Trong khuôn khổ một bài khóa luận, do những hạn chế nhất định về thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu, đề tài chỉ đề cập đến những vấn đề lý luận có liên quan đến vị trí của một số mặt hà
Trang 1LUẬN VĂN
Chiến lược phát triển các
nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ
lực giai đoạn 2005 – 2010
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, với xu thế đa phương hóa, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam, xuất khẩu chính là công cụ quan trọng để nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Cùng với xu thế toàn cầu hoá, hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nói riêng hàng năm đã đóng góp rất nhiều vào Ngân sách Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu ngoại tệ và chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu, phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động Ngoại thương của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là trong vài năm trở lại đây, cho thấy hoạt động xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực còn có nhiều điểm bất cập, chưa có một hệ thống
tổ chức, phối hợp chặt chẽ, linh hoạt từ sản xuất đến xuất khẩu cùng với một
hệ thống cơ chế, chính sách thông suốt, hợp lý Kết quả là tuy khối lượng và kim ngạch xuất khẩu có tăng nhưng nhìn chung những tiềm năng vẫn chưa thực sự được khai thác một cách tối ưu, hiệu quả xuất khẩu mang lại còn thấp Trong tình hình đó, việc nghiên cứu và tìm ra chiến lược phát triển thiết thực hơn nhằm đẩy mạnh một cách có hiệu quả hơn nữa sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam đang là một nhiệm vụ cấp thiết của nhiều
Bộ, Ban, Ngành, từ Trung Ương đến địa phương, và cũng đang thu hút được nhiều quan tâm của các doanh nghiệp, các nhà phân tích kinh tế, các nhà khoa học, các giảng viên, sinh viên đang giảng dạy, học tập và nghiên cứu ở các trường đại học Trên cơ sở tập trung phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và xuất khẩu của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: gạo, cà phê,
dầu thô, dệt may…khoá luận với đề tài “Chiến lược phát triển các nhóm
mặt hàng xuất khẩu chủ lực giai đoạn 2005 – 2010” sẽ đưa ra chiến lược
phát triển cho giai đoạn 2005 - 2010, đồng thời tìm ra một số kiến nghị nhằm củng cố và phát triển các mặt hàng chủ lực đến năm 2020 Mục tiêu là để đạt được hiệu quả, ổn định và tăng trưởng vào những năm đầu thế kỷ 21
Trang 3Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của khoá luận là khái quát hoá về mặt lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực để từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam trong những năm tới Về lý luận, khoá luận có ý nghĩa tổng hợp, thống nhất, đúc kết và phát triển những vấn đề bức xúc đã, đang và sẽ tiếp tục được bàn luận, nghiên cứu
Trong khuôn khổ một bài khóa luận, do những hạn chế nhất định về thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu, đề tài chỉ đề cập đến những vấn đề lý luận
có liên quan đến vị trí của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, và có được một chiến lược phát triển chung cho toàn bộ các mặt hàng chủ lực, một số giải pháp và kiến nghị nhằm hỗ trợ, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, xây dựng định hướng phát triển trong giai đoạn 2005 – 2010
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp các phương pháp phân tích - tổng hợp, kết hợp lý luận với thực tiễn, đi từ cái chung đến cái riêng, từ phân tích đến đánh giá để đưa ra các định hướng phát triển cùng với các giải pháp
và kiến nghị hoàn thiện
Nội dung chính của khoá luận được chia làm 3 chương:
Chương I: Chiến lược phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực Chương II:Thực trạng xuất khẩu và xây dựng chiến lược phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
Chương III: Kiến nghị về việc xây dựng chiến lược phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực giai đoạn 2005 - 2010
Ngoài những lý do chọn đề tài trên, em còn mong muốn qua khoá luận này có thể nghiên cứu và đóng góp ý kiến của bản thân về một số vấn đề quan trọng đang được nhiều người quan tâm Tuy nhiên, do trình độ có hạn của một sinh viên, khoá luận này không tránh khỏi còn nhiều khiếm khuyết Em rất mong các thầy cô và mọi người đóng góp ý kiến giúp em có thể hoàn thiện
Trang 4nghiên cứu của mình Em xin chân thành cảm ơn TS Bùi Ngọc Sơn và những người đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này
Trang 5CHƯƠNG I CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC
I.1 Chiến lược kinh doanh
I.1.1 Khái niệm
Thuật ngữ “Chiến lược” lần đầu tiên được sử dụng trong lĩnh vực quân
sự Trong quân sự, “chiến lược” được hiểu là: nghệ thuật phối hợp các lực lượng quân sự, chính trị, tinh thần, kinh tế được huy động vào chiến tranh nhằm chiến thắng kẻ thù Chiến lược kinh doanh trở thành khái niệm quen thuộc từ những năm 50 của thế kỷ 20 và được áp dụng khá rộng rãi trong lĩnh vực quản lý kinh tế
Qua thời gian, tư tưởng chiến lược kinh doanh thay đổi rất nhanh và được hoàn thiện dần, đặc biệt là trong 4 thập kỷ vừa qua Lúc đầu là sự xuất hiện các mô hình, các phương pháp đánh giá thời cơ, cơ hội nhằm tìm ra những phương án hợp lý trong sản xuất kinh doanh và tiến đến là việc xuất hiện các phương pháp dài hạn nhằm quản lý việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh từ những nỗ lực hoàn thiện quản lý sản xuất nội bộ, khai thác nguồn lực nội sinh gắn với nguồn lực bên ngoài Sau đó, các nỗ lực hoàn thiện tư tưởng chiến lược kinh doanh lại hướng vào phát triển thị trường và chiến lược marketing Ngày nay, việc nghiên cứu hoàn thiện tư tưởng chiến lược kinh doanh đang hướng tới việc nỗ lực kết hợp xâu chuỗi các kết quả đã đạt được
để vận dụng một cách tổng hợp hơn vào môi trường hoạt động mới, đầy biến động Do vậy, đã có rất nhiều khái niệm được đưa ra để định nghĩa thế nào là chiến lược kinh doanh:
“Chiến lược kinh doanh là những phương tiện để đạt tới những mục tiêu dài hạn Các doanh nghiệp cần phải giải quyết là làm thế nào đạt được các kết quả đã đề ra dựa trên cơ sở tình thế và triển vọng của doanh nghiệp Các mục tiêu là đích hướng tới, còn phương tiện để đạt được mục đích này chính là
Trang 6chiến lược."
"Chiến lược kinh doanh là một tập hợp mô hình các hành động mà các giám đốc sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp và các hoạt động tức thời với những thay đổi của tình thế và việc xảy ra các sự kiện bất ngờ Như vậy, các chiến lược của doanh nghiệp bao gồm các hoạt động được
kế hoạch hoá (chiến lược định trước) và các phản ứng cần thiết với các điều kiện không dự báo trước (các đáp ứng chiến lược không kế hoạch hoá)."(2)
“Chiến lược kinh doanh dựa trên cơ sở một loạt các bước tiến của đối thủ cạnh tranh và các phương pháp kinh doanh mà các bậc quản trị trên cơ sở
đó tạo ra các kết quả thực hiện thành công Do đó, chiến lược kinh doanh là một kế hoạch quản lý nhằm củng cố vị thế, là sự hài lòng của khách hàng và đạt được các mục tiêu thực hiện của doanh nghiệp.”(3)
Tóm lại: Chiến lược kinh doanh là tổng hợp các mục tiêu dài hạn, các chính sách và giải pháp lớn về sản xuất - kinh doanh, về tài chính và về giải quyết nhân tố con người nhằm đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển lên một trạng thái cao hơn về chất
I.1.2 Vai trò của chiến lược kinh doanh
Chiến lược kinh doanh quyết định định hướng hoạt động dài hạn và là cơ
sở vững chắc cho triển khai hoạt động trong tác nghiệp Thiếu vắng chiến lược hoặc chiến lược không được thiết lập rõ ràng, không có luận cứ sẽ làm cho hoạt động mất hướng, chỉ thấy trước mắt không gắn được với dài hạn, chỉ thấy cục bộ mà không thấy vai trò của cục bộ trong cái toàn bộ
Chiến lược kinh doanh tạo cơ sở vững chắc cho các hoạt động nghiên cứu - triển khai, đầu tư phát triển, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực Trong thực tế, phần lớn các sai lầm, trả giá về đầu tư, về nghiên cứu - triển khai có nguồn gốc từ chỗ thiếu vắng hoặc có sự sai lệch trong xác định các mục tiêu chiến lược Các mục tiêu chiến lược là các mục đích mà các bậc quản trị thiết
(1) - Athur A Thompson & A.J Strickland, Strategic Management, 1995.
(2) - Philip Kotler, Marketing Management, 1995.
(3) - Athur A Thompson & A.J Strickland, Strategic Management, 1995.
Trang 7lập nhằm củng cố vị trí kinh doanh chung và sức cạnh tranh sống động của doanh nghiệp các mục tiêu này liên quan đến sức cạnh tranh và vị trí kinh doanh của nó trong dài hạn ở trên thị trường, phát triển nhanh hơn mức trung bình của ngành, vượt trội các đối thủ cạnh tranh chủ yếu về chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ khách hàng hoặc thị phần, giành được chi phí thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, nâng cao được danh tiếng của doanh nghiệp đối với khách hàng, giành được chỗ đứng vững chắc hơn trên các thị trường quốc tế, thực hiện dẫn đạo về công nghệ, giành được lợi thế cạnh tranh bền vững, khai thác các cơ hội phát triển có sức hấp dẫn cao
Chiến lược kinh doanh tạo cơ sở cho các doanh nghiệp chủ động phát triển các hướng kinh doanh phù hợp với môi trường trên cơ sở tận dụng các
cơ hội, tránh các rủi ro, phát huy các lợi thế của doanh nghiệp trong kinh doanh, cải thiện căn bản tình hình, vị thế của một công ty, một ngành, một địa phương
I.1.3 Các đặc điểm cơ bản của chiến lược kinh doanh
+ Tính dài hạn: Chiến lược kinh doanh xác định các mục tiêu và phương hướng phát triển của doanh nghiệp trong thời kỳ tương đối dài (3 hoặc 5 năm, thậm chí 10 hoặc 20 năm) Chính khuôn khổ của mục tiêu và phương pháp dài hạn đó bảo đảm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển liên tục và vững chắc trong môi trường kinh doanh đầy biến động của kinh tế thị trường
+ Tính định hướng: Chiến lược kinh doanh chỉ phác thảo các phương hướng dài hạn, có tính định hướng còn trong thực tế kinh doanh phải thực hiện phương châm "kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu tình thế", kết hợp chiến lược với sách lược và các phương án kinh doanh tác nghiệp" Hoạch định chiến lược là phác thảo khuôn khổ cho các hoạt động kinh doanh dài hạn của doanh nghiệp trong tương lai dựa trên cơ sở các thông tin thu thập được qua quá trình phân tích và dự báo Do vậy, sự sai lệch giữa các mục tiêu định hướng và khuôn khổ chiến lược phác thảo ban đầu với hình ảnh kinh
Trang 8doanh sẽ diễn ra trong thực tế là điều chắc chắn Xem xét tính hợp lý và điều chỉnh các mục tiêu ban đầu cho phù hợp với các biến động của môi trường và điều kiện kinh doanh đã thay đổi là việc làm cần thiết của tất cả các doanh nghiệp
+ Tính toàn diện: Không chỉ định hướng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh còn đưa ra một phương thức quản trị doanh nghiệp toàn diện và hiệu quả Nó cho phép sự nhận biết, ưu tiên và tận dụng các cơ hội, thể hiện sự phân phối hiệu quả thời gian và các nguồn tài nguyên cho các cơ hội đã xác lập Nó cho phép có các quyết định chính yếu,
hỗ trợ tốt hơn cho các mục tiêu Chiến lược góp phần tối thiểu hoá tác động của những thay đổi có hại, giảm thiểu thời gian điều chỉnh lại các quyết định sai sót, đưa ra những giải pháp kịp thời nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh Nó khuyến khích doanh nghiệp có thái độ tích cực đối với đổi mới, khuyến khích suy nghĩ về tương lai
+ Tính tập trung: Mọi quyết định chiến lược quan trọng trong quá trình xây dựng, quyết định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh chiến lược đều phải được tập trung về người lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp Đặc trưng này ước định bởi thang quyền lực tương ứng trong quản lý
và điều hành doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm yêu cầu bí mật thông tin kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
+ Chiến lược kinh doanh luôn được xây dựng, lựa chọn và thực thi dựa trên cơ sở các lợi thế so sánh, các ngành nghề kinh doanh, các lĩnh vực kinh doanh chuyên môn hoá, truyền thống, thế mạnh của doanh nghiệp Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh giá đúng thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình khi xây dựng chiến lược và thường xuyên xem xét các yếu tố nội tại trước khi thực thi chiến lược
I.1.4 Nội dung của chiến lược kinh doanh
I.1.4.1 Bước chuyển từ kế hoạch dài hạn sang chiến lược kinh doanh
Chiến lược là phương thức mà các doanh nghiệp sử dụng để định hướng
Trang 9tương lai nhằm đạt được thành công Việc chuyển đổi từ quản trị sang quản trị chiến lược, chiến lược kinh doanh là sự phản ánh đặc trưng mới của kế hoạch dài hạn Với nhịp độ phát triển nhanh chóng của khoa học – kỹ thuật và sự biến đổi của thị trường ngày càng trở nên phức tạp Trong điều kiện đó, kế hoạch dài hạn dựa vào phương pháp ngoại suy xu thế đã không đảm bảo được tính mềm dẻo để thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng Do vậy, nét đặc trưng cơ bản của tầm nhìn dài hạn đòi hỏi phải hướng tới sự thích ứng mềm dẻo cần thiết, nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của môi trường và trước những thời cơ mới
Ở đây, hai yếu tố cơ bản của chiến lược là cạnh tranh và bất ngờ Tạo ra được các yếu tố bất ngờ cho đối phương và sức mạnh trong cạnh tranh là những yếu tố cơ bản đảm bảo cho thắng lợi và thành công Ngày nay, những yếu tố này cũng được coi là những yếu tố cơ bản để chiến thắng trong kinh doanh Từ đó cũng có thể hiểu chiến lược kinh doanh là quá trình xác định các mục tiêu tổng thể phát triển doanh nghiệp và sử dụng tổng hợp các yếu tố
kỹ thuật, tổ chức kinh tế và kinh doanh để chiến thắng trong cạnh tranh và đạt được các mục tiêu đề ra
I.1.4.2 Các cấp chiến lược
Chiến lược có thể được tiến hành ở nhiều cấp khác nhau, nhưng thông thường có hai cấp cơ bản nhất là cấp công ty và cơ sở kinh doanh Chiến lược cấp công ty xác định ngành hoặc các ngành kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoặc sẽ phải tiến hành Do đó, nó phải đề ra được hướng phát triển cho các đơn vị kinh doanh đơn ngành giới hạn lĩnh vực hoạt động của họ trong một ngành công nghiệp hoặc dịch vụ chính Các đơn vị kinh doanh đa ngành hoạt động trong hai ngành trở lên, vì vậy nhiệm vụ của họ sẽ phức tạp hơn, họ cần phải quyết định tiếp tục hay không các ngành hiện đang kinh doanh, đánh giá các khả năng ngành mới và đưa ra quyết định cần thiết
Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh cần được đưa ra đối với các đơn vị kinh doanh đơn ngành cũng như đối với mỗi cơ sở trong đơn vị kinh doanh đa
Trang 10ngành Chiến lược phải làm rõ là đơn vị tham gia cạnh tranh như thế nào Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh có mức độ quan trọng như nhau đối với các đơn vị kinh doanh đơn ngành và từng đơn vị riêng biệt trong đơn vị kinh doanh đa ngành Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh dựa trên tổng hợp các chiến lược khác nhau ở cấp bộ phận chức năng Tuỳ theo lĩnh vực kinh doanh mà chiến lược cấp cơ sở lựa chọn chiến lược trung tâm Đối với nhiều hãng, chiến lược marketing là trung tâm, đóng vai trò liên kết cùng với các chức năng khác Đối với một số hãng thì vấn đề sản xuất hoặc nghiên cứu phát triển có thể được chọn là chiến lược trung tâm Mỗi chiến lược cấp cơ sở cần phù hợp với chiến lược cấp công ty, và chiến lược cấp cơ sở khác của công ty
I.1.4.3 Tổ chức xây dựng chiến lược
Nhà quản trị là người đứng đầu công việc, chủ trì hoặc lãnh đạo các hoạt động của doanh nghiệp, là người biết điều khiển hoặc phối hợp các công việc của mọi người trong doanh nghiệp một cách có hiệu quả Các nhà lãnh đạo thường là người đưa ra những tư tưởng xuất phát, xác định những mục tiệc chung của doanh nghiệp và xác định những biện pháp có tính chất chiến lược Mặt khác việc xây dựng chiến lược đòi hỏi sự cộng tác của tất cả các bộ phận
và tất cả các thành viên trong công ty
Có hai loại nhà quản trị, đó là nhà quản trị chiến lược và nhà quản trị chức năng Nhà quản trị chiến lược là những người chịu trách nhiệm về khả năng hoạt động chung của công ty, hay đơn vị hoạt động chính Nhà quản trị chức năng là người chịu trách nhiệm về một chức năng kinh doanh cụ thể Các phòng, ban kế hoạch trong công ty thường được coi là bộ phận tham mưu, có nhiệm vụ giúp lãnh đạo phân tích tình hình, xác định mục tiêu chiến lược và các biện pháp cơ bản để đạt được mục tiêu đề ra Bộ phận này cũng
có nhiệm vụ tổng hợp các kế hoạch đã được soạn thảo ở các bộ phận khác và chuẩn bị các nghiên cứu cần thiết cho bước triển khai, đồng thời họ cũng cố vấn cho các bộ phận chức năng, giúp các bộ phận này xây dựng kế hoạch và cùng tiến hành nghiên cứu các lĩnh vực đặc thù
Trang 11I.1.5 Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh
+ Bước 1: Phân tích và dự báo về môi trường kinh doanh, trong đó cốt lõi nhất là phân tích và dự báo về thị trường Doanh nghiệp cần nhận thức rõ các yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình và đo lường mức độ, chiều hướng ảnh hưởng của chúng
Trang 12+ Bước 2: Tổng hợp kết quả phân tích và dự báo về môi trường kinh doanh Các thông tin tổng hợp kết quả phân tích và dự báo cần được xác định theo 2 hướng: thứ nhất là các thời cơ, thách thức của môi trường kinh doanh, thứ hai là các rủi ro, cạm bẫy, đe dọa có thể xảy ra trong môi trường kinh doanh
+ Bước 3: Phân tích và đánh giá đúng thực trạng của doanh nghiệp Nội dung đánh giá cần bảo đảm tính toàn diện, hệ thống, song các vấn đề cốt yếu cần được tập trung là: hệ thống tổ chức, tình hình nhân sự, tình trạng tài chính của doanh nghiệp
+ Bước 4: Tổng hợp kết quả phân tích và đánh giá thực trạng doanh nghiệp, xác định các điểm mạnh, lợi thế; điểm yếu, bất lợi trong kinh doanh
Đó là các căn cứ thực tiễn quan trọng nâng cao tính khả thi của chiến lược
+ Bước 5: Nghiên cứu các quan điểm, mong muốn, ý kiến của những người lãnh đạo công ty (các quản trị viên cấp cao)
+ Bước 6: Xác định các mục tiêu chiến lược, các phương án chiến lược
+ Bước 7: So sánh, đánh giá và lựa chọn phương án chiến lược tối ưu cho doanh nghiệp Cần đánh giá toàn diện và lựa chọn theo mục tiêu ưu tiên
+ Bước 8: Chương trình hoá phương án chiến lược đã lựa chọn với hai công tác trọng tâm: cụ thể hoá các mục tiêu kinh doanh chiến lược ra thành các chương trình, phương án, dự án, thứ hai là xác định các chính sách kinh doanh, các công việc quản trị nhằm thực hiện chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp
Ngày nay, khi quyết định chiến lược kinh doanh, trước hết phải tính đến khách hàng của mình và đối thủ cạnh tranh cận kề, đồng thời phải tính đến khả năng có thể thu hút được các hoạt động xúc tiến và tài trợ của các tổ chức với hoạt động kinh doanh quốc tế của mình
Do đó, khi lựa chọn chiến lược kinh doanh, không thể không tìm hiểu:
- Đặc điểm ngành hàng kinh doanh của doanh nghiệp
- Đối tác: nhà cung cấp, nhà phân phối
Trang 13- Phân đoạn thị trường, phương thức thâm nhập thị trường
Do kinh tế thế giới ngày càng phát triển và đang có xu thế hội nhập kinh
tế vùng và khu vực tiến tới Toàn cầu hoá, do đó Chiến lược kinh doanh còn phải tính tới đặc điểm của các khối và các quốc gia là thị trường mục tiêu
I.2 Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
I.2.1 Chính sách phát triển xuất khẩu của Việt Nam
Phát triển xuất khẩu là điều kiện tiên quyết để mở rộng nhập khẩu và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, là một tiền đề của sự tăng trưởng Do đó, tạo một nhịp độ phát triển xuất khẩu cao và bền vững phải là mục tiêu quan trọng của hoạt động ngoại thương
Phương hướng chủ đạo để phát triển xuất khẩu là tạo dựng những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, nhưng không giới hạn vào những mặt hàng cố định
mà linh hoạt đáp ứng nhu cầu thị trường và biến động giá cả, ở đây trọng tâm cần đặt vào các mặt hàng chế biến (chủ yếu là nông, lâm, thủy sản) và hàng công nghiệp nhẹ (hàng dệt may, da và giả da), công nghiệp lắp ráp, sử dụng nhiều lao động có tay nghề khá Đồng thời cần tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao, nhiều chất xám, có công nghệ mới để tạo cho nhóm hàng này có vị trí quan trọng trong cơ cấu hàng xuất khẩu vào cuối thập kỷ này
Một phương hướng quan trọng khác để gia tăng xuất khẩu là chính sách
mở rộng thị trường đúng đắn và linh hoạt Trong những năm tới, thị trường xuất khẩu chính của ta có thể là: (1) châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có các nước Nhật Bản, NICs, ASEAN, Trung Quốc là trọng điểm, (2) Liên minh châu Âu, trong đó có Pháp, Đức là trọng điểm, (3) Bắc Mỹ, trong đó có Mỹ là trọng điểm Các nước SNG và Đông Âu là những thị trường có tiềm năng song chắc chắn cần có một thời gian nữa, khi tình hình khu vực này trở nên
ổn định mới có điều kiện phát triển buôn bán quy mô lớn Nhân tố quyết định quy mô, nhịp độ xuất khẩu là cơ cấu hàng xuất khẩu và những mặt hàng chủ
Trang 14lực, xác định cơ cấu hàng hóa và các mặt hàng chủ lực có hiệu quả là rất quan trọng
Trong một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, việc đổi mới chính sách cơ cấu hàng xuất khẩu phải căn cứ vào: thị trường xuất khẩu, điều kiện và khả năng sản xuất ở trong nước, hiệu quả cao (bao gồm hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội) Trong ba yếu tố này, hiệu quả là yếu tố quan trọng hàng đầu trong sự lựa chọn cơ cấu về mặt hàng xuất khẩu Để nâng cao hiệu quả và sức cạnh trạnh của hàng xuất khẩu, cần có chính sách chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng: (1) giảm tỷ trọng thô và
sơ chế đi đôi với tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến trong cơ cấu hàng xuất khẩu, (2) giảm tỷ trọng các sản phẩm xuất khẩu truyền thống đi đôi với tăng
tỷ trọng các sản phẩm xuất khẩu mới, (3) tăng tỷ trọng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao trong giá trị kim ngạch hàng xuất khẩu
Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu phải gắn liền với việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu thị trường Từ nay đến 2010, chính sách xuất khẩu là phải triệt để khai thác những lợi thế có thể xuất khẩu ngay, đặc biệt là nguồn lao động dồi dào, có óc tiếp thu tay nghề nhanh, nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú hơn so với nhiều nước đã trở thành nước công nghiệp, phát triển các ngành khai thác và sản phẩm hướng tới xuất khẩu Đổi mới cơ cấu hàng xuất khẩu đòi hỏi phải đổi mới cơ cấu sản xuất, gắn quy hoạch xuất khẩu với quy hoạch sản xuất các sản phẩm xuất khẩu
Nhà nước cần ban hành các chính sách đầu tư vốn và công nghệ đối với các ngành, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh xuất khẩu, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào sản xuất kinh doanh sản phẩm xuất khẩu thông qua các biện pháp tín dụng, tài chính, thuế… Việc đổi mới cơ cấu hàng xuất khẩu, danh mục các mặt hàng xuất khẩu sẽ thay đổi theo chiều hướng gia tăng các mặt hàng có sức cạnh tranh và mang lại hiệu quả cao Một số sản phẩm hiện nay được coi là mặt hàng chủ lực, có khả năng
sẽ tăng lên về mặt số lượng và kim ngạch xuất khẩu nhưng tỷ trọng của chúng
Trang 15lại có thể giảm đi trong kim ngạch xuất khẩu trong 10 -15 năm tới Ngược lại, một số mặt hàng hiện nay mới chiếm tỷ trọng nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu, nhưng lại có khả năng sẽ trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, chiếm tỷ trọng lớn
I.2.2 Chiến lược phát triển xuất khẩu
Ngày nay, với xu thế đa phương hóa, đa dạng hoá các mối quan hệ kinh
tế đối ngoại của Việt Nam, xuất khẩu chính là công cụ để nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Song bên cạnh sự hợp tác là sự cạnh tranh hết sức khốc liệt nhằm chiếm một chỗ đứng trên thị trường, do đó đối với Việt Nam, làm thế nào để tăng trưởng xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm, phát triển sản xuất trong nước, đẩy nhanh công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước là điều vô cùng quan trọng Với vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước, xuất khẩu cần được nhìn nhận dưới góc độ một chính sách dài hạn
Chiến lược xuất khẩu là một tổng thể bao gồm các mục tiêu dài hạn, sự phân tích đánh giá thực trạng và tiềm năng xuất khẩu của doanh nghiệp cùng những cơ hội và thách thức trong môi trường kinh doanh quốc tế đầy biến động, từ đó xây dựng nên hệ thống các chính sách, giải pháp và nhiệm vụ cần phải thực hiện để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu, nâng cao
uy tín và ảnh hưởng của doanh nghiệp, mở rộng và củng cố thị trường, nâng cao kim ngạch xuất khẩu
Chiến lược xuất khẩu là sự cụ thể hoá của chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp, hay lớn hơn là của một ngành, một quốc gia Do đó, việc xây dựng chiến lược xuất khẩu cũng phải tuân theo quy trình các bước xây dựng chiến lược kinh doanh như đã nêu trên
I.2.3 Sự cần thiết xây dựng chiến lược phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Trang 16Cuộc cách mạng Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ đã làm thay đổi sâu sắc bộ mặt của nền kinh tế thế giới Các nước nói chung và Việt Nam nói riêng muốn tiến hành Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá thành công thì không
có con đường nào khác là phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu Thực chất của chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu là đặt nền kinh tế quốc gia trong quan hệ cạnh tranh trên thị trường quốc tế, phát huy lợi thế so sánh của sản xuất trong nước, đổi mới công nghệ để đưa năng suất lên cao, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Thực hiện chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu, các nước phải không ngừng học hỏi, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào sản xuất nhằm thu được những sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế Tuy nhiên, mỗi đất nước chỉ có những nguồn lực nhất định (nguồn lực luôn gắn liền với sự khan hiếm) Chính vì vậy, để khai thác
và sử dụng một cánh tối ưu các nguồn lực hạn chế đó, các quốc gia nói chung
và Việt Nam nói riêng đều đứng trước một bài toán là phải quyết định phân
bổ các nguồn lực đó như thế nào giữa những nhu cầu cạnh tranh nhau
Do vậy, một vấn đề được đặt ra là phải lựa chọn những ngành hàng, mặt hàng chủ lực nhằm khai thác được một cách tối đa các giới hạn nguồn lực sẵn
có Giải quyết được vấn đề này lại phát triển tiếp đến một vấn đề mới đó là phải giải quyết bài toán thị trường của các mặt hàng chủ lực đó như thế nào, tức là đi tìm thị trường xuất khẩu của các mặt hàng đó như thế nào để có thể khai thác tối đa các lợi thế so sánh của quốc gia và lợi thế cạnh tranh của mặt hàng đó trên thị trường quốc tế Như vậy, có thể nói việc lựa chọn được một chiến lược phát triển các mặt hàng chủ lực và thị trường xuất khẩu luôn là một nhiệm vụ thực sự cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược đẩy mạnh kinh tế hướng về xuất khẩu của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng
I.2.4 Vai trò then chốt của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Trang 17Xuất khẩu là một tất yếu khách quan và có vai trò quan trọng đối với các quốc gia, đặc biệt là nước ta, một nước có nền kinh tế phát triển chậm, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, không đồng bộ, dân số phát triển nhanh Sự tăng trưởng kinh tế đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những điều kiện về nhân lực, tài nguyên, vốn và công nghệ để thực hiện quá trình công nghiệp hoá của mình Song hầu hết các nước đang phát triển như Việt Nam đều nằm trong tình trạng thiếu vốn, công nghệ và thừa lao động Thực tế kinh nghiệm một số nước NICs và ASEAN cho thấy chiến lược tăng trưởng kinh tế trong công cuộc công nghiệp hoá là phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu Xuất khẩu đã được xác định là một trong những mũi nhọn có ý nghĩa quyết định đối với quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia
Thứ nhất: xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ cho
công nghiệp hoá đất nước Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi
thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của mỗi quốc gia Để công nghiệp hoá đất nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có một số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, nguồn vốn ngoại tệ để nhập khẩu chủ yếu được hình thành từ các nguồn như: đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ, xuất khẩu sức lao động, hàng hoá trong nước ra nước ngoài
Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, tuy quan trọng nhưng vẫn phải trả theo cách này hay cách khác Như vậy, nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hoá đất nước chỉ có thể trông chờ vào xuất khẩu Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu Ở những nước đang phát triển và chậm phát triển, một trong những nguyên nhân thiếu vốn trong quá trình phát triển là do ít có cơ hội xuất khẩu Không xuất khẩu được một mặt không thu được ngoại tệ từ hoạt động này, mặt khác các nhà đầu tư cũng không ưa thích đầu tư vào quốc gia mà họ không thấy có khả năng phát triển xuất khẩu do đó lại càng thiếu vốn hơn nữa
Trang 18Thứ hai: xuất khẩu đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển Các cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại đã làm cho cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi một cách mạnh mẽ Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá từ nông nghiệp sang công nghiệp là phù hợp với xu thế tất yếu của nền kinh tế thế giới Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
+ Xuất khẩu chỉ là tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa Theo cách hiểu này thì đối với những quốc gia lạc hậu và chậm phát triển khi mà sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ sự “thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu chỉ ở quy mô nhỏ và tăng trưởng chậm, sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp
+ Coi thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất Quan điểm này chính là xuất phát từ quan điểm coi nhu cầu của thị trường thế giới
là nhu cầu cần đáp ứng để tổ chức sản xuất Điều đó tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp cùng có cơ hội phát triển thuận lợi Ví dụ, khi phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu có thể kéo theo sự phát triển của công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ nó hoặc nếu phát triển ngành giầy dép xuất khẩu thì các ngành sản xuất nguyên liệu như chăn nuôi, thuộc da, hoá chất cũng phát triển theo
- Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định
- Xuất khẩu là phương tiện quan trọng để tạo ra vốn, thu hút kỹ thuật công nghệ mới từ các nước phát triển nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước, tạo ra năng lực sản xuất mới
- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá các quốc gia sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Do cạnh tranh sâu sắc trên thị trường quốc tế, các quốc gia buộc phải tổ chức lại sản xuất sao cho phù hợp và từ đó hình thành cơ cấu sản xuất hợp lý
Trang 19Thứ ba: xuất khẩu tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc
làm và cải thiện đời sống nhân dân Tác động của xuất khẩu ảnh hưởng đến rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống Sản xuất hàng xuất khẩu sẽ tạo ra hàng triệu chỗ làm, góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập ổn định cho người lao động Đồng thời xuất khẩu tạo ra nguồn thu ngoại tệ để nhập khẩu những vật phẩm tiêu dùng mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất không có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một đầy đủ hơn, nâng cao mức sống của người dân
Bốn là: xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế
đối ngoại Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại có thể phát triển sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như dịch vụ thương mại, bảo hiểm hàng hoá, thông tin liên lạc quốc tế, dịch vụ tài chính quốc tế, kinh doanh du lịch, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên hiện có Cuối cùng, hoạt động xuất khẩu tăng cường hợp tác và chuyên môn hoá quốc tế, là một mắt xích quan trọng trong quá trình phân công lao động, nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế Như vậy, với vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, việc đẩy mạnh xuất khẩu đã trở thành vấn đề được quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng
I.2.5 Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay
I.2.5.1 Khái niệm về mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Hàng xuất khẩu chủ lực là các mặt hàng chiếm vị trí quyết định trong kim ngạch xuất khẩu do có thị trường ngoài nước và điều kiện sản xuất trong nước thuận lợi Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng các mặt hàng chủ lực đã được Nhà nước đề ra từ cuối những năm 60 Tuy nhiên, chỉ mới gần đây, khi chúng
ta tiếp xúc mạnh mẽ với nền kinh tế thị trường của thế giới thì chúng ta mới ý thức được một cách nghiêm túc tầm quan trọng của vấn đề này Mặt hàng chủ lực được hình thành trước hết qua quá trình thâm nhập vào thị trường nước ngoài, qua những cuộc cọ sát, cạnh tranh mãnh liệt trên thị trường thế giới,
Trang 20kéo theo việc tổ chức sản xuất trong nước trên qui mô lớn với chất lượng phù hợp với đòi hỏi của người tiêu dùng, đứng vững và liên tục phát triển
Một mặt hàng xuất khẩu chủ lực ra đời cần có ít nhất 3 yếu tố cơ bản: + Có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định và luôn cạnh tranh được trên thị trường đó
+ Có nguồn lực để tổ chức sản xuất với chi phí thấp tương đối so với các sản phẩm cạnh tranh khác để có thể vừa đảm bảo khả năng cạnh tranh vừa mang lại hiệu quả cao hơn
+ Có khối lượng kim ngạch lớn trong tổng khối lượng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia
Tuy nhiên, vị trí của mặt hàng xuất khẩu chủ lực không phải là vĩnh viễn
mà trong quá trình phát triển luôn diễn ra những vận động, biến đổi của thị trường, kéo theo nó là sự vận động và biến đổi cơ cấu các sản phẩm làm thay đổi vị trí của các sản phẩm trên thị trường Do vậy, việc xác định và xây dựng
cơ cấu các sản phẩm xuất khẩu chủ lực không chỉ căn cứ vào khả năng sẵn có
và nội lực trong nước, vào nhu cầu và khả năng hiện tại trên thị trường thế giới mà còn phải tính đến những xu hướng và diễn biến thị trường trong tương lai
I.2.5.2 Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay
Mặt hàng xuất khẩu chủ lực là những mặt hàng có vị trí đáng kể trong tổng giá trị xuất khẩu của một đất nước và có ảnh hưởng ít nhiều trên thương trường quốc tế Ở một chừng mực nhất, định chúng phản ánh thế lực kinh tế của một nước trong nền kinh tế thị trường Từ năm 1992 nước ta mới chỉ có 4 mặt hàng chủ lực là: Dầu thô, Thuỷ sản, Gạo và Dệt may, 5 năm sau đến năm
1997 nước ta đã có 10 mặt hàng xuất khẩu được coi là chủ lực và hiện nay Việt Nam có khoảng 19 mặt hàng chủ lực bao gồm: Hàng dệt may; Dầu thô; Giầy dép; Gạo; Thuỷ – Hải sản; Cà phê; Chè; Cao su; Nhân hạt điều; Than đá; Rau quả; Hàng thủ công mỹ nghệ; Hạt tiêu; Hàng điện tử - Linh kiện máy
Trang 21tính; Đậu phộng nhân; Xe đạp và phụ tùng; Dây điện và cáp điện; Sản phẩm
gỗ; Sản phẩm nhựa
Năm 1998, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả nước đạt khoảng 9,4 tỷ
USD, tăng 1.9% so với năm 1997, trong đó, tổng kim ngạch xuất khẩu của 6
mặt hàng: Dầu thô, Dệt may, Thuỷ sản, Gạo, Cà phê và Giầy dép đã là 5,33 tỷ
USD, chiếm hơn 60% kim ngạch hàng hoá xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu
liên tục tăng lên, năm 1999 đạt 11,5 tỷ USD, tăng 23,4% so với năm 1998,
đến năm 2002 đạt 16,7 tỷ USD Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực thay
đổi nhanh chóng, luôn có sự thay đổi vị trí của các ngành hàng, mặt hàng
Một số mặt hàng chủ lực mới cũng đã dần khẳng định được vị trị trên thị
trường xuất khẩu thế giới như: Thủ công mỹ nghệ; Chè, Rau quả… Tuy
nhiên, vai trò của các mặt hàng chủ lực như: Dầu thô, Dệt may, Gạo, Thủy
sản, Giầy dép… vẫn rất quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước Năm 2002, những mặt hàng đầu vị xếp theo thứ tự là: Dầu thô (3,27 tỷ
USD), Hàng dệt may (2,75 tỷ USD), Thuỷ sản (2,023 tỷ USD), Giầy dép
(1,87 tỷ USD), Gạo (726 triệu USD)
Bảng 1: Top 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực Việt Nam (1998 – 2002)
Trang 22Nguồn: “10 mặt hàng đầu vị”, Báo Thương mại, số 3 ngày 12/01/2003
Bảy tháng đầu năm 2003, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả nước đạt 11,4 tỷ USD, tăng gần 30% so với cùng kỳ năm ngoái Có tới 17 trong tổng
số 20 mặt hàng chủ lực tăng, trong đó có 10 mặt hàng có mức tăng từ 20% đến 60% so với cùng kỳ năm ngoái Xuất khẩu thủy sản đạt 1,158 tỷ USD, tăng 10%; Gạo đạt gần 500 triệu USD, tăng gần 20%; Cà phê đạt 269 triệu USD, tăng gần 60%; Cao su 155 triệu USD, tăng trên 33%; Hàng dệt may đạt gần 2,15 tỷ USD, tăng 60%; Giày dép đạt 1,34 tỷ USD, tăng 23,6%; Hàng điện tử và linh kiện máy tính 370 triệu USD, tăng 36,5%; Hàng thủ công mỹ nghệ 207 triệu USD tăng 9,6%; Xe đạp và phụ tùng 92 triệu USD, tăng 31,4% Đây chính là điều mà Nhà nước, Chính phủ và các doanh nghiệp của
ta phải nhận thức được và có những định hướng đúng đắn
I.3 Ảnh hưởng của Toàn cầu hoá đối với các mặt hàng chủ lực
I.3.1 Tình hình thị trường của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Cơ cấu thị trường được cải thiện theo hướng chuyển dịch từ thị trường trung gian sang thị trường tiêu thụ trực tiếp, giảm xuất khẩu đối với khu vực châu Á nhưng lại tăng đối với châu Mỹ, châu Âu và châu Phi Kim ngạch xuất khẩu sang hầu hết các nước bạn hàng chủ yếu đều tăng, nhất là Mỹ, Nhật, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Campuchia… Số liệu hải quan cho thấy, xuất khẩu sang Mỹ chín tháng đầu năm 2003 đạt 3,1 tỷ USD, tăng 96,7% so với cùng kỳ năm 2002 (đổi lại nhập khẩu từ thị trường này gồm cả máy bay Boeing, cũng lên gần 1 tỷ USD Mỹ, tăng 198%) Kim ngạch xuất khẩu sang khối ASEAN tăng 23,5% và sang EU tăng 21,1% Chúng ta có thể điểm lại tình hình những thị trường chính của các mặt hàng chủ lực của Việt Nam trong thời gian qua
a Thị trường ASEAN
Tổng kim ngạch hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường ASEAN hiện chiếm trên 20% Do khủng hoảng tài chính vẫn còn ảnh hưởng ở các khu vực này nên ngoài mặt hàng Gạo là có khả năng tăng lượng xuất khẩu còn hầu hết các mặt hàng khác sẽ gặp khó khăn Không những thế, hàng hoá của các
Trang 23nước này còn cạnh tranh quyết liệt với hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, tình hình kinh tế của các nước ASEAN đang được cải thiện đáng kể sau cuộc khủng hoảng, điều này cho thấy khả năng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các nước này trong thời gian tới sẽ có nhiều triển vọng sáng sủa hơn
Theo quyết định của ASEAN, các nước thành viên mới, trong đó có Việt Nam, có nghĩa vụ thực hiện nhanh hơn nữa tiến trình cắt giảm thuế quan trong CEPT/AFTA Theo đó, Việt Nam phải hoàn thành việc cắt giảm thuế suất xuống 0-5% vào 1/1/2005 (với một số linh hoạt) thay vì 1/1/2006 như hiện nay Ngoài ra, năm 2006, Việt Nam phải đảm bảo 60% tổng số mặt hàng đưa vào cắt giảm có mức thuế suất 0% Do đó, sau khi thống nhất với các Bộ, ngành và doanh nghiệp, trong danh mục CEPT 2003 – 2006 sẽ có một số mặt hàng (khoảng 7% tổng số các mặt hàng) được cắt giảm với tiến độ nhanh hơn
so với tiến độ công bố năm 2002 Do vậy, để cạnh tranh được trên thị trường các nước này, Việt Nam còn nhiều việc phải làm nhất là khi tham gia vào khu vực mậu dịch tự do Châu Á Thái Bình Dương, nếu không khi những hàng rào mậu dịch và phi mậu dịch không còn nữa thì chẳng những hàng hoá của Việt Nam khó có thể cạnh tranh được trên thị trường các nước này mà còn có thể
bị đè bẹp ngay tại thị trường trong nước
b Thị trường Mỹ
Hoa Kỳ là một trong những thị trường lớn nhất thế giới và là một cường quốc kinh tế của thế giới, có nền khoa học kỹ thuật – công nghệ tiên tiến, ngành giáo dục đào tạo có chất lượng cao cùng với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Với một tiềm năng lớn về kinh tế và khoa học kỹ thuật, Mỹ
có thể chia sẻ với Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế Thực tế, theo kinh nghiệm của các nước Châu Á cho thấy các nền kinh tế lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, ASEAN và Trung Quốc đều rất coi trọng thị trường này và là nơi xuất khẩu chủ yếu để phát triển Phải nói rằng
Mỹ là một thị trường rộng lớn cho hàng hoá xuất khẩu từ các nước, nhu cầu của thị trường này rất cao và rất đa dạng về chủng loại và chất lượng, từ những loại mang tính phổ thông đến những loại cao cấp
Trang 24Do chưa được hưởng qui chế Tối Huệ Quốc nên giá trị và chủng loại hàng hoá của ta xuất khẩu sang Mỹ còn rất hạn chế Đến nay, Việt Nam mới chỉ xuất khẩu sang thị trường này một số mặt hàng như Gạo, Cà phê, Hạt điều, Cao su, Rau quả và Hải sản, một số hàng như Giầy dép, Dệt may, có xuất khẩu sang Mỹ nhưng bị đánh thuế cao từ 40 - 90% trị giá nhập khẩu Tuy nhiên, Mỹ vẫn là thị trường lý tưởng cho hàng dệt may và thủy sản Việt Nam
Sở Thương mại TP Hồ Chí Minh nhận định, hai mặt hàng này khi xuất khẩu vào Mỹ thường là cung không đủ cầu Do các doanh nghiệp có xu hướng đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu vào Mỹ nên nguyên liệu may nhập khẩu trong ba tháng đầu năm 2003 tăng 21,9% so với cùng kỳ năm 2002 Bộ Thương mại đang chuẩn bị cho vòng đàm phán tiếp theo của Hiệp định hàng dệt may Thách thức lớn đối với hàng Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ hiện nay
là các rào cản kỹ thuật Chúng ta phải nhận thức được thực chất thị trường Mỹ
để không bị ảo tưởng đồng thời phải nhìn nhận lại chính mình trong vị trí thị trường toàn cầu để đưa ra được các chiến lược, chính sách vĩ mô và các giải pháp mô cụ thể nhằm khai thác tối đa những thế mạnh của mình, thâm nhập
vào thị trường đầy tiềm năng này
c Thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam sau ASEAN, quý I/2003, xuất khẩu sản phẩm dầu thô của Việt Nam sang Nhật Bản tăng 28,2% so với năm 2002 Ngoài mặt hàng Dầu thô, Việt Nam còn có nhiều mặt hàng như May mặc, Thuỷ sản, Giầy dép, đã xuất khẩu sang Nhật từ nhiều năm nay Để giữ vững và mở rộng thị trường, các doanh nghiệp cần bám sát những khách hàng đã có quan hệ và phát triển, tìm kiếm các khách hàng mới Với thị trường này, chúng ta nên hiểu đầy đủ một đặc điểm là các doanh nghiệp Nhật Bản thường là các hãng đa năng, do đó, khi quan hệ với họ cần gắn giữa xuất và nhập không chỉ trong phạm vi công ty mà cần có sự phối hợp giữa các công ty trong một Bộ, một địa phương, cùng với đó là việc không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm
d Thị trường EU
EU là một thị trường yêu cầu chất lượng hàng hoá rất cao Phong cách kinh doanh và tâm lý kinh doanh của các nhà doanh nghiệp EU khác nhiều so
Trang 25với các nhà doanh nghiệp Châu Á Hiện nay, thị trường EU đóng vai trò khá quan trọng đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam Thị trường này đang còn nhiều khoảng trống cho hàng hoá của nước ta, đặc biệt, hàng Thuỷ sản có thể tìm được chỗ đứng nếu như đảm bảo được những yêu cầu về chất lượng và giá cả Do vậy, các nhà doanh nghiệp Việt Nam cần phải kiên trì tiếp cận, đảm bảo chữ tín trong kinh doanh, thực hiện đúng các điều kiện như cam kết thì mới có khả năng xuất khẩu và tăng lượng xuất khẩu vào thị trường này
EU cũng đang mở ra một vận hội lớn cho xuất khẩu Việt Nam sau khi thêm hạn ngạch dệt may đối với các loại Cat nóng 50-75% và dự kiến sẽ tiếp tục tăng thêm một số lượng tương tự vào năm 2004 Hiện các doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng thuộc Cat nóng thường không đủ hạn ngạch để sản xuất hết công suất
e Thị trường nước Nga
Đây là thị trường quen thuộc với hàng hoá của Việt Nam trước đây Thời gian qua, giữa hai Chính phủ cũng như Bộ Thương Mại Việt Nam - Nga liên tiếp tiếp xúc với nhau, phía bạn khẳng định rằng hàng hoá Việt Nam vẫn có nhu cầu trên thị trường của họ Tuy kim ngạch ngoại thương giữa Việt Nam
và Nga không cao nhưng thị trường này vẫn là thị trường truyền thống của Việt Nam Xuất khẩu Việt Nam sang Nga quý I/2003 tăng 20,6% so với cùng
kỳ năm trước Cơ quan thương mại TP.HCM dự kiến sẽ tổ chức đoàn xúc tiến thương mại qua Nga để đàm phán, nối lại các chương trình làm ăn và mở Trung tâm thương mại tại Moscow Đặc biệt, trong thời gian tới khi tình hình chính trị và kinh tế của các nước này ổn định và phát triển hơn thì chắc chắn đây sẽ lại là một thị trường sôi động và nhiều tiềm năng cho chúng ta
Chúng ta nên duy trì, khai thác và phát triển các quan hệ sẵn có, đây chính là một lợi thế đáng kể của chúng ta khi cạnh tranh trên thị trường này Trước mắt, để giải tỏa một số khó khăn của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường này, các doanh nghiệp Việt Nam nên mạnh dạn áp dụng phương pháp buôn bán hàng đổi hàng hoặc phương thức tín dụng chứng từ (L/C) trả chậm Để đảm bảo quyền lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, Ngân hàng
Trang 26Nhà nước Việt Nam cần ký các thoả thuận với Ngân hàng phía bạn nhằm thực hiện việc bảo lãnh và tái bảo lãnh hàng trả chậm Việc mở KRAS BANK tại
Tp Hồ Chí Minh là kết quả của sự hợp tác giữa hai nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam cũng như các doanh nghiệp phía bạn yên tâm mở rộng quan hệ thương mại và kinh doanh xuất nhập khẩu thời gian tới
f Thị trường Trung Quốc
Trung Quốc là một thị trường lớn, lại ở sát nước ta đồng thời là một nước có khả năng cạnh tranh cao không những ở trên thị trường thế giới mà còn trên thị trường Việt Nam Do đó, Trung Quốc vừa là bạn hàng của nước
ta vừa là đối thủ cạnh tranh Với ý nghĩa đó, cần tích cực, chủ động hơn trong việc thúc đẩy quan hệ buôn bán với Trung Quốc mà hướng chính là các tỉnh Hoa Nam và Tây Nam Trung Quốc, phấn đấu đưa tổng kim ngạch xuất khẩu lên khoảng 3 - 4 tỷ USD Một trong những phương cách quan trọng là tranh thủ sự thoả thuận cấp Chính phủ về trao đổi một số mặt hàng với số lượng lớn, trên cơ sở ổn định, thúc đẩy buôn bán chính ngạch Bên cạnh đó, ta nên
có chính sách thích hợp, tích cực thúc đẩy quan hệ buôn bán biên mậu, tận dụng phương thức này để gia tăng xuất khẩu trên cơ sở hình thành sự điều hành tập trung và nhịp nhàng Đồng thời cần chú ý thị trường Hồng Kông, một thị trường tiêu thụ lớn nhưng gần đây có biểu hiện thuyên giảm trong buôn bán với ta
I.3.2 Xu thế khách quan
Mặc dù trên thế giới vẫn tồn tại nhiều yếu tố gây mất ổn định (mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ, giai cấp ) nhưng xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo Các nước đều tập trung ưu tiên cho phát triển kinh
tế, liên kết cùng phát triển, tích cực xúc tiến thương mại, giao lưu kinh tế và đầu tư vốn, công nghệ xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, đẩy mạnh các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá từ các châu lục, các quốc gia trên toàn thế giới Tuy nhiên, tranh chấp về dân tộc và sắc tộc vẫn tiếp diễn trên nhiều lĩnh vực của đời sống của quốc gia và trên thế giới với những nội dung và hình thức
Trang 27mới: xu thế chung là vừa hợp tác vừa cạnh tranh, thậm chí đấu tranh gay gắt
để giành lợi thế trong hợp tác
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ chưa từng có với nội dung nổi bật là điện tử và tin học, tự động hoá, vật liệu mới và sinh học, làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhiều nước diễn ra nhanh hơn theo hướng chuyển mạnh sang những ngành có hàm lượng trí tuệ cao và dịch vụ; tỷ trọng nông nghiệp và công nghiệp khai khoáng giảm dần Là sản phẩm của sự phát triển khoa học công nghệ và lực lượng sản xuất trên qui mô thế giới, toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành xu thế tất yếu thúc đẩy hầu hết các quốc gia mở rộng thị trường bằng cách giảm bớt, thậm chí xoá bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan; chuyển dịch một cách thông thoáng hàng hoá, vốn đầu tư, tiền tệ, dịch vụ, lao động giữa các quốc gia với qui mô ngày càng lớn; hình thành vô số tổ chức kinh tế tài chính mang tính toàn cầu
và khu vực; ký kết hàng vạn hiệp định song phương và đa phương, hàng trăm công ước kinh tế quốc tế; phát triển nhiều tập đoàn xuyên quốc gia
Toàn cầu hoá và khu vực hoá đặt ra nhiều vấn đề mới mà các quốc gia không thể không tính đến trong khi hoạch định chính sách của mình
Một là: muốn tận dụng được công nghệ, tiền vốn và thị trường, cũng như
việc lựa chọn được các mặt hàng chủ lực mang tính cạnh tranh cao để xuất khẩu nhằm phát triển kinh tế, các nước phải chủ động và tích cực tham gia toàn cầu hoá và khu vực hoá với những mục tiêu cụ thể, vào những thời điểm thích hợp để có thể chiếm vị trí tối ưu trong phân công lao động quốc tế và khu vực
Hai là: phải có cách nhìn mới về bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ, mỗi quốc gia dân tộc bằng tinh thần và nghị lực, bằng sức mạnh tổng hợp nhiều mặt của bản thân mình là cơ sở hàng đầu quyết định vận mệnh của dân tộc Nhưng ngày nay sức mạnh kinh tế, sự tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong phân công lao động quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi đã trở thành những yếu tố vô cùng quan trọng trong việc giữ gìn
Trang 28độc lập, chủ quyền
Ba là: để giữ vững chủ quyền, bảo đảm hiệu quả trong khi tham gia toàn
cầu hoá, bản thân mỗi nước phải nhanh chóng tăng cường tiềm lực của mình; nếu không sẽ không đương đầu nổi sự cạnh tranh, chèn ép mãnh liệt của các thế lực có sức mạnh lớn hơn
Bốn là: phải biết vận dụng “luật chơi” của thế giới, mạnh dạn và chính
xác điều chỉnh cơ chế, luật lệ, chính sách kinh tế, thương mại của mình cho phù hợp với thông lệ quốc tế, có tính điều kiện cụ thể của quốc gia mình
Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá tạo ra tính phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc, do đó hình thành sự đan xen lợi ích và mâu thuẫn giữa các trung tâm, giữa các nước, đan xen cạnh tranh với hợp tác Mâu thuẫn kinh tế, thương mại giữa các nước lớn, các trung tâm sẽ tiếp tục gay gắt Nhưng, tuỳ thuộc lẫn nhau buộc các đối tác, trong khi tìm cách giành lợi ích tối đa cho mình, phải tìm cách “dàn xếp” để không xảy ra chiến tranh kinh tế, thương mại toàn cầu Và cuộc chạy đua về kinh tế và khoa học công nghệ diễn ra ngày càng quyết liệt, lôi cuốn hầu hết các quốc gia, dân tộc
I.3.3 Thời cơ và thách thức
I.3.3.1 Thời cơ
Những năm đầu thế kỷ 21, khó có nước nào đủ mạnh toàn diện để thách thức vị trí siêu cường của Mỹ trong quan hệ kinh tế quốc tế; ba trung tâm Mỹ
- Tây Âu - Nhật Bản cùng với Trung Quốc và Nga sẽ đóng vai trò chủ yếu tác động tới cục diện chung Châu Á - Thái Bình Dương sẽ tiếp tục phát triển năng động và đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn các khu vực khác Nổi bật nhất là sự phát triển nhanh của Trung Quốc, sau đó là Hàn Quốc, Đài Loan, Malayxia, Thái Lan, Singapore, Indonesia, Ấn Độ Trong khu vực, xu thế tự
do hoá thương mại và đầu tư ngày càng mạnh mẽ Nhìn chung trong những năm tới, triển vọng kinh tế thế giới và khu vực là tương đối sáng sủa, có khả năng đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 5%/ năm Xu hướng tự do hoá thương mại sẽ phát triển mạnh mẽ, quan hệ thương mại giữa các quốc gia và các khối
Trang 29này càng sôi động hơn, đồng thời mâu thuẫn, cạnh tranh, tranh chấp sẽ diễn ra quyết liệt hơn
Tranh thủ những khả năng, tiến bộ mới trong nền kinh tế thế giới, biết lợi dụng các loại mâu thuẫn bằng những sách lược uyển chuyển, mềm dẻo để trong một thời gian tương đối ngắn, cùng với những nỗ lực vượt bậc ở bên trong, đưa nền kinh tế mau thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu - đó là bài toán chiến lược đặt ra cho các nước kém phát triển Muốn giải được bài toán này, phải có bản lĩnh chính trị, tầm nhìn chiến lược, biết nhìn xa trông rộng, vượt qua cách tiếp cận tủn mủn, thủ cựu và định kiến; phải biết kết hợp giữa phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu và xây dựng một nền kinh tế độc lập, đánh giá đúng tiềm lực kinh tế, xác định được các mặt hàng chủ lực có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới
Thành tựu to lớn về đối nội, đối ngoại của nước ta và những diễn biễn trên thị trường thế giới đã đặt nước ta trước nhiều thuận lợi mới để mở rộng hơn nữa kinh tế đối ngoại, làm cho kinh tế đối ngoại thực sự có vai trò quan trọng góp phần thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế:
- Xu thế hoà bình, ổn định hợp tác trong khu vực có chiều hướng ngày càng phát triển; kinh tế thế giới phục hồi và kinh tế khu vực phát triển mạnh Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng được thế giới quan tâm Trong bối cảnh đó, vị trí địa - kinh tế, nhất là địa vị chính trị của nước ta được các nước lớn ngày càng coi trọng, dần dần trở thành một khâu quan trọng trong chiến lược của các nước lớn Tuy Việt Nam chưa phải là đối tượng hàng đầu trong chính sách Châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, song một nước Việt Nam đang đổi mới, mở cửa, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ đối ngoại, hội nhập vào Đông Nam Á, là không trái với tính toán chiến lược của Mỹ ở Châu Á - Thái Bình Dương
Đối với Trung Quốc, Việt Nam có vị trí quan trọng trong chiến lược của Trung Quốc, vì nằm ngay cửa ngõ Hoa Nam, trên con đường xuống Đông Nam Á Trung Quốc muốn thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại với ta để gia
Trang 30tăng vị trí, hạn chế các đối tác khác Nhật Bản có lợi ích về chính trị, kinh tế trong việc phát triển quan hệ với Việt Nam: tăng cường ảnh hưởng của Mỹ và Trung Quốc Các nước Tây Âu ngày càng quan tâm đến quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với Việt Nam
Các nước ASEAN coi trọng Việt Nam là một đối tượng hợp tác cần tranh thủ, vì Việt Nam là nhân tố quan trọng đối với hoà bình, ổn định và hợp tác phát triển trong khu vực Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử nước nhà, nước ta đã có quan hệ ở mức độ khác nhau với tất cả các nước láng giềng khu vực, với hầu hết các nước lớn, các trung tâm chính trị, kinh tế lớn, các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế Chúng ta đã đẩy lùi về cơ bản chính sách bao vây ta
về kinh tế, cô lập ta về chính trị; tạo được môi trường hoà bình và điều kiện quốc tế thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, giữ gìn độc lập, chủ quyền
- Tình hình chính trị - xã hội nước ta ổn định, sự cải thiện liên tục tình hình kinh tế, pháp luật chính sách thông thoáng, đó là những nhân tố tạo niềm tin và sức hấp dẫn trong các đối tác nước ngoài Việt Nam có thị trường lao động dồi dào với trí tuệ cao, có khả năng tiếp thu nhanh khoa học và công nghệ mới Với dân số 75 - 80 triệu người, Việt Nam là một thị trường đáng
kể, là đối tượng quan tâm, tranh dành trong cuộc săn lùng thị trường của giới kinh doanh quốc tế
- 2003 là năm các nước ASEAN 6 hoàn thành nghĩa vụ cắt giảm các mặt hàng xuống mức thuế suất 0-5%, đây sẽ là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp
mở rộng hoạt động xuất khẩu sang các nước ASEAN Thái Lan tuyên bố dành
ưu đãi thuế quan cho 19 mặt hàng (quế, hạt hồi, than đá, đồ phụ trợ may mặc…) nhập khẩu từ Việt Nam với mức thuế thấp hơn 5% so với mức thuế CEFT, Malaysia cũng dành ưu đãi thuế quan 0% cho 172 mặt hàng của Việt Nam, bao gồm thuỷ sản, các loại quả và hạt, rau quả chế biến, nhựa, cao su, máy móc, thiết bị…
I.3.3.2 Thách thức
Thách thức gay gắt nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế do xuất
Trang 31phát điểm của ta quá thấp, lại phải đối phó với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế Không thể không hội nhập, mà hội nhập với kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta không tránh khỏi phải chịu ảnh hưởng của xu thế "tự do hoá thương mại", biến động giá cả, lãi suất ngân hàng, tình hình cung cầu hàng hoá, vốn đầu tư và nhu cầu của thị trường thế giới Tình hình đó dẫn đến nhiều khó khăn trong định hướng chiến lược cũng như trong điều hành quản lý, đòi hỏi nền kinh tế nước ta phải phát triển vượt bậc, mau chóng trưởng thành đủ sức chống đỡ các ảnh hưởng nói trên
Nền kinh tế còn nhiều yếu kém; đội ngũ cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại vừa thiếu lại vừa yếu; tổ chức bộ máy kinh tế đối ngoại kém hiệu quả,
đã tác động không thuận lợi đến sự phát triển kinh tế đối ngoại
Mỹ và Phương Tây tiếp tục mưu toan thực hiện "diễn biến hoà bình" ở Việt Nam, gây áp lực với ta về những vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", đa nguyên, đa đảng Đối phó với sức uy hiếp ngày một tăng, cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương diễn ra phức tạp, đe doạ an ninh, chủ quyền và lãnh thổ nước ta, buộc chúng ta phải hết sức coi trọng việc củng cố và tăng cường khả năng quốc phòng
Hoạt động thương mại của Việt Nam hiện nay đang chịu sự chi phối của một số nhân tố chủ yếu như: Kinh tế thế giới tăng trưởng khá hơn những tháng đầu năm, trong khi đó kinh tế châu Á phục hồi mạnh WTO dự báo giá trị thương mại toàn cầu năm nay tăng khoảng 3% Tăng nhu cầu nhập khẩu ở nhiều thị trường như: Mỹ, EU, Nhật Bản…Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ ngày càng phát huy tác dụng, Hiệp định Dệt may Việt Nam – Hoa Kỳ đang triển khai tích cực, thúc đẩy xuất khẩu vào Hoa Kỳ Giá nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới đang có chiều hướng tăng so với năm 2002 như: thuỷ sản, cao su, cà phê, dầu thô, ôtô, thép, xăng dầu, phân bón…
Hơn nữa, bên cạnh những thuận lợi, cũng có nhiều khó khăn đối với các doanh nghiệp trong nước, sự cạnh tranh với hàng hoá ASEAN tiếp tục trở nên gay gắt hơn, đặc biệt là những ngành Việt Nam có khả năng cạnh tranh thấp
Trang 32hơn so với ASEAN Với việc cắt giảm thuế suất, các doanh nghiệp nhập khẩu
sẽ chuyển hướng nhập khẩu nhiều hơn từ thị trường ASEAN Theo quyết định của ASEAN, các nước thành viên mới trong đó có Việt Nam, có nghĩa vụ thực hiện đẩy nhanh hơn nữa tiến trình cắt giảm thuế quan trong CEPT/AFTA Theo đó, Việt Nam phải hoàn thành việc cắt giảm thuế suất xuống 0-5% vào 1/1/2005 (với một số linh hoạt) thay vì 1/1/2006 như hiện nay
Trang 33CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU VÀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM II.1 Hiện trạng xuất khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam những năm gần đây không ngừng tăng lên, tốc độ tăng trung bình về kim ngạch xuất khẩu trong những năm qua
là 13,1%/ năm
Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1998 - 2002
Chỉ tiêu Đơn vị 1998 1999 2000 2001 2002 Kim ngạch TrUSD 9.361 11.553 14.482 15.027 16.706
Tốc độ tăng % 1,9 23,4 25,4 3,8 11,2
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, số “Kinh tế 2001 - 2002”
Qua bảng số liệu trên có thể thấy, năm 1998 tốc độ tăng xuất khẩu của Việt Nam so với năm trước mới chỉ là 1,9% nhưng sang đến năm 1999 tốc độ này đã tăng lên rất cao (23,4 %), có được kết quả này chính là nhờ vào chính sách khuyến khích xuất khẩu như: đổi mới và đơn giản hoá việc cấp giấy phép và cấp hạn ngạch xuất khẩu, cải cách hệ thống xuất nhập khẩu, hỗ trợ và khuyến khích đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến hàng xuất khẩu
Năm 1999, giá một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta trên thị trường thế giới tăng như: dầu thô, hạt tiêu, hạt điều , trong khi giá một số mặt hàng khác lại giảm, điển hình là gạo và cà phê Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân trong 11 tháng đầu năm đã tiếp cận giá bình quân năm 1998 Điều
đó có nghĩa là, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nói trên là do Việt Nam đã tăng mạnh khối lượng hàng hoá xuất khẩu Chỉ trong 11 tháng đầu năm 1999, kim ngạch xuất khẩu tăng 20,9% so với cùng kỳ năm 1998, trong đó do tăng khối lượng hàng hoá xuất khẩu là 22,1%, tương ứng với 1,882 tỷ USD và do giảm giá hàng hoá xuất khẩu 1,05%, tương ứng với 100 triệu USD (4)
( 4) Thời báo kinh tế Việt Nam, số “ Kinh tế 1999-2000”.
Trang 34Năm 2000, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về ngoại thương, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 14,5 tỷ USD, tốc độ tăng so với năm trước là 25,4% Sau 2 năm tăng trưởng với tốc độ cao, năm 2001 hoạt động xuất khẩu của nước ta đã bị giảm sút nặng nề, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt
15 tỷ USD tăng 3,8% so với năm 2000, thấp hơn hẳn so với mục tiêu dự kiến đầu năm là tăng trên 20% (đạt 17 tỷ USD) và cũng không đạt cả chỉ tiêu điều chỉnh của Quốc hội đề ra giữa năm là tăng 10% (đạt 16,2 tỷ USD) so với năm
2000 Tác động của lần giảm sút này rất lớn, sức mua yếu của thị trường thế giới làm giảm giá nhiều mặt hàng như: dầu thô, cao su, than đá, lúa mì, sắt thép, ô tô trong đó có nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta Khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam đã yếu đi rất nhiều khi các sản phẩm xuất khẩu của ta bị chèn ép bởi các mặt hàng xuất khẩu tương tự của các nước ASEAN như: dệt may, giầy dép, hải sản, cao su và sản phẩm gỗ tinh chế
Bước sang năm 2002, Việt Nam vẫn tiếp tục đối mặt với những áp lực lớn ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, nhưng cũng đã có những thay đổi đáng kể Kim ngạch xuất khẩu đạt 16,7 tỷ USD, tăng 11,2%
so với năm 2001 Đây là thành tích đáng ghi nhận của ngoại thương Việt Nam, thể hiện sự nỗ lực cao độ trong công tác tổ chức sản xuất, tổ chức thị trường của các ngành, các cấp và các doanh nghiệp Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đều tăng khá về lượng hoặc về trị giá, đặc biệt là gạo, dầu thô, may mặc, giày dép, điện tử, rau quả và hàng thủ công mỹ nghệ
Tám tháng đầu năm 2003, kim ngạch xuất khẩu đạt 13,308 triệu USD, bằng 79,1% kế hoạch phấn đấu cả năm (18,5 tỷ USD), tăng 27,5%; trong đó, các doanh nghiệp trong nước đạt 6.653 triệu USD, tăng 16,4%, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6.655 triệu USD, tăng 41% Có 15/19 mặt hàng chủ lực kim ngạch tăng trưởng là: cà phê (61,8%), dây điện và cáp điện (58,6%), hàng dệt may (58%), cao su (43%), sản phẩm gỗ (41,6%), nhân điều (35,5%), hàng điện tử và linh kiện máy tính (31,5%), giày dép (29%),
Trang 35dầu thô (27,7%), xe đạp và phụ tùng (26,7%), than đá (22,6%), sản phẩm nhựa (18,6%), thuỷ sản (12,8%), hàng thủ công mỹ nghệ (7%), gạo (4,9%)
Bảng 3: Diễn biến về kim ngạch xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2003
Bình quân tháng Quí I
Nguồn: Báo cáo giao ban tháng 8 năm 2003, Vụ kế hoạch, Bộ Thương mại
Kim ngạch hàng hoá bình quân đạt 1.663 triệu USD/tháng, tăng 359 triệu USD so với cùng kỳ năm 2002 Kim ngạch của tất cả các tháng đều tăng
so với cùng kỳ năm 2002, trong đó tháng 7 đạt 1.783 triệu USD, cao nhất từ trước đến nay Tốc độ tăng trưởng bình quân 27,5% tháng, chủ yếu do quí I tăng cao 43,1%, vì cùng kỳ năm 2002 kim ngạch đạt thấp (1.086 triệu USD/tháng) Từ tháng 4 đến tháng 7 tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định, bình quân tháng đạt 21% Không kể dầu thô thì kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đạt 10.793 triệu USD, tăng 27,5% tức là, dầu thô không ảnh hưởng gì đến tốc độ tăng trưởng chung
Khối lượng hàng hoá tăng 20,3% làm tăng 2.115 triệu USD, trong đó: Các mặt hàng tăng là: dân điện và cáp điện (58,6%), hàng dệt may (53,2%), sản phẩm gỗ (41,6%), hạt điều (30,5%), linh kiện điện tử và máy tính (28,9%), xe đạp và phụ tùng (20,3%), giày dép (26,4%), than đá (23,6%), gạo (23,5%), sản phẩm nhựa (18,6%), hàng thủ công mỹ nghệ (7%), dầu thô (4%) Các mặt hàng giảm là: thủy sản, rau quả, cà phê, cao su, hạt tiêu, chè lạc nhân Giá hàng hoá tăng 6%, làm tăng 754 triệu USD, trong đó, các mặt hàng tăng mạnh là: cà phê (75,8%), cao su (51,6%), lạc nhân (21,8%), dầu thô (22,7%), thuỷ sản (17,5%), hạt điều (4%), hàng dệt may (3,1%), hạt tiêu (2,3%), giày dép (2%)
Trang 36Theo ước tính của Bộ Thương mại, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu mười tháng đầu năm 2003 sẽ đạt khoảng 16,55 tỷ USD, bằng 93% kế hoạch cả năm
và tăng 22,7% so với cùng kỳ năm 2002 Trong số các mặt hàng chủ lực của Việt Nam thì hàng dệt may và dầu thô đã xuất khẩu được hơn 3,1 tỷ USD mỗi loại, còn tính thêm hai mặt hàng thuỷ sản và giày dép thì kim ngạch của bốn mặt hàng trên chiếm đến 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Trong
đó các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu ước đạt 810 triệu USD, tăng 2,5%
và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 818 triệu USD, tăng 8,1% Đây là tháng đầu tiên xuất khầu tăng trưởng sau 4 tháng liên tiếp (từ tháng 6 đến tháng 9) kim ngạch liên tục giảm so với tháng trước Một số mặt hàng đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu cao như: thuỷ sản 220 triệu USD, dệt may 270 triệu USD, dầu thô 299 triệu USD, giày dép 150 triệu USD… Có 7/19 mặt hàng giảm kim ngạch xuất khẩu so với cùng kỳ là gạo, cà phê, rau quả, hạt tiêu, than đá, dầu thô và hàng thủ công mỹ nghệ Một số mặt hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao như: dây và cáp điện (57,4%), cà phê (49,8%), dệt may (45%), sản phẩm gỗ và linh kiện máy tính (37,2%), giày dép (22,7%), thuỷ sản (10%)… Với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu như hiện nay, nhiều khả năng chỉ tiêu xuất khẩu của cả năm 2003 sẽ được hoàn thành trong tháng 11
II.2 Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực
II.2.1 Tình hình xuất khẩu
II.2.1.1 Mặt hàng gạo
Từ đặc điểm nền kinh tế là một nước nông nghiệp với dân số chủ yếu sống bằng nghề nông, Việt Nam đã xác định mặt hàng nông sản nói chung và mặt hàng gạo nói riêng là mặt hàng xuất khẩu trọng điểm và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta Trong thời gian qua mặc dù mặt hàng gạo đã đạt được những thành tựu đáng kể, đóng góp vào sự phát triển đất nước Nhưng trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, công tác sản xuất và xuất khẩu gạo của chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế
Trang 37Năm 1998 là năm thứ ba liên tiếp sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 3 triệu tấn/năm và là năm đầu tiên mang lại kim ngạch vượt qua ngưỡng 1 tỷ USD Năm 1999, diễn biến tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam khá phức tạp, giá xuất khẩu tăng giảm thất thường, đã có lúc giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm xuống chỉ còn 202 USD/tấn (Gạo 5% tấm); 196 USD/tấn (gạo 10% tấm); 180 USD/tấn (gạo 25% tấm) Đây có thể coi là mức giá thấp nhất trong vòng 6 năm qua đối với gạo xuất khẩu của Việt Nam Nhưng cũng có lúc giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đột ngột tăng lên ngang bằng với mức giá chào bán của gạo Thái Lan Kết quả là, năm 1999, sản lượng gạo xuất khẩu của nước ta đạt mức cao chưa từng có, trên 4,5 triệu tấn, vượt mức kế hoạch 600 ngàn tấn và cao hơn so với năm 1998, 730 ngàn tấn (20%)
Tuy nhiên, bước sang năm 2000, gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm cả
về sản lượng và trị giá, sản lượng giảm 1,03 triệu tấn và trị giá giảm 348 triệu USD so với năm 1999 Năm 2001, do giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh so với giá gạo trên thị trường thế giới nên mặc dù sản lượng gạo xuất khẩu đạt 3,729 triệu tấn, gần bằng mức sản lượng năm 1998 nhưng trị giá gạo xuất khẩu lại chỉ đạt 625 triệu USD, thấp hơn rất nhiều so với năm 1998 (399 triệu USD) Năm 2002, xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn duy trì được mức sản lượng gạo xuất khẩu trên 3 triệu tấn/năm, trị giá xuất khẩu đạt 726 triệu USD
Tám tháng đầu năm 2003 ước đạt 2.965 ngàn tấn, trị giá khoảng 557 triệu USD, so với cùng kỳ năm 2002, tăng 23,5% về lượng và 4,9% về trị giá Giá xuất khẩu tuy giảm mạnh so với cùng kỳ nhưng tăng nhẹ so với tháng 7
do tăng nhu cầu ở châu Á (Indonexia và Philippines) và các doanh nghiệp đã
ký thêm một số hợp đồng xuất khẩu sang châu Phi Tại Việt Nam, giá chào bán gạo tăng từ 2-3 USD/tấn so với tháng 7 Khối lượng xuất khẩu giảm nhẹ
do tại các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long, lượng gạo dành cho xuất khẩu của
vụ trước đã hết đang chuẩn bị thu hoạch vụ mới vào đầu tháng 9
Trang 38II.2.1.2 Mặt hàng Thuỷ sản
Trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, thuỷ sản luôn được đánh giá là một trong năm “mặt hàng đầu vị” Kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng, năm 1999 tăng 26 triệu USD (15%) so với năm 1998, năm 2000 tăng
495 triệu USD (50%), năm 2001 tăng 300 triệu USD (20%), năm 2002 tăng
245 triệu USD (14%) so với năm trước Từ vị trí thứ 5 năm 1998 và 1999, thuỷ sản Việt Nam đã đạt mức 1,479 tỷ USD năm 2000, 1,78 tỷ USD năm
2001, trên 2 tỷ USD năm 2002, và vươn lên vị trí thứ 3 trong top 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đẩy mặt hàng giầy dép xuống hàng thứ 4
Tám tháng đầu năm 2003 ước đạt 1.422 triệu USD, so với cùng kỳ năm
2002 tăng 12,8% Sản lượng đạt 1.721 ngàn tấn, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thuỷ sản nuôi trồng đạt 680 ngàn tấn chiếm 40%, tăng 17% Trị giá xuất khẩu 8 tháng tăng khá, chủ yếu do tăng khối lượng Giá xuất khẩu biến động theo giá thế giới, nhất là từ tháng 7 đến nay, do hầu hết các nước xuất khẩu chủ yếu đều được mùa Đáng lưu ý là lực lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu sang các thị trường chủ yếu đều tăng: EU bổ sung 32 doanh nghiệp tham vào danh sách được xuất khẩu vào EU; các doanh nghiệp được cấp giấy phép vào thị trường Trung Quốc tăng từ 250 lên 263, Hàn Quốc từ
II.2.1.3 Mặt hàng Cà phê
Cà phê Việt Nam chủ yếu được sản xuất ra để xuất khẩu, phần lớn ở dạng Cà phê nhân, sơ chế (95%) Đây là một trong hai mặt hàng nông sản
Trang 39xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam (sau Gạo) Kim ngạch xuất khẩu Cà phê trong những năm qua tăng liên tục và mạnh mẽ cả về khối lượng và giá trị, bình quân tăng khoảng 20%
Năm 1998, do tác động của hạn hán, xuất khẩu Cà phê của Việt Nam chỉ đạt 382 ngàn tấn, giảm 18 ngàn tấn so với kế hoạch 400 ngàn tấn từ đầu năm
và giảm 8 ngàn tấn so với kết quả thực hiện 389 ngàn tấn của năm 1997 (tương đương với khoảng 2%) Tuy nhiên, do giá xuất khẩu bình quân tăng gần 300 USD/tấn nên kim ngạch cả năm đã tăng 21% và đạt 594 triệu USD so với 490 triệu USD năm 1997 Năm 1999 nhìn chung không có thay đổi gì lớn, khối lượng xuất khẩu đạt hơn 482 ngàn tấn, tăng chút ít và bằng 14% so với
số thực hiện năm 1998, mang lại kim ngạch xuất khẩu đạt 585 triệu USD, giảm nhẹ so với năm 1998 do có sự giảm sút đôi chút về giá trên thị trường thế giới
Năm 2000, sản lượng cà phê xuất khẩu tăng 251 ngàn tấn nhưng trị giá giảm 83 triệu USD so với năm 1999, nguyên nhân là do năm 2000, giá cà phê trên thị trường thế giới giảm mạnh Giá cà phê tiếp tục giảm xuống mức thấp
kỷ lục năm 2001, giá bình quân 420 USD/tấn, năm 2002 là 373 USD/tấn Tám tháng đầu năm 2003 ước đạt 449 ngàn tấn, trị giá khoảng 309 triệu USD,
so với cùng kỳ năm 2002, bằng 92% về lượng và tăng 61,8% về trị giá Khối lượng tiếp tục giảm do lượng cà phê tham gia xuất khẩu không còn nhiều và lượng tồn kho giảm dần Giá xuất khẩu biến động theo giá thế giới, đạt bình quân 688 USD/tấn, tăng 50% so với cùng kỳ năm trước Tuy nhiên, do thiếu vốn, nhiều doanh nghiệp đã bán cà phê theo phương thức kỳ hạn và tính giá trừ lùi theo giá thị trường
II.2.1.4 Mặt hàng cao su
Cao su là cây công nghiệp dài ngày được trồng từ lâu ở nước ta, cách đây gần 100 năm, đầu tiên là ở Thủ Dầu Một và Suối Dầu Cây cao su đã phát triển khá ổn định và diện tích ngày một tăng, hình thành vùng sản xuất khá tập trung ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Hiện nay, những biến động lớn về
Trang 40thị trường và giá cả đã có những ảnh hưởng lớn đối với ngành cao su của Việt Nam Tuy nhiên, cao su Việt Nam đã có bước phát triển và có khả năng mở rộng diện tích, nâng cao năng suất mủ từ 700 kg/ha lên 800 - 900 kg/ha
Tuy không được đánh giá cao như một số mặt hàng chủ lực khác nhưng cao su Việt Nam cũng năm trong số top 10 “mặt hàng đầu vi” Khối lượng và trị giá xuất khẩu năm sau luôn cao hơn năm trước Khối lượng cao su xuất khẩu năm 1998 mới chỉ là 191 ngàn tấn, sau 4 năm, đến năm 2002 đã đạt mức
449 ngàn tấn Khối lượng bình quân hàng năm từ 1998 đến 2002 là 297 ngàn tấn (tốc độ tăng trung bình là 25%/năm) Kim ngạch xuất khẩu cao su bình quân hàng năm là 175 triệu USD (tốc độ tăng trung bình 22%/năm) Điểm đáng chú ý, năm 2001 kim ngạch xuất khẩu cao su bằng với mức năm 2000 nhưng bước sang năm 2002 lại có mức tăng mạnh (102 triệu USD, tăng 61,5% so với năm trước) do khối lượng xuất khẩu tăng (141 ngàn tấn, tăng 45% so với năm 2001)
Tám tháng đầu năm 2003, trị giá xuất khẩu tăng cao chủ yếu do tăng giá, theo giá thị trường thế giới Nhu cầu tăng mạnh từ Trung Quốc và một số thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu đã tạo ra sức ép đối với nguồn cung hạn chế
từ một số nước Đông Nam Á đã khiến giá cao su liên tục tăng kể từ đầu năm Tuy xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc khá thuận lợi, nhưng các doanh nghiệp vẫn triển khai các hợp đồng xuất khẩu dài hạn với Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu, mở rộng giao dịch, tăng xúc tiến thương mại vào các thị trường Nga, Hoa Kỳ, Singapore… để tránh rủi ro khi Trung Quốc có sự thay đổi đột ngột như những năm trước đây
II.2.1.5 Hàng dệt may
Với tốc độ tăng trưởng bình quân 18% hàng năm giai đoạn 1999 - 2002
so với tốc độ tăng trưởng 15,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu Năm 1999 là năm ngành dệt may đạt được tốc độ tăng