Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản, là linh hồn của triết học Mác Lênin. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện chứng. Thực tiễn luôn luôn vận động, biến đổi, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới, phát triển; sự thống nhất biện chứng giữa chúng vì thế cũng có những nội dung cụ thể và những biểu hiện khác nhau trong mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử. Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với những thành tựu to lớn đạt được trong hơn 30 năm đổi mới. Có được những kết qủa đó là do Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận của chủ nghĩa MacLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng nước ta.
Trang 1MỞ ĐẦU
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản, là linh hồn của triết học Mác - Lênin Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
là sự thống nhất biện chứng Thực tiễn luôn luôn vận động, biến đổi, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới, phát triển; sự thống nhất biện chứng giữa chúng vì thế cũng có những nội dung cụ thể và những biểu hiện khác nhau trong mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với những thành tựu to lớn đạt được trong hơn 30 năm đổi mới Có được những kết qủa đó là do Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng nước ta
Kinh nghiệm là rất quý, góp phần thành công trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định và là cơ sở để khái quát lý luận Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hóa kinh nghiệm, xem thường lý luận sẽ rơi vào bệnh kinh nghiệm Nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm là do yếu kém về lý luận, lười học lý luận Đây là biểu hiện thứ ba trong chín biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị được Đảng đề cập ở Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII: Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của
lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước Hiện tượng này đang diễn ra khá phổ biến trong cán bộ, đảng viên
hiện nay
Nhận thấy đây là vấn đề có tính cấp thiết và quan trọng trong công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay và cũng nhằm mục đích có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn đối với bản thân về vấn đề này, do đó tác giả chọn chủ đề:
“Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và vận dụng nguyên tắc này trong việc chống bệnh kinh nghiệm của cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay”
làm bài thu hoạch hết môn Triết học Mác- Lênin trong Chương trình học Lớp hoàn chỉnh Cao cấp lý luận chính trị
NỘI DUNG
Trang 21 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
1.1 Khái niệm lý luận và thực tiễn
* Khái niệm thực tiễn: theo quan điểm của triết học Mác- Lênin thì thực
tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất – cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của
con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Với 03 đặc trưng: Thực tiễn là hoạt
động vật chất - cảm tính của con người; thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử - xã hội của con người; thực tiễn có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và
xã hội phục vụ con người
* Khái niệm lý luận: Lý luận khoa học là hệ thống những tri thức được khái
quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật, hiện tượng được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy
luật, phạm trù Với 03 đặc trưng: Lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính
lô gíc chặt chẽ; cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn, không
có kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát lý luận; lý luận phản ánh được bản chất của sự vật, hiện tượng
1.2 Nội dung của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Thực tiễn và lý luận thống nhất biện chứng với nhau, đòi hỏi có nhau, nương tựa vào nhau, tác động qua lại với nhau Không có thực tiễn thì không thể
có lý luận; ngược lại không có lý luận khoa học thì cũng không thể có thực tiễn chân chính Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên:
“Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [3, tr.95]
1.3 Cơ sở lý luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
1.3.1 Vai trò của thực tiễn đối với lý luận.
Thứ nhất, thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, lý luận Hoạt động
thực tiễn của con người ngay từ đầu đã bị quy định bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại của con người Muốn sống, muốn tồn tại, con người phải sản xuất vật chất, cải tạo tự nhiên và xã hội, nghĩa là hoạt động thực tiễn Như vậy, con người quan hệ
Trang 3với thế giới xung quanh bắt đầu bằng và thông qua hoạt động thực tiễn Bằng và thông qua hoạt động thực tiễn, con người tác động vào sự vật làm cho chúng bộc
lộ thuộc tính, tính chất, quy luật của mình Trên cơ sở đó, con người mới có hiểu biết (tri thức) về sự vật và dân dần có cơ sở để khái quát những hiểu biết (tri thức) này thành lý luận Như vậy, chính thực tiễn đã cung cấp “vật liệu” cho nhận thức, cho lý luận Có thể nói, mọi tri thức của con người xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn Nói khác đi, thực tiễn là cơ sở của nhận thưc
Thực tiễn còn là cơ sở đề ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi con người trong đời sống của mình phải giải quyết Trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức, lý luận phát triển Thực tiễn còn quy định khuynh hướng phát triển của lý luận Hơn nữa, thực tiễn luôn vận động, biến động, phát triển, luôn đòi hỏi phải được khái quát, tổng kết để làm giầu kinh nghiệm, phát triển lý luận, định hướng cho hoạt động thực tiễn tiếp theo Vì thế, thực tiễn luôn thúc đẩy cho sự ra đời của các ngành khoa học mới, của các lý luận mới
Thực tiễn còn là cơ sở góp phần rèn luyện giác quan của con người, làm cho chúng phát triển tinh tế hơn, hoàn thiện hơn Trên cơ sở đó giúp cho con người nhận thức hiệu quả hơn, khái quát lý luận đúng đắn hơn Thông qua hoạt động thực tiễn, con người cũng cải biến luôn chính bản thân mình, phát triển năng lực, trí tuệ của mình
Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện, máy móc hỗ trợ con người nhận thức hiệu quả hơn và khái quát lý luận đúng đắn hơn Chính nhu cầu chế tạo, cải tiến công cụ sản xuất cũng như công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức đã thúc đẩy nhận thức, tư duy, lý luận và bản thân thực tiễn phát triển
Thứ hai, thực tiễn là mục đích của lý luận Hoạt động nhận thức, lý luận
của con người ngay từ khi con người mới ra đời đã bị quy định bởi nhu cầu tồn tại, nhu cầu sống, nhu cầu hoạt động thực tiễn của mình Để tồn tại, để sống, con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh để có những hiểu biết nhất định về thế giới, trên cơ sở đó dần dần phải khái quát những hiểu biết của mình thành lý luận
Trang 4để định hướng cho những nhu cầu này cũng như hoạt động của mình Như vậy, chính nhu cầu sống, nhu cầu sản xuất vật chất, cải tạo tự nhiên, xã hội buộc con người phải tìm hiểu, khám phá, nhận thức thế giới xung quanh Nghĩa là, nhận thức của con người ngay từ đầu đã bị quy định bởi nhu cầu thực tiễn Nói khác đi, thực tiễn chính là mục đích của nhận thức, của lý luận Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng tỏ, không có nhận thức vị nhận thức, không có lý luận vị lý luận, chỉ có nhận thức vị thực tiễn, lý luận vị thực tiễn
Những tri thức - kết quả của nhận thức, những lý luận - kết quả của khái quát hóa kinh nghiệm thực tiễn chỉ có giá trị, có ý nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn, phục vụ thực tiễn, cụ thể vận dụng vào sản xuất vật chất, cải tạo chính trị - xã hội, vào thực nghiệm khoa học phục vụ con người Nói khác đi, thước đo đánh giá giá trị của lý luận, của nhận thức chính là thực tiễn, Nếu nhận thức, lý luận không vì thực tiễn, không nhằm phục vụ, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn mà vì chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thành tích, chủ nghĩa hình thức thì nhất định sẽ mất phương hướng, phải trả giá
Thứ ba, thực tiễn là tiêu chuẩn đánh giá sự đúng, sai của lý luận Theo triết
học duy vật biện chứng, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý Bởi lẽ, chỉ có thông qua thực tiễn, con người mới “vật chất hóa” được tri thức, “hiện thực hóa” được tư tưởng Thông qua quá trình đó, con người có thể khẳng định chân
lý, bác bỏ sai lầm Phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện chứng, nghĩa là nó vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở những giai đoạn lịch sử cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất
có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Tính tương đối thể hiện ở chỗ, bản thân thực tiễn đổi thay thì nhận thức cũng phải đổi thay cho phù hợp Nghĩa là những tri thức đã đạt được trước đây hiện nay vẫn phải được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn
Từ trên, chúng ta rút ra ý nghĩa phương pháp luận là phải có quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động Quan điểm thực tiễn đòi hỏi nhận thức sự
Trang 5vật, nhận thức lý luận phải gắn với nhu cầu thực tiễn; phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn đánh giá sự đúng, sai của lý luận, chủ trương, đường lối chính sách; phải tăng cường tổng kết thực tiễn để kiểm tra lý luận, chủ trương, đường lối, chính sách và kịp thời bổ sung, điều chỉnh, phát triển lý luận cũng như chủ trương, đường lối, chính sách cho phù hợp thực tiễn mới Phải thấm nhuần lời căn dặn của V.I.Lênin: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức” [7, tr.167]
1.3.2 Vai trò của lý luận đối với thực tiễn.
Một là, lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Nhờ
những đặt trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hết sức
to lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người Lý luận khoa học, thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi hiện thực khách quan theo hướng tiến bộ vì lợi ích của con người Nếu thực tiễn không chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận khoa học thì thực tiễn đó sẽ rơi vào mò mẫm, vòng vo, mất thời gian, tốn công sức, tiền của, không hiệu quả
Hai là, lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập
hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông đảo quần chúng Do vậy, khi lý luận khoa học thâm nhập được vào đông đảo quần chúng sẽ tạo thành sức mạnh vật vĩ đại Trên cơ sở đó thành thành khối thống nhất giữa lý luận và quần chúng để cải tạo tự nhiên và xã hội phục con người
Ba là, lý luận, nếu phản ánh đúng quy luật vận động, phát triển của sự vật,
của thực tiễn sẽ góp phần dự báo, định hướng đúng đắn cho hoạt động thực tiễn; giúp cho hoạt động thực tiễn bớt mò mẫm, vòng vo, chủ động, tự giác hơn
Thứ tư, lý luận khoa học cung cấp cho con người những tri thức khoa học
tự nhiên, xã hội và về bản thân con người Trên cơ sở những tri thức khoa học đó, con người có thể thông qua hoạt động thực tiễn làm biến đổi tự nhiên, xã hội và bản thân phục vụ cho mục đích của mình
Trang 6Thứ năm, lý luận có tính độc lập tương đối so với thực tiễn, do vậy nó có
thể thông qua hoạt động thực tiễn tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn Lý luận có vai trò tác động tích cực đối với thực tiễn, một khi nó phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, thâm nhập được vào đông đảo quần chúng nhân dân và được con người vận dụng nó một cách sáng tạo, linh hoạt, phù hợp điều kiện thực tiễn, lịch sử - cụ thể Nếu lý luận sai lầm, ảo tưởng, chủ quan, duy
ý chí, giáo điều, kinh nghiệm sẽ tác động tiêu cực trở lại đối với thực tiễn
Mức độ, hiệu quả tác động của lý luận đối với thực tiễn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trước hết phục thuôc vào tính đúng đắn, khoa học của lý luận; mức độ thâm nhập của lý luận vào quảng đại quần chúng nhân dân; vào sự vận dụng sáng tạo, đúng đắn lý luận hay không bởi chủ thể hoạt động thực tiễn
Như vậy, chúng ta rút ra ý nhĩa phương pháp luận là phải thấy được vai trò
to lớn của lý luận khoa học, trên cơ sở đó mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng học tập, nâng cao trình độ lý luận cho bản thân Phải thấm nhuần lời dạy của V.I.Lênin: Học, học nữa, học mai Tuy nhiên, khi học tập lý luận không được tuyệt đối hóa lý luận; học tập lý luận thì phải liên hệ với thực tiễn đất nước và thời đại Phải thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lý luận rất cần thiết nhưng nêu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả Do đó, trong lúc học tập lý luận chúng ta cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tế” [2, tr.94]
1.4 Các yêu cầu của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Một là, lý luận phải trên cơ sở thực tiễn Để xây dựng lý luận khoa học,
không thể xuất phát từ bản thân ý thức hoặc từ bản thân tự nhiên một cách trực quan mà phải xuất phát từ thực tiễn, từ đó khái quát các tài liệu tự nhiên, xã hội thành lý luận Đây là yêu cầu trước hết của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn của triết học Mác- Lênin V.I.Lênin nhận xét rằng: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”
Hai là, phát triển lý luận phải theo yêu cầu của thực tiễn, học phải gắn với
hành, thước đo đánh giá giá trị của lý luận, của nhận thức chính là thực tiễn Nếu
Trang 7nhận thức, lý luận không tuân theo yêu cầu của thực tiễn, không nhằm phục vụ, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn mà vì chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thành tích, chủ nghĩa hình thức thì nhất định đó chỉ là lý luận suông
Ba là, bám sát sự vận động và phát triển của thực tiễn để sửa đổi, bổ sung, phát triển lý luận
Bám sát thực tiễn là bám sát khâu tác động vật chất của con người- tức của quần chúng lao động và hiện thực mà xây dựng hệ thống tri thức về đối tượng tác động Hoạt động của quần chúng nhân dân là hoạt động sáng tạo và cách mạng
Lý luận chỉ có sức sống khi lý luận bám sát thực tiễn, có sức sống từ thực tiễn, quan liêu, xa rời thực tiễn trong xây dựng lý luận khoa học là trái với nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Tổng kết thực tiễn là hoạt động nhận thức lý tính, thể hiện đầy đủ trong tư duy Đó là quá trình phản ánh khái quát các dữ liệu cảm tính đã thu được nhằm phát hiện ra các quan hệ hợp quy luật của đối tượng tác động, được biểu thị trong các khái niệm, phạm trù để chỉ đạo thực tiễn tiếp theo Tổng kết thực tiễn đúng đắn, khắc phục sự trói buộc vào một thực tiễn cụ thể, vào những kinh nghiệm cố hữu, có sẵn, tạo cơ sở để bổ sung, phát triển lý luận Tổng kết thực tiễn phải có quy trình: xác định rõ mục tiêu, lựa chọn đúng vấn đề cần tổng kết; lập chương trình, kế hoạch, lộ trình tổng kết; tổ chức lực lượng tổng kết; tiến hành điều tra, khảo sát thực tế, thu thập số liệu, tư liệu; xử lý thông tin; phân tích, đánh giá tư liệu, số liệu; thảo luận dân chủ, rút ra kết luận và hướng dẫn vận dụng Tổng kết thực tiễn phải bảo đảm tính khách quan, không thêm, bớt “tô hồng” hoặc “bôi đen” thực tiễn Không sa vào chủ nghĩa thành tích, chủ nghĩa hình thức làm biến dạng, méo mó thực tiễn
Bốn là, tôn trọng thực tiễn, tôn trọng nhu cầu của quần chúng nhân dân.
Các hoạt động của con người cải tạo thiên nhiên cần phải tôn trọng thực tiễn, cũng như trong quá trình làm nhiệm vụ chính trị, hoạt động cách mạng phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị,
Trang 8không được chủ quan; phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng Phải
"chí công vô tư" và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” Ðó là đạo đức của người Cộng sản Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân có nghĩa là không chỉ bảo đảm quyền làm chủ về chính trị mà cần tạo điều kiện để mọi người dân làm chủ về kinh tế, không chỉ đáp ứng nhu cầu giải phóng tư tưởng mà còn
là nhu cầu giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng tiềm năng của mọi người
2 Vai trò của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm ở nước ta hiện nay.
2.1 Bản chất, biểu hiện và nguyên nhân bệnh kinh nghiệm.
Theo quan điểm của Triết học Mác – Lênin, kinh nghiệm là một dạng tri thức phản ánh hiện thực khách quan, xét về hình thức nó thuộc về cái chủ quan, là hình thức của ý thức nhưng xét về nội dung nó luôn mang nội dung khách quan Thiếu kinh nghiệm thì không thể không thể có lý luận Kinh nghiệm và lý luận là hai trình độ nhận thức khác nhau song không tách rời nhau mà thống nhất với nhau trên cơ sở thực tiễn
Kinh nghiệm đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc nhận thức cũng như trong hoạt thực tiễn của con người Nhưng nếu coi khinh kinh nghiệm là tất
cả, tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi khinh, hạ thấp lý luận, không chịu học tập lý luận thì sẽ mắc bệnh kinh nghiệm
Về bản chất, là khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hoá kinh
nghiệm cá biệt, cụ thể, biến chúng thành những kinh nghiệm phổ biến, nhằm áp dụng những kinh nghiệp này cho mọi trường hợp, mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh,
hạ thấp coi thường lý luận Người mắc bệnh kinh nghiệm thường nhân dan đề cao thực tiễn để hạ thấp lý luận Trên thực tế “thực tiễn” mà họ đề cao là thực tiễn cục
bộ, vụn vặt, chưa chỉnh thể, chưa toàn vẹn, chưa mang tính phổ biến Về thực chất, những người mắc bệnh kinh nghiệm không chỉ hạ thấp lý luận mà còn coi thường cả thực tiễn
Trang 9Đảng và Nhà nước ta luôn đề ra nhiệm vụ phải quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trước đổi mới 1986, chúng ta đã có những biểu hiện vi phạm nguyên tắc này, nhất là bệnh kinh nghiệm
Biểu hiện của căn bệnh này rất đa dạng, như coi thường lý luận, không
chịu học tập lý luận, đề cao tư duy kinh nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu tố duy nhất quyết định thành công trong nhận thức và hoạt động thực tiễn; không đánh giá đúng vai trò của đội ngũ tri thức,
Nguyên nhân bệnh kinh nghiệm có nhiều, chẳng hạn như ảnh hưởng tiêu
cực của nền sản xuất nhỏ, lua nước, theo mùa, theo chu kỳ; ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng gia trưởng, phong kiến; Do ảnh hưởng của chiến tranh quá lâu dài… Nhưng nguyên nhân cơ bản và trực tiếp là vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, không hiểu quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn của cán bộ, đảng viên
2.2 Phương hướng ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm của cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay
Một là, thực hiện thành công CNH, HĐH đất nước để khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của nền sản xuất nhỏ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường
tất yếu để đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn và cũng là một trong những nhiệm vụ kinh tế cơ bản của các nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Ở Việt Nam, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được xác định ngay từ Đại hội III của Đảng; từ đó đến nay, luôn nhất quán về chủ trương
đó, song có sự điều chỉnh hợp lý về nội dung, mô hình, mục tiêu cho phù hợp với từng giai đoạn Tại Đại hội XII của Đảng, quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiếp tục có sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với tình hình mới của đất nước
và xu thế hội nhập quốc tế như Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa được điều Văn kiện Đại hội XII của Đảng đề ra phương hướng, nhiệm vụ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong 5 năm tới (2016 - 2020) được xác định linh
Trang 10hoạt hơn là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu sớm đưa nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”; Định hướng xác định hệ tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại; Xác định các giai đoạn của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Xác định phương hướng nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2016 - 2020
Quán triệt và thống nhất nhận thức về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà Đại hội XII của Đảng đã xác định là cơ sở để xây dựng niềm tin, chỉ đạo thực tiễn, nắm bắt thời cơ, lợi thế, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như kỳ vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta Đồng thời, khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của nền sản xuất nhỏ
Thứ hai, khắc phục tư tưởng gia trưởng, phong kiến, như coi khinh tri thức,
tuyệt đối hóa kinh nghiệm của người cao tuổi
Thứ ba, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng, lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên cần: Phải đổi mới căn bản
chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, nâng cao năng lực
tư duy lý luận cho cán bộ; tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập lý
luận, chuyên môn nghiệp vụ, đầu tư cơ sở vật chất đảm bảo cho quá trình đào tạo cán bộ; xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý ngang tầm với nhiệm vụ mới
cả về số lượng và chất lượng ở các Học viện cấp Trung ương, các Trường Chính trị tỉnh và các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện, thị xã; đẩy mạnh việc áp dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất, tạo điều kiện nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật, trình độ văn hóa cho cán bộ lãnh đạo, quản
lý cấp cơ sở
Thứ tư, đẩy mạnh dân chủ ở cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho việc ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở.
Dân chủ hóa tạo điều kiện để cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phát triển toàn diện cả về thể chất và trí tuệ, cả về phẩm chất lãnh đạo và năng lực lãnh đạo, quản