1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN HÀNH CHÍNH HỒ SƠ 15 BÙI QUANG HẢI (CÓ NHẬN XÉT)

14 473 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 60,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN TƯ PHÁP_DIỄN ÁN HÀNH CHÍNH HỒ SƠ 15 BÙI QUANG HẢI (CÓ NHẬN XÉT) Ngày 14/6/2016, ông Bùi Quang Hải bà Đặng Thị Kim nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ, sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất phận tiếp nhận giao trả kết thuộc UBND thành phố A, cho diện tích 156,7 m2 đất nhà có địa 179/8/1 Trần Phú, phường 5, thành phố A, tỉnh H, thể sơ đồ vị trí Văn phịng Đăng ký QSDĐ thành phố A lập ngày 09/6/2016 Diện tích 156,7 m2 đất nêu gồm 02 phần: - Phần thứ nhất: Diện tích 102 m2 thuộc 351, tờ đồ số 09 (bản đồ năm 2000), UBND thành phố A cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BM 625400 ngày 11/01/2013 - Phần thứ hai: Diện tích 54,7m2 thuộc đất số 164, tờ đồ 09 (bản đồ năm 2000), đất có dãy nhà cấp ông Bùi Xuân Mĩ xây dựng năm 2000 Ngày 07/9/2016, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố A Thông báo số 2728/TB-CNVPĐK trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất vợ chồng ơng Hải Khơng đồng tình, vợ chồng ơng Hải khởi kiện Thơng báo số 2728/TB-CNVPĐK tịa án nhân dân tỉnh H tuyên chấp nhận đơn khởi kiện ơng Hải, bà Kim; buộc Chi nhánh văn phịng đăng ký đất đai tiếp nhận lại hồ sơ giải thủ tục quy định pháp luật Sau có án phúc thẩm nêu trên, ngày 20/4/2018, ông Bùi Quang Hải bà Đặng Thị Kim nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận QSDĐ diện tích 54,7m2 thuộc đất số 164 tờ đồ số địa 179/8/1 Trần Phú, phường Thành phố A Diện tích trước sàn phơi cá bố mẹ ông Hải ông Bùi Xuân Mĩ bà Nguyễn Thị Rơ làm từ năm 1993 Đến năm 1998 bố ông xây kè đổ đất tiếp tục làm nơi phơi cá Năm 2000 xây phịng trọ cho thuê đến năm 2002 vợ chồng ông Mĩ chuyển giao lại cho vợ chồng ông Hải tiếp tục sử dụng đến không tranh chấp Theo Giấy tiếp nhận hồ sơ trả kết chi nhánh Văn phịng đăng ký đất đai thành phố A ngày hẹn trả kết ngày 06/06/2018 Do tới ngày hẹn trả chưa có kết nên ơng Hải yêu cầu Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố A giải trình nguyên nhân Ngày 14/8/2018, Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố A văn số 4171/CNVPĐKĐKCG giải trình nguyên nhân chuyển hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận Ơng Hải bà Kim đến phịng Tài nguyên Môi trường (“TNMT”) để báo cáo UBND Thành phố A giải từ ngày 02/7/2018 chưa nhận lại hồ sơ nên chưa thể giải hồ sơ ông Ngày 24/8/2018, ông Bùi Quang Hải làm đơn khiếu nại tới Chủ tịch UBND Thành phố A Trưởng phòng TNMT Thành phố A việc chậm giải cấp GCN QSDĐ cho vợ chồng ông không giải Ngày 30/1/2019, UBND Thành phố A văn số 504/UBND-TNMT v/v tạm trả hồ sơ đăng ký cấp GCN vợ chồng ông với lý Luật đất đai văn hướng dẫn thi hành luật không quy định việc cấp GCN QSDĐ trường hợp sử dụng đất có nguồn gốc lấn biển Trong thời gian chờ hướng dẫn, UBND Thành phố A tạm trả hồ sơ Ngày 18/3/2019, UBND Thành phố A văn số 1126/UBND-TNMT v/v giải đơn khiếu nại ngày 07/01/2019 ông Bùi Quang Hải Theo đó, UBND TP A cho đất nhà ông thuộc trường hợp lấn biển, luật không quy định việc cấp giấy loại đất này, UBND Thành phố A xin hướng dẫn giải chờ kết nên việc tạm trả hồ sơ cấp giấy cho gia đình ơng phù hợp Khơng đồng ý với nội dung trên, ngày 4/4/2019, Ông Bùi Quang Hải vợ Đặng Thị Kim khởi kiện đến Tòa án nhân dân Tỉnh H: yêu cầu tòa án giải hủy văn số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019, văn số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 buộc UBND Thành phố A tiếp nhận lại giải hồ sơ cấp GCN QSDĐ diện tích 54,7m2 cho gia đình ông. BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn: Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ việc hành chính Hồ sơ số: LS.HC15 Diễn lần: 01 Ngày diễn: Vai diễn (nếu đóng vai):……………… Họ và tên: … Sinh ngày … SBD: … Lớp: … Hà Nội, ngày … tháng … năm 2021 1.Nội dung vụ án Học viên … lựa chọn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện. 1.1 Xác định đương sự trong vụ án -Người khởi kiện: Ông Bùi Quang Hải và Bà Đặng Thị Kim, cùng có địa chỉ tại: 179/8/1 Trần Phú, phường 5, thành phố A, tỉnh H Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc Chinh, có địa chỉ tại: 64/1 A Nguyễn Hới, phường Nguyễn An Ninh, thành phố A, tỉnh H -Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố A, có địa chỉ tại 89 Lý Thường Kiệt, phường 1, thành phố A, tỉnh H Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Thế Khang – Chuyên viên phòng TN&MT thành phố A -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H Tổng cục Quản lý đất đai thuộc Bộ Tài nguyên môi trường 1.2Đối tượng khởi kiện Bùi Quang Hải và Đặng Thị Kim kiện UBND Thành phố A do Từ chối cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ngày 14/6/2016, ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại bộ phận tiếp nhận và giao trả kết quả thuộc UBND thành phố A, cho diện tích 156,7 m2 đất ở của căn nhà có địa chỉ tại 179/8/1 Trần Phú, phường 5, thành phố A, tỉnh H, thể hiện tại sơ đồ vị trí do Văn phòng Đăng ký QSDĐ thành phố A lập ngày 09/6/2016. Diện tích 156,7 m2 đất nêu trên gồm 02 phần: -Phần thứ nhất: Diện tích 102 m2 thuộc thửa 351, tờ bản đồ số 09 (bản đồ năm 2000), đã được UBND thành phố A cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BM 625400 ngày 11/01/2013 -Phần thứ hai: Diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ 09 (bản đồ năm 2000), trên đất có dãy nhà cấp 4 do ông Bùi Xuân Mĩ xây dựng năm 2000 Ngày 07/9/2016, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố A ra Thông báo số 2728/TB-CNVPĐK trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất của vợ chồng ông Hải.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn: Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ việc hành chính

Hồ sơ số: LS.HC15

Diễn lần: 01

Ngày diễn:

Vai diễn (nếu đóng vai):………

Họ và tên: … Sinh ngày … SBD: … Lớp: …

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2021

Trang 2

1 Nội dung vụ án

Học viên … lựa chọn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện

1.1 Xác định đương sự trong vụ án

- Người khởi kiện: Ông Bùi Quang Hải và Bà Đặng Thị Kim, cùng có địa chỉ tại:

179/8/1 Trần Phú, phường 5, thành phố A, tỉnh H

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc Chinh, có địa chỉ tại: 64/1 A Nguyễn

Hới, phường Nguyễn An Ninh, thành phố A, tỉnh H

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố A, có địa chỉ tại 89 Lý Thường Kiệt,

phường 1, thành phố A, tỉnh H

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Thế Khang – Chuyên viên

phòng TN&MT thành phố A

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H

Tổng cục Quản lý đất đai thuộc Bộ Tài nguyên môi trường

1.2 Đối tượng khởi kiện

Hành vi từ chối cấp giấy chứng nhận QSDĐ thông qua văn bản số 504/UBND-TNMT

v/v tạm trả hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (“GCN QSDĐ”) đối

với diện tích 54,7m2 đất thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09, phường 5, thành phố A của UBND thành phố A

Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND Thành phố A về giải quyết đơn khiếu nại của ông Bùi Quang Hải đối với hồ sơ đề nghị cấp GCN QSDĐ tại thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09, phường 5, thành phố A của UBND thành phố A

1.3 Tóm tắt nội dung vụ án

Ngày 14/6/2016, ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại bộ phận tiếp nhận và giao trả kết quả thuộc UBND thành phố A, cho diện tích 156,7 m2 đất ở của căn nhà có địa chỉ tại 179/8/1 Trần Phú, phường 5, thành phố A, tỉnh H, thể hiện tại sơ đồ vị trí do Văn phòng Đăng ký QSDĐ thành phố A lập ngày 09/6/2016 Diện tích 156,7 m2 đất nêu trên gồm 02 phần:

- Phần thứ nhất: Diện tích 102 m2 thuộc thửa 351, tờ bản đồ số 09 (bản đồ năm

2000), đã được UBND thành phố A cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BM 625400 ngày 11/01/2013

- Phần thứ hai: Diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ 09 (bản đồ năm

2000), trên đất có dãy nhà cấp 4 do ông Bùi Xuân Mĩ xây dựng năm 2000

Ngày 07/9/2016, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố A ra Thông báo số 2728/TB-CNVPĐK trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất của vợ chồng ông Hải

Không đồng tình, vợ chồng ông Hải khởi kiện Thông báo số 2728/TB-CNVPĐK và được tòa án nhân dân tỉnh H tuyên chấp nhận đơn khởi kiện của ông Hải, bà Kim; buộc Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tiếp nhận lại hồ sơ và giải quyết các thủ tục tiếp

Trang 3

theo quy định của pháp luật.

Sau khi có bản án phúc thẩm nêu trên, ngày 20/4/2018, ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số 9 tại địa chỉ 179/8/1 Trần Phú, phường 5 Thành phố A Diện tích này trước đây là sàn phơi cá của bố mẹ ông Hải là ông Bùi Xuân Mĩ và bà Nguyễn Thị Rô làm từ năm 1993 Đến năm 1998 thì bố ông xây kè đổ đất và tiếp tục làm nơi phơi cá Năm 2000 thì xây phòng trọ cho thuê và đến năm 2002 vợ chồng ông

Mĩ chuyển giao lại cho vợ chồng ông Hải tiếp tục sử dụng đến nay không ai tranh chấp Theo Giấy tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố A thì ngày hẹn trả kết quả là ngày 06/06/2018

Do tới ngày hẹn trả vẫn chưa có kết quả nên ông Hải yêu cầu Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố A giải trình nguyên nhân

Ngày 14/8/2018, Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố A ra văn bản số 4171/CNVPĐK-ĐKCG giải trình nguyên nhân là đã chuyển hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận của Ông

Hải và bà Kim đến phòng Tài nguyên và Môi trường (“TNMT”) để báo cáo UBND

Thành phố A giải quyết từ ngày 02/7/2018 nhưng chưa nhận lại hồ sơ nên chưa thể giải quyết hồ sơ của ông

Ngày 24/8/2018, ông Bùi Quang Hải làm đơn khiếu nại tới Chủ tịch UBND Thành phố

A và Trưởng phòng TNMT Thành phố A về việc chậm giải quyết cấp GCN QSDĐ cho

vợ chồng ông nhưng không được giải quyết

Ngày 30/1/2019, UBND Thành phố A ra văn bản số 504/UBND-TNMT v/v tạm trả hồ

sơ đăng ký cấp GCN của vợ chồng ông với lý do là trong Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành luật không quy định việc cấp GCN QSDĐ đối với trường hợp sử dụng đất có nguồn gốc lấn biển Trong thời gian chờ hướng dẫn, UBND Thành phố A tạm trả hồ sơ

Ngày 18/3/2019, UBND Thành phố A ra văn bản số 1126/UBND-TNMT v/v giải quyết đơn khiếu nại ngày 07/01/2019 của ông Bùi Quang Hải Theo đó, UBND TP A cho rằng đất nhà ông thuộc trường hợp lấn biển, trong luật không quy định việc cấp giấy đối với loại đất này, UBND Thành phố A đã xin hướng dẫn giải quyết và đang chờ kết quả nên việc tạm trả hồ sơ cấp giấy cho gia đình ông là phù hợp

Không đồng ý với nội dung trên, ngày 4/4/2019, Ông Bùi Quang Hải và vợ là Đặng Thị Kim khởi kiện đến Tòa án nhân dân Tỉnh H: yêu cầu tòa án giải quyết hủy văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019, văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019

và buộc UBND Thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp GCN QSDĐ diện tích 54,7m2 cho gia đình ông

Trang 4

2 Xây dựng kế hoạch hỏi

Người tiếp

nhận câu

hỏi

Vấn đề cần

Người bị

kiện/

Người bảo

vệ quyền

và lợi ích

hợp pháp

của người

bị kiện

Thửa đất 54,7 m2 của vợ chồng ông Hải

có đầy đủ các điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Tại sao UBND thành phố A không giải quyết đơn khiếu nại ngày 24/8/2018 của ông Bùi Quang Hải?

Chứng minh UBND Thành phố A làm việc thiếu trách nhiệm

Thửa đất của gia đình ông Hải có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hay không?

Xác định quan điểm của UBND thành phố A

về việc có hay không thửa đất đủ điều kiện được cấp GCN

Nếu đủ điều kiện cấp thì tại sao UBND thành phố A lại tạm trả hồ sơ?

Nếu đủ điều kiện cấp nhưng lại tạm trả hồ sơ

=> chỉ cần chứng minh hành vi hành chính tạm trả hồ sơ của UBND thành phố A là sai Nếu không đủ điều kiện cấp thì căn cứ vào

đâu? Và nếu không đủ điều kiện cấp thì tại sao không trả hồ sơ

Nếu không đủ điều kiện cấp thì phải nêu được lý do

Định nghĩa về đất lấn chiếm sông, biển theo quy định pháp luật? Đây có phải định nghĩa mới về đất mà UBND đặt ra hay không?

Đất lấn chiếm sông biển không có căn cứ pháp lý, nhưng UBND thành phố A lại viện vào đó để từ chối cấp GCN QSDĐ thay vì áp dụng những quy định điều chỉnh phù hợp Ông cho biết trong trường hợp đất sử dụng

ổn định từ trước 01/7/2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, được UBND xã xác nhận đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì có được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ hay không?

Pháp luật đã có quy định về việc cấp GCN QSDĐ đối với trường hợp gia đình ông Hải

Hành vi tạm trả

hồ sơ thông qua Văn bản số

504/UBND-Trong pháp luật đất đai có quy định về tạm trả hồ sơ hay không?

Không có căn cứ pháp lý để tạm trả hồ sơ Đây là hành vi trái pháp luật của UBND thành phố A

Tại sao UBND lại tạm trả hồ sơ chứ không Chứng minh UBND thành phố A từ chối giải

Trang 5

TNMT của UBND thành phố A đã vi phạm thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai

trả lại hồ sơ? Mục đích của tạm trả hồ sơ là gì?

quyết hồ sơ một cách thiếu trách nhiệm vì không thể trả lại hồ sơ do không có lý do xác đáng Trong văn bản số 4274/TNMT-CQĐT gửi UBND thành phố A bản dự thảo văn bản nêu quan điểm gửi TAND tỉnh H, mục đích của tạm trả hồ sơ là để thông báo tình trạng

và quá trình giải quyết hồ sơ để công dân được biết => Lý do không hợp lý

Tại sao UBND lại tạm trả hồ sơ chứ không gia hạn giải quyết hồ sơ hay tìm phương thức khác để xử lý hồ sơ đang vướng mắc?

Chứng minh UBND thành phố A từ chối giải quyết hồ sơ một cách thiếu trách nhiệm vì không thể trả lại hồ sơ do không có lý do xác đáng

Trong văn bản đề nghị Sở TNMT hướng dẫn, UBND có đặt ra thời hạn giải quyết hay không? Trong quá trình xin ý kiến hướng dẫn của cấp trên, UBND có làm công văn giục hay không?

UBND thiếu trách nhiệm trong việc xử lý hồ

sơ dù đã quá thời hạn giải quyết hồ sơ

UBND có biết Nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động, vật tư tiền vốn… vào việc khai hoang, phục hóa, lấn biển hay không?

UBND đang gây trở ngại pháp lý cho người

sử dụng đất có công khai hoang, lấn biển, đi ngược lại chính sách của Nhà nước

Người khởi

kiện/Đại

diện theo

ủy quyền

của người

khởi kiện

Thửa đất 54,7 m2 của vợ chồng ông Hải

có đầy đủ các điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Ông Hải được bố mẹ chuyển giao khu đất

từ bao giờ? Khi đó diện tích đất là bao nhiêu? Có công trình nào xây dựng trên đất hay không? Đất có tranh chấp không?

Chứng minh đất đủ điều kiện cấp GCN QSDĐ

Việc lấn biển của ông Mĩ từ trước năm

2000 có từng bị xử phạt hành chính về đất đai không?

Chứng minh việc lấn biển để tăng diện tích của ông Mĩ không vi phạm pháp luật

Trang 6

3 Soạn theo luận cứ bảo vệ cho khách hàng

ĐOÀN LUẬT SƯ TỈNH H

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ …

-*** -CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-*** -BẢN LUẬN CỨ Bảo vệ cho Người khởi kiện

Kính thưa Hội Đồng Xét Xử (HĐXX),

Tôi là Luật sư … – thuộc Văn phòng Luật sư KANE - Đoàn Luật sư tỉnh H

Theo phân công của Văn phòng Luật sư, tôi tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng của tôi là Ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim, cùng có địa chỉ tại: 179/8/1 Trần Phú, phường 5, thành phố A, tỉnh H, là Người khởi kiện trong vụ án hành chính này

Tôi xin được trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim

Để mọi người hiểu rõ nội dung vụ án, tôi xin phép tóm tắt lại nội dung trong vụ án này như sau:

Ngày 20/4/2018, ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số 9 tại địa chỉ 179/8/1 Trần Phú, phường 5 Thành phố A Diện tích này trước đây là sàn phơi cá của bố mẹ ông Hải là ông Bùi Xuân Mĩ và bà Nguyễn Thị Rô làm từ năm 1993 Đến năm 1998 thì bố ông xây kè đổ đất và tiếp tục làm nơi phơi cá Năm 2000 thì xây phòng trọ cho thuê và đến năm 2002 vợ chồng ông Mĩ chuyển giao lại cho vợ chồng ông Hải tiếp tục sử dụng đến nay không ai tranh chấp

Theo Giấy tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố A thì ngày hẹn trả kết quả là ngày 06/06/2018

Do tới ngày hẹn trả vẫn chưa có kết quả nên ông Hải yêu cầu Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố A giải trình nguyên nhân

Ngày 14/8/2018, Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố A ra văn bản số 4171/CNVPĐK-ĐKCG giải trình nguyên nhân là đã chuyển hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận của Ông

Hải và bà Kim đến phòng Tài nguyên và Môi trường (“TNMT”) để báo cáo UBND

Thành phố A giải quyết từ ngày 02/7/2018 nhưng chưa nhận lại hồ sơ nên chưa thể giải quyết hồ sơ của ông

Ngày 24/8/2018, ông Bùi Quang Hải làm đơn khiếu nại tới Chủ tịch UBND Thành phố

A và Trưởng phòng TNMT Thành phố A về việc chậm giải quyết cấp GCN QSDĐ cho

vợ chồng ông nhưng không được giải quyết

Ngày 30/1/2019, UBND Thành phố A ra văn bản số 504/UBND-TNMT v/v tạm trả hồ

sơ đăng ký cấp GCN của vợ chồng ông với lý do là trong Luật đất đai và các văn bản

Trang 7

hướng dẫn thi hành luật không quy định việc cấp GCN QSDĐ đối với trường hợp sử dụng đất có nguồn gốc lấn biển Trong thời gian chờ hướng dẫn, UBND Thành phố A tạm trả hồ sơ

Ngày 18/3/2019, UBND Thành phố A ra văn bản số 1126/UBND-TNMT v/v giải quyết đơn khiếu nại ngày 07/01/2019 của ông Bùi Quang Hải Theo đó, UBND TP A cho rằng đất nhà ông thuộc trường hợp lấn biển, trong luật không quy định việc cấp giấy đối với loại đất này, UBND Thành phố A đã xin hướng dẫn giải quyết và đang chờ kết quả nên việc tạm trả hồ sơ cấp giấy cho gia đình ông là phù hợp

Không đồng ý với nội dung trên, ngày 4/4/2019, Ông Bùi Quang Hải và vợ là Đặng Thị Kim khởi kiện đến Tòa án nhân dân Tỉnh H: yêu cầu tòa án giải quyết hủy văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019, văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019

và buộc UBND Thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp GCN QSDĐ diện tích 54,7m2 cho gia đình ông

Thưa HĐXX,

Thông qua phần xét hỏi và sau khi xem xét một cách toàn diện các chứng cứ mà các Bên đưa ra, tôi xin nêu quan điểm của mình để chứng minh việc UBND thành phố A từ chối cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho gia đình ông Hải thông qua văn bản số 504/UBND-TNMT v/v tạm trả hồ sơ và văn bản số 1126/UBND-TNMT của UBND thành phố A v/v giải quyết đơn khiếu nại ngày 07/01/2019 của ông Bùi Quang Hải là không có cơ sở, trái quy định pháp luật, bởi những lý do sau đây:

1 Thửa đất 54,7m2 của vợ chồng ông Hải có đầy đủ các điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Căn cứ Điều 101 khoản 2 Luật Đất đai 2013:

“Điều 101 Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng

đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”

Căn cứ Điều 1 khoản 20 Nghị định 01/2017/NĐ-CP:

“Trường hợp đo đạc lại mà diện tích thửa đất thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên Giấy chứng nhận đã cấp hoặc giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật đất đai, Điều 18 của Nghị định này và ranh giới thửa đất thực tế có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ về quyền sử dụng đất thì việc xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất tăng thêm được thực hiện như sau:

3 Trường hợp diện tích đất tăng thêm không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy

Trang 8

định tại Điều 100 của Luật đất đai, Điều 18 của Nghị định này thì thực hiện như sau: a) Trường hợp người sử dụng đất không vi phạm pháp luật về đất đai thì việc xem xét

xử lý và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất tăng thêm thực hiện theo quy định tại Điều 20 của Nghị định này”

Căn cứ Điều 20 khoản 2 Nghị định 43/2014/NĐ-CP:

“2 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác trong thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004; nay được

Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là không có tranh chấp sử dụng đất; phù hợp với quy hoạch hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đất đã sử dụng từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch; chưa có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp phải thu hồi thì được công nhận quyền sử dụng đất…”

Đối chiếu với trường hợp của gia đình ông Hải, diện tích 54,7m2 đất tăng thêm so với diện tích 102m2 đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ thuộc thửa đất 164 tờ bản đồ số 9 (trên đất có dãy nhà cấp 4) được sử dụng ổn định từ trước 01/7/2004, kể từ khi tôn tạo đến nay chưa có bất kỳ văn bản nào xác định là đất vi phạm hay bị lập biên bản xử lý vi phạm, hiện tại đất không có tranh chấp căn cứ vào phiếu lấy ý kiến của cư dân ngày 21/6/2016 và xác nhận của UBND phường 5 ngày 13/7/2016, căn cứ vào Quyết định số 1352/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 của UBND tỉnh H về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm 2020 và bản đồ quy hoạch theo Quyết định 1352/QĐ-UBND thì thửa đất này thuộc quy hoạch đất ở đô thị, đã được đăng ký trong sổ địa chính Như vậy, thửa đất nhà ông Hải đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định

Trường hợp UBND thành phố A cho rằng nguồn gốc khu đất này là do lấn chiếm, căn

cứ Điều 22 khoản 1 và khoản 5 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, Điều 2 khoản 18 Nghị định 01/2017/NĐ-CP, đối với việc xử lý, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014: “Trường hợp đã có điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt mà nay diện tích đất lấn, chiếm không còn thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng; không thuộc chỉ giới xây dựng đường giao thông; không có mục đích

sử dụng cho trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp và công trình công cộng khác thì người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật

5 Người đang sử dụng đất ổn định trong các trường hợp quy định tại Khoản 1, Điểm a

và Điểm c Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều này mà không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định như sau:

Trang 9

a) Trường hợp thửa đất có nhà ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở tại địa phương nếu đã sử dụng đất ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở tại địa phương nếu đã sử dụng đất ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014;” Hiện tại thửa đất của gia đình ông Hải thuộc quy hoạch đất ở đô thị căn cứ vào Quyết định số 1352/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 của UBND tỉnh H về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm 2020 và bản đồ quy hoạch theo Quyết định 1352/QĐ-UBND Trên thửa đất 54,7m2 nhà ông Hải có dãy phòng trọ cấp 4 được xây dựng từ năm 2000 Nếu UBND thành phố A cho rằng nguồn gốc khu đất này là do lấn chiếm thì với quá trình quản lý, sử dụng ổn định, không có tranh chấp của gia đình ông Hải suốt từ năm 1998 đến nay và theo quy hoạch sử dụng đất của địa phương, cũng như theo các quy định hiện hành của pháp luật nói trên, gia đình ông Hải hoàn toàn có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa đất này

2 Hành vi tạm trả hồ sơ thông qua Văn bản số 504/UBND-TNMT v/v đã vi phạm thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai

Căn cứ Điều 2 khoản 40 Nghị định 01/2017/NĐ-CP:

“40 Sửa đổi Điều 61 NĐ 43/2014 như sau:

“Điều 61 Thời gian thực hiện thủ tục hành chính về đất đai

2 Thời gian thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất; … được quy định như sau:

a) Đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là không quá 30 ngày;

4 Thời gian quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được tính kể từ ngày nhận được

hồ sơ hợp lệ; không tính thời gian các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật; không tính thời gian tiếp nhận hồ sơ tại xã, thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất; không tính thời gian xem xét xử lý đối với trường hợp sử dụng đất

có vi phạm pháp luật, thời gian trưng cầu giám định

Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ thì trong thời gian không quá 03 ngày làm việc, cơ quan tiếp nhận, xử lý hồ sơ phải thông báo và hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định.”

Căn cứ Điều 60 khoản 5 điểm c Nghị định số 43/2014/NĐ-CP:

“c) Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện giải quyết thì cơ quan nhận hồ sơ có trách nhiệm trả lại hồ sơ và thông báo rõ lý do không đủ điều kiện giải quyết.”

Như vậy cần phải nhận định rõ rằng, trong trường hợp hồ sơ của gia đình ông Hải không đủ điều kiện giải quyết thì cơ quan nhận hồ sơ có trách nhiệm phải trả lại hồ sơ

và thông báo rõ lý do không đủ điều kiện giải quyết trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ Tuy nhiên, UBND Thành phố A lại không thể tìm được lý do hợp lý để trả lại hồ sơ, hay nói cách khác là hồ sơ của gia đình ông Hải đủ điều kiện được cấp như đã chứng minh ở luận điểm 1, tuy nhiên UBND lấy lý do chờ ý kiến hướng dẫn của Sở Tài nguyên và Môi trường và Tổng cục Quản lý Đất đai để “tạm trả”

Trang 10

hồ sơ cho người khởi kiện Trong các văn bản pháp luật về đến đất đai hiện hành, không có thuật ngữ pháp lý nào là “Tạm trả hồ sơ” như nội dung Văn bản số 504/UBND-TNMT đề cập Đây thực chất hành vi từ chối cấp, từ chối giải quyết hồ sơ của UBND thành phố A bởi theo quy định tại Điều 19 khoản 5 Nghị định

61/2018/NĐ-CP, “Trường hợp quá thời hạn lấy ý kiến mà cơ quan, đơn vị được lấy ý kiến chưa có văn bản giấy hoặc văn bản điện tử trả lời thì cơ quan, đơn vị chủ trì thông báo cho người đứng đầu Bộ phận Một cửa đã chuyển hồ sơ về việc chậm trễ để phối hợp xử lý” Như vậy, pháp luật quy định cơ quan đơn vị phải phối hợp để tìm cách tháo gỡ vướng mắc, có thể bằng cách nào đó như gia hạn thời gian xử lý, làm công văn giục đơn vị được lấy ý kiến trả lời đúng hạn, chứ không phải tìm cách lảng tránh trách nhiệm bằng cách “tạm trả” hồ sơ về cho người dân

Kết luận và kiến nghị:

Từ những lập luận có căn cứ nêu trên, tôi khẳng định Thửa đất 54,7m2 của vợ chồng ông Hải có đầy đủ các điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, dù có

là đất lấn biển hay không Do đó, việc UBND thành phố A viện dẫn lý do Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định việc giải quyết cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với đất có nguồn gốc do lấn, chiếm sông hoặc biển trong hai văn bản số 504/UBND-TNMT và Văn bản số 1126/UBND-TNMT là không có cơ sở Pháp luật đất đai hiện hành không

có quy định về đất lấn biển hay đất có nguồn gốc lấn chiếm biển Tuy nhiên, UBND thành phố A lại căn cứ vào đó để từ chối, kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ thay vì áp dụng ngay những quy định điều chỉnh phù hợp sẵn có Thêm vào đó, hành vi tạm trả hồ

sơ thông qua Văn bản số 504/UBND-TNMT của UBND thành phố A đã vi phạm thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, thể hiện sự lúng túng và thiếu trách nhiệm trong vai trò quản lý nhà nước của mình

Căn cứ Điều 193 khoản 2 điểm b, c Luật Tố tụng hành chính năm 2015, căn cứ Điều 9

khoản 2 và Điều 101 khoản 2 Luật Đất đai năm 2013, căn cứ Nghị định

43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, căn cứ Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/1/2017 sửa đổi, bổ sung một số nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, đề nghị HĐXX:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim về

việc hủy văn bản số 504/UBND-TNMT và Văn bản số 1126/UBND-TNMT của UBND thành phố A;

- Tuyên bố hành vi “tạm trả hồ sơ” của UBND thành phố A là trái pháp luật; Buộc

UBND thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09 phường A thành phố A cho gia đình ông Bùi Quang Khải

Có thể thấy, ngay từ văn bản Luật Đất đai năm 1993, Nhà nước đã khuyến khích người

sử dụng đất đầu tư vật tư, tiền vốn vào việc khai hoang, vỡ hóa, lấn biển để mở rộng diện tích đất sản xuất Đây không chỉ là giải pháp để mở rộng quỹ đất, phát triển kinh tế

- xã hội mà còn là giải pháp chủ động ứng phó với tình trạng xói lở bờ biển, nước biển

Ngày đăng: 06/01/2022, 23:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w