1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

DIỄN ÁN DÂN SỰ HỒ SƠ 13 CÔNG TY KIM LÂN KIỆN CÔNG TY NHẬT LINH

14 235 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 80,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN TƯ PHÁP_DIỄN ÁN DÂN SỰ HỒ SƠ 13 CÔNG TY KIM LÂN KIỆN CÔNG TY NHẬT LINH Ngày 02/01/2015, Công ty TNHH Kim Lân (Công ty Kim Lân) và Công ty TNHH Nhật Linh (Công ty Nhật Linh) ký kết Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL về việc mua bán hàng hóa. Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty Kim Lân đã bán và bàn giao hàng hóa cho Công ty Nhật Linh vào ngày 11/01/2016 và ngày 30/01/2016, Công ty Nhật Linh đã thanh toán cho Công ty Kim Lân mỗi đợt nhận hàng trên với số tiền lần lượt là 649.502.700 đồng và 462.658.160 đồng. Theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016, tính đến ngày 31/12/2015, công ty Nhật Linh còn nợ công ty Kim Lân số tiền là 3.250.319.430 đồng. Căn cứ vào bản đối chiếu công nợ mà hai bên đã lập ngày 08/05/2016, tính đến ngày 30/04/2016, công ty Nhật Linh chưa thanh toán cho công ty Kim Lân là 3.177.970.970 đồng. Ngày 09/05/2016, công ty Kim Lân có công văn số 0506/ĐN/CV gửi công ty Nhật Linh yêu cầu thanh toán số tiền trên vì thời hạn nợ đã hết, số tiền là 3.270.212.570 đồng. Nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của minh bị xâm phạm, ngày 10/07/2016, công ty Kim Lân gửi đơn khởi kiện tới Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh yêu cầu giải quyết: Buộc công ty Nhật Linh phải trả cho Kim Lân số tiền nợ gốc là 3.270.212.570 và lãi suất theo quy định của pháp luật.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn: Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết các vụ, việc dân sự

Hồ sơ số: LS.DS13

Diễn lần: 01

Ngày diễn:

Họ và tên:

Sinh ngày SBD:

Lớp:

Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2021

Trang 2

Học viên … lựa chọn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là Công ty TNHH Kim Lân

Tóm tắt

Ngày 02/01/2015, Công ty TNHH Kim Lân (Công ty Kim Lân) và Công ty TNHH Nhật Linh (Công ty Nhật Linh) ký kết Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL

về việc mua bán hàng hóa

Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty Kim Lân đã bán và bàn giao hàng hóa cho Công

ty Nhật Linh vào ngày 11/01/2016 và ngày 30/01/2016, Công ty Nhật Linh đã thanh toán cho Công ty Kim Lân mỗi đợt nhận hàng trên với số tiền lần lượt là 649.502.700 đồng và 462.658.160 đồng

Theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016, tính đến ngày 31/12/2015, công

ty Nhật Linh còn nợ công ty Kim Lân số tiền là 3.250.319.430 đồng Căn cứ vào bản đối chiếu công nợ mà hai bên đã lập ngày 08/05/2016, tính đến ngày 30/04/2016, công ty Nhật Linh chưa thanh toán cho công ty Kim Lân là 3.177.970.970 đồng

Ngày 09/05/2016, công ty Kim Lân có công văn số 0506/ĐN/CV gửi công ty Nhật Linh yêu cầu thanh toán số tiền trên vì thời hạn nợ đã hết, số tiền là 3.270.212.570 đồng

Ngày 17/05/2016, công ty Kim Lân và công ty Nhật Linh đã làm việc với nhau để giải quyết việc thanh toán tiền hàng cho công ty Kim Lân

Tại công văn số 77/CV-NL ngày 27/05/2016, Công ty Nhật Linh đã thông báo cho Công ty Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán Theo đó, mỗi tuần thanh toán một lần với số tiền 300.000.000 đồng vào các ngày thứ 6 hàng tuần cho đến khi hết và việc thanh toán kết thúc vào ngày 30/07/2016

Ngày 07/06/2016, bằng Công văn số 87/CV-NL công ty Nhật Linh đã thể hiện việc không trả nợ công ty Nhật Linh

Nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của minh bị xâm phạm, ngày 10/07/2016, công ty Kim Lân gửi đơn khởi kiện tới Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh yêu cầu giải quyết: Buộc công ty Nhật Linh phải trả cho Kim Lân số tiền

nợ gốc là 3.270.212.570 và lãi suất theo quy định của pháp luật

Ngày 21/08/2016, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành ban hành Thông báo số 05/2016/TB-TLVA về việc thụ lý vụ án

Ngày 17/11/2016, Công ty Nhật Linh có đơn phản tố gửi tới TAND về việc yêu cầu công ty Kim Lân ký và hoàn trả toàn bộ tài sản của công ty Nhật Linh trên đất công

ty Kim Lân

I. Kết quả nghiên cứu hồ sơ

1. Các vấn đề tố tụng

Trang 3

Nguyên đơn: Công ty TNHH Kim Lân, có địa chỉ tại: Cụm công nghiệp Thanh

Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh do ông Hàn Anh Tuấn, giám đốc làm đại diện Người đại diện theo ủy quyền: bà Kiều Thị Hải Vân, luật sư văn phòng luật sư Kiều Vân và cộng sự, Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội

Bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh, có địa chỉ tại: Cụm công nghiệp Thanh

Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh do ông Nguyễn Chí Linh, Tổng giám đốc làm đại diện

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Tiến Công, phó Giám đốc Công ty TNHH Nhật Linh

1.2 Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Hai bên vừa có thỏa thuận giải quyết tại trung tâm trọng tài, vừa có thỏa thuận giải quyết tại Tòa án (Chi phí Tòa án) thì Tòa án có thẩm quyền

Điều 5 Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL về việc mua bán hàng hóa có quy định về thỏa thuận trọng tài như sau: “Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu

có những mâu thuẫn hoặc tranh chấp xảy ra, hai bên phải cùng nhau thỏa thuận giải quyết thỏa đáng, chân tình bằng văn bản Nếu không thỏa thuận được hai bên sẽ viện đến trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội, phán quyết của trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội sẽ là quyết định cuối cùng và bắt buộc hai bên phải thi hành” Do hiện nay trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, do vậy, thỏa thuận trọng tài này không thể thực hiện được căn cứ Điều 4 khoản 1 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP Đối với trường hợp thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, một bên có thể khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp

Căn cứ Điều 30 khoản 1, Điều 35 khoản 1 điểm b và Điều 39 khoản 1 điểm a Luật

Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành có thẩm quyền giải quyết tranh chấp

1.3 Thời hiệu khởi kiện

Điều 319 Luật Thương mại 2005 có quy định về thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp thương mại là 02 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm Theo đó, biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2015 xác định số tiền nợ chưa thanh toán của công ty Nhật Linh Do đó, thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 25/02/2015 Như vậy, xét đến thời điểm công ty Kim Lân khởi kiện là ngày 10/7/2016 thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn

1.4 Tư cách khởi kiện của nguyên đơn

Cả công ty Kim Lân và công ty Nhật Linh đều là công ty có tư cách pháp nhân, có quan hệ mua bán hàng hóa trực tiếp Theo đó, công ty Kim Lân hoàn toàn có tư cách khởi kiện trên cơ sở hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL về việc mua bán hàng hóa vì công ty Nhật Linh đã có sự vi phạm nghĩa vụ thanh toán

2. Nội dung hồ sơ

Trang 4

2.1 Yêu cầu của nguyên đơn (BL77,80)

• Yêu cầu Toà án buộc Công ty TNHH Nhật Linh phải thanh toán cho Công ty TNHH Kim Lân số tiền nợ gốc theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016,

số tiền là 3.250.319.430 đồng.và tiền lãi tạm tính là 250.000.000 đồng.Tổng cộng

cả gốc và lãi mà phía công ty Nhật Linh phỉa trả cho công ty Kim Lân là 3.500.319.430 đồng

• Yêu cầu Toà án huỷ bỏ yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Nhật Linh

2.2 Chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ

• Chứng cứ xác minh tư cách pháp nhân của hai công ty:

+ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH Kim Lân;

+ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH Nhật Linh;

• Chứng cứ liên quan đến việc ký kết, thực hiện hợp đồng và làm phát sinh nghĩa

vụ thanh toán:

+ Hợp đồng nguyên tác số 01/2015/NLBN-KL ký ngày 02/01/2015 giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh;

+ Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016;

+ Biên bản đối chiếu công nợ ngày 05/08/2016;

+ Công văn đề nghị thanh toán số 0506 ĐN/CV ngày 09/05/2016;

+ Các hoá đơn GTGT;

+ Các phiếu nhập kho;

+ Bảng kê tính lãi;

+ Uỷ nhiệm chi về việc trả tiền của Công ty TNHH Nhật Linh

2.3 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp

Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp liên quan đến vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Trang 5

II. Xây dựng kế hoạch hỏi

Mục đích bảng hỏi: Làm sáng tỏ sự việc, đồng thời chứng minh yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp

Người tiếp

nhận câu

hỏi

Vấn đề cần

Nguyên

đơn (Công

ty Kim Lân

– đại diện

theo pháp

luật là ông

Hàn Anh

Tuấn

Nghĩa vụ thanh toán của Nhật Linh trong hợp đồng nguyên tắc

số 01/2015/NLBN-KL

Việc thanh toán trước đây giữa công ty Kim Lân và công ty Nhật Linh có tuân thủ Điều 3 Hợp đồng nguyên tắc hay không?

Thể hiện rằng hai bên đều tuân thủ Điều 3 Hợp đồng, trong đó khẳng định Kim Lân luôn cung cấp đầy đủ hồ sơ thanh toán của mỗi đơn hàng cho phía Nhật Linh, bao gồm hồ sơ thanh toán của những đơn hàng chưa được thanh toán

Công ty Kim Lân đã cung cấp đủ

hồ sơ thanh toán cho số công nợ hai bên đã chốt theo biên bản ngày 25/02/2016 hay chưa?

Xác nhận rằng công ty Kim Lân đã cung cấp đủ, mọi chứng cứ về hồ sơ thanh toán đều đang được công ty Nhật Linh nắm giữ Nếu công ty Nhật Linh phản đối, luật sư cần hỏi ngược lại là nếu công ty Kim Lân không cung cấp đủ hồ sơ theo hợp đồng, vậy tại sao Nhật Linh vẫn thanh toán cho những đơn hàng trước đó?

Lý do nào công ty Kim Lân không cung cấp đủ bằng chứng

về hồ sơ thanh toán trên?

Kim Lân không cung cấp đủ cho Tòa án chứng cứ

về hồ sơ thanh toán vì tất cả hồ sơ thanh toán đều đã được chuyển giao cho công ty Kim Lân sau mỗi đơn hàng theo đúng quy định tại Điều 3 Hợp đồng Sai lầm của Kim Lân là quá tin tưởng đối tác nên không giữ lại bản sao hồ sơ thanh toán Đây là căn

cứ để luật sư phía nguyên đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ

Yêu cầu phản tố của bị đơn là vô căn cứ

Hợp đồng giữa hai bên là thỏa thuận góp vốn hay hợp tác đầu tư?

Nếu là thỏa thuận góp vốn thì vốn sau khi góp sẽ thuộc sở hữu của công ty được góp vốn Trường hợp thành viên muốn rút vốn ra thì công ty có trách nhiệm mua lại phần góp vốn đó theo quy định pháp luật

Trang 6

Tại biên bản ngày 17/5/2016, Kim Lân đã đồng ý ký vào biên bản kiểm kê tài sản trên đất đúng không?

Kim Lân có thiện chí hòa giải

Vậy, tại sao khi Nhật Kinh kiểm

kê tài sản ông lại không ký?

Biên bản kiểm kê tài sản có nhiều sai sót và không đúng thực tế

Bị đơn

(Công ty

Nhật Linh

– đại diện

theo ủy

quyền là

ông

Nguyễn

Tiến Công)

Yêu cầu phản tố của bị đơn là vô căn cứ

Bị đơn góp vốn vào công ty Kim Lân dưới tư cách cá nhân góp vốn vào công ty đúng không?

Chứng minh Công ty Nhật Linh không có tư cách đưa ra yêu cầu phản tố do đây là góp vốn cá nhân của ông Nguyễn Chí Linh

Việc góp vốn có được xác nhận trên bằng văn bản hay tài liệu, chứng cứ nào không? (Căn cứ xác định tài sản của ông Linh)

Căn cứ xác định tài sản của ông Nguyễn Chí Linh

Theo bị đơn, tài sản góp vốn vào công ty thuộc sở hữu của công được góp vốn hay thuộc sở hữu của cá nhân người góp vốn

Thể hiện sự vô lý khi bị đơn cho rằng tài sản góp vốn thuộc sở hữu của cá nhân và đòi lại

Nghĩa vụ thanh toán của Nhật Linh trong hợp đồng nguyên tắc số

01/2015/NLBN-KL

Bị đơn cho biết trong những lần thanh toán trước đó, nguyên đơn

có cung cấp đủ hồ sơ thanh toán hay không?

Nếu không, tại sao bị đơn vẫn thanh toán cho những đơn hàng chưa có đủ hồ sơ thanh toán theo hợp đồng?

Nếu có, chứng tỏ đối với những đơn hàng lần này,

hồ sơ thanh toán đang được phía bị nắm giữ nên nguyên đơn không đủ chứng cứ trình lên tòa án

Trang 7

III. Soạn theo luận cứ bảo vệ cho khách hàng

ĐOÀN LUẬT SƯ TỈNH BẮC NINH

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ KANE

-*** -CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-*** -BẢN LUẬN CỨ Bảo vệ cho nguyên đơn trong vụ án tranh chấp nghĩa vụ thanh toán hợp đồng mua

bán hàng hóa

Kính thưa Hội Đồng Xét Xử (HĐXX),

Tôi là Luật sư … – thuộc Văn phòng Luật sư KANE - Đoàn Luật sư tỉnh Bắc Ninh Theo phân công của Văn phòng Luật sư, tôi tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng của tôi là Công ty TNHH Kim Lân,

có địa chỉ tại: Cum công nghiệp Thanh Khương, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, là nguyên đơn trong vụ án này

Thưa HĐXX,

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa hôm nay, tôi xin được trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty Kim Lân như sau:

1. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Thứ nhất, giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh có xác lập quan hệ mua bán thông qua một Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL ký ngày 02 tháng 01 năm

2015 Đây là giao dịch dân sự hợp pháp, theo đó, căn cứ khoản 1 Điều 13 BLDS 2005 thì giao dịch dân sự hợp pháp là căn cứ xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự Vậy, cả hai bên Kim Lân và Nhật Linh đều có nghĩa vụ thực hiện điều khoản trong hợp đồng

Hai là, Công ty TNHH Nhật Linh có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và lãi chậm thanh toán theo Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL

Xem xét số tiền hàng Công ty TNHH Nhật Linh nợ Công ty TNHH Kim Lân

Như đã phân tích, Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL về việc mua bán hàng hóa là hợp pháp Theo các thỏa thuận trong hợp đồng thì công ty Kim Lân có trách nhiệm giao hàng cho công ty Nhật Linh theo đúng số lượng, chất lượng, quy cách hàng hóa và công ty Nhật Linh phải có trách nhiệm thanh toán tiền hàng trong vòng 06 tháng kể từ ngày Kim Lân cung cấp đầy đủ các giấy tờ, phiếu nhập kho, hóa đơn VAT

và giấy đề nghị thanh toán

Trang 8

Kể từ khi hai bên giao kết hợp đồng, thân chủ của tôi đã rất tôn trọng sự thỏa thuận, hợp tác giữa các bên, và thực hiện các công việc trong phạm vi nghĩa vụ của mình như giao hàng đúng số lượng, chất lượng cùng hồ sơ thanh toán đi kèm theo Điều 3 hợp đồng này Điều này được thể hiện rõ trong các phiếu nhập kho tại các bút lục 15, 16,

17, 19, 20, ) Tuy nhiên, công ty Nhật Linh sau khi nhận đủ hàng và hồ sơ thanh toán lại không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo thỏa thuận

Với sự thiện chí, hợp tác của mình, ngày 25/2/2016, công ty Kim Lân đã gửi Biên bản đối chiếu công nợ tới công ty Nhật Linh (bút lục số 27), theo đó, hai bên đã thống nhất xác nhận công nợ tính đến thời điểm hết ngày 31/12/2015 “Bên A còn nợ bên B số tiền

là 3.250.319.430 VNĐ” Biên bản có chữ ký, đóng dấu của đại diện công ty Nhật Linh, điều này khẳng định công ty Nhật Linh đã xác nhận số tiền mà công ty Nhật Linh còn nợ công ty Kim Lân tính đến thời điểm 31/12/2015 là 3.250.319.430 đồng

Từ những tài liệu, chứng cứ trên, hoàn toàn có đầy đủ căn cứ để khẳng định, công ty Nhật Linh còn chưa thanh toán cho công ty Kim Lân số tiền hàng là 3.250.319.430 đồng (theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016) Do đó, kính đề nghị HĐXX buộc bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền hàng bị đơn còn nợ trên cho nguyên đơn

Xem xét số tiền chậm thanh toán tiền Hợp đồng mua bán

Căn cứ Điều 4 khoản 4.2 điểm 4 Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL ngày 02/1/2016 có ghi nhận: “Trong trường hợp bên mua thanh toán trễ hạn theo Điều 2 của Hợp đồng, (nếu không thỏa thuận, hoặc thông báo trước với bên bán) thì bên mua phải chịu lãi suất 10% tháng trên toán bộ giá trị của phần chưa thanh toán”

Tại công văn số 77/CV-NL ngày 27/05/2016, Công ty Nhật Linh đã thông báo cho Công ty Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán Theo đó, mỗi tuần thanh toán một lần với số tiền 300.000.000 đồng vào các ngày thứ 6 hàng tuần cho đến khi hết và việc thanh toán kết thúc vào các ngày 30/07/2016 Tuy nhiên, công ty Nhật Linh không thanh tóa cho công ty Kim Lân số tiền hàng còn nợ theo lộ trình cam kết

Việc chậm trả nợ này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc sản xuất, kinh doanh của công ty Kim Lân Theo Điều 357- BLDS 2015 quy định trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ: “1 Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả 2 Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này” Theo khoản 3 Điều

440 - BLDS 2015 quy định: “ Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả

Trang 9

tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại điều 357 của Bộ luật này”, Điều 306 - Luật Thương mại 2005 quy định quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”

Theo Án lệ số 09/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định:

“Tiền lãi do chậm thanh toán được tính theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường bằng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba Ngân hàng tại địa phương tại thời điểm thanh toán (xét xử sơ thẩm), trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”

Căn cứ các điều khoản trên và thực tế lãi suất nợ quá hạn trung bình của ba ngân hàng địa phương, cùng với bảng kê tính lãi chúng tôi nộp ở đây, Công ty Nhật Linh phải thanh toán cho Công ty Kim Lân 229.495.827 đồng lãi chậm thanh toán là hợp pháp

2 Yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Nhật Linh là không có căn cứ

Một là, xem xét trình tự tố tụng về quyền yêu cầu phản tố.

Ngày 03/9/2016, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ theo thông báo phiên họp (BL 52) Đến ngày 17/11/2016, Công ty TNHH Nhật Linh có đơn phản tố gửi tới Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành với nội dung: Yêu cầu công ty TNHH Kim Lân ký và hoàn trả toàn bộ tài sản của công ty TNHH Nhật Linh trên đất công ty TNHH Kim Lân Căn cứ Điều

200 Khoản 3 BLTTDS năm 2015 quy định về quyền yêu cầu phản tố như sau: “Bị đơn

có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” Pháp luật đã trao “quyền” cho bị đơn được đưa ra yêu cầu phản tố theo thời hạn quy định tại Điều 200 khoản 3 Bộ luật TTDS năm 2015 Nếu bị đơn không thực hiện quyền đưa ra yêu cầu phản tố thì đồng nghĩa mặc nhiên từ chối “quyền” của mình Trong trường hợp này, Tòa án phải từ chối yêu cầu phản tố của bị đơn vì đã quá hạn Nhưng, ngày TAND huyện Thuận Thành vẫn ra thông báo về việc yêu cầu phản tố (bút lục số 73), theo đó TAND huyện Thuận Thành chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn

Ngoài ra, căn cứ Điều 202 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì “Thủ tục yêu cầu phản tố

Trang 10

được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn” Khoản 3 Điều 195 Bộ luật tố dụng dân sự 2015: “Thẩm phán phụ lý vụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí” Như vậy, chỉ khi người khởi kiện, người có yêu cầu phản tố nộp tạm ứng án phí (trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí) thì Tòa án mới thụ lý vụ án hoặc chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn

Tuy nhiên, theo hồ sơ của vụ án, có thể thấy một số điểm sau:

+ Ngày 29/10/2016, TAND huyện Thuận Thành ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí gửi tới công ty Nhật Linh yêu cầu công ty này đóng tạm ứng án phí với số tiền: 86.000.000 đồng Ngày 06/11/2016 Công ty Nhật Linh nộp tạm ứng án phí

Nhưng đến ngày ngày 17/11/2016 Công ty TNHH Nhật Linh mới gửi đơn phản tố tới TAND huyện Thuận Thành

Sau đó, ngày 19/11/2016 TAND huyện Thuận Thành đã ra Thông báo về việc yêu cầu phản tố

Có thể thấy, khi công ty Nhật Linh chưa có yêu cầu khởi tố thì TAND huyện Thuận Thành đã ra thông báo tạm ứng án phí, công ty này cũng đã nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa Tôi nghĩ rằng, việc TAND huyện Thuận Thành giải quyết vụ việc này đang không minh bạch, không rõ ràng Tại sao khi bị đơn chưa có yêu cầu phản tố mà Tòa

đã có thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho bị đơn?

Như vậy, hoàn toàn có đầy đủ căn cứ để khẳng định rằng yêu cầu phản tố của bị đơn là vượt quá phạm vi quyền lợi của mình và việc chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không đúng trình tự thủ tục Do đó, có đầy đủ cơ sở để TAND xem xét, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn

Hai là, xem xét về tính hợp pháp của các tài liệu chứng cứ của Nhật Linh cung cấp.

Kèm theo yêu cầu phản tố, Bị đơn chỉ cung cấp các văn bản photo mà không xuất trình được bản chính của tài liệu Mà theo quy định tại Điều 95 BLTTDS 2015: “Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận” Tuy nhiên, các tài liệu, chứng cứ mà Nhật Linh cung cấp là không hợp pháp, do vậy đây không được coi là chứng cứ cho yêu cầu phản tố Nhật Linh không có căn cứ để chứng minh tài sản trên đất của công ty Kim Lân là tài sản của mình, càng không có căn cứ để yêu cầu Kim Lân phải trả lại các tài sản trên đất đó cho công ty Kim Lân

Ngày đăng: 06/01/2022, 20:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mục đích bảng hỏi: Làm sáng tỏ sự việc, đồng thời chứng minh yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp - DIỄN ÁN DÂN SỰ HỒ SƠ 13 CÔNG TY KIM LÂN KIỆN CÔNG TY NHẬT LINH
c đích bảng hỏi: Làm sáng tỏ sự việc, đồng thời chứng minh yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w