ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG NGOẠI NGỮ _________________a___ TIỂU LUẬN Học phần: Tâm lý dậy học ngoại ngữ Tên tiểu luận: Phân tích những nét riêng về sự phát triển thể chất, tâm lý của các
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG NGOẠI NGỮ _a _
TIỂU LUẬN
Học phần: Tâm lý dậy học ngoại ngữ
Tên tiểu luận: Phân tích những nét riêng về sự phát triển thể chất, tâm lý của các lứa tuổi học sinh và đưa ra nhận xét khái quát Từ những đặc điểm về sự phát triển trí tuệ (cảm giác, tri trác, tư duy, tưởng tượng, trí nhó' ) của học sinh Anh/Chị sẽ vận dụng trong quá trình dạy học ngoại ngữ cho học sinh các
giai đoạn lứa tuổi như thế nào?
Sinh viên thực hiện
Mã sinh viên Nhóm học phần
Thái Nguyên, tháng năm 2021
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG NGOẠI NGỮ
_> _
TIỂU LUẬN
Học phần: Tâm lý dậy học ngoại ngữ
Tên tiểu luận: Phân tích những nét riêng về sự phát triển thể chất, tâm lý của các lứa tuổi học sinh và đưa ra nhận xét khái quát Từ những đặc điểm về sự phát triển trí tuệ (cảm giác, tri trác, tư duy, tưởng tượng, trí nhó' ) của học sinh Anh/Chị sẽ vận dụng trong quá trình dạy học ngoại ngữ cho học sinh các
giai đoạn lứa tuổi như thế nào?
Sinh viên thực hiện
Mã sinh viên Nhóm học phần
Thái Nguyên, tháng năm 2021
Trang 3KẾT QUẢ CHẤM TIỂU LUẬN Điểm
Nhận xét của CB chấm 1
CB chấm 1
(Ký, ghi rõ họ tên)
Bằng số Bằng chữ
Điểm
Nhận xét của CB chấm 2 (Ký, ghi rõ họ CB chấm 2
tên)
Bằng số Bằng chữ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
"Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Ngoại Ngữ - Đại học Thái Nguyên đã đưa môn học Tâm lý dạy học ngoại ngữ vào trương trình giảng dạy Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn - Cô Phạm Hương đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập vừa qua Trong thời gian tham gia lớp học Tâm lý dạy học ngoại ngữ của cô, em đã có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả, nghiêm túc Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức quý báu, là hành trang để em có thể vững bước sau này Bộ môn Tâm lý dạy học ngoại ngữ là môn học thú vị, vô cùng bổ ích và có tính thực tế cao Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ Mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong cô xem xét và góp ý để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!”
Trang 5MỤC LỤC
I Lời nói đầu
II Nội dung
1 Sự phát triển thể chất, tâm lý, trí tuệ của độ tuổi học sinh tiểu học
1.1 Thể chất:
1.2 Tâm lý
1.3: trí tuệ:
1.3.1 Nhận thức cảm tính
1.3.1.1 Các cơ quan cảm giác
1.3.1.2 Tri giác
1.3.2 Nhận thức lý tính
1.3.2.1 Tư duy
1.3.3 Trí nhớ
2 Sự phát triển thể chất, tâm lý, trí tuệ của độ tuổi học sinh trung học cơ sở 2.1 Thể chất
2.2 Tâm lý
2.3 Trí tuệ:
2.3.1 Tri giác
2.3.2 Trí nhớ
2.3.3 Tư duy
3 Sự phát triển thể chất, tâm lý, trí tuệ của độ tuổi học sinh trung học phổ thông
3.1 Thể chất
3.2 Tâm lý
3.3 Trí tuệ
3.3.1 Tri giác
3.3.2 Trí nhớ
3.3.3 Tư duy
4 Sự phát triển thể chất, tâm lý, trí tuệ của độ tuổi học sinh đại học, thanh niên:
4.1 Thể chất
4.2 Tâm lý
4.3 Trí tuệ
III Vận dụng những đặc điểm về sự phát triển trí tuệ của các lứa tuổi vào giảng dậy ngoại ngữ
1 Đối với học sinh cấp tiểu học
2 Đối với học sinh cấp trung học cơ sở
3 Đối với học sinh trung học phổ thông
4 Đối với lứa tuôi sinh viên đại học
IV Kết luận
Trang 6I Lời mở đâu
Hoạt động dậy học bao gồm hai hoạt hoạt động là hoạt động dạy và hoạt động học Trong đó giáo viên sẽ phụ trách hoạt động dậy, nghĩa là tổ chức diều khiển tối ưu hóa quá trình truyền đạt nội dung về tri thức, kĩ năng, kỹ sảo một cách khoa học và sinh động cho những người được dậy, còn học sinh đảm nhận vai trò học để tiếp thu những gì giáo viên truyền tải trước kia hoạt động dậy học có chủ thể là giáo viên và lấy giáo viên làm trung tâm để định hình hoạt động học của học sinh Nhưng hiện nay theo sự phát triển của xã hội, đất nước, theo phương châm “học thường xuyên suốt đời” làm nền móng nhằm hướng tới một xã hội văn minh đất nước tiến bộ hơn, để cạnh tranh với quốc tế thì các quan điểm về việc dậy học đã được thay đổi so với trước kia Hoạt động dậy học giờ đây không còn lấy giáo viên là chủ thể mà thay vào đó sẽ lấy học sinh làm chủ thể Tuy nhiên học sinh lại không như giáo viên, học sinh có những đặc điểm tâm lý, thể chất, trí tuệ riêng biệt theo từng lứa tuổi vì vậy để đạt được hiệu quả dậy học cao, truyền tải tối đa tri thức cho học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục thì khi thiết kế các bài giảng trên lớp các giáo viên cần chú ý, nghiêm túc nhìn nhận về những nội dung trên từ đó xây dựng nên một bài giảng thú vị, phù hợp với tâm sinh lý từng lứa tuổi học sinh, kích thích được sự mong muốn tìm tòi, học hỏi của học sinh góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình giảng dậy
Trong phạm vi làm bài tiểu luận này em xin đề cập đến sự phát triển thể chất, tâm lý, trí tuệ của các lứa tuổi học sinh từ đó đưa ra một số ứng dụng để quá trình dậy học ngoại ngữ hiệu quả
Trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu và thực hiện bài tiểu luận này, do hạn chế
về mặt kinh nghiệm và kiến thức nên các vấn đề tôi đưa ra còn mang tính chủ quan cá nhân, rất mong nhận được sự góp ý và nhận xét của thầy cô để bài làm của em được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 7II Nội dung
1 Sự phát triển thể chất, tâm lý, trí tuệ của độ tuổi học sinh tiểu học:
1.1 Thể chất:
-Ở lứa tuổi tiểu học từ 6 đến 10 tuổi, cơ thể của trẻ đã có nhiều bước phát triển mới Lúc này chiều cao của bé đã đạt trên 100 cm, cân nặng khoảng 15 kg, hệ cơ và hệ thần kinh cấp cao phát triển mạnh nhưng hệ xương và hệ tiêu hóa còn chưa hoàn thiện -Hệ xương: Còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập Chiều cao mỗi năm của trẻ tăng thêm 4 cm, trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) 104 cm (nữ) cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ) Tuy nhiên, con số này chỉ là trung bình, chiều cao của trẻ có thể
xê dịch khoảng 4-5 cm,cân nặng có thể xê dịch từ 1 - 2 kg
-Hệ cơ: Đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa, Vì vậy mà thầy cô và cha mẹ nên đưa các emvào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ Hơn nữa, hệ cơ đang phát triển, khả năng tập trung chú ý của độ tuổi này còn thấp, nên trẻ thường không ngồi yên lâu một chỗ được
-Bộ máy tiêu hoá: Bộ máy tiêu hoá còn yếu, dễ bị bệnh khó tiêu nếu ăn quá nhiều,dễ bị tiêu chảy khi ăn đồ lạ, thức ăn lâu ngày Thức ăn nóng quá hay lạnh quá cũng có thể khiến sinh bệnh
-Hệ thần kinh cấp cao: Đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng
1.2 Tâm lý:
-Ở lứa tuổi này, đời sống xúc cảm, tình cảm của các em khá phong phú, đa dạng và cơ bản là mang trạng thái tích cực Các em bỡ ngỡ, lạ lẫm nhưng cũng nhanh chóng bắt nhịp làm quen với bạn mới, bạn cùng lớp Trẻ tự hào vì được gia nhập Đội, hãnh diện
vì được cha mẹ, thầy cô đánh giá cao hay giao cho những công việc cụ thể Các em đã biết điều khiển tâm trạng của mình, thậm chí còn biết che giấu khi cần thiết Học sinh tiểu học thường có tâm trạng vô tư, sảng khoái, vui tươi, đó cũng là những điều kiện thuận lợi để giáo dục cho các em những chuẩn mực đạo đức cũng như hình thành những phẩm chất trí tuệ cần thiết
1.3: trí tuệ:
1.3.1 Nhận thức cảm tính:
1.3.1.1 Các cơ quan cảm giác:
-Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện
1.3.1.2 Tri giác:
-Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không
ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, )
1.3.2 Nhận thức lý tính:
1.3.2.1 Tư duy:
-Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động -Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát
Trang 8-Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận —Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học
1.3.3 Trí nhớ:
-Trí nhớ của các em được xây dựng trên cơ sở mới của quá trình học tập, được điều khiển một cách có ý thức Trí nhớ được thay đổi phù hợp với sự thay đổi của hoạt động chủ đạo Trí nhớ trở thành điều kiện, đồng thời là kết quả của quá trình học tập
Do ảnh hưởng học tập, trí nhớ của học sinh tiểu học được phát triển theo hai hướng: -Tăng cường vai trò của ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ logic so với ghi nhớ trực quan hình tượng
-Trẻ có khả năng điều khiển một cách có ý thức trí nhớ của mình cũng như điều chỉnh
sự nhận lại và nhớ lại một cách có chủ định
2 Sự phát triển thể chất, tâm lý, trí tuệ của độ tuổi học sinh trung học cơ sở: 2.1 Thể chất:
-Sự phát triển cơ thể của thiếu niên trung học cơ sở có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi diễn ra mạnh mẻ nhưng không cân đối.Sự hoạt động tổng hợp của các tuyến nội tiết quan trọng nhất (tuyến yên, tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận) tạo ra nhiều thay đổi trong
cơ thể trẻ, trong đó sự nhảy vọt về chiều cao và sự phát dục- Chiều cao của các em tăng lên một cách đột ngột, hằng năm có thể tăng từ 5 - 6 cm; Trọng lượng cơ thể hằng năm tăng từ 2,4 - 6 kg; tăng vòng ngực là những yếu tố đặc biệt trong sự phát triển thể chất của trẻ
- Ở giai đoạn dưới 14 tuổi vẫn còn có các đốt sụn hoàn toàn giữa các đốt xương sống, nên cột sống dễ bị cong vẹo khi đứng ngồi không đúng tư thế
- Sự tăng khối lượng các bắp thịt và lực của cơ bắp diễn ra mạnh nhất vào cuối thời kì dậy thì khiến các em khỏe ra rõ rệt Tuy nhiên, sự phát triển cơ của các em trai khác biệt nhất định báo hiệu sự hình thành ở các em những nét khác biệt về cơ thể : con trai cao lên, vai rộng ra, con gái tròn trặn dần, xương chậu rộng ra Sự phát triển cơ thể diễn ra không cân đối làm cho các em lúng túng, vụng về, “lóng ngóng”.- Xương chân
và tay chóng dài nhưng cơ phát triển chậm hơn và lồng ngực phát triển chậm, nên đầu tuổi thiếu niên thường có thân hình dài, hơi gầy và ít nhiều không cân đối.- Sự phát triển của hệ tim - mạch cũng không cân đối : thể tích tim tăng nhanh, hoạt động mạnh hơn nhưng đường kính phát triển chậm hơn Điều này gây nên rối loạn tạm thời của hệ tuần hoàn máu
-Hoạt động thần kinh cấp cao của tuổi thiếu niên cũng có những nét riêng biệt.- Ở tuổi thiếu niên, quá trình hưng phấn chiếm ưu thế rõ rệt, dẫn đến thiếu niên không làm chủ được cảm xúc của mình, không kiềm chế được xúc động mạnh Các em dễ bị kích động, dễ bực tức, cáu gắt, mất bình tĩnh.-Ở tuổi thiếu niên, phản xạ có điều kiện đối với những tính hiệu trực tiếp được hình thành nhanh hơn những phản xạ có điều kiện đối với những tính hiệu từ ngữ Do vậy, ngôn ngữ của trẻ cũng thay đổi Các em nói chậm hơn, hay “nhát gừng”, “cộc lốc” Nhưng hiện tượng này chỉ tạm thời, khoảng
15 tuổi trở lên hiện tượng này cân đối hơn
-Hiện tượng dậy thì: Sự trưởng thành về mặt sinh dục là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển cơ thể của thể thiếu niên Tuyến sinh dục bắt đầu hoạt động và cơ thể các em xuất hiện những dấu hiệu phụ khiến chúng ta nhận ra các em đang ở độ tuổi dậy
thì.Biểu hiện bên ngoài chủ yếu của sự chín muồi của các cơ quan sinh dục ở các em trai là sự xuất tinh, ở các em gái là hiện tượng thấy kinh Tuổi dậy thì của các em nữ thường vào khoảng 12 - 14 tuổi, các em nam bắt đầu và kết thúc chậm hơn các em gái
Trang 9khoảng 1,5 - 2 năm.Sự phát dục cùng với những chuyển biến trong sự phát triển cơ thể
của thiếu niên có một ý nghĩa không nhỏ trong sự nảy sinh những cấu tạo tâm lý mới :
Cảm giác về tính người lớn thực sự của mình ; cảm giác về tình cảm giới tính mới lạ,
quan tâm tới người khác giới
2.2 Tâm lý:
-Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn” ,điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động của các em.- Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên Hoàn cảnh đó có cả hai mặt:Những yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn
2.3 Trí tuệ:
2.3.1 Tri giác:
-Các em đã có khả năng phân tích, tổng hợp các sự vật, hiên tượng phức tạp hơn khi tri giác sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch, cơ trình tự và hoàn thiện hơn
2.3.2 Trí nhớ:
-Trí nhớ: của thiếu niên cũng được thay đổi về chất Đặc điểm cơ bản của trí nhớ ở lứa tuổi này là sự tăng cường tính chấtchủ định, năng lực ghi nhớ có chủ định được tăng lên rõ rệt, cách thức ghi nhớ được cải tiến, hiệu suất ghi nhớ cũng được nâng cao.Học sinh trung học cơ sở có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu tượng, từ ngữ Các em có những kỹ năng tổ chức hoạt động tư duy, biết tiến hành các thao tác như so sánh, hệt thống hóa, phân loại nhằm ghi nhớ tài liệu Kỹ năng nắm vững phương tiện ghi nhớ của thiếu niên được phát triển ở mức độ cao, các em bắt đầu biết sử dụng những phương pháp đặc biệt để ghi nhớ và nhớ lại Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu được ghi nhớ tăng lên Ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa Hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn
2.3.3 Tư duy:
- Tư duy nói chung và tư duy trừu tượng nói riêng phát triển mạnh là một đặc điểm cơ bản của hoạt động tư duy ở thiếu niên Nhưng thành phần của tư duy hình tượng - cụ thể vẫn được tiếp tục phát triển, nó vẫn giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc của tư duy
- Các em hiểu các dấu hiệu bản chất của đối tượng nhưng không phải bao giờ cũng phân biệt được những dấu hiệu đó trong mọi trường hợp Khi nắm khái niệm các em
có khi thu hẹp hoặc mở rộng khái niệm không đúng mức
- Ở tuổi thiếu niên, tính phê phán của tư duy cũng được phát triển, các em biết lập luận giải quyết vấn đề một cách có căn cứ Các em không dễ tin như lúc nhỏ, nhất là ở cuối tuổi này, các em đã biết vận dụng lí luận vào thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được, những kinh nghiệm riêng của mình để minh họa kiến thức
3 Sự phát triển thể chất, tâm lý, trí tuệ của độ tuổi học sinh trung học phổ thông:
Trang 103.1 Thể chất:
Trang 11-Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Cơ thể của các
em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các em còn kém so với người lớn Các em có thể làm những công việc nặng của người lớn Hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tới mức cao Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh Ở tuổi này, các em dễ bị kích thích và sự biểu hiện của nó cũng giống như ở tuổi thiếu niên Tuy nhiên tính dễ bị kích thích này không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân (như hút thuốc lá, không giữ điều độ trong học tập, lao động, vui chơi )
-Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức, nên người ta hay nói: “Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu” Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các em
3.2 Tâm lý:
-Ở một số học sinh THPT tình cảm cách mạng và ý chí phấn đấu yếu, trình độ giác ngộ, nhận thức về xã hội còn thấp Một số có thái độ coi thường lao động chân tay, thích cuộc sống xa hoa lãng phí, ăn chơi, đua đòi theo bạn bè
-Học sinh THPT là lứa tuổi mộng mơ, khao khát sáng tạo, thích cái mới lạ chuộng cái đẹp hình thức bên ngoài, có mới nới cũ
-Lứa tuổi này rất hăng hái nhiệt tình trong công việc, lạc quan yêu đời nhưng cũng rất
dễ bi quan chán nản khi gặp thất bại
3.3 Trí tuệ:
-Lứa tuổi học sinh thpt là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho
sự phát triển các năng lực trí tuệ
3.3.1 Tri giác:
-Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn Quá trình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ Khả năng quan sát một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em Tuy nhiên, sự quan sát ở các em thường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện đưa ra kết luận vội vàng không có cơ sở thực tế
3.3.2 Trí nhớ:
-Trí nhớ của học sinh THPT cũng phát triển rõ rệt Trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học Có nghĩa là khi học bài các em đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạn quan trọng, những ý trọng tâm, lập dàn
ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh Các em cũng hiểu được rất rõ trường hợp nào phải học thuộc trong từng câu, từng chữ, trường hợp nào càn diễn đạt bằng ngôn từ của mình và cái gì chỉ cần hiểu thôi, không cần ghi nhớ Nhưng ở một số em còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng có những em có thái độ coi thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giá thấp việc ôn lại bài
3.3.3 Tư duy:
-Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh Các em đã có khả năng tư duy
lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn Năng lực phân tích, tổng
hợ, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái