canađa và Caribê, chương trình chính sách nhập

cư, chương trình kiểm dịch, cách ly nông nghiệp tại tất cả các cảng nhập cảnh

Cơ quan có trách nhiệm quản lý các chương trình chính yếu của CBP như chương trình an toàn và tạo thuận lợi biên giới, nhập khẩu và giải phóng hàng, quản lý rủi ro thương mại, hoạt động thương mại chống khủng bố…

- Cơ quan tài chính

Cơ quan này có trách nhiệm quản lý một loạt những hoạt động quản lý tài chính đa dạng và phức tạp trong CBP bao gồm kế toán, ngân sách, nguồn thu về, hậu cần, hệ thống, chính sách, kế hoạch tài chính, thanh tra sổ sách… Một báo cáo kế toán hàng năm được chuẩn bị và đệ trình lên Bộ Tài chính bao gồm những phân tích tài chính, một bản mô tả về hiệu quả của công tác kiểm tra việc quản lý tài chính, kết quả thực hiện những chương trình có liên quan tới nhiệm vụ, mục tiêu của CBP…

- Cơ quan quản lý nguồn nhân lực

Cơ quan quản lý nguồn nhân lực chịu trách nhiệm lập kế hoạch cung cấp nguồn nhân lực đủ về số lượng và chất lượng cho CBP tạo thuận lợi cho tiến trình thương mại, đào tạo, quản lý lao động, đảm bảo an toàn cho lực lượng lao động ở các cơ quan hải quan Cơ quan này phối hợp chặt chẽ với cơ quan phụ trách vấn đề cơ hội việc làm công bằng, để đưa mục tiêu cơ hội việc làm công bằng vào những chính sách về nguồn nhân lực của CBP

- Cơ quan thông tin và công nghệ

Cơ quan thông tin và công nghệ đảm bảo thực hiện và hỗ trợ các hoạt động liên quan đến công nghệ thông tin, nghiên cứu và phát triển các chiến lược công nghệ và sự tự động hoá để đáp ứng nhu cầu mà công việc của hải quan đòi hỏi Đặc biệt, cơ quan chịu trách nhiệm cung cấp hệ thống thông tin

tự động, quản lý việc nghiên cứu và phát triển công nghệ thông tin trong ngành hải quan Nhân viên của cơ quan thông tin và công nghệ quản lý tất cả

Trang 15

các máy tính và các nguồn có liên quan trong chương trình an toàn cho máy tính, thiết lập giao diện máy tính giữa CBP với giới thương mại và những cơ quan chính quyền khác

- Cơ quan nội vụ

Cơ quan nội vụ có thẩm quyền giám sát mọi hoạt động, cơ sở vật chất và nhân viên của hải quan Trách nhiệm của cơ quan này là đảm bảo việc tuân thủ theo đúng chương trình, chính sách của hải quan về vấn đề tham nhũng, thông đồng hay quản lý kém Cơ quan nội vụ thường xuyên kiểm tra, giám sát

để đảm bảo sự an toàn, trong sạch trong nội bộ hải quan đồng thời cũng tuyên truyền, giáo dục tiêu chuẩn đạo đức và trách nhiệm liêm chính, chính công vô

tư cho các nhân viên hải quan Với trụ sở ở Washington D.C và các cơ quan trực thuộc đóng ở các vùng mang tính chiến lược, cơ quan nội vụ có thể điều tra được sự vi phạm trong quản lý hành chính của các nhân viên hải quan từ

đó có các biện pháp xử lý kịp thời

- Vụ quan hệ quốc tế

Vụ này có trách nhiệm quản lý những hoạt động, chương trình mang tính quốc tế, hướng dẫn các quan hệ song phương, đa phương của hải quan Mỹ với các nước khác Vụ quan hệ quốc tế cũng có thẩm quyền xem xét việc thỏa thuận và thực thi tất cả các điều ước quốc tế của hải quan Mỹ

- Vụ quan hệ công chúng

Vụ này giám sát quá trình truyền thông quốc gia, quốc tế thông qua đội ngũ nhân viên của nó trong những lĩnh vực sau: báo chí, internet, phương tiện nghe nhìn, xuất bản ấn phẩm, diễn văn, truyền thông nội bộ, và thông tin công cộng

- Cơ quan quản lý các quy định, quy chế

Cơ quan này chịu trách nhiệm chính trong việc phát triển, thực thi và đánh giá những chương trình, chính sách, thủ tục hải quan Cơ quan cung cấp tất cả những thông tin cần thiết liên quan đến luật, quy định, thủ tục do hải

Trang 16

có thể đưa ra những hướng dẫn liên quan đến phân loại và tính trị giá hàng hoá, phương tiện vận tải, giảm thuế, cấp phép, giấy bảo đảm nộp thuế, quyền

sở hữu trí tuệ, những mặt hàng hạn chế nhập…

- Cơ quan quản lý hoạt động thương mại chiến lược

Cơ quan này chịu trách nhiệm xác định và đương đầu với những vấn đề thương mại quan trọng nảy sinh đối với nước Mỹ ví dụ quyền sở hữu trí tuệ, thương mại chống khủng bố…Cơ quan đảm bảo phát triển những chiến lược nhằm đánh giá mức độ chấp hành những luật lệ và nguyên tắc thương mại của các nhà xuất nhập khẩu tại các cơ quan hải quan Thông qua việc phát hành những ấn phẩm công bố tình hình chấp hành quy định, quy tắc hải quan, cơ quan quản lý hoạt động thương mại chiến lược khuyến nghị các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nỗ lực tìm hiểu và thực hiện đúng các quy định của hải quan

và thương mại

- Cơ quan đào tạo và phát triển

Cơ quan đào tạo và phát triển tập trung sự chỉ đạo và hướng dẫn mọi chương trình đào tạo hải quan và nhân lực có liên quan tới quá trình đào tạo

Cơ quan đảm bảo mọi nỗ lực đào tạo sẽ hỗ trợ cho ngành hải quan thực hiện được nhiệm vụ và mục tiêu đề ra, đáp ứng được nhu cầu về nguồn nhân lực hải quan hết sức đa dạng, phức tạp, liên quan đến mọi ngành nghề Cơ quan đào tạo và phát triển lập nên những tiêu chuẩn và chính sách để thiết kế, phát triển, phổ biến và đánh giá quá trình đào tạo Cơ quan thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các chương trình đào tạo hải quan Bên cạnh đó, việc cải thiện và mở rộng khả năng tự học hỏi của các nhân viên hải quan cũng là một nội dung quan trọng trong chức năng của cơ quan đào tạo và phát triển Như vậy, cơ cấu bộ máy lãnh đạo giúp việc cho Tổng cục trưởng CBP khá hoàn chỉnh Nó bao gồm tất cả các cơ quan quản lý nhiều mặt, nhiều khía cạnh công việc của hải quan đảm bảo cho hải quan thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình Điểm nổi bật quan trọng của các cơ quan lãnh đạo hải quan toàn liên bang này là sự kết hợp giữa nguồn nhân lực được đào tạo, có

Trang 17

trình độ chuyên môn cao với những trang thiết bị kỹ thuật hỗ trợ hiện đại Chính điều này đã giúp cho cơ quan hải quan Mỹ không những thực hiện tốt hoạt động của mình mà còn hỗ trợ các cơ quan, ban ngành khác trong việc bảo vệ, xây dựng và phát triển kinh tế đất nước Hoa Kỳ

Hệ thống tổ chức toàn liên bang của CBP bao gồm 20 Trung tâm Quản

lý Hải quan (Customs Management Centers) được đặt ở những phân vùng địa

lý trọng điểm ví dụ vùng biên giới tiếp giáp với Canada, vùng biển Thái Bình Dương…Đứng đầu mỗi trung tâm quản lý hải quan là giám đốc trung tâm chịu trách nhiệm quản lý nội bộ và nhân sự hải quan Dưới các trung tâm quản lý hải quan là các cơ quan hải quan cửa khẩu (tại các cảng biển, sân bay, bưu điện quốc tế) Đứng đầu là mỗi cơ quan hải quan cửa khẩu là một giám đốc Các cơ quan này chịu trách nhiệm thực hiện các tác nghiệp cụ thể đối với các chuyến hàng xuất nhập khẩu Do vậy đây chính là các cơ quan được cộng đồng doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn cả Ngoài ra để quản lý chính sách hải quan ở tầm thương mại vĩ mô theo khu vực địa lý thế giới, CBP còn có 5 trung tâm quản lý chiến lược (Strategic Management Centers) Trong đó trung tâm quản lý chiến lược Chicago phụ trách thị trường Canada, trung tâm quản

lý chiến lược Dallas phụ trách Mexico và các nước Trung Mỹ, trung tâm quản

lý chiến lược Maiami phụ trách các nước Nam Mỹ và vịnh Caribe, trung tâm quản lý chiến lược New York phụ trách thị trường Châu Âu, Châu Phi và Trung Đông và trung tâm quản lý chiến lược Long Beach phụ trách vành đai Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam Long Beach là một trong ba cảng lớn nhất của miền Tây nước Mỹ, Long Beach tiếp nhận tất cả các hàng hoá của khu vực Đông Nam Á đưa vào Mỹ Theo ông Michael J.Kelly, giám đốc hải quan cảng Long Beach, có tới 90% hàng hoá của Việt Nam làm thủ tục hải quan ở cảng này

CBP có một cơ cấu tổ chức khá chặt chẽ và hoàn chỉnh đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất từ trên xuống dưới cũng như sự phối hợp có hiệu quả giữa các

Trang 18

hơn nữa để thích nghi với hoàn cảnh mới trong đó thương mại của Mỹ với các nước trên thế giới không ngừng phát triển, những thế lực thù địch ngày càng hoạt động tinh vi hơn, yêu cầu tiêu dùng ngày càng khắt khe của người dân Mỹ…

1.1.3 Nhiệm vụ hải quan Mỹ

CBP vẫn tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ truyền thống của Tổng cục hải quan Mỹ trước đây Đó là:

- Quản lý việc thực hiện Luật thuế quan nhập khẩu năm 1930 đã qua sửa đổi

- Thi hành những quy định, quy tắc do chính Hải quan ban hành đồng thời thi hành khoảng 400 luật và quy định về thương mại, vận tải quốc tế, môi trường, an toàn tiêu dùng…của hơn 40 cơ quan chính phủ

- Áp thuế và thu các loại thuế, phí, các khoản phạt vi phạm đối với các mặt hàng xuất nhập khẩu, các phương tiện vận tải chuyên chở hàng xuất nhập khẩu

- Giám sát, điều tiết cũng như tạo thuận lợi cho việc di chuyển của phương tiện vận chuyển, con người, hàng hoá giữa Mỹ với các quốc gia khác

- Bảo vệ người tiêu dùng và môi trường nước Mỹ chống lại việc đưa các sản phẩm nguy hại vào Mỹ

- Bảo vệ các ngành nghề và lao động trong nước trước sự cạnh tranh không bình đẳng từ bên ngoài Ví dụ áp dụng quota, luật chống bán phá giá, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ…

- Phát hiện, ngăn cấm buôn lậu và các hành vi phi pháp khác nhằm đưa các loại sản phẩm gây nghiện, ma tuý, hàng lậu, hàng cấm vào Mỹ

- Phát hiện, ngăn cấm các hành động gian lận thương mại, trốn thuế, vận chuyển trái phép vũ khí, tiền tệ qua các cảng khẩu của Mỹ

- Thu thập những dữ liệu xuất nhập khẩu chính xác phục vụ công tác thống kê thương mại

Trang 19

Bên cạnh đó, CBP có nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu là ngăn ngừa những kẻ khủng bố và vũ khí khủng bố xâm nhập vào nước Mỹ Từ sau vụ khủng bố 11/9/2001 Mỹ tăng cường các hoạt động an ninh trên toàn đất nước trong đó tập trung vào biên giới và các cảng nhập khẩu Do đó, sự kiện Tổng cục hải quan Mỹ trước đây trực thuộc Bộ Tài Chính nay trở thành Tổng cục hải quan và bảo vệ biên giới trực thuộc Bộ An ninh quốc nội là một việc làm

có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ trên CBP cũng đảm nhiệm công việc của cơ quan di trú và quốc tịch Mỹ trước đây, đó là bắt giữ những cá nhân di cư vào Mỹ một cách bất hợp pháp

Để thực hiện thành công những nhiệm vụ quan trọng trên, Tổng cục hải quan và bảo vệ biên giới (CBP) đang nỗ lực hiện đại hoá hệ thống tự động hải quan (Customs automated system) và phát triển chương trình môi trường thương mại tự động (Automated Commercial Environment) Đó là cơ sở vững chắc góp phần vào sự thành công của công cuộc bảo vệ nhân dân và nền kinh

tế nước Mỹ trong thế kỉ XXI của ngành hải quan nước này

1.2 THỰC PHẨM Ở MỸ

Theo chương II, phần 201, Luật về thực phẩm, dược phẩm và hoá mỹ phẩm (Food, Drug and Cosmetic Act (FDCA)), thực phẩm được định nghĩa như sau:

“Thực phẩm có nghĩa là:

- tất cả những vật phẩm phục vụ cho nhu cầu ăn, uống của con người hay của những loài động vật khác

- kẹo cao su

- mọi vật phẩm được sử dụng làm nguyên liệu để làm ra những vật phẩm nói trên.”

Như vậy, khái niệm thực phẩm có ngoại diên rất rộng Nó không chỉ là những vật phẩm phục vụ cho nhu cầu ăn, uống của con người mà còn phục vụ cho việc ăn, uống của những loài động vật khác Thực phẩm cũng không chỉ

Trang 20

là những vật phẩm mà con người hay động vật có thể ăn, uống trực tiếp mà còn là những nguyên liệu, thành phần làm nên những đồ ăn, thức uống trực tiếp đó Do đó mà mọi hàng hoá, vật phẩm nói trên đều là đối tượng điều chỉnh, quản lý của rất nhiều các văn bản luật của Mỹ về an toàn thực phẩm

Ở Mỹ, an toàn thực phẩm là một trách nhiệm chia sẻ Một số bộ ngành trong chính phủ chia sẻ quyền hạn pháp lý để đảm bảo sự an toàn của nguồn thực phẩm do chính nước Mỹ cung cấp Thực phẩm do Mỹ sản xuất lưu thông trong thương mại toàn liên bang hay trong thương mại thế giới thì không cần phải được sự cho phép, công nhận của các cơ quan, bộ ngành có liên quan trừ một số ít trường hợp Tuy nhiên, việc sản xuất thực phẩm phải tuân theo những luật lệ, thủ tục về an toàn thực phẩm đã ban hành Bên cạnh những luật

lệ, quy định chặt chẽ đó thì tính lành mạnh và an toàn của những thực phẩm được sản xuất tại Mỹ còn được đảm bảo qua việc kiểm tra bất ngờ, ngẫu nhiên cơ sở sản xuất của những nhà thanh tra thực phẩm Mỹ, qua việc khai báo trước khi cho thực phẩm lưu thông trên thị trường của các doanh nghiệp, qua việc lấy mẫu một thực phẩm bất kì đang lưu thông trên thị trường để kiểm tra…Và điều mà các doanh nghiệp xuất khẩu thực phẩm sang Mỹ phải quan tâm đó là những tiêu chuẩn về thực phẩm an toàn được áp dụng đối với những thực phẩm sản xuất tại Mỹ như thế nào thì cũng áp dụng đối với thực phẩm nhập khẩu đúng như thế

1.2.1 Những văn bản luật chủ yếu liên quan đến thực phẩm ở Mỹ

1.2.1.1 Cách tìm kiếm thông tin về các văn bản luật và các quy định

của Mỹ về mọi vấn đề trong đó có thực phẩm

Do trách nhiệm ban hành những văn bản luật, những quy định về mọi vấn đề nói chung và của thực phẩm nói riêng thuộc nhiều cơ quan khác nhau

từ chính quyền liên bang đến chính quyền các tiểu bang, và cũng do số lượng các luật, quy định không phải là nhỏ nên việc thông tin, tuyên truyền, phổ biến chúng tới đông đảo người dân và các doanh nghiệp trong và ngoài nước

Trang 21

là công việc không mấy dễ dàng Để hệ thống hoá được các văn bản luật, các quy định, cũng như để giúp cho quá trình tìm kiếm thông tin liên quan đến chúng được dễ dàng, quốc hội Mỹ đã phê chuẩn Bộ luật nước Mỹ (United State Code (USC)) và Luật về các quy định liên bang (Code of Federal Regulations (CFR))

Bộ luật nước Mỹ (USC) là văn bản tập hợp hoá chính thức đăng tải pháp luật liên bang dưới dạng hệ thống hoá, bao gồm 50 phần, mỗi phần nói về một lĩnh vực pháp luật hay về một chế định pháp luật lớn USC ấn hành 6 năm một lần Trong khoảng thời gian đó, nếu chẳng hạn quốc hội Mỹ ban hành một đạo luật thì trong đạo luật đó quốc hội nói rõ đạo luật đó ở vị trí nào trong USC, đồng thời chỉ rõ những sửa đổi gì cần phải tiến hành đối với tập luật lệ

đó khi đạo luật được ban hành

Luật về các quy định liên bang (CFR) là tập hợp hệ thống hoá toàn bộ những văn bản quy phạm hiện hành do Tổng thống và các cơ quan hành pháp liên bang ban hành Giống như USC, tập luật lệ này có 50 phần được chia thành các chương, trong các chương có các mục, tiểu mục và điều khoản Tập luật lệ này chỉ đơn thuần in lại những quy định pháp lý mà không phải là loại văn bản Nếu có ai nghi ngờ về tính xác thực của nội dung các quy định pháp

lý thì phải tra cứu thông qua các văn bản gốc Văn bản gốc này có trong tập

“Đăng ký liên bang”

Ngay từ những năm 1930, quốc hội Mỹ đã giao phó ngày càng nhiều trách nhiệm và thẩm quyền cho các bộ, các tổ chức liên bang trong việc ban hành những quy định chi tiết không chỉ liên quan đến thực phẩm Ngày càng nhiều quy định được ban hành qua các năm thì các vấn đề tuyên truyền, phổ biến chúng càng phát triển Trước đây không có một hệ thống truyền thông trung tâm nào có khả năng thông tin một cách hiệu quả những quy định này đến các cá nhân, giới kinh doanh có liên quan Do đó vào năm 1934, khi nhận thấy được nhu cầu cần có một hệ thống truyền thông trung tâm như vậy, Quốc

Trang 22

thiết lập một hệ thống thống nhất quản lý những quy định của các bộ ngành bằng việc đòi hỏi những bộ ngành này phải:

- đệ trình mọi tài liệu về quy định, cho cơ quan đăng ký liên bang (Office

of the Federal Register)

- đặt tài liệu dưới sự kiểm tra của công chúng

- in ấn tài liệu tại cơ quan đăng ký liên bang

- đưa ra quy tắc để sắp xếp quy định đó trong Luật về các quy định liên bang (CFR)

Luật thủ tục hành chính (Administrative Procedure Act) đưa ra thêm những đòi hỏi quan trọng của hệ thống đăng ký liên bang Theo đó hệ thống đăng ký liên bang đòi hỏi:

- Quyền của công chúng được tham gia vào quá trình làm luật bằng cách đưa ra ý kiến bình luận đối với những quy định, quy tắc được đề xuất bởi các

cơ quan nhà nước

- Ngày có hiệu lực của quy định không được nhỏ hơn 30 ngày kể từ ngày phát hành quy định đó ra công chúng

Luật đăng ký liên bang và Luật thủ tục hành chính xác định những chức năng cơ bản của hệ thống đăng ký liên bang Đó cũng chính là cơ sở cho việc phổ biến, công bố chính thức những luật, quy định của các cơ quan chính quyền Mỹ

Như vậy việc tìm hiểu và thực hiện đúng các văn bản luật và các quy định của Mỹ về thực phẩm nói riêng và về tất cả các vấn đề khác nói chung là trách nhiệm của mỗi người dân và giới kinh doanh trong và ngoài nước Mỹ Việc hiểu biết rõ về cách thông tin, truyền bá luật, quy định của Mỹ sẽ giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài dễ dàng tìm kiếm được thông tin pháp luật liên quan đến mặt hàng mà mình định xuất khẩu Có như vậy mới đảm bảo sự thành công trong mỗi chuyến hàng xuất khẩu

1.2.1.2 Luật về thực phẩm, dược phẩm và hoá mỹ phẩm (Food, Drug

and Cosmetic Act (FDCA))

Trang 23

FDCA nằm trong phần 21 USC chương 9 FDCA gồm 9 chương trong

đó có chương IV đề cập đến thực phẩm Theo luật này, trách nhiệm liên quan đến thực phẩm chủ yếu thuộc về Bộ Y tế và dịch vụ nhân dân Bộ trưởng Bộ

Y tế và dịch vụ nhân dân có quyền đưa ra tiêu chuẩn của bất kì loại thực phẩm nào một cách hợp lý, theo thực tiễn sản xuất và đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng Những sản phẩm rau, quả tươi hoặc sấy khô có thể không thuộc diện trên song không được gây tổn hại tới lợi ích, sức khoẻ người tiêu dùng Thực phẩm bị pha trộn, thực phẩm bị gán nhãn hiệu giả cũng được định nghĩa một cách chi tiết Thực phẩm bị pha trộn được coi như là thực phẩm có hại cho sức khoẻ người tiêu dùng Đó là thực phẩm có chứa nguyên liệu làm thành phần của nó mang tính độc hại, gây bệnh Thực phẩm bị gán nhãn hiệu giả có thể là thực phẩm mà nhãn hiệu của nó có tính chất lừa dối người tiêu dùng, ví dụ ghi thành phần nguyên liệu sai với thực tế sản xuất…hay nó được mang tên của sản phẩm khác khi đem bán, hoặc nó bắt chước một sản phẩm khác…Chất phụ gia thực phẩm, dung sai cho phép thành phần có độc tính trong thực phẩm, việc kiểm soát an toàn thực phẩm, nước uống đóng chai, vitamin và các khoáng chất cũng là những nội dung được quy định khá chi tiết trong FDCA Ngoài ra thức ăn cho trẻ em, thực phẩm phục vụ cho chế độ

ăn kiêng cũng được luật này đề cập đến với những nội dung quy định cụ thể

để đảm bảo sự an toàn dinh dưỡng cho trẻ em và những người ăn kiêng

1.2.1.3 Luật bao bì và nhãn hiệu trung thực (Fair Packaging and

Labeling Act (FPLA))

Luật này nằm trong phần 15 USC chương 39 FPLA là luật được Quốc hội Mỹ thông qua nhưng tính chất là một luật của nó chưa rõ nét Nó chưa đi vào những chi tiết cụ thể nhỏ nhất trong nội dung Trong thời gian chờ đợi một luật chính thức về bao bì và nhãn hiệu, những người quan tâm đến luật này thêm tham khảo thêm những quy định của Uỷ ban thương mại liên bang

và Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm về bao bì và nhãn hiệu Đây là hai

Trang 24

tiết cụ thể Về khái quát thì Luật bao bì và nhãn hiệu trung thực áp dụng cho nhiều sản phẩm tiêu dùng trong đó có thực phẩm Nó đòi hỏi nhãn hiệu phải nói rõ đặc tính của sản phẩm, tên và địa chỉ thương mại của nhà sản xuất, nhà đóng gói hoặc nhà phân phối, trọng lượng tịnh của sản phẩm Luật này cũng

đề cập việc đóng gói và dán nhãn không trung thực và trái pháp luật cũng như phạm vi cấm những hành động này Về chi tiết, những quy định của Cục quản

lý thực phẩm và dược phẩm đưa ra những yêu cầu về ghi nhãn thực phẩm như sau:

Những thông báo bắt buộc xuất hiện trên nhãn hay trên bao bì của thực phẩm phải được dịch sang ngôn ngữ tiếng Anh kèm theo với ngôn ngữ khác (nếu có) Những thông báo đó là:

- Tên thực phẩm: tên thông thường và hay sử dụng của thực phẩm phải xuất hiện ở những nơi mô tả chính trên nhãn hoặc bao bì, in bằng chữ đậm Tên thực phẩm có thể mô tả hình dáng của thực phẩm ví dụ “đã thái mỏng” hoặc “nguyên hạt”…

- Trọng lượng tịnh của thực phẩm: có thể được ghi theo hệ đo lường của

Mỹ hoặc theo hệ mét Trọng lượng này cũng phải được ghi ở những nơi mô tả chính, dễ nhận biết

- Tên, địa chỉ phố, thành phố, bang, mã số vùng…hoặc của nhà sản xuất, nhà đóng gói, hoặc của nhà phân phối: thông tin này có thể được đặt ở nơi mô

tả chính trên nhãn hay bao bì, cũng có thể đặt ở những nơi không phải là nơi

mô tả chính Địa chỉ phố có thể được bỏ qua Các thực phẩm nhập khẩu bắt buộc phải có mã quốc gia, mã vùng…

- Thành phần: những thành phần của thực phẩm phải được liệt kê theo thứ tự tên thông thường của chúng hay theo tỷ lệ mà chúng chiếm giữ Chất phụ gia và màu thực phẩm đòi hỏi phải được liệt kê như những thành phần khác

- Thông tin về dinh dưỡng: những thông tin về hàm lượng calo, đường, natri…được khuyến nghị đưa vào trong nội dung ghi nhãn thực phẩm

Trang 25

Với Luật bao bì và nhãn hiệu trung thực, việc kiểm soát tính an toàn, lành mạnh của thực phẩm ở Mỹ không chỉ là trách nhiệm của những cơ quan

có thẩm quyền mà còn là trách nhiệm của mỗi người dân Vấn đề quan trọng

là phải đảm bảo tính trung thực trong ghi nhãn, bao bì của các doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ thực phẩm

1.2.1.4 Luật bảo vệ chất lượng thực phẩm (Food Quality Protection

1.2.1.5 Những quy định về an toàn thực phẩm của Luật về các quy

định liên bang (Code of Federal Regulations (CFR))

Phần 21 CFR đưa ra những quy tắc điều chỉnh những hoạt động vì sự an toàn thực phẩm Trong đó:

- Phần từ 1 đến 99: những quy định chung đảm bảo việc tuân thủ và chấp hành đúng Luật về thực phẩm, dược phẩm và hoá mỹ phẩm, Luật bao bì và nhãn hiệu trung thực; quy định về màu thực phẩm

Trang 26

- Phần từ 100 đến 169: những quy định chung về dán nhãn thực phẩm; những tiêu chuẩn thực phẩm; GMP (phương pháp thực hành sản xuất tốt) áp dụng đối với thực phẩm, nước đóng chai, thực phẩm axit thấp đóng hộp; quy định HACCP (phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn) đối với thủy sản

- Phần từ 170 đến 199: những quy định về chất phụ gia thực phẩm

- Phần từ 800 đến 899: những quy định về sữa nhập khẩu; kiểm soát thực phẩm mang mầm bệnh có thể lây truyền; quy định về cải thiện các điều kiện

vệ sinh thực phẩm trong chuyên chở nội địa

Những văn bản luật trên đây chỉ mang tính khái quát điều chỉnh những vấn đề liên quan đến thực phẩm ở Mỹ Ngoài ra, còn có một số những văn bản luật, quy định điều chỉnh từng loại thực phẩm cụ thể ví dụ như Luật kiểm tra thịt liên bang (Federal Meat Inspection Act), Luật kiểm định gia cầm liên bang (Federal Poultry Inspection Act), Luật về sữa nhập khẩu liên bang (Federal Import Milk Act), Luật quản lý đồ uống có cồn liên bang (Federal Alcohol Administration Act),…Việc tìm hiểu kĩ những văn bản luật của Mỹ

áp dụng đối với từng mặt hàng thực phẩm xuất khẩu là một trong những yếu

tố để xuất khẩu thành công thực phẩm sang thị trường này

1.2.2 Những tổ chức có chức năng quản lý an toàn thực phẩm ở Mỹ

Nước Mỹ là một trong những nguồn cung cấp thực phẩm an toàn nhất trên thế giới phần lớn là nhờ vào hệ thống kiểm tra thực phẩm Hệ thống này phối hợp được hoạt động của tất cả các cơ quan có chức năng quản lý an toàn thực phẩm ở Mỹ Hệ thống đảm bảo giám sát quá trình sản xuất, phân phối thực phẩm tại từng địa phương, khắp các tiểu bang và trên toàn đất nước Sự giám sát, quản lý thường xuyên đối với thực phẩm được duy trì bởi những chuyên gia kiểm định thực phẩm, nhà vi trùng học, nhà dịch tễ học, và những nhà khoa học làm việc trong những sở y tế thành phố, quận hạt, trong những

Trang 27

cơ quan y tế công cộng liên bang, và trong rất nhiều các bộ, cơ quan liên quan khác

1.2.2.1 Bộ Y tế và dịch vụ nhân dân (Department of Health and

Human Services)

* Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm (Food and Drug Administration (FDA))

- Các thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý:

tất cả thực phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu bao gồm cả trứng

có vỏ, nhưng không gồm thịt và các loại gia cầm;

nước đóng chai;

rượu có độ cồn dưới 7%

- Vai trò đối với an toàn thực phẩm:

FDA có trách nhiệm thi hành những luật về an toàn thực phẩm đối với những thực phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu, trừ thịt và các loại gia cầm bằng việc:

Kiểm tra những cơ sở sản xuất, kho chứa thực phẩm; thu thập và phân tích mẫu thực phẩm bị nhiễm hoá học, vật lý hay nhiễm khuẩn Xem xét sự an toàn thực phẩm và màu thực phẩm trước khi thực phẩm được bán

Tuyên truyền, phổ biến những quy định, hướng dẫn, giải thích về an toàn thực phẩm; làm việc với các tiểu bang để áp dụng những quy định, hướng dẫn, giải thích đó đối với các cơ sở bán lẻ thực phẩm như các nhà hàng ăn uống, cửa hàng bán thực phẩm…

Thiết lập những phương pháp thực hành sản xuất thực phẩm tốt, những tiêu chuẩn sản xuất thực phẩm, ví dụ HACCP, yêu cầu đóng gói, các điều kiện vệ sinh nhà xưởng…

Làm việc với các cơ quan quản lý thực phẩm ở nước ngoài để đảm bảo an toàn thực phẩm cho một số thực phẩm nhập khẩu

Trang 28

Yêu cầu những nhà sản xuất thực phẩm thu hồi thực phẩm không an toàn và giám sát quá trình thu hồi ấy

Chỉ đạo những hoạt động nghiên cứu an toàn thực phẩm

Giáo dục cho những ngành sản xuất thực phẩm và người tiêu dùng về thực phẩm an toàn

* Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (Center of Disease Control and Prevention (CDCP))

- Các thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý: mọi thực phẩm

- Vai trò đối với an toàn thực phẩm

Phối hợp với các cơ quan địa phương, tiểu bang, liên bang điều tra sự bùng nổ bệnh dịch từ những thực phẩm mang mầm bệnh

Duy trì hệ thống quốc gia giám sát bệnh dịch từ những thực phẩm mang mầm bệnh: thiết kế và lắp đặt hệ thống điện tử báo cáo nhanh

sự lan truyền thực phẩm có mầm bệnh, làm việc với các cơ quan liên bang, tiểu bang khác để giám sát tỷ lệ, xu hướng bùng nổ dịch bệnh…

Phát triển những chính sách y tế công cộng để ngăn ngừa dịch bệnh

do thực phẩm

Nghiên cứu, hướng dẫn nghiên cứu ngăn ngừa bệnh do thực phẩm Đào tạo nhân sự phụ trách an toàn thực phẩm cho các địa phương, các bang

1.2.2.2 Bộ Nông nghiệp (Department of Agriculture)

* Cơ quan kiểm tra và an toàn thực phẩm (Food Safety and Inspection Servive (FSIS))

- Các thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý:

Thịt, gia cầm và những sản phẩm từ thịt, gia cầm sản xuất trong nước

và nhập khẩu

Những sản phẩm chế biến từ trứng

Trang 29

- Vai trò đối với an toàn thực phẩm

FSIS có trách nhiệm thi hành những luật về an toàn thực phẩm đối với những sản phẩm thịt, gia cầm sản xuất trong nước và nhập khẩu bằng việc:

Kiểm tra bệnh dịch của những động vật trước và sau khi mổ

Giám sát và kiểm tra những sản phẩm chế biến từ trứng

Thu thập và phân tích mẫu thực phẩm có chứa các tác nhân độc hại, lây truyền

Thiết lập tiêu chuẩn về sử dụng chất phụ gia và các thành phần nguyên liệu trong sản xuất và đóng gói sản phẩm thịt, gia cầm; về vệ sinh nhà xưởng…

Đảm bảo tất cả các sản phẩm thịt, gia cầm từ nước ngoài xuất khẩu sang Mỹ đáp ứng được tiêu chuẩn của Mỹ

Tài trợ những nghiên cứu để có sản phẩm thịt, gia cầm an toàn

Giáo dục cho những ngành sản xuất thực phẩm và người tiêu dùng về thực phẩm an toàn

* Cơ quan kiểm dịch về động vật và thực vật (Animal and Plant Health Inspection Service (APHIS))

- Các thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý: tất cả động vật và thực vật nhập khẩu, xuất khẩu và một số sản phẩm nông nghiệp

- Vai trò đối với an toàn thực phẩm

Thực hiện những quy định quản lý động vật và thực vật xuất khẩu, nhập khẩu và một số sản phẩm nông nghiệp như kiểm định và cách ly động, thực vật; kiểm tra và loại trừ loài gây hại, bệnh dịch…

Đưa ra những quy định và chỉ đạo các chương trình kiểm dịch để bảo

vệ, cải thiện sức khoẻ của động vật, tính sạch của thực vật vì lợi ích của người dân và môi trường

Ngăn ngừa sự xâm nhập của thực phẩm có chứa loài gây hại, bệnh dịch vào Mỹ

Trang 30

* Cơ quan nghiên cứu, giáo dục và mở rộng hợp tác liên bang (Cooperative State Research, Education, and Extension Service)

- Các thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý: tất cả thực phẩm sản xuất trong nước và một số thực phẩm nhập khẩu

- Vai trò đối với an toàn thực phẩm

Cùng với trường đại học, cao đẳng ở Mỹ phát triển chương trình nghiên cứu, giáo dục liên quan đến thực phẩm an toàn cho nông dân

và những người tiêu dùng Mỹ

* Thư viện nông nghiệp quốc gia/Trung tâm thông tin giáo dục thực phẩm mang mầm bệnh của Bộ Nông nghiệp và Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm

- Các thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý: tất cả mọi thực phẩm

- Vai trò đối với an toàn thực phẩm

Duy trì cơ sở dữ liệu trong các phần mềm máy tính, sổ sách, áp phích quảng cáo, sách giáo khoa, và những phương tiện giáo dục khác trong việc ngăn ngừa thực phẩm mang mầm bệnh

Giúp đỡ những nhà sư phạm, những nhà đào tạo liên quan đến thực phẩm và người tiêu dùng những phương tiện giáo dục để ngăn ngừa thực phẩm mang mầm bệnh

1.2.2.3 Ủy ban bảo vệ môi trường (Environmental Protection

Agency)

- Các thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý:

Thực phẩm chế biến từ thực vật, thủy sản, thịt, gia cầm

Nước uống

- Vai trò đối với an toàn thực phẩm

Thiết lập tiêu chuẩn cho nước uống

Quản lý chất liệu gây độc hại và rác thải để ngăn ngừa sự xâm nhập của chúng vào môi trường và vào nguồn thực phẩm

Trang 31

Hỗ trợ các tiểu bang trong việc giám sát chất lượng nước uống và tìm cách ngăn ngừa sự nhiễm bẩn nguồn nước

Xác định sự an toàn của thuốc bảo vệ thực vật, đưa ra tỷ lệ thuốc bảo

vệ thực vật cho phép trong thực phẩm, hướng dẫn cách sử dụng an toàn các loại thuốc này

1.2.2.4 Bộ Thương mại (Department of Commerce)

* Cơ quan quản lý quốc gia về đại dương và khí quyển (National Oceanic and Atmospheric Administration)

- Các thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý: cá và hải sản

- Vai trò đối với an toàn thực phẩm

Kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn vệ sinh liên bang cho những tàu đánh bắt cá, cơ sở chế biển hải sản

1.2.2.5 Bộ Tài chính (Department of Treasury)

* Văn phòng rượu, thuốc lá, vũ khí (Bureau of Alcohol, Tobacco and Firearms)

- Các thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý: tất cả các đồ uống có cồn trừ rượu có độ cồn dưới 7%

- Vai trò đối với an toàn thực phẩm

Thực hiện những luật về an toàn thực phẩm đối với việc sản xuất, phân phối đồ uống có cồn

Điều tra những trường hợp làm giả mạo đồ uống có cồn

1.2.2.6 Bộ An ninh quốc nội (Department of Homeland Security)

* Tổng cục hải quan và bảo vệ biên giới (Customs and Border Protection (CBP))

- Các thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý: tất cả thực phẩm nhập khẩu

- Vai trò đối với an toàn thực phẩm

Trang 32

Phối hợp làm việc với những cơ quan liên bang có liên quan đến thực phẩm để đảm bảo tất cả những thực phẩm ra hay vào nước Mỹ đều phải tuân theo những luật, quy định của Mỹ

1.2.2.7 Bộ Tư pháp (Department of Justice)

- Các thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý: tất cả thực phẩm

- Vai trò đối với an toàn thực phẩm

Kiện những công ty, cá nhân bị nghi ngờ vi phạm luật về an toàn thực phẩm

Bắt giữ thực phẩm không an toàn

1.2.2.8 Ủy ban thương mại liên bang (Federal Trade Commission)

- Các thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý: tất cả thực phẩm

- Vai trò đối với an toàn thực phẩm

Thi hành các văn bản luật về bảo vệ người tiêu dùng trước sự giả mạo, lừa dối, không trung thực liên quan tới thực phẩm bao gồm cả việc quảng cáo, giới thiệu thực phẩm không đúng với thực tế, lừa dối

1.2.2.9 Chính quyền địa phương và các bang

- Các thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý: tất cả thực phẩm trong thẩm quyền quản lý

- Vai trò đối với an toàn thực phẩm

Phối hợp với Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA) và những

cơ quan liên bang khác trong việc áp dụng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm cho cá, hải sản, sữa, và những thực phẩm được sản xuất trong bang

Kiểm tra các nhà hàng ăn uống, cửa hàng bán thực phẩm cũng như nông trại sản xuất bơ sữa, nhà máy chế biến sữa và các nhà máy chế biến thực phẩm trong thẩm quyền của bang

Cấm và bắt giữ thực phẩm không an toàn được sản xuất hay được phân phối trong bang

Trang 33

1.2.3 Tình hình nhập khẩu thực phẩm của Mỹ

1.2.3.1 Tình hình chung về nhập khẩu thực phẩm của Mỹ

Có số dân đông trên 270 triệu người, lại là quốc gia đa sắc tộc, nhu cầu của người tiêu dùng Mỹ đối với thực phẩm cũng như đối với các mặt hàng khác rất đa dạng về chủng loại và chất lượng, từ loại mang tính phổ thông đến loại cao cấp Cũng chính vì lý do này mà Mỹ là nước nhập khẩu thực phẩm nhiều nhất thế giới Theo kết quả của Ban nghiên cứu kinh tế thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ năm 2002, kể từ năm 1980, đóng góp của thực phẩm nhập khẩu trong tổng tiêu dùng thực phẩm Mỹ tăng từ 8% lên 11% và ổn định ở mức này Trong vòng 5 năm gần đây (1998-2002) trung bình mỗi năm Mỹ nhập khẩu khoảng 45 tỷ USD Kim ngạch nhập khẩu thực phẩm của Mỹ tương đối

ổn định, và tăng đều qua các năm Điều này thể hiện rõ nét qua bảng số liệu sau:

Bảng 1: Kim ngạch nhập khẩu thực phẩm của Mỹ giai đoạn 1998-2003

Nguồn: US Census Bureau 2003

Thực phẩm được nói tới ở đây bao gồm cả thức ăn, đồ uống cho người

và thức ăn chăn nuôi động vật

Qua bảng số liệu trên, ta thấy kim ngạch nhập khẩu thực phẩm của Mỹ tương đối lớn năm 2002 kim ngạch này vào khoảng 49,7 tỷ USD và tăng qua các năm, mức tăng năm nay so với năm trước tương đối ổn định khoảng 4-6% chứng tỏ không có sự thay đổi đột biến nào trong nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của Mỹ Những nhà xuất khẩu thực phẩm sang Mỹ có thể dự đoán được nhu cầu về thực phẩm của thị trường này để có kế hoạch xuất khẩu thực phẩm sang Mỹ sao cho phù hợp Tuy nhiên, nếu căn cứ vào kim ngạch nhập khẩu thực phẩm thì có thể thấy rằng thị trường thực phẩm nói chung của Mỹ ít có

Trang 34

phẩm sang Mỹ nên tập trung mở rộng thị trường ở Mỹ cho một số mặt hàng

chủ yếu như thủy sản, rau quả, thịt…

Tỷ trọng của kim ngạch nhập khẩu thực phẩm trong tổng kim ngạch

nhập khẩu của Mỹ hết sức nhỏ bé

Bảng 2: Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu thực phẩm trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ giai đoạn 1998-2002

Nguồn: US Census Bureau 2002

Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu thực phẩm trong tổng kim ngạch nhập

khẩu của Mỹ là rất nhỏ khoảng 4% Tỷ trọng này có xu hướng giảm tuy nhiên

mức giảm không đáng kể

Như vậy, qua phân tích hai bảng số liệu, ta nhận thấy rằng thực phẩm

không phải là mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Mỹ, tốc độ tăng của kim

ngạch nhập khẩu thực phẩm thấp nhưng ổn định Tuy nhiên, với con số 45 tỷ

USD nhập khẩu thực phẩm trung bình hàng năm thì đây quả là thị trường

rộng lớn, cần phải được khai thác đối với các nước đang phát triển như Việt

Nam

1.2.3.2 Cơ cấu mặt hàng thực phẩm nhập khẩu vào Mỹ

Những mặt hàng thực phẩm nhập khẩu chủ yếu vào Mỹ gồm những loại

sau: các sản phẩm thịt, rau, quả và nước ép hoa quả, các sản phẩm từ bột mì,

sản phẩm bơ sữa và trứng, cacao, cà phê, thủy sản, chè, hạt điều, dầu ăn,

rượu, đồ uống có cồn trừ rượu…Trong đó thịt, rau quả, thủy sản, rượu, dầu ăn

chiếm tỷ trọng tương đối cao về giá trị nhập khẩu trong tổng kim ngạch nhập

Trang 35

khẩu thực phẩm của Mỹ Cơ cấu mặt hàng thực phẩm nhập khẩu vào Mỹ được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của US Census Bureau 2002

Tỷ trọng về giá trị của mỗi một mặt hàng thực phẩm nhập khẩu chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu thực phẩm của Mỹ qua các năm tương đối ổn định, mức tăng giảm chỉ dao động từ 1-2%, trừ cà phê có sự sụt giảm tỷ trọng

từ 7,44% năm 1998 xuống còn 2,75% năm 2002 Trong số những mặt hàng thực phẩm mà Mỹ nhập khẩu chủ yếu, chiếm tỷ trọng cao nhất là mặt hàng thủy sản chiếm khoảng 20% kim ngạch nhập khẩu thực phẩm mỗi năm tương đương với con số tuyệt đối từ 8-10 tỷ USD Tiếp theo là mặt hàng rau quả, với tỷ trọng trung bình là 18,6% kim ngạch nhập khẩu thực phẩm Các mặt hàng thịt, rượu và đồ uông có cồn đều có tỷ trọng trên 10% Những mặt hàng như sản phẩm từ bột mỳ, dầu ăn và hạt có dầu, sản phẩm bơ sữa, trứng có tỷ trọng nhỏ (từ 2-7%) Sự thay đổi tập quán tiêu dùng thực phẩm của người dân

Mỹ đã ảnh hưởng đến tỷ trọng của các mặt hàng thực phẩm trong tổng kim ngạch nhập khẩu thực phẩm của Mỹ Người dân Mỹ ngày càng nhận thức

Trang 36

được rằng ăn nhiều chất xơ như rau quả tươi và ít mỡ động vật như dầu ăn

thực vật sẽ có lợi cho sức khoẻ, sản phẩm tôm, cá sẽ an toàn hơn cả so với thịt

lợn Do vậy, những mặt hàng thực phẩm có lợi cho sức khoẻ sẽ là những mặt

hàng được ưa chuộng và chọn lựa ở Mỹ

1.2.3.3 Những nước xuất khẩu thực phẩm chủ yếu sang Mỹ

Hiện nay, có khoảng 205 000 công ty thực phẩm trên thế giới xuất khẩu

hàng vào Mỹ, phần lớn trong số đó thuộc mười nước sau đây: Canada,

Mehico, Anh, Pháp, Brazin, Trung Quốc, Ý, Chi lê, Ecuađo, Ấn Độ Kim

ngạch nhập khẩu thực phẩm của Mỹ từ những nước này được thể hiện như

sau:

Bảng 4: Kim ngạch nhập khẩu thực phẩm của Mỹ từ

mười thị trường chính giai đoạn 1998-2002

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của US Census Bureau 2002

Qua bảng số liệu, hầu hết các nước xuất khẩu thực phẩm chính sang Mỹ

đều có kim ngạch xuất khẩu thực phẩm tăng qua các năm, với mức tăng

không cao nhưng tương đối ổn định Có thể nhận thấy Canada, Mehico là hai

Trang 37

nước có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong số mười nước xuất khẩu chính thực phẩm sang Mỹ Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu thực phẩm của Canada xấp xỉ 12 tỷ USD, của Mexico vào khoảng 6 tỷ USD Sở dĩ có được kim ngạch xuất khẩu như trên là do Canada và Mehico là hai nước láng giềng của

Mỹ, vị trí địa lý gần nhau là điều kiện thuận lợi để xuất khẩu những mặt hàng thực phẩm như rau quả tươi, thịt, thủy sản Những mặt hàng thực phẩm xuất khẩu chủ yếu của Canada sang Mỹ là thủy sản (có kim ngạch xuất khẩu khoảng 2 tỷ USD năm 2002), hàng rau quả (1,3 tỷ USD năm 2002), thịt và các loại gia cầm (3,4 tỷ USD năm 2002), của Mêhico là rau quả (có kim ngạch xuất khẩu khoảng 3 tỷ USD năm 2002), rượu và đồ uống có cồn (khoảng 1,4 tỷ USD năm 2002) Pháp đứng vị trí thứ ba với kim ngạch xuất khẩu thực phẩm sang Mỹ năm 2002 khoảng 2,2 tỷ USD, thế mạnh của nước này đó là các sản phẩm bơ sữa, các sản phẩm từ trứng (có kim ngạch xuất khẩu lên tới 100 triệu USD năm 2002), rượu của Pháp có tiếng và được ưa chuộng ở Mỹ (có kim ngạch xuất khẩu năm 2002 là trên 900 triệu USD) Tiếp theo là Italia, Chi lê và Anh với kim ngạch xuất khẩu thực phẩm năm 2002 lần lượt là: 1,8 tỷ USD, 1,5 tỷ USD và 1,2 tỷ USD Trung Quốc, sau khi gia nhập WTO, đã trở thành một đối thủ cạnh tranh đáng gờm của các nước xuất khẩu thực phẩm truyền thống sang Mỹ, kim ngạch xuất khẩu thực phẩm sang

Mỹ năm 2002 của nước này khá cao so với trước đây 1,6 tỷ USD, với những mặt hàng chính là thủy sản và rau quả Brazin, Êcuađo và Ấn Độ với kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên dưới 1 tỷ USD, đã có được những mặt hàng được người tiêu dùng Mỹ ưa chuộng như cà phê, chè, thủy sản Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu thực phẩm của Việt Nam sang Mỹ cũng vào khoảng 800 triệu USD, nếu tiếp tục duy trì và nâng cao được kim ngạch này, Việt Nam sẽ trở thành một đối thủ cạnh tranh cần phải được chú ý của các nước nói trên

Tóm lại, tuy là nước sản xuất và xuất khẩu thực phẩm lớn nhất trên thế giới, song hàng năm Mỹ vẫn phải nhập khẩu một số lượng thực phẩm không nhỏ từ nước ngoài, khoảng 45 tỷ USD Dù tốc độ nhập khẩu mặt hàng này của

Trang 38

đã đủ mang lại kim ngạch xuất khẩu lớn cho các nước xuất khẩu vào Mỹ đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam Nghiên cứu xu hướng tiêu dùng thực phẩm của người dân Mỹ là cần thiết đối với các nước xuất khẩu thực phẩm vào thị trường này Những thực phẩm có lợi cho sức khoẻ như rau quả, thủy sản, thịt bò và những thực phẩm tiện dụng cho phong cách sống công nghiệp ở Mỹ sẽ là những mặt hàng cần được chú ý xuất khẩu vì chắc chắn những mặt hàng này đã đang và sẽ tiếp tục được tiêu thụ mạnh

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỦ TỤC HẢI QUAN Ở CẢNG BIỂN CỦA MỸ ĐỐI VỚI THỰC PHẨM NHẬP KHẨU

Mọi hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ đều phải làm thủ tục hải quan Những

lô hàng có trị giá dưới 2000 USD được coi là nhỏ và thủ tục hải quan đòi hỏi đơn giản hơn nhiều so với các lô hàng lớn Trong trường hợp này người nhập khẩu sẽ làm thủ tục hải quan không chính thức (informal entry) Thủ tục hải quan không chính thức yêu cầu người nhập khẩu chỉ cần nộp cho hải quan vận đơn, hoá đơn hàng hoá, nộp thuế theo đúng biểu thuế là được thông quan nhanh chóng Những

lô hàng có trị giá trên 2000 USD thì phải làm thủ tục hải quan chính thức (formal entry) Giám đốc cảng nơi hàng hoá nhập khẩu vào có quyền yêu cầu thủ tục hải quan chính thức cho bất kì một lô hàng nào nếu thấy cần thiết Do vậy, việc tìm hiểu thủ tục hải quan chính thức là vấn đề quan trọng chủ yếu Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu và trình bày những vấn đề liên quan đến thủ tục hải quan chính thức Hiện nay, thủ tục hải quan của Mỹ áp dụng chung cho mọi hàng hoá nhập khẩu vào nước này và chưa có những quy định về thủ tục hải quan riêng cho thực phẩm nhập khẩu Vì vậy, thực phẩm nhập khẩu vào Mỹ cũng phải làm thủ tục hải quan giống như tất cả hàng hoá nhập khẩu khác và phải qua các bước sau đây:

2.1 KHAI BÁO HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG THỰC PHẨM NHẬP KHẨU

2.1.1 Quyền được làm thủ tục nhập khẩu với hải quan

2.1.1.1 Thủ tục nhập khẩu do người nhập khẩu thực hiện

Khi thực phẩm được chuyên chở bằng tàu thương mại đến Mỹ, người nhập khẩu (có thể là chủ hàng, người mua, người giao nhận hàng hoá), nhân viên của

họ được ủy quyền, hoặc người môi giới hải quan có giấy phép hành nghề được người nhập khẩu chỉ định có quyền tiến hành làm thủ tục nhập khẩu Nhân viên hải quan Mỹ không được phép làm đại diện cho người nhập khẩu, mặc dù vậy họ

có thể góp ý kiến hoặc hỗ trợ cho những người nhập khẩu chưa có kinh nghiệm

Theo luật thuế nhập khẩu của Mỹ, chỉ có môi giới hải quan được quyền làm đại diện cho người nhập khẩu trong các giao dịch của hải quan Môi giới hải

Trang 40

Người môi giới sẽ lập và trình các giấy tờ nhập khẩu cần thiết, thu xếp thanh toán các khoản thuế phải trả, tiến hành các bước giải phóng hàng hoá, và đại diện cho những người ủy thác trong việc giải quyết các vấn đề về hải quan

2.1.1.2 Thủ tục nhập khẩu do người khác thực hiện

Cá nhân, hội buôn hay công ty nước ngoài được quyền làm thủ tục hải quan thông qua một đại lý hay đại diện của mình ở Mỹ, qua người môi giới hải quan, hoặc qua chính cá nhân, thành viên của hội buôn, nhân viên của công ty nước ngoài đó Bất kì một bảo đảm nào của cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài với hải quan Mỹ cũng phải được thực hiện ở Mỹ Ví dụ, việc bảo đảm nộp thuế cho hàng hóa nhập khẩu phải có một công ty ở Mỹ đứng ra bảo lãnh mà không phải là một công ty nước ngoài đứng ra bảo lãnh

Người môi giới hải quan được chỉ định trong giấy ủy quyền có quyền làm thủ tục nhập khẩu với hải quan thay mặt cho cá nhân, tổ chức nước ngoài hoặc đại diện của họ Nhà môi giới có thể yêu cầu cá nhân, tổ chức nước ngoài thực hiện việc khai báo hải quan Khi cá nhân, tổ chức nước ngoài thực hiện khai báo hải quan thì phải có kèm theo bảo đảm bằng tiền để trang trải các khoản thuế nhập khẩu phát sinh hoặc phải trả thêm Bản khai hải quan của cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài được làm ở nước ngoài có thể được chấp nhận nhưng phải được làm ở

cơ quan công chứng hoặc có dấu công chứng Có thể làm công chứng ở tất cả các Đại sứ quán Mỹ hoặc Tổng lãnh sự Mỹ

2.1.1.3 Giấy ủy quyền

Giấy ủy quyền là một trong những bằng chứng quan trọng chứng minh quyền được nhập khẩu hàng hóa Người nhập khẩu khi ủy quyền cho nhân viên của mình hay cho người môi giới hải quan làm thủ tục hải quan đại diện cho mình thì phải có trách nhiệm cấp giấy ủy quyền cho những người đó Cá nhân, hội buôn hoặc công ty nước ngoài có thể cấp giấy ủy quyền cho một người được thuê làm việc thường xuyên, người môi giới hải quan, thành viên hội buôn, nhân viên công

ty để đại diện cho cá nhân, hội buôn hoặc công ty nước ngoài làm thủ tục hải quan

ở Mỹ Bất kì người nào được chỉ định trong giấy ủy quyền này cũng phải là công dân Mỹ, được phép làm các thủ tục nhập khẩu đại diện cho cá nhân hoặc tổ chức

Ngày đăng: 24/01/2014, 08:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ sau đây sẽ mô tả cơ cấu tổ chức lãnh đạo hải quan toàn liên bang. - Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Thủ tục hải quan ở cảng biển của Mỹ đối với thực phẩm nhập khẩu” pdf
Sơ đồ sau đây sẽ mô tả cơ cấu tổ chức lãnh đạo hải quan toàn liên bang (Trang 10)
Bảng 2: Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu thực phẩm   trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ giai đoạn 1998-2002 - Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Thủ tục hải quan ở cảng biển của Mỹ đối với thực phẩm nhập khẩu” pdf
Bảng 2 Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu thực phẩm trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ giai đoạn 1998-2002 (Trang 34)
Bảng 3: Tỷ trọng giá trị các mặt hàng thực phẩm chủ yếu - Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Thủ tục hải quan ở cảng biển của Mỹ đối với thực phẩm nhập khẩu” pdf
Bảng 3 Tỷ trọng giá trị các mặt hàng thực phẩm chủ yếu (Trang 35)
Bảng 4: Kim ngạch nhập khẩu thực phẩm của Mỹ từ - Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Thủ tục hải quan ở cảng biển của Mỹ đối với thực phẩm nhập khẩu” pdf
Bảng 4 Kim ngạch nhập khẩu thực phẩm của Mỹ từ (Trang 36)
Sơ đồ sau: - Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Thủ tục hải quan ở cảng biển của Mỹ đối với thực phẩm nhập khẩu” pdf
Sơ đồ sau (Trang 58)
Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu những thực phẩm chủ yếu - Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Thủ tục hải quan ở cảng biển của Mỹ đối với thực phẩm nhập khẩu” pdf
Bảng 6 Kim ngạch xuất khẩu những thực phẩm chủ yếu (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w