1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn – so sánh với quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

12 312 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 98,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm thủ tục rút gọn 1.1 Định nghĩa Thủ tục rút gọn là thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với những vụ án về tội phạm ít nghiêm trọng, sự việc phạm tội đơn giản

Trang 1

MỞ ĐẦU

Thủ tục rút gọn là một trong những thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự Tuy nhiên ở nhiều địa phương thì thủ tụ

c rút gọn trong tố tụng hình sự hầu như đã bị bỏ quên Thực tế là tỷ lệ vụ án hình sự được áp dụng theo thủ tục rút gọn trên tổng số vụ án khởi tố, điều tra là rất thấp, chỉ khoảng 0,5%1 Nguyên nhân là do có một số quy định bất hợp lý khiến thủ tục rút gọn không thể đi vào đời sống pháp luật Do đó em xin phép chọn đề tài: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn – so sánh với quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

NỘI DUNG

1 Khái niệm thủ tục rút gọn

1.1 Định nghĩa

Thủ tục rút gọn là thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với những vụ án về tội phạm ít nghiêm trọng, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, có căn cước, lai lịch rõ ràng nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự và quyền lợi hợp pháp của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật

1.2 Đặc điểm

Thứ nhất, chỉ giải quyết khi có đủ điều kiện Pháp luật tố tụng của mỗi quốc gia đều quy định điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn có sự khác nhau nhưng về cơ bản chỉ

áp dụng thủ tục này với những tội phạm ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội đơn giản,

rõ ràng, mức hình phạt áp dụng không cao, hậu quả pháp lý mà bị can, bị cáo phải gánh chịu không lớn và nếu có sai sót trong việc giải quyết thì hậu quả cũng dễ khắc phục

Thứ hai, rút gọn thời hạn Một đặc trưng của thủ tục rút gọn là thời hạn tố tụng theo thủ tục này có sự rút ngắn so với thủ tục thông thường Đối với một số vụ án

1 Theo Báo cáo số 205/TANDTC-KHXX ngày 02/10/2012 của Tòa án nhân dân tối cao

Trang 2

đáp ứng các điều kiện nêu trên, việc quy định thủ tục chung để giải quyết có thể gây

ra sự lãng phí không cần thiết Do vậy, pháp luật quy định một thời gian tố tụng ngắn hơn thời hạn thông thường, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng xử lý vụ án nhanh chóng nhằm đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm

Thứ ba, trình tự thủ tục đơn giản Vì thủ tục rút gọn có sự rút ngắn về thời gian

tố tụng nên pháp luật cho phép người tiến hành tố tụng không phải tiến hành một số hoạt động tố tụng nhất định và vì vậy mà trình tự thủ tục trở nên đơn giản hơn

1.3 Ý nghĩa

Khi áp dụng thủ tuc rút gọn sẽ rút ngắn được đáng kể thời hạn điều tra, truy tố

và xét xử nhưng vẫn đảm bảo được yêu cầu về xử lý tội phạm, góp phần thiết thực vào cuộc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung Thủ tục rút gọn đã xác lập cơ

sở pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quvết nhanh chóng một số lượng lớn các vụ án về tội phạm ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ đơn giản, rõ ràng; rút ngắn thời gian điều tra, truy tố xét xử, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng tiết kiệm được nhân lực, tiền bạc góp phần hạn chế lượng án tồn đọng hàng năm tại các cơ quan tiến hành tố tụng ở các địa phương

2 Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn

Thủ tục rút gọn lần đầu tiên được quy định tại Chương XXXIV của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, gồm 07 điều (từ Điều 318 đến Điều 324)

2.1 Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn

Điều 318 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định: “Thủ tục rút gọn đối với việc điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm được áp dụng theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương này” Như vậy, thủ tục rút gọn không được áp dụng trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự mà chỉ áp dụng trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét

xử sơ thẩm Việc không áp dụng thủ tục rút gọn đối với việc xét xử phúc thẩm được giải thích là bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm đã bị kháng cáo, kháng nghị

Trang 3

là đã có sự không thống nhất giữa toà án với viện kiểm sát hoặc giữa toà án với những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo trong việc giải quyết vụ án Như vậy, tính chất "sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng" không còn nữa mà vụ

án đã trở thành phức tạp, không đảm bảo đầy đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn2

2.2 Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn

Điều 319 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định bốn điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, đó là: Thứ nhất, người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang thường nhận tội ngay; chứng cứ tương đối đầy đủ và rõ ràng; người làm chứng, người bị hại (nếu có) cũng thường được xác định cụ thể… Đây là một trong những điều kiện cần thiết để có thể giải quyết vụ án nhanh chóng, thuận lợi, hiệu quả3 Thứ hai, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng: là vụ án không

có các tình tiết phải mất thì giờ điều tra, xác minh, bị cáo đã nhận tội và trong vụ án chỉ có một hoặc hai bị cáo… (Thông tư số 10/TATC năm 1974) Có thể hiểu phạm tội đơn giản là những vấn đề cần chứng minh trong vụ án không phức tạp và dễ xác định, vụ án ít bị cáo, các chứng cứ đã được thu thập tương đối đầy đủ từ đầu4 Thứ

ba, tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng Tội phạm ít nghiêm trọng có tính nguy hại không lớn cho xã hội, nếu trong trường hợp việc xử lý không chính xác thì hậu quả cũng không đến mức nghiêm trọng so với các loại tội phạm khác và

dễ khắc phục Thứ tư, người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng Căn cước, lai lịch rõ ràng giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng có thể làm rõ được các yếu tố về nhân thân, gia đình, mối quan hệ xã hội… của người phạm tội một cách nhanh nhất, tạo điều kiện rút ngắn thời gian trong hoạt động tố tụng5

2 Phan Thị Thanh Mai, Về việc áp dụng thủ tục rút gọn trong việc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, Tạp chí Luật Học

số 10/2009

3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công An Nhân Dân, 2004

4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công An Nhân Dân, 2004

5 Phạm Minh Tuyên, Những vướng mắc trong việc áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự và một số kiến nghị, http://hvta.toaan.gov.vn/

Trang 4

2.3 Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

Về việc quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, Điều 320 khoản 1 BLTTHS quy định: “Sau khi khởi tố vụ án, theo đề nghị của cơ quan điều tra hoặc xét thấy vụ án

có đủ các điều kiện quy định tại Điều 319 của Bộ luật này, viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn…” Theo quy định này thì chỉ có Viện kiểm sát là

cơ quan duy nhất có thẩm quyền ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn Viện kiểm sát sẽ ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn trong hai trường hợp: Một là, theo đề nghị của Cơ quan điều tra Hai là, Viện kiểm sát tự ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn mà không cần đề nghị của Cơ quan điều tra

Theo quy định tại Điều này thì chỉ cần có quyết định khởi tố vụ án và có đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc không thì Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn mà chưa cần có quyết định khởi tố bị can Nhưng tại Điều 320 khoản

2 lại quy định “Quyết định áp dụng … kể từ khi ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn” Giả thiết, việc khởi tố bị can được tiến hành sau khi có quyết định của Viện kiểm sát về việc áp dụng thủ tục rút gọn, thì trong vòng 24 giờ Cơ quan điều tra phải xác minh, ra quyết định khởi tố bị can, gửi cho Viện kiểm sát phê chuẩn, giao các quyết định tố tụng cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật Quy định như vậy là chưa hợp lý Luật cũng không quy định cụ thể

Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát phải gửi cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ, nên dễ xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, đối với trường hợp người phạm tội không bị tạm giữ lại càng khó thực hiện hơn6

2.4 Về thời hạn hoạt động tố tụng trong việc áp dụng thủ tục rút gọn

Theo quy định tại các Điều 321, 323, 324 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì thời hạn hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng kể từ khi khởi tố vụ án tới khi xét xử là 30 ngày Trong đó, thời hạn điều tra là 12 ngày, thời hạn truy tố là 4 ngày, thời hạn xét xử là 14 ngày Quy định về thời hạn như vậy là quá ít so với thủ tục tố tụng hình sự thông thường và chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng các cơ

6 Vũ Gia Lâm, Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục rút gon, Tạp chí Luật Học, số 8/2009

Trang 5

quan tiến hành tố tụng ngại áp dụng thủ tục này vì sợ vi phạm về thời hạn Nếu theo đúng trình tự quy định tại Điều 320 BLTTHS thì thời gian từ khi khởi tố, ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, gửi cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ, tiếp nhận khiếu nại và giải quyết khiếu nại (nếu có) thì thời gian tối đa là 8 ngày Vậy Cơ quan điều tra, chỉ còn có 4 ngày để tiến hành điều tra Quy định về thời hạn như hiện nay là quá ngắn dẫn đến có sự không tin tưởng của bị can, bị cáo vào năng lực, trình độ chuyên môn của người tiến hành tố tụng hay các quyền lợi của họ sẽ không được bảo đảm như khi áp dụng các thủ tục tố tụng hình sự thông thường

2.5 Thủ tục điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn

Khi áp dụng thủ tục rút gọn, pháp luật tố tụng hình sự không những có quy định rút ngắn về thời gian tố tụng để giải quyết vụ án mà còn có quy định giản lược các thủ tục tố tụng sao cho phù hợp với thời hạn tiến hành tố tụng đã quy định Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hồ sơ vụ án rút gọn, ngoài việc khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra không phải làm bản kết luận điều tra mà ra Quyết định đề nghị truy tố, Viện kiểm sát sẽ không phải ban hành bản cáo trạng mà thay vào đó là Quyết định truy tố, các văn bản, thủ tục tố tụng giống với các vụ án được giải quyết theo thủ tục chung Quy định như vậy thực chất thì chỉ rút gắn được về mặt thời gian giải quyết vụ án, rút gắn nội dung, cấu trúc cũng như thay đổi tên gọi của bản kết luận điều tra và bản cáo trạng còn lại các thủ tục tố tụng khác thì không

có gì thay đổi

Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, các thủ tục tố tụng theo thủ tục rút gọn về cơ bản giống với thủ tục tố tụng chung Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, pháp luật không quy định Tòa án phải giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo trước khi

mở phiên tòa bao lâu Điều này có thể ảnh hưởng đến việc bị cáo không có thời gian nhờ luật sư, sắp xếp công việc để ra tòa (trong trường hợp tại ngoại),… làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của họ Ở phiên tòa xét xử sơ thẩm, vì không có bản

Trang 6

cáo trạng để truy tố bị can nên thay vì đọc bản cáo trạng, đại diện Viện kiểm sát sẽ đọc quyết định truy tố vị can trước Tòa khi bắt đầu phần xét hỏi

2.6 Quy định về áp dụng biện pháp ngăn chặn trong thủ tục rút gọn

Trong thủ tục rút gọn, các biện pháp ngăn chặn đều có thể được áp dụng (trừ trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp vì vụ án theo thủ tục rút gọn chỉ bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang) Mặc dù như vậy, nhưng do thời hạn quy định cho giai đoạn điều tra bị rút ngắn, nên bị can ít có cơ hội tại ngoại mà thường

sẽ bị tạm giam để phục vụ quá trình điều tra nhanh chóng, thuận lợi Điều này ảnh hưởng không ít đến quyền lợi của bị can Căn cứ quy định tại Điều 322 Bộ luật Tố tụng hình sự, căn cứ, thẩm quyền và thủ tục tạm giữ, tạm giam được áp dụng theo quy định của chung của Bộ luật này

3 So sánh quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 với quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Về cơ bản Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã sửa đổi và bổ sung hầu hết các quy định về thủ tục rút gọn so với Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, cụ thể:

3.1 Về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn

Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, thủ tục rút gọn được áp dụng đối với việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, không áp dụng đối với xét xử phúc thẩm Điều

455 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn đến giai đoạn xét xử phúc thẩm Quy định này sẽ giúp cho thủ tục rút gọn được áp dụng rộng rãi hơn trong thực tiễn xét xử, thúc đẩy nhanh quá trình giải quyết án ở cấp phúc thẩm, khắc phục một phần tình trạng án tồn đọng, quá hạn ở các cấp phúc thẩm hiện nay

3.2 Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ bốn điều kiện Thực tế áp dụng quy định này cho thấy, nhận thức của những người tiến hành tố tụng về điều kiện “người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng” là chưa

Trang 7

thống nhất Để khắc phục vướng mắc trên, Điều 456 BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi thay cụm từ “có căn cước, lai lịch rõ ràng” bằng cụm từ “có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng” Đồng thời điều kiện thứ nhất bổ sung thêm trường hợp người đó tự thú Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định mở rộng hơn điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn, bổ sung thêm trường hợp người phạm tội tự thú về hành vi phạm tội của mình, đồng thời đáp ứng 3 điều kiện còn lại quy định tại Điều 456

Do phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn được mở rộng đối với cả xét xử phúc thẩm, nên BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định mới các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử phúc thẩm (khoản 2 Điều 456)

3.3 Về thẩm quyền áp dụng, hủy bỏ thủ tục rút gọn

Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì chỉ có Viện kiểm sát là chủ thể duy nhất có thẩm quyền áp dụng và hủy bỏ thủ tục này trong ba giai đoạn điều tra, truy

tố, xét xử Quy định như vậy dẫn đến không chủ động và không đề cao trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Tòa án trong việc giải quyết vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn Nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trên, BLTTHS năm 2015 đã quy định theo hướng mở rộng thẩm quyền áp dụng, hủy bỏ thủ tục rút gọn cho cả ba chủ thể (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án)

Điểm mới đáng chú ý là, BLTTHS năm 2015 đã quy định theo hướng bắt buộc

các chủ thể Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải ra quyết định áp dụng thủ

tục rút gọn khi vụ án có đủ điều kiện luật định, mà không quy định có tính chất tùy nghi như quy định của BLTTHS hiện hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mở rộng thời điểm áp dụng bằng việc quy định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi vụ án có

đủ điều kiện, cơ quan tiến hành tố tụng phải ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn Điều này có nghĩa là trong các giai đoạn tố tụng: điều tra, truy tố, xét xử bất kỳ thời điểm nào, khi vụ án có đủ điều kiện thì cơ quan có thẩm quyền ở giai đoạn đó phải

có trách nhiệm áp dụng ngay thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án nhanh chóng

Trang 8

Hiệu lực của quyết định áp dụng thủ tục rút gọn đươc thực hiện từ khi ban hành quyết định đến giai đoạn xét xử phúc thẩm, trừ trường hợp bị hủy bỏ theo quy định tại Điều 458 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Như vậy, quyết định áp dụng thủ tục rút gọn chỉ ban hành một lần và được thực hiện suốt ở các giai đoạn tố tụng sau Thêm vào đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng bổ sung các quy định về trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát tính có căn cứ của các quyết định

áp dụng của Cơ quan điều tra và Tòa án

Việc hủy bỏ quyết định áp dụng là một quy định mới so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 Theo đó, khi có căn cứ hủy bỏ là khi vụ án không còn một trong các điều kiện quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 456 của Bộ luật này hoặc

vụ án thuộc trường hợp tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và giải quyết vụ án theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này7

3.4 Về thời hạn tạm giam để điều tra, truy tố, xét xử

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định thời hạn tạm giam để điều tra, truy

tố, xét xử không được quá 16 ngày (Điều 322); thời hạn điều tra là 12 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi theo hướng kéo dài thời hạn tạm giam tối đa để điều tra, truy tố, xét xử đến 64 ngày; trong đó thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra tối đa là 20 ngày, trong giai đoạn truy tố tối đa là 5 ngày, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm tối đa là 17 ngày, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là 22 ngày

3.5 Về điều tra và thời hạn điều tra

Để khắc phục được những vướng mắc do thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn được quy định trong BLTTHS hiện hành là quá ngắn (12 ngày) kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án; BLTTHS năm 2015 đã quy định kéo dài thời hạn này lên 20

7 PGS.TS Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên), Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Chính Trị Quốc Gia

Trang 9

ngày để đảm bảo thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định Về những việc cần làm sau khi kết thúc điều tra, BLTTHS hiện hành mới chỉ quy định chung chung là, Cơ quan điều tra không phải làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định đề nghị truy tố

và gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát Đến BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể hơn những nội dung cần có trong quyết định đề nghị truy tố

3.6 Về truy tố và thời hạn truy tố

Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành quy định thời hạn truy tố của Viện kiểm sát

là 4 ngày, đến BLTTHS năm 2015 đã quy định thời hạn này là 5 ngày, tăng 01 ngày Đồng thời, BLTTHS năm 2015 cũng quy định cụ thể về nội dung của quyết định truy tố

3.7 Về xét xử sơ thẩm

Theo quy định của BLTTHS hiện hành thì trình tự, thủ tục xét xử không được giản lược so với thủ tục tố tụng chung, Hội đồng xét xử vẫn gồm 01 Thẩm phán và

02 Hội thẩm, gây lãng phí về nhân lực, vật lực đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Do vậy, BLTTHS năm 2015 đã quy định phiên tòa xét xử sơ thẩm do 01 Thẩm phán tiến hành (Điều 463) Do đó không có thủ tục nghị án Các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa sơ thẩm được thực hiện theo thủ tục chung quy định trong BLTTHS năm 2015, nhưng có điểm đáng chú ý là

Nhằm giảm bớt áp lực cho Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời tạo thời gian hợp lý để bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình, BLTTHS năm 2015 đã quy định thời hạn xét xử sơ thẩm là 17 ngày, tăng 3 ngày so với quy định của BLTTHS hiện hành (14 ngày) Trong tổng thời hạn xét xử sơ thẩm 17 ngày, thì BLTTHS năm 2015 đã tăng thời hạn chuẩn bị xét xử từ 7 ngày lên 10 ngày; còn thời hạn từ lúc Thẩm phán có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến lúc mở phiên tòa vẫn giữ nguyên là 7 ngày như quy định của BLTTHS hiện hành Việc tăng thời hạn trong giai đoạn này sẽ hạn chế được số án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung

Trang 10

3.8 Về xét xử phúc thẩm

Do phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn được mở rộng cả đối với xét xử phúc thẩm, nên BLTTHS năm 2015 đã bổ sung 2 điều luật mới (Điều 464 – chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Điều 465 – phiên tòa xét xử phúc thẩm) Tại Điều 464 khoản 2 quy định, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử ban hành một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm; đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án Đồng thời, khoản 3 Điều luật này quy định, trong trường hợp Thẩm phán ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, thì trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án Điều 465 Khoản 1 quy định, việc xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn do 01 Thẩm phán tiến hành, nên phiên tòa xét xử phúc thẩm không có thủ tục nghị án Có thể nói, xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn với sự rút ngắn về thời gian, trình tự, thủ tục, giảm số lượng Thẩm phán của Hội đồng xét xử đã góp phần tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí cho quá trình giải quyết vụ án8

KẾT LUẬN

Trên đây là phần trình bày của em Dù đã chuẩn bị kĩ lưỡng nhưng do kiến thức còn hạn chế nên bài làm của em chắc chắn còn tồn tại nhiều thiếu sót Vì vậy em rất mong được thầy cô tận tình chỉ ra những yếu kém để em có thể rút kinh nghiệm cho những bài tập sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2004;

2 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

8 Đoàn Thị Ngọc Hải, Một số vấn đề về thủ tục rút gọn theo Quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, moj.gov.vn

Ngày đăng: 06/01/2022, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w