Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử và sự kế thừa tư tưởng giáo dục Việt Nam hiện nay
Trang 1MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài ……… …
2 Mục đích, nhiệm vụ của tiểu luận………
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu……….…
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu………
B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ 1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng giáo dục của Khổng Tử………
1.1.1 Hoàn cảnh kinh tế- xã hội Trung Quốc cổ đại với việc hình thành tư tưởng giáo dục của Khổng Tử………
1.1.2 Quan niệm về bản tính con người của Khổng Tử với việc hình thành tư tưởng giáo dục của ông ………
1.2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử………
1.2.1 Mục đích và đối tượng giáo dục của Khổng Tử………
1.2.1.1 Mục đích giáo dục……….…
1.2.1.2 Đối tượng giáo dục………
1.2.2 Nội dung giáo dục của Khổng Tử………
1.2.3 Phương pháp giáo dục của Khổng Tử………
2.2 Những giá trị và hạn chế trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử………
Chương II KẾ THỪA TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 2.1 Sơ lược về nền giáo dục qua các triều đại trong lịch sử Việt Nam………
2.2 Sự kế thừa tư tưởng giáo dục của Nho giáo ………
2.3 Bài học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của nước ta hiện nay C KẾT LUẬN………
D TÀI LIỆU THAM KHẢO………
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ xưa đến nay, con người luôn là vấn đề cốt lõi, vấn đề thiết yếu của lịch sử tưtưởng nói chung và của triết học nói riêng Việc nghiên cứu tư tưởng về con người tronglịch sử để tìm ra những hạn chế và giá trị tích cực, từ đó góp phần vào việc xây dựng conngười hiện tại và tương lai
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta, Đảng ta xác định con người là một trong nhữngnhân tố quyết định hàng đầu tới sự phát triển của đất nước Con người mới mà hiện naytoàn Đảng, toàn dân ta đang quyết tâm xây dựng là con người phát triển toàn diện về mọimặt: thể chất, trí tuệ, đạo đức,…Quán triệt tư tưởng trên, Nhà nước và nhân dân ta đã tậptrung huy động toàn bộ lực lượng xã hội tham gia vào nhiệm vụ xây dựng con người mới,trong đó có việc tiếp thu các giá trị truyền thống tốt đẹp và tinh hoa văn hóa nhân loại Mộttrong những tư tưởng quý báu trong kho tàng nhân loại, thấm đẫm truyền thống phươngĐông, có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành con người Việt Nam thời phong kiến chính
là tư tưởng giáo dục của Khổng Tử Khổng học là một học thuyết chính trị- xã hội luôn lấyđức làm trọng, là công cụ quản lý xã hội của giai cấp thống trị Trung Quốc Với rất nhiềugiáo lý phù hợp với xã hội Việt Nam, Khổng học từng bước được giai cấp thống trị ViệtNam tiếp nhận và đề cao, đặc biệt trong quản lý đất nước, đào tạo con người Thời gian vừaqua, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc xây dựng và phát triển conngười, bên cạnh đó còn bộc lộ nhiều hạn chế đáng lo ngại Chẳng hạn, sự yếu kém về thểchất; sự tụt hậu về tri thức, khoa học công nghệ; đặc biệt là sự tha hóa đạo đức, lối sống,…Những hạn chế này có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có nguyên nhân từ việc chúng taquá đề cao và hướng theo các giá trị hiện đại, mà bỏ quên hay kế thừa chưa hiệu quả các giátrị truyền thống, cũng như các tinh hóa văn hóa nhân loại, trong đó có tư tưởng giáo dục củaKhổng Tử Nếu chúng ta biết kế thừa có chọn lọc những nhân tố có giá trị trong tư tưởnggiáo dục của Khổng Tử thì sẽ có được nhiều bài học kinh nghiệm quý giá, góp phần giảiquyết những vấn đề đặt ra trong xây dựng con người mới hiện nay Từ ý nghĩa đó, tôi quyết
định chọn đề tài: “Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử và sự kế thừa tư tưởng giáo dục Việt
Trang 3Nam hiện nay” làm tiểu luận của mình.
2 Mục đích, nhiệm vụ của tiểu luận
* Mục đích Tiểu luận là làm rõ tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, đồng thời nêu lên
sự kế thừa trong nề giáo dục của nước ta
* Để thực hiện được mục đích trên, Tiểu luận thực hiện một số nhiệm vụ: Trình bày
và phân tích có hệ thống nội dung cơ bản trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử; Nêu ýnghĩa giáo dục tư tưởng của Khổng Tử và sự kế thừa ở nước ta hiện nay
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Trong Tiểu luận này, tôi chỉ đề cập đến tư tưởng giáo dục của Khổng Tử; vai trò củanhững tư tưởng này ở nước ta
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Tiểu luận thực hiện trên cơ sở các tác phẩm của Khổng Tử; một số tác phẩm vàcông trình nghiên cứu tiêu biểu về Khổng Tử; nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng conngười mới ở nước ta Tiểu luận dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng HồChí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về con người và về chiến lược xây dựng
và phát triển con người
- Tiểu luận dựa vào phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin, đồng thời sửdụng các phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp
so sánh, phương pháp thống kê…
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng giáo dục của Khổng Tử
1.1.1 Hoàn cảnh kinh tế- xã hội Trung Quốc cổ đại với việc hình thành tư tưởng giáo dục của Khổng Tử
Như chúng ta đã biết, sự xuất hiện của mỗi học thuyết, tư tưởng không phải là ngẫunhiên hay từ hư vô, mà luôn có cơ sở khách quan của nó Trong đó có điều kiện về kinh tế-
xã hội chi phối
Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng giáo dục của Khổng Tử cũng không phải
là một ngoại lệ, nằm ngoài quy luật trên Do đó, muốn nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng Khổng
Tử không thể không đi vào nghiên cứu, tìm hiểu điều kiện kinh tế- xã hội, văn hóa, chính trịcủa thời kỳ Xuân thu- Chiến quốc- thời đại mà tư tưởng Khổng Tử nói chung cũng như tưtưởng giáo dục của Khổng Tử nói riêng nảy sinh, hình thành và phát triển Khổng Tử sốngtrong thời kỳ Xuân thu- Chiến quốc (770-221T.CN), thời kỳ xã hội Trung Quốc đang cónhững chuyển biến hết sức căn bản Chế độ chiếm hữu nô lệ theo kiểu phương Đông màđỉnh cao là chế độ “tông pháp” nhà Chu đang suy tàn, chế độ phong kiến sơ kỳ đang hìnhthành Thời kỳ Xuân thu được đánh dấu bằng sự kiện Chu Bình Vương dời đô về phía Đôngđến Lạc Ấp (năm 771 T.CN)
Về mặt kinh tế, thời kỳ này nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời kỳ đồ đồngsang thời kỳ đồ sắt Sự ra đời của đồ sắt như một cuộc cách mạng trong công cụ sản xuất,tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng trênnhiều lĩnh vực Trong đó nông nghiệp là một ngành kinh tế có truyền thống lâu đời và giữvai trò hết sức quan trọng ở Trung Quốc Cùng với nông nghiệp và thủ công nghiệp, đồ sắt
ra đời và trở nên phổ biến còn tạo cơ sở cho thương nghiệp phát triển hơn trước, hoạt độnggiao lưu buôn bán diễn ra sôi động Tiền tệ đã xuất hiện, xã hội hình thành lớp thương nhânngày càng có thế lực như Huyền Cao nước Trịnh, Tử Cống (vốn là học trò Khổng Tử)…
Về chính trị, những biến đổi về mặt kinh tế tất yếu dẫn đến những biến đổi về mặtchính trị trong thời Xuân thu Trong thời đại lịch sử đầy biến động của thời kỳ Xuân thu-Chiến quốc đó đã đặt ra cho các nhà tư tưởng những dấu hỏi lớn về mặt triết học, chính trị,
Trang 5luân lý đạo đức, pháp luật, quân sự,… đòi hỏi các nhà tư tưởng phải có những tìm hiểu,nghiên cứu để đưa ra những câu trả lời, đưa ra những giải pháp giải quyết những vấn đềthực tiễn xã hội lúc bấy giờ.
Thời kỳ này đã xuất hiện hàng loạt các nhà tư tưởng lớn và học thuyết lớn Nó là thời
kỳ phát triển rực rỡ của triết học Trung Quốc, nhiều nhà nghiên cứu gọi đây là thời kỳ
“bách hoa đề phóng, bách gia tranh minh” (trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng)
1.1.2 Quan niệm về bản tính con người của Khổng Tử với việc hình thành tư tưởng giáo dục của ông.
Cùng với hoàn cảnh Khổng tử- xã hội lúc bấy giờ, một trong những cơ sở không kémphần quan trọng làm nảy sinh, hình thành và phát triển tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, đó
là quan niệm về bản tính con người
Vấn đề bản tính con người là một vấn đề trung tâm và gây tranh cãi nhiều nhất trongtriết học Trung Quốc cổ đại nói chung cũng như Nho giáo và Khổng Tử nói riêng Mạnh Tửcho rằng bản tính con người là thiện Mạnh Tử viết: “cái bản tính của người ta vốn thiện,cũng như bản tính của nước là chảy xuống vậy Không một người nào sinh ra mà tự nhiênbất thiện; cũng như thế, không một thứ nước nào mà không chảy xuống thấp” Ông chorằng biểu hiện của tính thiện ở con người trong xã hội là: nhân, lễ, nghĩa, trí Ngược lại vớiMạnh Tử, Tuân Tử khẳng định bản tính con người là ác Theo Tuân Tử, cái tham lam, íchkỷ; cái gian ác, đố kỵ; cái dâm loạn là thuộc về bản năng vốn có của con người Ông đề xuấtphép trị nước là giáo hóa dân, kết hợp giữa lễ giáo và hình phạt nhằm khắc chế tính ác,hướng thiện cho con người
Đối lập với cả Mạnh Tử và Tuân Tử, Cáo Tử cho rằng: “cái tính tự nhiên của conngười chẳng phải thiện, cũng chẳng phải bất thiện” Theo ông, tính ban đầu nguyên thủycủa con người là một cái gì đó thuần phác, mộc mạc, không phân biệt thiện với bất thiện
Còn theo Lão- Trang thì Đạo là bản nguyên của vạn vật, tất cả mọi vật đều từ đạo mà
ra và đề trở về với nguồn gốc là đạo Do đó, Lão- Trang cho rằng tính của vạn vật sinh ra đã
có, là tính của tự nhiên Nếu tính đó bị nhiễm một cái gì như nhân, nghĩa,… thì không còn
là tính nữa Mặc dù có nhiều điểm khác nhau như trên nhưng khát quát lại chúng ta vẫn thấy
có nhiều nét tương đồng, giống nhau cơ bản
Trang 6Thứ nhất, họ đều cho rằng bản tính con người là cái tính, trời sinh ra đã vốn có ở
tâm, mang tính “tiên thiên” chứ không do con người tự lựa chọn Khổng Tử đã nói: con
người ta sinh ra, cái bản tính vốn ngay thật, (nhân chi sinh giã trực); Mạnh Tử cũng viết: con người sinh ra vốn bản tính là thiện, (nhân chi sơ tính bản thiện)
Thứ hai là, họ đều quan niệm tính gắn liền với tâm của con người Theo họ, “Tâm”
là thể, thì “Tính” là lý của tâm, tâm là cái ẩn dấu ở bên trong, còn tính là cái biểu hiện rabên ngoài qua các đức tính của con người như thiện, ác, nhân, nghĩa, lễ,… Nếu đem “tâm”
và “tính” ấy mà biểu lộ thành thái độ của con người đối với sự vật, với người khác thì gọi là
“tình”; “tình” gồm có: ái, ố, hỉ, nộ, lạc, bi, ai
Thứ ba là, mặc dù đều xem bản tính con người là tiên thiên, là cái có sẵn, nhưng họ
cũng đều khẳng định bản tính con người có thể thay đổi được, “cải biến” được và họ đềuchủ trương giáo hóa con người theo nhiều cách khác nhau
Trong số các nhà triết học quan tâm đến vấn đề bản tính con người, có thể nói,Khổng Tử là người đầu tiên trong thời Xuân thu đề cập đến vấn đề này, nhưng trong họcthuyết ông lại rất ít đề cập về vấn đề này Khổng Tử còn cho rằng: “người ta tất thảy đềugiống nhau, vì ai nấy đều có bản tính ngay thật; nhưng bởi nhiễm thói quen, nên họ thành rakhác nhau”
Do vậy, để mọi người gần nhau và trở lại bản tính ban đầu, tức là bản tính vốn lành,ngay thẳng, làm cho xã hội vô đạo trở về với hữu đạo, Khổng Tử chủ trương giáo hóa, mọingười phải học tập, tu dưỡng hướng tới những điều nhân nghĩa để giữ bản tính thiện củamình, xa rời cái ác, cái bất nhân, hiểu được cái đạo và trở về với đạo thì xã hội sẽ tốt đẹphơn
1.2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử
Khổng Tử rất coi trọng giáo dục Ông khẳng định, ai cũng cần phải được giáo dục:Vua cũng cần phải học để làm vua, dân cũng cần phải học để làm dân Nếu không đượcgiáo dục thì dù có giỏi đến đâu dần dần cũng sẽ bị ngu muội Tuy còn nhiều hạn chế nhưng
có thể nói Khổng Tử là người đầu tiên đã xây dựng được một hệ thống tư tưởng giáo dụckhá hoàn chỉnh cả về mục đích, đối tượng, nội dung và phương pháp Thể hiện một tầmnhìn chiến lược và sâu sắc, để lại cho loài người nhiều kinh nghiệm quý báu về giáo dục
Trang 71.2.1 Mục đích và đối tượng giáo dục của Khổng Tử
1.2.1.2 Đối tượng giáo dục
Xuất phát từ quan điểm bản tính con người là giống nhau, do tập quán, thói quensống mà làm cho bản tính khác nhau, chỉ có thông qua giáo dục mới làm cho mọi ngườiquay về với bản tính vốn có của mình, Khổng Tử đã đưa ra tư tưởng hết sức tiến bộ, đó là:
“Hữu giáo vô loại” Mỗi học giả đều giải thích theo cách hiểu riêng của mình nhưng chungquy lại đều thống nhất thừa nhận tư tưởng của Khổng Tử là: mọi người đều được giáo dụckhông phân biệt giai cấp, thiện ác, và được giáo dục là quyền lợi của tất cả mọi người.Chính vì vậy, hạng người nào đến xin học Khổng Tử đều nhận dạy Ông nói: “Nếu có kẻthô bỉ đến hỏi ta, dầu là kẻ tối tăm mờ mịt tới đâu, ta cũng đem hai bề từ đầu chí đuôi màdẫn giải cho thật tường tận mới nghe” (Hữu bỉ phu vấn ư ngã, không không như giã, giãkhấu kỳ lưỡng đoan, nhi kiệt yên) Thậm chí Khổng Tử cũng sẵn sàng dạy cho cả nhữngngười ác nghịch, khó dạy Như vậy có thể nói, đối tượng giáo dục của Khổng Tử, một mặt,
Trang 8mang tính chất bình đẳng và hết sức tiến bộ, nhưng mặt khác, nó không vượt qua được hạnchế bởi tầm nhìn lịch sử và bởi tính chất hết sức nghiệt ngã của chế độ phong kiến.
1.2.2 Nội dung giáo dục của Khổng Tử
Xuất phát từ quan niệm bản tính con người là ngay thẳng, là thiện; cũng như quan niệm cho rằng nguyên nhân của “vương đạo suy vi, bá đạo nổi lên” là ở con người Do con người không có “đạo”, làm trái với “đạo” “Đạo” mà Khổng Tử nói đến ở đây thực chất là đạo đức của con người hay “đạo làm người” Con người không có “đạo” mới dẫn đến chuyện tranh giành quyền lực, địa vị, đất đai, chém giết lẫn nhau làm cho kỷ cương phép tắc đảo lộn, làm cho xã hội rối loạn Để cho xã hội trở lại thanh bình, theo Khổng Tử phải làm cho con người có “đạo”, làm theo “đạo” Trong đó, nội dung giáo dục cốt lõi nhất, quan trọng nhất là Nhân, Lễ và Chính danh định phận Nhân vốn là một phạm trù đạo đức của quý tộc chủ nô thời Ân, Thương, bao gồm nhiều nội dung như việc tuân theo ông cha, yêu con người, làm lợi cho đất nước, che chở cho dân,…nhưng những nội dung đó chưa trở thành một hệ thống chặt chẽ mà là những nội dung riêng rẽ Khổng Tử đã kế thừa tư tưởng Nhân của người trước, đồng thời bổ sung cho Nhân những nội dung mới, biến nó trở thành một hệ thống chặt chẽ, rộng lớn bao trùm tất thảy các phạm trì khác như Trung thứ, Trí, Dũng, Nghĩa, Hiếu đễ, Khoan thứ,… và chứa đựng toàn bộ tư tưởng của ông về đạo trị nước an dân, đạo làm người Nhân trong tư tưởng Khổng Tử đó là yêu người Nhân còn có nghĩa là Trung thứ Tức là cái gì mà mình muốn làm thì cũng phải giúp người khác được như vậy Nhân còn bao gồm Hiếu đễ Hiếu đễ là tiêu chuẩn trong gia đình Hiếu là tiêu chí của con cái đối với cha mẹ Đễ là tiêu chí của người em đối với anh chị và người lớn tuổi.
Khổng Tử xem Hiếu đễ là cái gốc của nhân Đức Nhân là bậc thang giá trị cao nhất trongthang bậc đạo đức của con người Theo Khổng Tử, chỉ có người nhân mới có thể có đượccuộc sống an vui lâu dài với lòng nhân của mình và dẫu có ở vào hoàn cảnh nào, cũng cóthể yên ổn, thanh thản Đối với lễ tế, Khổng Tử khẳng định lễ tế rất quan trọng đối vớingười quân tử, nếu biết lễ tế thì việc cai trị thiên hạ hết sức dễ dàng, giống như bỏ một vậtlên tay mình: “Người nào biết ý nghĩa của cuộc tế lễ thì tri thiên hạ cũng như coi bàn taymình” (Bất tri giã tri kỳ thuyết giả chi ư thiên hạ giã, kỳ như thị chư tư hồ Chỉ kỳ chưởng)
Do vậy, Khổng Tử dạy học trò phải có sự kính cẩn, nghiêm túc, cẩn thận trong khi hành lễ
Trang 9Nội dung quan trọng nhất của Lễ mà Khổng Tử giáo dục học trò là pháp điển của chế độphong kiến Ngay từ đầu, mục đích của Khổng Tử là biến xã hội từ “loạn thành trị” cho nênviệc giảng dạy Lễ của Khổng Tử cũng không nằm ngoài mục đích chính trị mà ông theođuổi Khổng Tử giáo dục học trò cách thức và biện pháp để có thể khôi phục và củng cố lễchế nhà Chu Khổng Tử là người đã đem lễ tiết nhà Chu cải biến thành một phạm trù đạođức được coi là mực thước cho các hành vi của con người trong xã hội Một nội dung quantrọng nữa trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử là tư tưởng “Chính danh định phận” Bêncạnh việc giảng dạy đạo lý, đạo làm người, Khổng Tử còn dạy học trò văn chương và lụcnghệ “Văn” là gồm thi, thư, lễ, nhạc, xuân thu; còn “Lục nghệ” là nội dung chương trìnhcác trường công lúc bấy giờ gồm sáu môn: lễ, nhạc, xạ (bắn cung), ngự (đánh xe), thư (viếtchữ), số (toán pháp) Như vậy, trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, cùng với quan điểm
về vũ trụ và con người, học thuyết về luân lý, đạo đức, chính trị- xã hội là một trong nhữngvấn đề cốt lõi và là thể thống nhất gắn bó hữu cơ với nhau Những phạm trù đạo đức cănbản nhất trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử là nhân, lễ, nghĩa, và một hệ thống quanđiểm chính trị- xã hội như: nhân trị, chính danh, quân tử, tiểu nhân
1.2.3 Phương pháp giáo dục của Khổng Tử
Trong quá trình dạy học rất nhiều năm của mình, Khổng Tử đã sử dụng rất nhiềuphương pháp, nhưng trong phạm vi Tiểu luận, tác giả xin được nêu ra một số phương pháp
cơ bản như sau:
Phương pháp dạy tùy đối tượng: Đây chính là phương pháp sau này được Nho giáo
khát quát thành tư tưởng “Nhân tài thì giáo”, tức là căn cứ vào tài năng, phẩm chất từngngười để giáo dục Đối tượng giáo dục của Khổng Tử rất khác nhau: có người nhiều tuổi,người ít tuổi, có người giàu, có người nghèo, có nhiều người có tính cách và xu hướngchính trị khác nhau
Phương pháp kết hợp học với suy nghĩ: Trong quá trình dạy học, Khổng Tử luôn
khích lệ học trò tự suy nghĩ, người thầy chỉ giữ vai trò hướng dẫn Có như vậy học trò mớiphát triển được: “Học mà chẳng suy nghĩ thì chẳng được thông minh Suy nghĩ mà chẳngchịu học thì lòng dạ không được yên ổn” (Học nhi bất tư, tắc võng; tư nhi bất học, tắc đãi)
Phương pháp kết hợp học với tập: là phương pháp kết hợp học với việc tập luyện,
Trang 10thực hành những điều đã học và đem tri thức đã học vận dụng vào cuộc sống Ông dạy họctrò phải luôn luôn luyện tập và không được quên những điều đã học được.
Phương pháp học kết hợp với hành: Khổng Tử yêu cầu học trò học phải gắn với
hành, tức là phải vận dụng những kiến thức đã học vào trong cuộc sống Tri thức lý luận chỉmới nếu ra những nguyên tắc định hướng còn thức hành mới giúp cho người học đạt đạo
Phương pháp nêu gương: Theo Khổng Tử, nhân cách của người thầy có sức thuyết
phục mạnh mẽ đối với người học, người học nhìn vào tấm gương người thầy mà tin rằngnhững điều thầy dạy là chân lý, là những điều tốt đẹp Cho nên, để trở thành tấm gương chohọc trò thì người thầy phải là người phải đi trước
2.2 Những giá trị và hạn chế trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử
Mặc dù tư tưởng giáo dục của Khổng Tử có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển của Trung Quốc và nhiều nước châu Á khác, những ảnh hưởng đó không đơn thuần mang tính
tích cực mà bên cạnh đó có những hạn chế
Trước hết về mục đích giáo dục: như đã trình bày ở trên, mục đích giáo dục bao trùm
của Khổng Tử là nhằm đào tạo những con người phù hợp với địa vị xã hội mà mình có, nghĩa là sống đúng với danh của mình Nếu tầng lớp thường dân được giáo dục để biết phục tùng người trên, thì người quân tử được giáo dục để làm người cai trị Trong đó, Khổng Tử
ưu tiên cho mục đích đào tạo lớp người cai trị.
Về đối tượng giáo dục: với tư tưởng “hữu giáo vô loài”, có thể nói, Khổng Tử là
người đầu tiên chủ trương “bình dân” trong giáo dục Ông đã vượt qua đẳng cấp, danh phận trong xã hội góp phần đưa sự nghiệp giáo dục con người đến với mọi lớp người ở mọi phạm
vi và trình độ Ông đã phá vỡ đặc quyền của tầng lớp quan lại, quý tộc làm cho giáo dục
Trang 11quyền được giáo dục và xã hội cần giáo dục cho tất cả mọi người.
Về nội dung giáo dục: nội dung chủ yếu mà Khổng Tử muốn truyền dạy cho mọi
người là giáo dục “đạo làm người” Trong bối cảnh hỗn loạn của thời kì Xuân Thu- ChiếnQuốc khi trật tự xã hội bị đảo lộn, đạo đức bị suy đồi, nhân luân xáo trộn…thì việc Khổng
Tử đưa ra nội dung giáo dục đạo đức cho con người là hết sức quan trọng và có ý nghĩa tolớn nhằm thiết lập sự ổn định của xã hội Khổng Tử coi trọng dạy luân lý, đạo đức cho conngười, khiến con người sống hoà thuận Nội dung cơ bản trong giáo dục Khổng Tử còn chútrọng giáo dục trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân đối với gia đình và xã hội, chú trọng đếncác giá trị tinh thần, danh dự, đạo đức và khí tiết
Về phương pháp giáo dục: Nhìn chung, trong phương pháp giáo dục của Khổng Tử
chứa đựng rất nhiều điểm tích cực và tiến bộ Chú trọng khơi dậy tính tích cực, chủ động,sáng tạo của người học thông qua phương pháp thảo luận, tranh luận giữa thầy và trò là ưuđiểm nổi bật trong phương pháp dạy và học của Khổng Tử Điểm tiến bộ tiếp theo trongphương pháp giáo dục của Khổng Tử là phương pháp phân lớp các đối tượng trong quátrình dạy học nhằm trang bị kiến thức phù hợp với khả năng của từng cá nhân để đạt đượchiệu quả cao nhất
Tóm lại: Qua việc nhận thức những cơ sở kinh tế - xã hội cho sự hình thành tư tưởnggiáo dục của Khổng Tử, đặc biệt với việc đưa ra học thuyết tính người - một trong nhữngđiểm xuất phát quan trọng để từ đó Khổng Tử đưa ra các nội dung cơ bản trong tư tưởnggiáo dục từ mục đích, đối tượng cho đến nội dung, phương pháp Những nội dung chủ yếutrong tư tưởng về giáo dục Khổng Tử đã vượt ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc cùng với họcthuyết đức trị của ông đã có ảnh hưởng sâu đậm đến Việt Nam trong suốt thời kì phong kiến
cũng như trong giai đoạn hiện nay
Chương II KẾ THỪA TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
2.1 Sơ lược về nền giáo dục qua các triều đại trong lịch sử Việt Nam
Cùng với sự thăng trầm của xã hội Việt Nam, tư tưởng Nho giáo nói chung và tưtưởng về giáo dục của Khổng Tử nói riêng trong những giai đoạn lịc sử là khác nhau, bởi vì
Trang 12lúc này ở Việt Nam tồn tại "tam giáo đồng nguyên" trong đó Nho và Phật thay nhau vai trò
chủ đạo trong xây dựng xã hội
Đến thời Trần, con đường khoa cử mở ra để giải quyết đào tạo quan lại đã nhanhchóng chiếm ưu thế Số người tiến thân bằng con đường cử nghiệp nhiều hơn, danh nhođông đảo hơn cái thời trước Thời Trần cũng xác định hơn nội dung học tập thi cử là cácKinh điển hình thành vào thời Chu Hy về sau Trong gần 4 thế kỷ tồn tại của hai vươngtriều này, chỉ tổ chức được 15 khoa thi, lấy đỗ được 60 người Triều Hồ tuy tồn tại ngắnngủi nhưng cũng tổ chức được ba khoa thi với 15 người đỗ Sang thời Lê, việc mở các khoathi để tuyển chọn đội ngũ quan lại mới được chú trọng hơn Trong 32 năm của ba triều vuaLê: Thái Tổ, Thái Tông và Nhân Tông (1426 - 1459) đã có 9 khoa thi với 107 người đượcnêu tên trên bảng vàng
Phải đến thời Lê Thánh Tông, chế độ khoa cử Nho học mới được mở rộng và đi vào
nề nếp, bởi thi cử là biện pháp quan trọng nhất để tuyển chọn được tương đối xác đáng độingũ quan lại tài năng, làm rường cột cho các hoạt động của nhà nước Lê Thánh Tông mongmuốn tạo được một bộ máy quan lại gồm những con người ưu tú trong giới trí thức Nho họcđược chọn lọc kỹ càng làm chỗ dựa vững chắc cho triều đình, bởi vậy trong buổi "lễ ăn thề"với thượng thư các bộ vào mùa đông năm Quang thuận thứ 4 (1463), ông dẫn lại lời của Tư
Mã Quang "người quân tử là cội gốc để tiến lên việc trị bình, kẻ tiểu nhân là thềm bậc để đi đến hoạ loạn" cho nên "ta và các ngươi đã thề với trời đất dùng người quân tử, bỏ kẻ tiểu nhân, ngày đêm chăm chăm không lơi" Việc trong thi cử, trọng nhân tài Nho học dưới thời
Lê Thánh Tông còn được lưu lại bằng những tư tưởng đúng đắn trong Văn Bia tiến Sĩ, "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà vươn cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp Bởi vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài kén chọn kẻ sĩ, vun chồng nguyên khí là việc đầu tiên Kẻ
sĩ đối với quốc gia quan trọng là thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ sẽ không biết thế nào là cùng việc lớn trong chính trị của đế vương chẳng gì bằng gặp nhân tài, chế độ nhà nước muốn được kỹ càng, tất phải đợi ở bậc thánh Bởi vì làm chính trị mà không cốt ở nhân tài, chế độ mà không nhờ ở bậc thánh thì mọi việc còn làm cẩu thả, sao có thể đạt tới chính trị phong hoá phồn vinh, văn vật điển chương đầy đủ".