1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lễ vía bà thiên hậu nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng người hoa thành phố hồ chí minh khóa luận tốt nghiệp đại học

64 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lễ Vía Bà Thiên Hậu - Nét Văn Hóa Đặc Trưng Của Cộng Đồng Người Hoa Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Đình Tiến
Người hướng dẫn Th.s Nguyễn Thị Kim Yến
Trường học Trường Đại Học Mở Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã Hội Học - Công Tác Xã Hội - Đông Nam Á
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 5,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đề tài về lễ Vía Thiên Hậu Thánh Mầu không đơn thuần là để biết về một lễ hội dân gian mà qua đó còn góp phần tìm hiểu sự đa dạng trong tín ngưỡng của người Hoa, góp phần làm

Trang 1

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP

LẺ VÍA BÀ THIÊN HẬU - NÉT VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA CỌNG ĐỒNG NGƯỜI

HOA THÀNH PHỔ HỒ CHÍ MINH

GVHD : Th.s NguyễnThị Kim Yến

Tp.Hò Chí Minh, thánq 07 nâm 2012

Trang 2

Tp Hồ Chí Minh ngày tháng năm 2012

Trang 4

Em xin gởi lời cảm ơn đến Ban quản trị Tuệ Thành Hội Quán, phòng VHTT quận 5 đã cung cấp cho em những thông tin quí giá phục vụ cho bài khóa luận.

Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc các Cô Chú, Anh Chị trong Ban quản trị Tuệ Thành Hội Quán và phòng VHTT quận 5 luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc và hạnh phúc trong cuộc sống

Trân trọng !

SVTH: Nguyễn Đình Tiến

Tp.Hồ Chỉ Minh ngày 16 thảng 07 năm 2012

Trang 5

1 Lý do chọn đề tài Trang 1

2 Mục đích nghiên cứu Trang 1

3 Đối tưựng và phạm vi nghiên cứu Trang 2

4 Phưong pháp nghiên cứu Trang 25* Lịch sử nghiên cứu đề tài Trang 2

6 Bố cục đề tài Trang 3

PHÀN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 : C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN

1.1 Quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Tp Hồ Chí Minh

1.1.1 Bối cảnh lích sử Trung Quốc dẫn đến việc di cư của người Hoa ( thế kỷ

XVỊXVII, XVIII) Trang 4

1.1.2 Quá trình di cư của cộng đồng Người Hoa ở Thành phố Hồ Chí

Minh Trang 61.1.3 Địa bàn cư trú chủ yếu Trang 9

1.1.4 v ề tên gọi người Hoa Trang 11

1.1.5 Thế giới quan, nhân sinh quan của Người Hoa qua các cơ sở tín ngưỡng

1.1.4.1 Thế giới quan Trang 131.1.4.2 Nhân sinh quan Trang 15

1.2 v ề thuật ngữ Trang 19

1.2.1 Bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa Trang 191.2.2 Du lịch văn hóa Trang 21

Tiểu kết chương 1 Trang 22

CHƯƠNG 2 : LÈ VÍA BÀ THIÊN HẬU TRƠNG TÍN NGƯỞNG

CỘNG ĐÒNG NGƯỜI HOA THÀNH PHỐ HÒ CHÍ MINH

Trang 6

2.2 Nguồn gốc lễ vía Bà Trang 24 2.3 Miếu Bà, địa điểm tổ chức lễ Vía Trang 25

2.3.1 Lịch sử hình thành Thiên Hậu miếu Trans, 252.3.2 Đặc điểm kiến trúc Trang 26

* 2.3.3 Chùa Bà trong đời sống tín ngưỡng Trang 28

2.3.3.1 Chùa bà là cơ sơ tín ngưỡng Trang 282.3.3.2 Chùa bà - trung tâm văn hóa giáo dục của người Hoa Trang 30

2.4 Công tác chuẩn bị lễ v ía Trang 31

2.5 Diễn biến lễ vía Trang 33 2.6 Lễ vía Bà trong tâm thức cộng đồng ngưòi Hoa Trang 31

2.7 Tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh Mẩu của người Hoa trong tín ngưỡng thò'

mẫu của ngưòi Việt ở Nam Bộ Trang 32 Tiểu kết chương 2 Trang 35

3.1 Gìn giữ và bảo tồn các giá trị văn hóa cộng đồng của người Hoa Trang 37 3.2 Khai thác và phát huy tiềm năng du lịch nhân văn Trang 37

3.2.1 Các giá trị du lịch của lễ hội vía Bà Thiên Hậu Trang 38

3.3 Lễ vía Bà Thiên Hậu và lễ vía Bà chúa Xứ núi Sam Trang 39

3.3.1 Vài nét về lễ vía Bà chúa Xứ núi Sam Trang 393.3.2 Tiềm năng du lịch lễ hội của lễ vía Bà Thiên Hậu quận 5 Trang 403.3.3 Một số kiến nghị, đề xuất Trang 42

Tiểu kết chưo’ng 3 Trang 43

Kết luận Trang 45Tài Liêu Tham Khảo

Phu Luc

Trang 7

NỘI DƯNG

1 Lý do chọn đề tài :

Người Hoa là những cư dân có nguồn gốc từ Trung Quốc đã di cư xuống phía Nam

từ nhiều thế kỷ trước Tại Nam Bộ, người Hoa là cộng đồng cư dân đông sau người Việt về dân S ố và có nhiều tiềm năng phát triển về văn hoá Văn hoá của tộc người này

đã góp phần bồi vào nền văn hoá đa dân tộc Việt Nam ở TP HCM ngày càng đa dạng

và phong phú Người Hoa đến Việt Nam với nhiều lý do khác nhau, nhưng chủ yếu là

do chiến tranh và tình hình bất ổn ở chính quốc lúc bấy giờ Họ mong muốn một ngày nào đó có thể trở lại quê hương nhưng hoàn cảnh lịch sử lúc đó đằ đóng sập mọi ngả đường trởi lại quê hương của họ Ở vùng đất mới với tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng đầy rẫy những khó khăn rủi ro Chính vì thế, tín ngưỡng dân gian là chỗ dựa tinh thần cho cộng đồng người Hoa Công cuộc khai phá vùng đất phương Nam gặp nhiều khó khăn bất trắc, người Hoa phải lao động vất vả và chịu đựng rủi ro Tín ngưỡng dân gian đã giúp họ yên lòng vượt qua khó khăn trong những ngày đầu lập nghiệp và mưu sinh nơi đất khách quê người Việc thờ cúng bà Thiên Hậu là một minh chứng về điều đó

Thiên Hậu Thánh Mầu, một trong hai vị thần quan trọng trong tín ngưỡng dân gian của cộng đồng người Hoa được xem như là vị thần hộ mệnh cho người Hoa trong hành trình di cư Nghiên cứu đề tài về lễ Vía Thiên Hậu Thánh Mầu không đơn thuần

là để biết về một lễ hội dân gian mà qua đó còn góp phần tìm hiểu sự đa dạng trong tín ngưỡng của người Hoa, góp phần làm rõ nét bức tranh văn hóa đầy màu sắc của cộng đồng Người Hoa Việt Nam nói chung và tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

2 Mục đích nghiên cứu:

Đề tài “Lễ vía Bà Thiên Hậu - Nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh ” tập trung trình bày một tín ngường văn hóa dân gian có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng người Hoa có sự khác biệt với các cộng dồng xung quanh Đồng thời dề cập dến van dề bảo tôn và pháthuy các eiá trị văn hoa(òua ỉễ V i a tía thòng qua các hoạt dộng du lịch hiện nay

Trang 8

Bên cạnh những giá trị văn hoá của người Hoa thì đối tượng nghiên cửu của đê tài chính là lễ vía Ba^Hứên44ậu Xừ đó_giúfvngưèi'đợc thấy được tầm quan trọng trong sinh hoạt hằng ngàv cũng như các hoạt động tín ngưỡng Tục thờ Thiên Hậu và lễ Vía của Bà có ở mọi nơi trong cộng đồng người Hoa ví dụ như : miền Bắc có Hưng yên , miền Trung có Hội An- Đà Nang , miền Tây Nam bộ có cần Thơ, Cà Mau , Đông Nam bộ có Bình Dương, Đồng Nai , Thành pho Hồ Chí Minh ở các quận 5.6.11 Tuy nhiên trong phạm vị nghiên cứu cua bài báo cáo nàv chúng tôi chỉ giới hạn nghiêncứu là lễ vía bà Thiên Hậu của cộng đồng người Hoa sinh sống ở quận 5 thành phố

Hồ Chí Minh

Với đề tài này chúng tôi đã sưu tầm phân tích, so sánh các nguồn tài liệu thu thập

từ sách, báo, tạp chí, internet Ngoài ra phương pháp nghiên cứu khảo sát thực địa đã được sử dụng đế phục vụ cho đề tài Tác giả còn tham khf " 1 ~ Ig trình

5 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Xoav quanh vấn đề người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, trước đâv đã có nhiều đề tài được thực hiện Tuy nhiên, xuất phát từ những mục đích khác nhau, các tác giả đã quan tâm đến nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau với những gốc độ nghiên cứu khác nhau Đa số các tác giả đều thiên về lĩnh vực kinh tế mà ít quan tâm đến các vấn đề văn hóa xã hội như đặc điểm tâm lý, tổ chức xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc của cộng đồng người Hoa Trải qua quá trình hình thành và phát triển khi mà cộng đồng người Hoa đã trở thành một thực thể không thể tách rời khỏi cộng đồng các dân tộc Việt Nam thì vấn đề nghiên cứu về văn hóa xã hội người Hoa mới được quan tâm, chú

ý Liên quan đến đề tài Tín ngưỡng Thờ Thiên Hậu thánh mẫu và lễ vía Bà, trước đây

đã có một vài tác giả có đề cập đến trong các công trình nghiên cứu, đương cử có thể

kể đến như: “Người Hoa ở Nam Bộ" của Phan An, NXB khoa học xã hội (2005),

‘Tín ngưỡng dân gian ở thành phố Hồ Chí Minh" của Võ Thanh Bằng, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (2008), “Góp phần tìm hiếu văn hóa người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh" của Trần Hồng Liên, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội

4 Phương pháp nghiê

những đề tài nghiên cứu khoa học liên quan tới đối tượng ne

Trang 9

tổng hợp nên chưa làm rõ được nhừng nét đặc trưng trong lễ hội Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu về người Hoa và văn hóa của người Hoa tại Tp Hồ Chí Minh do sinh viên ngành Đông Nam Á Học những khóa trước thực h

cnương nay cnung toi trinn Day mọt cách khái quát và có hệ thống quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp theo đó là những đặc điểm về dân cư cấu trúc xã hội đặc điếm tâm lý của cộng đông này tạo cơ

sở nghiên cứu cho 2 chương tiếp theo

Chưoìig 2: Lễ vía Bà Thiên Hậu trong tín ngưỡng cộng đồng người Hoa thành phố Hồ Chí Minh

Chương 2 và 3 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận Ở chương 2 này, chúng tôi đi sâu phân tích và làm rõ nội dung chính của đề tài đó là những nét đặc trưng của

lễ vía Bà một tín ngưỡng dân gian có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người Hoa Bên cạnh đó, việc so sánh lễ hội này với một lễ hội dân gian truyền thống khác của người Việt ở Nam Bộ mà đương cử là lễ hội Bà chúa xứ núi Sam một mặt khẳng4ịnh-iính hỗn dung văn hóa trong tín ngưỡng ở Nam Bộ mặt khác còn đánh giá tiềm năng du lịch của lễ vía Bà Thiên Hậu bên cạnh đó đề cập đến những hạn chế trong lễ hội, tạo tiền đề nghiên cứu cho chương 3

Chưong 3 : Bảo tồn và phát huy lễ vía Bà Thiên Hậu

6 Bố cục đề tài

Nội dung của khóa luận được chia thành ba chương chính:

Chương này chúng tôi tập trung làm rõ những giá trị du lịch văn hóa trong lễ vía

Bà thực trạng hiện nay của lễ hội dân gian này, qua đó nêu lên được các giải pháp, kiến nghị và đề xuất nhàm bảo tồn và phát huy lễ hội này thông qua các hoạt động d

Trang 10

CHƯƠNG 1 : CO SỎ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN

1.1 Quá trình hình thành cộng đồng ngưòĩ Hoa ỏ’ thành phố Hồ Chí

Minh 1.1.1 Bối cánh lịch sử Trung Quốc dẫn đến việc di cư của ngưòi Hoa ( thế kỷ

Có thể nói Trung Hoa là một quốc gia có lịch sử biến động không ngừng Chiến tranh giữa các thế lực phong kiến xảy ra liên miên, các cuộc khởi nghĩa nông dân kéo

dài hàng chục năm gây nhiều đau thương tan tóc cho những người dân vô tội Việc

thành lập triều Minh chỉ là một bước tiếp theo đi vào quì đạo của chế độ phong kiến

Tuy nhiên khi lên ngôi Minh Thái Tổ đã có một số chính sách nhất định nên trong

vòng 30 năm đầu đất nước có sự chuyển biến mọi mặt Sau khi Minh Thái Tô qua đời

thì người con thứ sáu, sau một quá trình đấu tranh giành ngôi đã lên kế vị với danh thứ

Minh Thành Tổ, có thể nói thời kì trị vì của Minh Thành tổ là thời kì cực thịnh nhưng

ngan ngủi của triều Minh

Từ thế kỷ XVI về sau, triều Minh ngày càng suy yếu trong khi đó kinh tế hàng hóa phát triển nên sự bóc lột của giai cấp phong kiến đối với các tầng lớp nhân dân rất

nặng nề Chính sự áp bức bóc lột này làm cho đời sống nhân dân đói khổ triền miên,

gây nhiều căm phẫn Mâu thuẫn giữa giai cấp phong kiến và nhân dân ngày càng gay

gắt đã dẫn đến các cuộc đấu tranh tự phát của các tầng lớp nhân dân Nen thống trị đen

tối của nhà Minh từ lâu đã dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đầu thế kỷ

XVII các cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân diễn ra liên tục như phong trào

khởi nghĩa của Bạch Liên Giáo, những cuộc đấu tranh của binh lính đào ngũ, của tá

điền, nô tì, những cuộc đấu tranh ấy mới chỉ là dấu hiệu của phòng trào khởi nghĩa

nông dân rầm rộ sắp bùng nổ

Lúc bấy giờ, nhân dân trong cả nước đều khốn khổ nhưng có lẽ nghiêm trọng nhất

là vùng Thiểm Tây Đây là vùng sản xuất yếu, kém phát triển lại bị hạn hán mất mùa,

lụt lội nhiều năm liền Đã thế nhà nước và giai cấp địa chủ vẫn thu tô cao thuế nặng

như thường lệ, nhân dân đói đến nỗi phải ăn rễ cỏ, thậm chí ăn cả đất bột đá Phong

trào đấu tranh của các tầng lóp nhân dân phát trien mạnh nhưng cuối cùng cũng đi đến

thất bại và dẫn theo sự sụp đổ cơ đồ nhà Minh

Trang 11

Sau khi chinh phục được Trung Quốc, để duy trì nền thống trị của mình, nhà Thanh

ra sức củng cố (bộ máy chính quyền nhà nước chuyên chế trung ương tập quyền, thi hành chính sách áp bức dân tộc bắt nhân dân Trung Quốc phải theo một số phong tục của nsười Mãn Châu như trước tiên phải cắt tóc theo kiểu người Mãn người Hán cũng được làm quan nhưng mọi quyền hành đều do người Mãn nam giữ

Có thể nói từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, xã hội Trung Quốc đầy sự biến động mẫu thuẫn giữa giai cấp và mẫu thuẫn dân tộc tồn tại song song với nhau Tuy không gav gắt bằng thời Nguyên nhưng đã gây ra cho nhân dân vô vàn khó khăn đói khổ biết bao người Hoa vô tội đã phải rời bỏ quê hương tìm nơi khác sinh sống với mong muốn được yên ổn làm ăn Sự sụp đổ của nhà Minh và sự thống trị của nhà Thanh đã là nguyên nhân không nhỏ dẫn đến sự ra đi của nhiều cận thần và thuộc hạ Minh triều vì không chấp nhận một triều đại mới Một cuộc di cư của người Hoa ở nước ngoải với

số lượng không nhỏ: tiêu biểu là tổng binh trấn thủ đất Long Môn ( Quảng tây) tên là Dương Ngạn Địch cùng phó tướng Hoàng Tiến và tổng binh các châu CãõTLôi, Liêm (Quảng Đông) cùng phó tướng Trần An Bình đem 3000 quân và gia đình trên 50 chiến thuyền sang xin chúa Nguvễn làm dân Việt Nam lập nên làng Minh Hương, hiện này vẫn còn một di tích là nhà hương hỏa Minh Hương Gia Thạnh

1.1.2 Quá trình di cư của cộng đồng Ngưòi Hoa ỏ’ Thành phố Hồ Chí Minh

Vào năm 1679 chúa Nguyễn cho phép Trần Thượng Xuyên Dương Ngạc Địch dẫn người “Phản Thanh phục Minh" vào sinh sống ở Đồng Nai - Gia Định Đây là mốc thời gian đánh dấu sự có mặt của người Hoa ở miền Nam Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Vào thời điểm này, trong suy nghĩ của người Hoa thì đây chỉ là trạm dừng chân của họ, sau đó sẽ chuyển đi nơi khác Đây là điểm khác biệt so với sự có mặt của người Hoa ở phía Bắc Do hai nước có đường biên giới sát kề nhau và do nhu cầu giao thương buôn bán nên cộng đồng Việt và cộng đông Hoa ở khu vực này có sự qua lại và định cư lâu dài với nhau Trong hơn một ngàn năm bắc thuộc với chính sách đồng hoá khốc liệt của phong kiến phương Bắc, đã có nhiều cuộc

di dân từ Trung Hoa sang Việt Nam với nhiều hình thức Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác dẫn đến sự di dân của người Hoa đến Việt Nam như: hạn hán, mất mùa những trận dịch, các thế lực phone kiến tranh giành quyền lực dẫn đến chiến tranh liên miên làm đời sống nhân dân khốn khổ Cuối cùng do nhu cầu giao thương,

Trang 12

Á trong đó có Việt Nam.

Nửa sau thế kỉ XVII đầu thế kỷ XVIII khi triều đình nhà Minh-Trung Quốc sụp đổ, nhà Thanh lên cầm quyền với chính sách đàn áp, tàn sát các cận thần cũ của triều đình nhà Minh và những người tham gia phong trào “Phản Thanh phục Minh" đã tạo ra làn sóng di cư của người Hoa đến các nước Thông qua làn sóng di cư này người Hoa đã

Nhóm Dương Ngạc Địch theo sông Mekong đến cư trú tại vùng đất Mỹ Tho Nhóm Trần Thượng Xuyên thì theo sông Đồng Nai đến định cư tại vùng Bàn Lân (Biên Hoà)

và Đông Phố (Gia Định) Tuy nhiên ban đầu nhóm người Hoa đầu tiên này di cư sang vùng đất này chủ yếu tìm nơi cư trú tạm thời và gây dựng lực lượng, tìm cơ hội quay trở lại Trung Quốc “Phản Thanh phục Minh'’ Nhưng năm tháng trôi đi, nhà Thanh không những không suy yếu mà ngày càng lớn mạnh, xác lập một địa vị thông trị vững chắc Khi đã hết hy vọng khôi phục lại vương triều cù họ đành ở lại vùng đất xa xôi

Năm 1698 khi Nguyễn Hữu Cảnh dựng hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn chế độ phong kiến nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đồng hoá dân tộc đối với người Hoa Người Hoa ở Phiên Trấn họp thành xã Minh Hương Người Hoa ở Trấn Biên họp thành xã Thanh Hà Như vậv những người ở xã Thanh Hà và xã Minh Hương là những người Hoa đã nhập tịch Việt Năm 1771 vua Xiêm đem quân đánh Hà Tiên một số người Hoa ở đây đã phải chạy về cư trú ở vùng Chợ Lớn đến năm 1778 người Hoa ở

xã Thanh Hà đã bỏ hẳn Nông Nại Đại Phố (Cù lao phố) về cư trú và nhập tịch ở xã Minh Hương

này”

1 Vương Hồng sển (1990), “Sài Gòn năm xưa”, NXB thành phố Hồ Chí Minh, trang 5

Trang 13

Làne Minh Hương ở khu vực Chợ Lớn được thành lập vào khoảng cuối thể kỷ XVII 2, là một trong những cộng đồng dân cư người Hoa đầu tiên ở Sài Gòn Làng Minh Hương nằm trong cơ cấu hành chính chung của nhà nước phong kiến Việt Nam

Xứ Đàng trong và nhà Nguyễn về sau Dấu vết của làng Minh Hương xưa nay là đình Minh Hương Gia Thạnh nằm trên đường Trần Hưng Đạo quận 5 Trong đình hiện còn lưu giừ bức hoành phi có chữ: 44 Thiện tục khả phong" là sự khen ngợi nêp sống tốt đẹp của làng Minh Hương Làng Minh Hương là một dẫn liệu về sự hội nhập_của

người Hoa vào cộng đông các dân tộc Việt Nam Sự hội nhập có nhiêu lý do.nhưng chủ yêu là do bản thân cộng đông người Hoa cô găng tìm cách ôn định và phát triển trên vùng đất miền Nam Việt Nam

Sau những làn sóng di cư của người Hoa vào cuối thế kỷ XVII, người Hoa vẫn tiếp tục đến cư trú ở vùng Sài Gòn Chợ Lớn trong những thế kỷ XVIII, XIX, và nhất là cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Sau khi trở thuộc địa của Pháp, Việt Nam là một thị trường tiêu thụ hàng hóa ế thừa

và cung cấp nhân công rẻ mạt Lúc bấy giờ Sài Gòn - Chợ Lớn là một trung tâm sản xuất lúa gạo của khu vực Đông Nam Á Điều kiện lịch sử đã thu hút người Hoa đến cư trú tại Sài Gòn - Chợ Lớn Nếu quá trình di cư của người Hoa cuối thế kỉ XVII là lý

do chính trị, thì trong giai đoạn đầu thế kỉ XIX đa số người Hoa đến đây là vì lý do kinh tế Thành phần di dân chủ yếu trong giai đoạn này là những thương gia làm ăn, nông dân thợ thủ công bị tước mất tư liệu sản xuất đi tìm công ăn việc làm

Đặc biệt, sau khi thực dân Pháp và chính quyền Trung Quốc ký hòa ước tháng 6 năm 1885 và thương ước tháng 4 năm 1886 với những điều khoản ưu đãi Hoa kiều, cho đối xử ngang hàng và hưởng quyền lợi như người Việt thì người Hoa nhập cư ngày càng nhiều Từ đầu thế kỷ XX cho đến những năm sau cuộc cách mạng Tân Hợi

ở Trung Quốc (1911) do ảnh hưởng của trào lưu dân chủ thế giới và do điều kiện lịch

sử của các nước khu vực Đông Nam châu Á lúc bấy giờ, số lượng người Hoa đến cư trú tại Sài Gòn Chợ Lớn ngàv càng gia tăng

2 Phan An(2005), "'Người Hoa ơN am Bộ ”, NXB Khoa học xã hội, trang 11

Trang 14

Nhìn lại quá trình lịch sử di cư của người Hoa và quá trình hình thành nên cộng đồng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, có thể rút ra một số điểm cơ bản như sau :

1 Quá trình di cư của người Hoa đến vùng đất Sài Gòn - Chợ Lớn diễn ra liên tục trone nhiều thế kỉ

2 Người Hoa đến cư trú tại Sài Gòn - Chợ Lớn từ nhiều địa phương khác nhau

3 Làn sóng di cư của người Hoa ở nửa sau thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII là xuất phát từ lý do chính trị Các làn sóne di cư đều gắn chặt với tình hình chính trị xã hội Trung Quốc thời bấy giờ

4 Từ cuối thế kỷ XVIII trở đi, các làn sóng di cư của người Hoa đều mang đậm màu sẳc kinh tế Các làn sóng di cư đó chịu sự tác động mạnh mẽ bởi sự hấp dẫn của thị trường Sài Gòn - Chợ Lớn buổi đương thời

Trong quá trình hội nhập, cộng đồng người Hoa không sống tách biệt với các cộng đồng cư dân khác mà hòa đồng vào các cộng đồng đó Yếu tố này đã tạo cho cộng đồng người Hoa trở nên bền vững trong cơ cấu xã hội của thành phố Hồ Chí Minh Nếu chia theo ngôn ngừ thì người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh có thể chia thành 5 nhóm chính:

Bảng 1 : Bảng số liệu các nhóm người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh '

Theo bảng số liệu thống kê trên thấy ràng nhóm người Hoa Quảng Đông và Triều Châu là đông nhất chiếm 90% dân số tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh 3

3 Ngô Văn Lệ - Nguyền Duy Bính (2000), “Người Hoa Nam 2?ợ” NXB Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, trang 92

Trang 15

1.1.3 Địa bàn cư trú chủ yếu

Người Hoa đến sinh sống tại khu vực Sài Gòn- Chợ Lớn cũ đã rất lâu đời và họ di

cư sang đây theo từng giai đoạn lịch sử Do người Hoa di cư đến Việt Nam theo nhiều đợt và cường độ khác nhau nên có hai hình thức cư trú chủ yếu một là sống xen kẽ với các tộc người bản địa hai là sống tập trung thành khu vực nhỏ Bảng thống kê về số lượng người Hoa và người Việt tại 24 quận huyện do tổng cục thống kê thực hiện năm

2009 Từ đó cho thấy một cái nhìn tồng quát về tình hình cư trú của người Hoa trên địa bàn thành phố và sự phân bố dân cư của họ

Trang 16

Ở thành phố Hồ Chí Minh, phân bố cư trú của người Hoa theo hai dạne một là cư trú xen kẽ giữa naười hoa với các cộng đồng dân cư khác, hai là cư trủ tập trung thành từns khu vực nhở Hình thức cư trú thứ nhất là phổ biến đối với cộng đồng người Hoa trên địa bàn toàn thành phố.

Ngay những khu vực tập trung nhất của người Hoa ở quận 5 hoặc quận 11 Trong các khu phố các chung cư đều có sự xen kẽ giữa người Hoa với người Việt và với các dân tộc anh em khác Còn về dạng cư trú tập trung đôns người Hoa, phần nhiều là trong phạm vi một số khu phố, tổ dân phố các quận 5.6.11 Ở một số phường của quận 5 11 có tỉ lệ dân số neười Hoa khá cao khoảng trên 70% người Hoa tập trung.Khu vực Chợ Lớn có 5 con đường lớn có tầm quan trọng cho sự phát triển của toàn vùng là đường Lý Thường Kiệt, Lê Đại Hành Hải Thượng Lãng ông, Hậu Giang

và đường 3 tháng 2 Con đường đặc biệt quan trọng đối với khu vực Chợ Lớn là đường Trần Hưng Đạo, nối liền trung tâm thành phố với trung tâm thương mại của vùng Chợ Lớn Giáp với quận 5 về phía Tây là quận 6, có hai đại lộ chính: đại lộ Hồng Bàng (nối tiếp quận 5) và đại lộ Hùng Vương cùng với 39 con đường lớn nhỏ Giáp về phía Bắc với quận 5 là quận 10 có các đường 3 tháng 2, Lê Hồng Phong, Lý Thái Tổ, Nguyễn Chí Thanh, Ngô Gia Tự cùng với hai mươi năm con đường khác Giáp ở phía Tây Bắc

là quận ĩ 1 có các con đường 3 tháng 2, Hùng Vương, Lý Thường Kiệt, cùng với 33 con đường lớn nhỏ Đó là những khu vực có mật độ dân số người Hoa cao nhất trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh

1.1.4 về tên gọi “ngưòi Hoa”

Người Trung Hoa là thuật ngữ được sử dụng một cách rộng rãi để chỉ những người

có nguồn gốc, tổ tiên từ Trung Hoa đang sống ở khắp các quốc gia và các vùng lãnh

thổ trên thế giới Theo quan điểm của Đặng Nghiêm Vạn: “Người Hoa không phải là

một tộc người, mà là một cộng đồng người gốc từ Trung Quốc bao gồm người Hán và

Đặng Nghiêm Vạn (1988; "Tộc danh các tộc người ơ Việt Nam một phan ánh xã hội ”, tạp chi Ngôn

ngữ, số 1, tr.41-4

Trang 17

Theo chỉ thị số 62-CT/TW ngày 08 tháng 11 năm 1995 của ban chấp hành trung

ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khảng định “Người Hoa bao gằm những người goc

Hán và những người thuộc dân tộc ít người ở Trung Quoc đã nhập quôc tịch Việt Nam nhưng vân còn giữ những đặc trưng văn hoả, chủ yêu là ngôn ngữ, phong tục tập

v ề vấn đề tên gọi người Hoa, có nhiều tên gọi khác nhau: Khách Hán Tàu, người Việt gốc Hoa, Hoa kiều hải ngoại, Trong thư tịch cô Trung Quốc và Việt Nam, người Trung Quốc sinh sống ở nước ngoài, thường gọi theo tên các triều đại được ngưởi bản xứ biết đến như người Thanh, người Tàu người Đường, hay gọi tên theo quê quán của họ bên Trung Quốc: như người Hoa Quảng Đông, Hoa Hải Nam, Người Việt còn gọi người Hoa là người Ngô xuất phát từ thời Xuân Thu bên Trung Quốc có nước Ngô và nước Việt, hay theo Nguyễn Trãi trong tác phâm Bình Ngô Đại Cáo thế kỉ XV Người Hoa còn có tên gọi là Ba Tàu hay người Tàu, xuất xứ

từ của những tên gọi nàv do từ xa xưa khi người Trung Hoa mở rộng giao thương buôn bán với những nước trong khu vực chu yếu bằng đường biển Tên gọi người Tàu,

Ba Tàu xuất hiện từ đó

Hiện nay các tên gọi này không còn phổ biến nữa Thuật ngữ thường dùng hiện nay

là người Hoa là tên gọi được thống nhất trong các văn kiện nhà nước từ năm 1946

“Người Hoa" là thuật ngữ được người Việt Nam dùng để gọi những người có nguồn gốc từ Trung Hoa đang sống ở Việt Nam và đã nhập quốc tịch Việt Nam Hầu hết người Hoa ở Việt Nam nói chung và vùng Nam bộ nói riêng đều tự gọi mình là người Hoa Tên gọi này đã trở thành tộc danh tự chọn và là niềm tự hào dân tộc của người Hoa ở Việt Nam

1.1.5 Thế giói quan, nhân sinh quan của Người Hoa qua các CO’ sỏ’ tín ngưõng

Cùng với quá trình di dân và định cư tại thành phố Hồ Chí Minh hơn ba thế kỷ, các

cơ sở tín ngưỡng ra đời để đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng người Hoa Các

cơ sở tín ngưỡng không chỉ cho chúng ta thông tin về kiêu thức kiến trúc, hoa văn trang trí, hệ thống thờ tự, tế lễ, mà thông qua dó giúp ta hiểu rõ hơn dặc trưng văn hóa cua tọc ngươi trong đo có quan niệm về thế giới xung quanh, quan niệm về cuộc dời, đạo đức, lối sống của con người Đó là những yếu tố giúp cộng đồng người Hoa bảo

Trang 18

tôn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình cộne cư, giao lưu tiếp biến văn hóa với các tộc người “bản địa” tại quê hương thứ hai.

„é, „ong lif e 4* « n g ri, tu w và é lễ 41 CSC co sõ ,í„ ,g„Ong cu, ngoài Ho, í

Thành phố Hồ Chí Minh

_ ^ K h i xây dựng các công trình kiến trúc nói chung, cơ sở tín ngưỡng nói riêng, người Hoa luôn chú ý thuật phong thủy bởi họ cảm nhận “không gian nhà ở là một tiêu vũ trụ trong trật tự của vũ trụ lớn”8

\

Tại thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các cơ sở tín ngưỡng (Tuệ Thành, Nghĩa An, Hà Chương, Quỳnh Phủ, Phước An Phú Nghĩa, Nghĩa Nhuận, Quảng Triệu hội quán) xây theo trục Nam - Bắc, ứng với âm - dương, cửa quay về hướng Nam đón gió nồm mát mẽ tránh gió Tây nóng nực, hài hòa với vũ trụ “đón lấy cảnh sắc và ánh nắng mặt trời” và “phương Nam thuần dương, tượng trưng cho sự trong sáng, đẹp đẽ, cho sự minh triết vô biên, là miền Bát nhã, tức trí tuệ ”9

ỵ ^> ^T rích Đại từ điển tiếng Việt (1999), Nxb Văn hóa Thông tin, trang 1557

Trần Huỳnh Minh Phương (2012,) ‘áPể Thế g iớ i quan và nhân sinh quan của người H oa qua các cơ sơ tín ngưỡng H oa thành p h ổ H ồ C hí M inh ”, bảo tàng thành phổ Hồ Chí Minh.

Theodore M.Lugvvig (2000), "Những con LỈU ỏ ng t ù m linhphuơng Dỏng , Nxb Văn hóa, trang 214

/

9 Phạm Đức Dương( 1998), “Bước đầu tìm hiếu sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt - Hoa trong lịch

s ư ”, Nxb Thế giới, Hà Nội trang 15

Trang 19

Khi xây dựng các cơ sở tín ngưỡng được thiết kế “theo phong thủy học có chú ý đến yêu tô “minh đường thủy tụ”, đồi cao suối sâu có địa thế âm dương, vì nơi ấy sẽ có vượng khí sinh sôi”

Trong không gian thành thị chật hẹp không có sông suối, đồi núi, người Hoa vẫn

+ cố gắng tạo sự hài hòa giữa công trình kiến trúc và môi trường bằng những công trình

phụ như : xây hồ nước trước công trình kiến trúc - tượng trưng cho dòng ẴỘngrTĩorr- non bộ là ngọn núi thu nhỏ và hai phù điêu tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ tại sân “ thiên tĩnh” tượng trưng cho thế đất “ rồng thu hổ phục” Người Hoa đặc biệHtuanTârm đến sự hài hòa giữa con người và VŨ trụ nhận thức con người là một thành tố trong vũ trụ Neu hoạt động của con người không phù hợp với tự nhiên thì trật tự vũ trụ sẽ bị phá vỡ Thế cân bàng của vũ trụ quyết định sự tồn tại của nó

Hai dãv “Đông sương”, “Tây sương“ của các miếu đối xứng nhau là biến thế của

âm - dương, hai mặt đối lập nhau, không thể thiếu một trong hai mặt, chúng bổ sung cho nhau tạo thế cân bàng trong vũ trụ

Hầu hết trên bờ nóc của miếu Hoa đều có tượng “ông Nhật”, “bà Nguyệt” ở hai hướng Đông - Tây tượng trưng cho yếu tố “âm” và “dương” Âm - dương hòa hợp sẽ sinh ra muôn loài, biểu hiện sự thịnh vượng của vạn vật

Nguồn gốc vũ trụ còn được thể hiện qua hình “bát quái“ ( trước và sau mỗi bên 3 quẻ, trái, phải mỗi bên 2 quẻ) được vẽ bao quanh thân trên của lư thờ ở bàn hương án, đặt tại trung điện, Ọuảng Triệu Hội quán (Quận 1) Thời cổ đại, sức sản xuất thấp kém, con người sợ hãi trước các hiện tượng thiên nhiên, đi đến việc sùng bái và nhân cách

o-hóa thành thần Mặt trời Mặt trăng, thần Mây thần Mưa những tàn dư ấy còn lưu lại

- trong của bao lam, hoành phi, câu đối với các đề tài trang trí quen thuộc như “lưỡng

long chầu nhật”, “lưỡng long chầu nguyệt”, “long ẩn vân”

Quan niệm “vạn vật hữu linh” của thời cồ đại vẫn tồn tại trong các cơ sở tín ngưỡng người Hoa Đó là việc thờ Hồ ở một góc của chính điện tại miếu Thiên Hậu của người Phúc Kiến: (Tam Sơn Hội auán) thò gian bên tại miếu Thiên Hậu (auận 3), Quảng Triệu, Hả Chương Hội quán: thò Rồng ở Tam Son Hà Chương, thò câv Dung “Dung thọ tướng quân tọa trấn” (sân bên hông của Quảng Triệu Hội quán, sân sau điện Ngọc Hoàng), thờ bia Ông Mộc (Bình An Hội quán), thờ gốc cây cổ thụ (miếu Thiên Hậu -

Trang 20

quận 3), thờ đá ở phía sau điện Ngọc Hoàng, sân sau của miếu Thiên Hậu (Quận 3), gian bên của Hà Chương Quảng Triệu Hội quán, hay thờ Thần Hỏa ở miếu Hỏa Đức Nương Nương (quận 6).

1.1.5.2 Nhân sinh quan của người Hoa:

Nhân sinh quan là “quan niệm về cuộc đời thành hệ thống bao gồm lý tưởng, lẽ

Theo học giả phương Tây", nhân sinh quan của người Trung Quốc đề cao tổ tiên, các tín ngưỡng suy cho cùng đều bắt nguồn từ việc thờ tổ tiên trong gia đình, họ tộc hay cộng đồng Tổ tiên ban phúc hay giáng họa tuv thuộc vào thái độ ứng xử của con cháu

Quan niệm về phạm trù đạo đức của người Trung Quốc được cô đọng trong “nhân”,

“lễ”, “trí”, “dũng”, “trung”, “khiêm” “kiệm” tồn tại theo thời gian, trở thành những chuẩn mực ứng xử giữa người và người trong xã hội người Hoa ở Trung Quốc và trở thành hành trang quý báu của họ ở quê hương thứ hai.Trong đó “tín ngưỡng và tôn giáo là môi trường chủ yếu để tạo nên xu thế định hướng nhân cách và tâm lý cộng đồng trong người Hoa"

Trong cơ sở tín ngưỡng, các khí tự, hệ thống tượng thờ là những thành tố người Hoa gởi gắm quan niệm về chuẩn mực đạo đức của con người trong xã hội về các mối quan hệ giữa người và người rõ nét nhất

Bộ "ngũ sự" gồm đỉnh trầm ở giữa, hai bên là hai chân nến và hai bình hoa trên bàn thờ tại các cơ sở tín ngưỡng không chĩ là vật trung gian để con người giao tiếp với trời đất mà còn chuyển tải về nhân sinh quan của người Hoa Theo triết học Trung Quốc cổ đại "ngũ sự" là: 10

10 Trích Đại từ điển tiếng Việt (1999), Nxb Văn hóa Thông tin, trang 764

11 Theodore M.Lugwig (2000), Những con đường tâm linh phương Đông, Nxb Văn hóa.trang 424

Sõng .» 10

Trang 21

“Nhát viẽt mạo Nhị viết ngôn Tam viết thị Tứ viết thính Ngũ viết tư Mạo viết cung Ngôn viêt tòng Thị viêt minh Thính viêt thông Tư viết duệ Cung tác túc Tòng tác nghệ Minh tác triết Thông tác mưu Duệ tác thành’'( Một là diện mạo Hai là lời nói

Ba là trông nhìn Bôn là lãng nyhe Năm là diện mạo nên kính cân Lời nói nên thuần theo Nhìn ngắm nên sáng suốt Nghe ngóng nên rõ ràng Suy tư nên thấu suốt Kỉnh cản sinh nghiêm chỉnh Thuận theo sinh gioi giang Sáng suôt sinh tỉnh khôn Rõ ràng

nhưng chuyển tải về triết lý sống, tư tưởng đạo đức của người Trung Hoa cổ đại và vẫn còn nguyên giá trị trong xã hội hiện đại của cộng đồng người Hoa tại thành phố

Hồ Chí Minh

Khái niệm tổ tiên không bó hẹp trong phạm vi huyết thống, gia đình, họ tộc mà mở rộng ra cộng đồng, xã hội Thờ cúng tổ tiên trong cộng đồng là thờ tổ nghề mang tính chất cầu phò hộ và nhờ ơn, thờ nhân thần có công giúp đỡ người Hoa đến Việt Nam

Đó là trường hợp thờ tổ thợ mộc - Lỗ Ban ở miếu An Hòa (quận 8), thờ tổ ngành y - Hoa Đà ở Khánh Vân Nam Viện (quận 11) Mặt khác “tổ tiên” theo nghĩa rộng còn là những "Nhân thần" giúp đỡ cộng đồng trên bước đường di dân như Thiên Hậu Thánh

che chở họ vượt qua sóng gió, đưa thuyền đến nơi an toàn Ở thành phố

h, miếu thờ Thiên Hậu Thánh Mầu của người Quảng Đông là Tuệ Thành Hội quán (Q5), Quảng Triệu Hội quán (Ql), miếu Thiên Hậu (Q3), miếu Thiên Hậu Thánh Mầu của người Phúc Kiến: Tam Sơn Hội Quán, của người Hẹ: Quần Tân Hội Quán Ghi nhớ công lao của vị quan truyền bá văn hóa Trung Quốc ra miền hải ngoại cũng như việc tổ chức di dân Trung Hoa đến Việt Nam, người Hoa lập miếu thờ ông với tên thường gọi “Ông Bổn” ở Nhị Phủ miếu Tưởng nhớ công lao người đưa cộng đồng di cư sang Việt Nam tránh loạn lạc ở chính quốc, người Hoa thờ Trần Thượng Xuyên (đình Minh Hương Gia Thạnh , Phú Nghĩa Hội quán - quận 5, đình Phú Lạc - Bình Chánh) 12

12 Nguyền Đăng Thục (1997), Lịch sư triết học phương Đỏng, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, trang 150-151

Trang 22

Với quan niệm người chết không được con cháu thờ củng tử tế sẽ trở thành hồn ma

đi quấy nhiễu người sống nên xuất hiện bàn thờ “cô hồn" với bài vị khẳc dòng chữ

“Tiên kiều huynh đệ công liệt vị” ở Trung điện của Quỳnh Phủ Hội quán Bỏ qua khía cạnh mê tín, tập tục này mang tính nhân văn cao, đó là tư duy truyền thống phương Đông “thương người như thể thương thân" Con người không chỉ thờ những người thân của mình mà còn nghĩ đến những linh hồn không “nơi nương tựa”

Cách thờ các bài vị những vị tiền bối (các khám thờ ở hậu điện) có công đóng góp cho việc xây dựng, trùng tu cơ sở tín ngưỡng như Quỳnh Phủ Hội quán Phú Nghĩa Hội quán, đình Phong Phú đình Minh Hương Gia Thạnh Phước An Hội quán cũng là hình thức ghi công những tiền nhân trên các bia trùng tu thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”

Tại thành phố Hồ Chí Minh, Quan Thánh Đế Quân ( Quan Công) được xem là “đệ nhất Thần” của người Hoa được thờ trong hầu hết các cơ sở tín ngưỡng Bởi ở Quan Công người ta thấy rõ nhân cách cao thượng của người quân tử, lòng tự trọng cao cả vì danh dự cá nhân, tính rộng lượng và thương người, tình thương và lòng chung thủy đối với người thân và bạn bè, sự chính trực, công minh, tinh thần trách nhiệm và hy sinh vì nghĩa lớn Nói chung Quan Công là một chuẩn mực nhân cách và đạo đức của con người mà người Hoa tự xem như là một mục tiêu định hướng của giáo dục đạo đức làm người Những đức tính tốt của Quan Thánh Đe Quân chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người Hoa thể hiện khao khát hướng tới chân thiện mỹ của con người nói chung và của cộng đồng người Hoa nói riêng

Người Hoa thờ Thiên Hậu Thánh Mầu ngoài ý nghĩa ghi nhớ công ơn bà phù hộ trên bước đường bôn ba đầy sóng gió đến nơi an toàn còn “muốn định hướng nhân cách và giáo dục cho mọi người mà trước nhất là phụ nữ Hoa lòng hiếu thảo với cha

mẹ, đức hạnh với anh em trong gia đình, sẵn sàng xả thân hy sinh vì mọi người, nhân cách vị tha và tình thương chân thành ”13

13 Mạc Đường (19991 Xã hội người Hoa ở thcmh nhố Hồ Chỉ Minh sau 1975, Nxb Khoa học

Xã hội, trang 106

Trang 23

*

Tín neường thờ Bổn Đầu Công (Ỏns Bổn) ngoài ý nghĩa như đề cập ở trên còn là

“biểu tượng cho đức tính chịu đựng gian khồ vượt qua nhừns phong ba bão táp định hướng nhân cách nhàm rèn luyện tinh thần chịu đựns khó khăn nơi đất khách

Thiên Hậu Thánh Mầu, Quan Thánh Đế Quân là hai vị thần được thờ phố biến nhất trong các cơ sở tín ngưỡne Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh, góp phần định hướng lối sống cho cộng đồng Đó là một trone những nguyên nhân lý giải về sự thành công của cộng đồng neười Hoa tại quê hương thứ hai trên khắp thế giới

Qua các cơ sở tín ngưỡne của người Hoa chúng ta hiểu được phần nào về “Thế giới quan'’, “Nhân sinh quan" của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh Những quan niệm

về thế giới, con người hình thành từ thời cổ đại tại quê hương Trung Quốc vẫn là hành trang của họ đến quê hương thứ hai cho thấy sức sống bền bỉ của văn hóa Trung Hoa

cổ đai Tri thức về vũ trụ, con người đã vượt ra ngoài những học thuyết triết học cao siêu đi vào tầng lớp bình dân thông qua kiến trúc, trang trí, thờ tự và tế lễ ở các cơ sở tín ngưỡng, trong đó rõ nét nhất là hệ thống thờ tự Qua đó cho thấy chính cơ sở tín ngưỡng là nơi bảo tồn và phát huy văn hóa của một cộng đòng tốt nhất

Các cơ sở tín ngưỡng không chỉ đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng, mà qua đó con người còn muốn gởi gắm quan niệm về thế giới về con người, trong đó những chuẩn mực đạo đức thể hiện qua đối tượng thờ tự giúp định hướng cho nhân cách con người

Nếu như “thế giới quan’>thể hiện rõ nét trong kiến trúc của công trình vì chịu tác động trực tiếp của môi trường thì “nhân sinh quan" của người Hoa phần lớn thể hiện qua hệ thống thờ tự

Trang 24

Trong tiên trình lịch sử, hoạt độne bảo tồn di sản văn hóa xuất hiện ngav từ khi con người ý thức được eiá trị của di sản văn hóa trong đời sống, đồns thời hiểu được mối nguy hại do tác động của thiên nhiên và chính con người gây ra Vì vậy trong vài thập kỷ eân đây bảo tôn di sản văn hóa trở thành mối quan tâm của nhiều giới khoa học và là điểm nóns chú ý của xã hội.

Vậy ‘‘bảo tồn” là gì? Theo định nghĩa của Liên minh bảo tồn thiên nhiên thế giới

( IUCN.1991): “Bảo tôn là sự quản lý, sử dụng của con người về sinh quyên nhằm thu

được lợi nhuận bển vững cho thế hệ hiện tại trong khỉ vẫn duv trí tiềm năng để đáp ứng những vêu câu và nguvện vọng của thế hệ tương lai".

Còn theo Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử -văn hóa danh lam

thắng cảnh năm 2003, bảo tồn di tích được giải thích là '"những hoạt động nhằm bảo

đảm sự tôn tại lâu dài, ôn định của di tích đê sử dụng và phát huy giá trị của di tích

đó”

Như vậy, bảo tồn là tất cả những nỗ lực hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của di sản văn hóa nhàm bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài về vật chất cho di sản văn hóa và khi cần đến phải đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại đê khai thác khả năng phục vụ cho hoạt động tiên bộ của xã hội

Công tác bảo tồn di sản văn hóa có nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm các hoạt động như14 *

■ Bảo tồn nguyên trạng (Authentic conservation);

■ Trùng tu (Restoration);

■ Gia cố (Consolidation);

■ Tái định vị (Anastilose);

■ Phục hồi (Restore);

■ Tái tạo - làm lại (Reconstruction);

■ Qui hoạch bảo tồn (Preservation planning)

14 Nguyễn Việt Anh, vắn đề bao tồn và phát huy giá trị di sàn văn hỏa Nguồn:

lmp:/Avv\ ũ \ ¡etiems.com

Trang 25

Phát huy được hiêu "là những tác động làm cho cái hay, cải đẹp, cải tôt toa tác

dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ cao đến thấp, từ đơn giản đến phức tạp"15

Nói một cách đơn giản phát huy chính là việc khai thác, sử dụng sản phẩm một

* cách có hiệu quả Cône việc này xuất phát từ nhu cầu thực tế con người mone muốn

sản phâm của họ tạo ra phải được nhiều người cùng biết đến hoặc đem về những lợi ích kinh tế Phát huy eiá trị di sản văn hóa là một hoạt động có tính liên ngành, có tiêu chí chuns mục đích là phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội cho việc phát triển du lịch bền vững và góp phần quan trọng trone việc giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

15 Nguyễn Việt Anh, vẩn để báo tồn và phát huy giá trị di san văn hỏa Nguồn:

http://vv\v\v.\ iettcms.com

16 Điều 4 - chương 1 - Luật du lịch Việt Nam Luật số 44/2005/QH11

Trang 26

Nhừng cơ sở lý luận nêu trên là nền tảng quan trọng giúp chúng tôi nghiên cứu đề tài này Như đã trình bày thì hành trình di cư của cộng done người Hoa đến Sài Gòn - Chợ Lớn diễn ra liên tục trong nhiều thế kỉ với nhiều lí do khác nhau, họ là những người rất dễ hòa nhập với dân bản địa bởi lẽ lúc đó họ không có quyền và tài sản trong tay, trên hành trình vượt biển đầy khó khăn, nhiều trắc trở thì Thiên Hậu Thánh Mầu chính là vị thần được người Hoa tin ràng đã phò trợ và phù hộ cho cộng đồng trên đường vượt biển Chính vì lẽ đó Thánh Hậu Thiên Mầu được người Hoa tôn thờ, tín ngưỡng thờ Bà trước đó nay lại được cộng đồng Hoa gìn giữ và củng cố trên mảnh đất

xứ người Nghiên cứu về cấu trúc xã hội neười Hoa có thể dễ nhận ra được ý thức cố kết cộng đồng của họ rất cao vì khi đã an cư lạc nghiệp, họ thường có ý thức quần cư lại với nhau theo mỗi nhóm người Hoa địa phương nhất định: Hoa Quảng Đông Tiều Châu, Phúc Kiến, Khách Gia Hẹ , bên cạnh đó xen kẽ, cộng cư với các cộng đồng dân cư xung quanh cũng là một đặc điểm cư trú của người Hoa, một nét đặc trưng nữa của cộng đồng Hoa đó là những người đến trước luôn tìm cách giúp đỡ những người đến sau và cứ thế tạo nên một cộng done đoàn kết gán bó chặt chẽ Rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắns song không có nghĩa là họ không mang theo gì cả mà trái lại cả một nền văn hóa đậm nét Trung Hoa luôn tiềm ẩn trong họ và nó được thể hiện bộc lộ qua đời sống vật chất và tinh thần của người Hoa, về đời sống tinh thần thì tín ngưỡng dân gian là một biểu hiện rõ nét nhất Người Hoa tôn sùng các vị thần không đơn thuần là để gởi gắm niềm tin vào cácHtnTĩưọng siêu nhiên mong muốn được phù hộ cho cuộc sống hằng neày mà đó còn là việc định hướng nhân cách sống, hoàn thiện bản thân, bảo tồn các giá trị đạo đức, các quy tắc ứng xử, chuấn mực sống của các thế

hệ cha ông đi trước ở chính quốc

Trang 27

CHƯƠNG 2 : LẺ VÍA BÀ THIÊN HẬU TRONG TÍN NGƯỞNG CỘNG ĐÒNG NGƯỜI HOA THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH

2.1 Vài nét về Thiên Hậu Thánh Mẩu.

Thiên Hậu Thánh Mầu hay bà Thiên Hậu, còn gọi là "Ma Tổ", "Mầu Tổ" hay là

"Thiên Thượng Thánh Mầu" là một vị thằn quan trọng trong tín ngưỡng của người Trung Hoa và người Việt gốc Hoa Bà được xem như vị thần bảo trợ của ngư phủ và người đi biên, được tôn kính đặc biệt cả trong Phật giáo và Đạo giáo ở các quốc gia Đông Á và nhất là tại Đài Loan Ngày tưởng niệm bà là ngày 23 tháng 3 âm lịch hằng năm

Bà Thiên Hậu được người Quảng Đông gọi là “A Phò" (Đức Bà) Người Phúc Kiến và Hải Nam thích gọi bà là "Đạo Mầu" Theo học giả Vương Hồng sển thì bà có tên là Mi Châu, thuộc Bồ Dương (Phúc Kiến) Bà sinh ngày 23 tháng 3 năm Giáp

Thân (1044) đời vua Tống Nhân Tông ( [ự J v ) ^ <^T0

Dựa theo truyền thuyết được ghi trên tấm bia đá đặt ở chùa, bà sinh vào thời Tống, niên hiệu Kiến Long thứ nhất (960) là con thiN> cửa gia đình họ Lâm ở huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc Khi mới lọt lòng mẹ bà đã tỏa ánh hào quang và hương thơm Lớn lên bà thường cưỡi thảm bay lượn trên biển và du ngoạn nhiều nơi Đen niên hiệu Ưng Hy năm thứ 4 (987) bà từ giã cỏi trần, mới 27 tuổi và trở thành hiên linh Đời Nguyên bà được phong là Thiên Phi, đến đời Thanh vua Khang Hy gia phong làm Thiên Hậu Và danh hiệu Thiên Hậu tồn tại mãi cho đến nay

Theo một số tài liệu ghi chép của Trung Quốc như : 4*Đại Thanh hội điển sự lệ”, UBỒ Tát ngoại truyện”, các sách địa phương chí thì truyền thuyết Thiên Hậu còn có nội dung cơ bản sau:

Thiên Hậu quê ở đảo Mi Châu, thuộc Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, lúc bà được sinh ra bỗng có một luồng sáng đỏ sa xuống, chói loà và có hương thơm nồng đượm Từ khi sinh ra cho đến lúc đầy tháng, Thiên Hậu không một lần cất tiếng khóc, vì thế người ta gọi bà là Lâm Mặc, cha mẹ cùng gọi con là Lâm Mặc nương hay Mặc nương Lâm Mặc ngay từ nhỏ đã thông minh đĩnh ngộ hơn chị em bè bạn lớn lên theo thầy học

Trang 28

sách, chỉ cân xem qua là nhớ và hiểu hết ý nghĩa của sách Đến khi lớn lên cô quyết tâm suôt đời làm việc thiện cứu giúp mọi người, thề không lấy chồng, cha mẹ cũng đành phải theo ý nguyện của con vốn tinh thông y thuật, bà thường trị bệnh cứu người, dạy dân cách phòng dịch bệnh, được mọi người vô cùng mến phục Lâm Mặc còn thông hiểu thiên văn khí tượng, giỏi bơi lội và có thể dự báo được những thay đổi của thời tiết Bà thường dùng phép cứu giúp những tàu thuyền bị nạn trên biển Năm

987 (ngày 9 tháng 9 năm thứ tư đời Tống Thái Tông Ung Hy), Lâm Mặc qua đời khi mới vừa 28 tuổi Vào ngày đó, dân chúng đảo Mi Châu xôn xao truyền nhau ràng, họ nhìn thấy trên núi Mi Phong một đám mây ngũ sắc từ từ bay lên, lại dường như nghe thấy trong không trung văng vẳng tiếng nhạc đưa thánh thót Từ đó, bà thường hiển linh, mặc áo đỏ cười chiếu bay trên mặt biển đế cứu trợ những người gặp nạn Vì thế, các hải thuyền bát đầu thờ tượng Ma Tổ để cầu mong ra khơi được thuận lợi bình an

Bà được các triều đại phong kiến Trung Ọuốc sẳc phong, địa vị ngày càng cao từ Phu nhân lên đến Thiên Hậu trở thành một nữ thần có ngôi vị cao nhất của đất nước

Bên cạnh cốt lồi trên, ở Trung Quốc còn có những truyền thuyết khác cho thấy rằng, bà Thiên Hậu không chỉ có tài cứu người gặp nạn trên biển mà quyền năng cứu sinh độ hoá của bà còn thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác như chế ngự thiên tai, bệnh dịch, trừ ác phục thiện, trồng trọt, xâv dựng Dân gian đã không ngừng sáng tạo những truyền thuyết để bồi đắp thêm quyền năng cho vị thần mà họ hết lòng tôn kính, tin tưởng và thờ phụng

2.2 Nguồn gốc lễ vía Bà

Từ truyền thuyết dân gian đã chuyển hóa thành tín ngưỡng và được những thế hệ sau hương khói phụng thờ ở nhiều nơi So những điều ghi ở bia đá nói trên với một số truyền thuyết về bà ở các chùa khác thì có ít nhiều khác biệt, nhưng tựu trung đều ca ngợi, suy tôn bà là một người phụ nữ đức hạnh, có lòng hiếu thảo, xả thân cứu đời, được các triều đại phong kiến Trung Quốc phong tặng Đề cao bà Thiên Hậu, ngưỡng

mộ và phụng thờ bà như một vị hiển thánh, bà con người Hoa muốn thông qua tấm gương của Bà mà giáo dục cộng đồng của mình hãy học tập lòng hiếu thuận, đức nhânhậu của bà, sông có đạo nghĩa

Trang 29

Mặt khác, trên con đường vượt sóng gió biển khơi, đi về hướng Nam tìm đất lập nghiệp đầv gian truân, họ luôn cầu nguyện bà giúp đờ, phù hộ Và sau khi đã định cư,

ổn định đời sống, sum họp đông vui, làm ăn phát đạt trên đất Việt Nam, quê hương thứ hai của họ họ cùng nhau lập đền thờ để tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với Bà và ngày 23 tháne 3 âm lịch hăng năm (ngày sinh của Bà) được cộng đông người Hoa trên khăp thê giới nói chung và tại thành phô Hô Chí Minh nói riêng chọn làm ngày hội đê tưởng nhớ đến công ơn to lớn của Bà

2.3 Miếu Bà - địa điểm tổ chức lễ vía

2.3.1 Lịch sử hình thành Thiên Hậu Miếu

Trong những buồi đầu khó khăn trên bước đườne di cư lập nghiệp tại vùng đất mới, người Hoa đã mang theo nhiều giá trị văn hóa truyền thống của họ cùng du nhập vào vùng đất mới Trong các giá trị ấy thì tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mầu được xem

là điển hình nhất Bà Thiên Hậu được đại bộ phận người Hoa tôn thờ với tấm lòng thành kính Ngày nay, trải qua bao thăng trầm lịch sử, tín ngưỡng này vẫn được lưu giữ và tôn thờ ở cộng đồng này Điều này được thể hiện qua hệ thống các miếu Hoa với chức năng thờ phụng Thiên Hậu Thánh Mầu Các ngôi miếu thờ Thiên Hậu thường xuất hiện ở các nơi mà có các thế hệ người Hoa sinh sống Cộng đồng người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh cũng không nằm ngoài quy luật trên Ngôi miếu Tuệ Thành Hội Quán (còn gọi là Miếu Bà Thiên Hậu) tọa lạc tại số 710 đường Nguyễn Trãi Quận

5 là một minh chứng cho điều này

Miếu Bà Thiên Hậu hay Chùa Bà Thiên Hậu (theo cách gọi của người Việt) cònđược gọi là chùa Bà Chợ Lớn, tên chữ Hán là Thiên Hậu miếu, người Hoa gọi là Phò

của nhóm người Hoa Quảng Đông, nên chùa còn được gọi Tuệ Thà -lội quán, tọa lạc tại số 710 đường Nguvễn Trãi, phường 11, quận 5 Đây là ngôCụiiếu thờ Thiên Hậu Thánh Mầu của cộne đồng người Hoa - Quảng Đông, gốc ở huyện Tuệ Thành (Trung Quốc) Miếu được xây dựng vào năm 1760 Từ đó đến nay, miếu đã được trùng tu nhiều lần nhưng vẫn còn giữ được phong cách của chùa Hoa từ đường nét nghệ thuật kiến trúc, cấu tạo mặt bàng đến vật liệu xây dựng Gạch, ngói, đồ gốm được đem từ vùng Nam Trung Quốc sang

Miếu (tức miếu Đức Bà) Và do bên cạnh chùa có Tuệ Thành Hội c là nơi quy tụ

Trang 30

Ngoài Tuệ Thành hội quán của nhóm người Quảng Đông còn có các chùa Bà khác như Chùa Bà của người Hải Nam (Quvnh Phủ hội quán), chùa Bà của người Hẹ (Quần Tần hội quán), chùa Bà của người Phúc Kiến ( Hà Chương hội quán) , Ôn Lăng Hội Quán Phước An hội quán.

% 2.3.2 Đặc điểm kiến trúc:

Miếu được xây theo hình chữ Quốc, gồm 3 điện thờ chính: tiền điện, trung điện và chính điện Sát 2 bên miếu là Hội quán Tuệ Thành và trường học Nóc miếu được trang trí hoa văn hình hoa lá, hình nhân bằng gốm sứ do hai lò Bửu Nguyên và Đông Hòa sản xuất vào năm Mậu Dần (1908), có cảnh "đả võ đài", "bái tố vinh quy", mô týp

"lưỡng long tranh châu", có hình ảnh tiên đồng, tiên nữ với hàng chữ "hòa hợp nhị tiên" Trong sân miếu có hai con lân đá được chạm từ một khối đá nguyên

Bên trong chùa, có thể nói là một sự phối hợp của nhiều bộ môn điêu khắc, trang trí hội họa khá đa dạng và phong phú phục vụ cho mục đích tôn giáo tín ngưỡng của người Hoa Bên cạnh những tượng tròn được tạc bằng những nét tả thực chân phương, các phù điêu chiếm một vị trí quan trọng trong việc trang trí từ hoành phi, câu đối cho đến bậu cửa vòm mái, những bức chạm lộng và chạm nổi về đề tài chim muông, hoa trái xen lẫn với những đề tài huyền thoại, vừa tạo nên không khí cố kính trang nghiêm, vừa hiện thực, thể hiện hoài bão, ước vọng một cuộc sống thái bình, thịnh vượng nơi

mà những người Hoa di cư đã chọn làm quê hương thứ hai của họ

Gian tiền điện đặt hai trang thờ nhỏ ở hai bên cửa ra vào Bên trái thờ môn quan Vương Tả, bên phải thờ Phúc Đức chánh thần Tại đây cũng có 2 bia đá ghi truyền thuyết về Thiên Hậu Thánh Mầu và bức tranh lớn vẽ cảnh Bà hiển linh trên sóng nước

- Bia công đức ghi lại sự đóng góp trùng tu miếu vào các đời Đạo Quang thứ 8 (1828)

và Đạo Quang thứ 10 (1830); Tự Đức thập nhất niên (1857); Hàm Phong cửu niên (1859); Quang Tự - Mậu Tuất (1898)

Gian trung điện đặt bộ lư phát lam mang niên hiệu Quang Tự thứ 12 (1886) là bộ lư lớn nhất so với những bộ lư ở những miếu khác trong Thành nhố Tại đây cũng có kiệu lớn sơn son thếp vàng hằnp gồ tốt dành để rước Bà trong ngày vía Tại trung điện có treo bức hoành phi "Hàm Hoàng Quang Đại" màu đỏ, kẻ chữ vàng ghi lại năm trùng tu xưa nhất của miếu (1800)

Trang 31

Chính điện là gian chính đặt thờ tượng Thiên Hậu Thánh Mầu Trên trang thờ Bà

có 3 tượng đặt theo thứ tự từ lớn đến nhỏ Vào dịp vía Bà tượng lớn nhất sẽ được cung nghinh ra sân cho bà ngự lãm lễ hội; tượng giữa đặt trên trang thờ và tượng dưới cùng sẽ được đặt vào kiệu đưa đi diễu hành quanh các khu phố vào ngày lễ hội Trên trang thờ treo hàng chữ "Thiên hậu thánh mẫu" bằng vải, thêu chữ nổi Phía trên điện thờ đặt lư hương và có 3 dãv bàn lớn dùng làm nơi đế lễ vật củng Bà

Tại gian chính điện còn đặt 2 đại hồng chung bằng gang: một có niên đại 1795 (đời vua Càn Long thứ 60) và một được đúc năm Canh Tuất 1850 Trong "Thiên Hậu cung" có đặt một thuyên gô ở góc, treo cờ ghi 4 chữ "phô độ chúng sanh" dùng đê rước theo cùng kiệu Bà vào ngày vía Bà hàng năm Hai bên trang thờ Bà còn đặt trang thờ Kim Huê nương nương (Mẹ Sinh, Mẹ Đậu) bên phải và Long Mầu nương nương bên trái Gian phụ đặt thờ Quan Thánh Địa Tạng, Thần Tài Tủ kính lớn tại gian chính điện đặt tượng Bát Tiên và tướng lệnh do Ariès ký tên cấm các binh sĩ Pháp và Y-Pha- Nho phá phách miếu, tướng lệnh được lưu giữ từ năm 1860 Ngoài các hiện vật quý, trong miếu còn có các pháp khí như: đỉnh trầm, lư trầm, lư hương bằng đá sa thạch

do người Hoa thành kính tín ngưỡng Bà đã dâng cúng

Ngoài những vật liệu xây dựng mang từ vùng Nam Trung Quốc sang, ở Chùa Bà Thiên Hậu còn có nhiều tượng gốm nung với nghệ thuật thể hiện sắc sảo từ những đề tài lịch sử trong các tiểu thuyết cổ Trung Quốc như Tam Quốc Chí, Đông Chu Liệt Quốc Các nhóm tượng đất nung này được bố trí một cách hài hòa với các hình tượng thuộc đề tài cồ điển khác như “tứ linh” (long, lân, quy, phụng) ‘iưỡng long tranh châu”, “bái tổ vinh quy” Các mẫu vật trang trí bằng gốm màu này được bố trí dọc trên các đường diềm mái ngói, trên nóc chùa rêu phong tạo nên vẻ đẹp đa dạng pha màu huyền thoại, làm tăng thêm tính chất mỹ thuật cũng như nội dung tính ngưỡng của công trình

Ngày 07/01/1993, miếu được công nhận là di tích kiến trú

theo quyết định số 43-VH/QĐ của Bộ Văn hóa thông tin

2.3.3 Chùa Bà trong đòi sống tín ngưõng của cộng

phố Hồ Chí Minh.

nghệ thuật cấp quốc gia

2.3.3.1 Chùa Bà là cơ sở tín ngưỡng

Trang 32

Neười Hoa đến Chùa Bà để thực hiện các nghi thức tôn giáo tín ngưỡng qua đó bày

tỏ lòng tôn kính, biết ơn đến Bà Thiên Hậu , cầu mong sự giúp đỡ phù hộ của Bà Ngoài việc cầu xin cho công việc làm ăn được thuận lợi nhiều người Hoa đến chùa để cầu cho sức khỏe, sự bình anh hạnh phúc của cá nhẳnTgia đình và họ hàng Câu xin thánh thần cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an Với những lý do này, họ cầu khẩn và thắp hương ở hầu hết các bàn thờ trong chùa Ngoài ra Chùa Bà còn là nơi tổ

1 Chúc tết tập thể Mồng 2 tết Tất cả thành viên trong Ban quản trị (BỌT)

gặp mặt chúc tết với nhau, sau khi chúc têt tập thể xong, ca ban quản trị đến các hội quán chúc tết đê thắt chặt mối đoàn kết trong cộng đồng người Hoa

2 Tế thánh đầu xuân Mồng 4 tết Toàn thể thành viên BQT cúng Thánh

mẫu Thiên Hậu, cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an

3 Khánh đăng Mồng 8 tết Từ năm 1967 bẳt đầu tố chức đấu thầu lồng

đèn Thánh Mầu, để làm quĩ kinh phí cho các công tác từ thiện xã hội, mồi năm nhắm một mục tiêu hoạt động khác nhau, như đấu thầu để tu sửa của Miếu, xây dựng nhà bảo Sanh, mở rộng 2 trường tuệ thành và trường phục Hưng Từ năm 1976, đã ngưng hoạt động đấu thầu lồng đèn, chỉ còn duy trì lễ cúng Thiên Hậu thôi

( hạ đèn)

Mồng 10 tết Toàn thê BQT cúng Thiên Hậu, báo cáo

kết quả đấu thầu lồng đèn và kết thúc hoạt động đầu tiên

5 Vía thần thổ địa Mồng 2 tháng 2 Thần Thổ địa là phúc đức chánh thẩn,

Môn thần là thần Hữu Đức ty Chuyên, đều đặt bàn thờ ở hai bên trước của trung môn toàn thề ban quản trị cúng tế môn Thần và thần Thổ Địa

6 Tế xuân Trước Thanh minh Với tinh thần tôn sùng tố đức, thận

chung truy viễn, hàng năm BQT đều đến nghĩa trang Quảng Triệu ở Lái thiêu cúng tiên hiền Từ năm 1975 đến nay không hề gián đoạn

7 Vía Thiên Hậu 23 tháng 3 Là ngày lễ hội chính của Miếu, để tiện

cho thiện tính đến cúng tế, BQT xưa nay vẫn làm lễ cúng trước một ngày ( 22 tháng 3 ) Sáng sớm hôm đó BQT ăn mặc chỉnh tề Dưới sự dẫn dắt của trưỏng

ban quản trị, chuẩn hi đầv đủ tam sinh hoa quả xếp thành hàng dài trưóc đại sảnh, đọc vang chúc từ thành kính cúng

tế Thiên Hậu, chiều tối mỏ’ tiệc chiêu đãi tuấn hiền thân sĩ trong cộng đồng Quảng

Ngày đăng: 06/01/2022, 18:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1  :  Bảng số liệu  các nhóm người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh ' - Lễ vía bà thiên hậu   nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng người hoa thành phố hồ chí minh khóa luận tốt nghiệp đại học
ng 1 : Bảng số liệu các nhóm người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh ' (Trang 14)
Bảng  3  :  Bảng  số  liệu  các  lễ  hội  trong  năm  của  Miếu  Thiên  Hậu  Tuệ  Thành  Hội  Quán17. - Lễ vía bà thiên hậu   nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng người hoa thành phố hồ chí minh khóa luận tốt nghiệp đại học
ng 3 : Bảng số liệu các lễ hội trong năm của Miếu Thiên Hậu Tuệ Thành Hội Quán17 (Trang 33)
Bảng cồng nhận di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc Gia  (nguồn:  www.ttvhq5.com.vnJ - Lễ vía bà thiên hậu   nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng người hoa thành phố hồ chí minh khóa luận tốt nghiệp đại học
Bảng c ồng nhận di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc Gia (nguồn: www.ttvhq5.com.vnJ (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm